Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 7

2026-03-03 00:56:17
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 7

QUÁN THÂN - QUÁN THỌ

–Thích Minh Thành–

Sau đây là bài kinh Tật bệnh nằm trong Tương Ưng Bộ, bài kinh này đối với sự tu hành rất sâu sắc và quan trọng. Người tu không thể không nghe, không thể không học, không thể không thực tập bài kinh này.

"Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy rõ biết như sau: 'Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy khởi lên có duyên, không phải không duyên'. Do duyên gì? Do duyên xúc này. Nhưng xúc này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên xúc khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao có thể thường trú được?". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VIII. Tật Bệnh)

Thân này dễ tan vỡ như món đồ gốm, do sự lắp ráp kết hợp từ các điều kiện mà có mặt nên gọi là duyên sanh. Như vậy tấm thân là vô thường, hữu vi, duyên sanh thì cảm giác vui xuất phát từ thân làm sao thường trú được? Những bài kinh Đức Phật dạy thì chúng ta phải nhớ thân này như một ung nhọt.

"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)

Đừng vô minh, si mê, tham ái với thân này, đừng nắm chặt, chấp thủ vào thân này vì bản chất nó là ung nhọt. Tham đắm, say mê trong này sẽ đưa đến hậu quả khổ đau, đưa đến tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan, cần phải thiền quán, suy tư, nhắc nhở, tác ý thường xuyên, phải thấy đây là ung nhọt có chín miệng nứt rạn, có chín miệng vết thương, thường tác ý nhắc nhở bản thân như vậy, thường niệm như vậy thì gọi là quán thân. Quán là nhìn sâu sắc vào bản chất của sự thật, nhìn phía ngoài sẽ bị lừa gạt, bị dối lừa, cần thâm nhập trí huệ này bằng sự đọc tụng, nghe, nhắc nhở, quán chiếu sâu sắc, phải chứng nhập ung nhọt chín lỗ này để nhả ra lòng dục, lòng tham, lòng khát khao, thèm thuồng, lòng dính mắc, chấp thủ đối với thân này. Đại kết cuộc của thân này là nằm thều thào trên gường bệnh, thở những hơi khó nhọc, rồi sau cùng ngưng thở, tắt thở và chỉ còn một thi thể nằm dài ra, một thân xác nằm bất động như khúc cây, một hình hài không còn gọi là con người nữa mà chuyển qua gọi là tử thi, là thây chết. Trước khi thây chết này tắt thở sẽ lưu luyến, tiếc nuối, day dứt, khổ đau với những tài sản vật chất mà nó đã tạo dựng, tích góp trong mấy chục năm cuộc đời, đau khổ vì sắp sửa tan rã hình hài, vừa có những cảm giác thống khổ khốc liệt của thân xác hành hạ vừa có những cảm thọ trong tâm tiếc nuối, lo sợ, hãi hùng, lại vừa có những cảm giác kinh hoàng của những ác nghiệp khi xưa đã tạo, những cảm thọ này bủa vây trên gường bệnh, thân này một mình đơn thân độc mã chống chọi rồi lấy những hơi lên trong đau đớn, không ai giúp thân này được dù cho con, chồng, vợ, cháu đứng kế cạnh cũng chỉ biết rơi những giọt nước mắt trong sự bất lực. Như vậy thân này ở trong tâm mê, sức mạnh nghiệp lực tấn công, những hình bóng, cảm thọ ồ ạt ám ảnh, những suy nghĩ bất an, lo lắng, kinh hoàng bao vây. Thật là đáng thương cho tự thân đơn côi, lẻ loi trong tâm mê đó, không có đạo pháp, không có phước báo, công đức nên bị thập diện mai phục, đó là chúng sanh nghèo cùng không có phước huệ nên chết trong bất tường, chết trong đau khổ của ác nghiệp, cái tâm hôn mê cùng với nghiệp thọ; tưởng; hành lôi đi tìm những cái yêu thích, ham muốn để tiếp tục một đời sống tương thích với tâm mê và nghiệp lực đó, cái thân ở lại là một thây ma, một tử thi. Thây chết đó nằm bất động được phủ tấm vải lên, ai muốn làm gì thì làm, nhưng đây là nói trong điều kiện bình thường, còn trong lúc đang dịch bệnh thì những người thân thương nhất tìm cách mau lẹ nhất để đưa đi, quấn lại, gói thây chết trong nhiều lớp vì sợ rỉ chảy ra những thứ không ai chịu nổi, trương sình lên, xanh sám lại, nứt nẻ máu mủ chảy ra, thối rửa, bốc lên mùi kinh hãi ai cũng tránh xa nhất có thể.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: 'Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy'.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Thánh pháp là như vậy đó, Thánh pháp là phơi bày những gì bị che kín một cách trực diện, đối diện với sự thật chứ không né tránh.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: 'Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy'". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Thân thể đó bị quăng vào nghĩa địa hoặc bị phơi ngoài đồng cho diều hâu, quạ, kên kên, chó rừng, những con giả can ăn thịt. Ở bên ngoài là những con thú ăn thịt, bên trong thân tự sanh ra những con giòi bọ, ruồi nhặng mở đại tiệc kéo lại bu vào thân xác đó gặm nhấm, cắn xé, hút máu. Các nhà khoa học để thân người chết ngoài bãi đất trống hoang để kiểm tra quá trình phân hủy của thân, những con ruồi nhặng to như ngón tay cái chui vào mũi, những bộ phần mềm trong cơ thể sanh ra giòi bò lúc nhúc. Thân này cuối cùng sẽ như vậy dù cho thân xác đó có là quốc vương, đại thần hay một kẻ ăn xin tật nguyền lang thang đói rách, bản chất thân này là như vậy không thể khác được.

"Này các Tỳ-kheo, lại nữa, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: 'Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy'". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Sau khi bị những con thú ăn thịt thay phiên nhau cắn xé thì thân này còn lại chút ít thịt và máu, do xương cứng nên phân hủy chậm hơn thịt. Khi chết thì tắt thở, nghĩa là phong đại không còn, cơ thể lạnh ngắt lại là lửa tắt, 70% trong cơ thể mình là nước vì thế khi chết đi nước những chất dịch, mủ máu chảy ra, kế đó đất rã ra nhưng đất có hai loại, loại mềm là thịt, tuỳ phế thận sẽ tan rã trước, loại cứng là các xương, đầu lâu, tóc, răng, móng sẽ tan rã sau.

"Lại nữa này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: 'Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy'". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Trải qua thời gian gân không còn, máu khô lại, bây giờ là một bộ xương trơ ra màu trắng như vỏ ốc. Bộ xương này trải qua nắng mưa năm tháng nên cũng gãy vỡ ra, tan nát thành bột, thành cát bụi vì thân này là bản chất là vậy, bản tánh là như thế, không vượt khỏi bản tánh ấy.

"Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Vị ấy nhìn kĩ sâu sắc bản chất vẻ ngoài của thân thể này, vị ấy sống luôn nhìn kĩ những thứ cấu tạo bên trong thân này, vị ấy sống tu tập và quán chiếu sâu sắc cả bên trong lẫn bên ngoài thân thể này, vị ấy luôn thường xuyên để ý điều đó, quán chiếu vẻ ngoài và những thứ cấu tạo bên trong.

"Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tim gan, máu, thịt xương

Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ".

Do bị lớp da trơn láng, đẹp mịn che hết nên ngu mê, si mê rồi đau khổ trong thân này. Sống quán tính chất thân này sanh khởi ra là do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng. Sống quán tánh diệt tận là chín giai đoạn của một tử thi, ngừng ăn, ngừng thở là kết thúc thân này.

"Vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Vị ấy an trú được niệm thân, giữ được sự nhớ nghĩ về nó thường xuyên, quán xét như vậy gọi là an trú chánh niệm, quán niệm sự thật về thân xác này với ước muốn hướng đến trí tuệ chân chánh, hướng đến sự nghĩ nhớ chân chánh đúng chân lý. Thấy được sự thật thân xác này là bất tịnh, hôi thối, thấy được đời sống này là vô thường, khổ, vô ngã thì vị ấy không còn nương tựa, không nắm giữ, bám chặt vào bất cứ vật gì trên đời. Các vị đang ở trong tâm dịch hoặc các vị đã nhiễm bệnh hoặc các vị đang nằm trên gường bệnh hãy quán chiếu không có gì phải sợ, không có gì phải lo lắng, đây là bất tử Thánh dược, thuốc Thánh của sự bất tử, đây là món quà vĩ đại mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta, đó chính là quán thân trên thân. Hãy lắng nghe và đặt tâm vào đó để suy niệm, tư duy, quán chiếu thì tâm quý vị sẽ bình an một cách kì lạ trong khi thân đang bệnh, thậm chí có đang đối diện với cái chết cũng bình an, đó là thuốc Thánh giúp cho tâm quý vị bất tử. Sự thật của thân này là như vậy, bản chất của thân này là vậy, bản tánh của thân này là vậy, mình thấy được như vậy để đừng ảo tưởng, đừng suy nghĩ sai lầm để giảm bớt tham ái, si mê, vô minh về thân này, từ đó tháo gỡ những vướng mắc, chấp trước trong cuộc đời này, đó là quán vô thường đối với thân.

"Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)

Để có được một bữa ăn phải tốn biết bao mồ hôi, công sức, tiền bạc, phiền não chỉ để có một chút cảm giác của lưỡi. Mỗi khi có đám tiệc chuẩn bị trước có khi hai ba ngày vậy mà ăn chỉ có nửa tiếng là xong, ăn không cẩn thận có khi bị khó tiêu, chướng bụng, mệt mỏi, nặng nề, đau bụng, chỉ có một chút cảm giác ngay lưỡi mà phải đầu tư biết bao công sức, thời gian, tiền bạc vào đó, nuốt xuống bụng rồi thải ra ngoài là một thứ nhàm chán hôi thối. Đi chơi cả ngàn cây số chỉ để ngắm cảnh, nhưng trước đó muốn đi phải làm lụm cực khổ, để dành tiền, thức khuya dậy sớm, có khi tạo nghiệp trong đó để kiếm tiền, phải xếp hàng đợi chờ đi xe hoặc đi máy bay, đi tàu thủy, có khi lại xảy ra tai nạn giao thông hoặc tai nạn hàng không, nhiều khi đi mấy ngày mới đến nơi chỉ để chụp vài tấm hình là xong, lạc thọ chỉ có một chút thôi nhưng để được cảm giác lạc thọ đó phải trải qua biết bao khó khăn, cực khổ, suy tính, tạo nghiệp. Cả cuộc đời chúng ta là chạy theo năm dục trưởng dưỡng, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, sắc dục, thanh dục, vị dục, xúc dục, hương dục, đầy đủ là có thêm pháp ái, đó là sự tham muốn đối với sắc đẹp, đối với âm thanh, tham muốn đối với mùi vị, sự tiếp xúc, đụng chạm, người nào không biết tu sẽ chạy theo năm thứ này, tìm lạc thọ trong năm thứ này. Họ nghĩ rằng khi đạt được những thứ này là họ hạnh phúc, trước khi họ đạt được là phải trải qua biết bao mồ hôi, nước mắt, suy nghĩ, tính toán, lừa gạt, mưu mô vất vả, khi đạt được rồi chỉ có cảm giác vui sướng một thời gian ngắn nhưng sau đó lại thấy chán, vì sự thật trong đó chỉ toàn vô minh, tham ái, bản ngã, chấp thủ, hơn thua nên lâu ngày sẽ thấy chán rồi lại ảo tưởng ra một sắc khác. Họ đi ngang ai đó lại nghĩ chắc người này khác với người xưa, rồi tìm đủ mọi cách để có được người đó, lại phải trải qua thời gian tương tư, sầu não, khổ sở, tìm mọi cách để rước được người đó về nhà, họ lại tưởng là vui nhưng có biết bao cái khổ, khó khăn, phiền não trong đó vì họ không thấy tính chất của vui sướng đó là tiêu vong, vô thường, là thứ đáng phải được từ bỏ, họ sống trong ảo tưởng những thứ đó là vui sướng, hạnh phúc, chính cái ảo tưởng, suy nghĩ sai lầm, tà kiến, tà tư duy đó làm họ lầm lạc. Từ việc đi chơi, cuộc sống gia đình, danh vọng, địa vị, tiếng tăm đều phải trải qua biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu, lên đến đỉnh cao danh vọng rồi lại lo sợ người ta âm mưu hãm hại, lật đổ mình, họ chỉ biết vị ngọt ngay trước mắt thôi chứ họ không biết trước đó phải khổ sở như thế nào để có vị ngọt và sau khi có lại khổ như thế nào đều không thấy, không biết. Có một anh chàng bị đánh đuổi trong rừng hoang, trong lúc hoảng hốt anh bị rơi xuống vực sâu nhưng may mắn anh với tay nắm vào những sợi dây leo. Sau khi bình tĩnh lại thì anh nhìn xung quanh thấy bốn con rắn độc đang lăm le cắn anh, nhìn lên anh lại thấy có hai con chuột trắng và đen đang gặm sợi dây leo anh đang bám vào, trên mặt đất là những con thú dữ. Đang trong tình thế căng thẳng thì có tổ ong rớt xuống vương vãi ra năm giọt mật làm anh mê mẩn, quên hết nguy hiểm. Trong ví dụ này bốn con rắn chực chờ cắn tượng trưng cho tứ đại đất, nước, gió, lửa, trong bốn đại này cái nào mạnh lên là mình bệnh, phong đại mạnh thì bị trúng gió, hỏa đại mạnh thì bị sốt cao nguy hiểm tính mạng, hằng ngày mình phải điều hòa bốn con rắn này, con nào trỗi dậy là mình khổ với con đó, bệnh ung thư cũng là đất, nổi lên một cục to bên trong người rồi phát ra tế bào độc làm cơ thể suy kiệt đến chết. Con chuột đen và chuột trắng tượng trưng cho ngày và đêm vô thường, hai con chuột này gặm sợi dậy sinh mạng của mình, đa số không ai thích người khác hỏi tuổi vì sợ nói ra tuổi là người ta biết mình già, đó là vô minh. Có biết bao nguy hiểm bủa vây vậy mà chỉ nếm được năm giọt mật chảy xuống là quên sạch mọi thứ, năm giọt mật đó tượng trưng cho sắc, thanh, hương, vị, xúc, để được lạc thọ trong năm giọt mật này là biết bao mồ hôi, nước mắt và máu rồi tạo biết bao nghiệp, sự phiền bực. Nhiều người đập phá đồ đạc vì bị mất tiền, chửi rủa hoặc bực bội vì không được như ý mà không biết rằng cảm giác lạc thọ đó chỉ kéo dài trong thời gian rất ngắn, thậm chí vì cảm giác đó có thể vào tù hoặc mất mạng. Vì thế Đức Thế Tôn dạy phải quán chiếu cảm giác đó là vô thường để bớt sự ham muốn đối với năm dục đó, bớt chạy khổ, bớt truy tìm thì bớt mệt mỏi, bớt khổ đau, bớt làm nô lệ, từ từ mới có tự do, tự chủ, nếu không suốt đời mình sẽ làm đầy tớ, nô lệ phục dịch cho nó, giành giật với mọi người để thỏa mãn dục vọng cho nên điều đầu tiên trong quán thọ là trú và quán vô thường đối với cảm giác vui này. Cái tham dục càng giảm nhiều chừng nào thì sự bình an, thoải mái của mình càng nhiều chừng đó, cho đến khi cái tham muốn đối với ngũ uẩn hoàn toàn không còn nữa, an tịnh hết thì sự động đi vào Sơ thiền nếu học đúng chánh pháp, đối với những người không học Thánh pháp cũng vào Sơ thiền nhưng cái thiền đó không phải là Thánh chánh định. Một người phàm phu tu thiền mà ly dục được thì họ cũng đạt được Sơ thiền nhưng cái thiền đó không được gọi là Thánh chánh định, cái thiền đặt trên nền tảng chánh tri kiến mới được gọi là chánh định của bậc Thánh, còn cái thiền không đặt trên nền tảng chánh kiến thấy đúng về ngũ uẩn thân tâm, về vô thường, khổ, vô ngã của năm uẩn này thì cái thiền đó là tà định, tà thiền vì họ thiền để họ thực hiện những cái dục vọng, trong những bộ phim tu tiên có những đoạn "ba đời ba kiếp mòn mỏi đợi chờ", từ con con hồ ly tu lên thành người có thần thông, tu đến thành tiên nhưng thành tiên để thực hiện thỏa thích những cái dục nên còn sanh tử luân hồi. Mình chỉ thấy có loài người và con vật nhưng thực tế có rất nhiều giới, thế giới loài rắn (xà giới), trong đó có xà vương, xà tinh, thế giới loài rồng (long giới), trong đó có long vương, có thế giới riêng của rồng,… đó là chỉ mới nói đến thế giới của loài bàng sanh, trong đó có những vị tu thành tiên, thành thần nhưng vẫn còn trong tham, sân, si nên vẫn tham ái, chấp thủ ngũ uẩn và vẫn còn luân hồi đau khổ dù thần thông rất thâm hậu. Thế giới của A-tu-la cứ đánh nhau với chư thiên, có một ông già đến bờ sông ngồi chơi thì đột nhiên thấy biết bao quân lính chui vào đóa sen, ông nghĩ mình bị khùng rồi nên thấy chuyện lạ, Đức Thế Tôn nghe được câu chuyện thì nói người đó không phải điên mà thấy sự thật.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-- Thuở trước, này các Tỳ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: 'Ta sẽ suy tư về thế giới', và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.

Này các Tỳ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: 'Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời'.

Rồi người ấy, này Tỳ-kheo, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn: '-- Này Quý vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!'

'-- Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng ? Như thế nào, Bạn điên loạn ? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời ?'

'-- Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: 'Tôi sẽ suy tư về thế giới'. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quý vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa Quý vị, tôi nghĩ: 'Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!'

'-- Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!'

Này các Tỳ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, chư Thiên và loài Asura (A-tu-la) giàn trận để khai chiến. Và này các Tỳ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asura bại trận. Các Asura bại trận, này các Tỳ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên. (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, I. Tư Duy)

A-tu-la là thần đánh nhau với chư thiên để giành tiên nữ, có vị vua trời cưới cô gái bên phía A-tu-la để làm hoàng hậu.

"Này các Tỳ-kheo, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la tên là Sujà, do vậy được tên là Sujampati.

Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, II. Chư Thiên)

Vì thế có rất nhiều giới như xà giới, long giới, thiên giới, yêu giới, tinh giới, súc sanh giới, con người mình so với những giới khác là rất ít, chỉ riêng loài hải tộc thôi là có đến hàng triệu loài khác nhau trong đó. Trong tiên giới có nhiều chư tiên thuộc nhiều cấp khác nhau như địa tiên, có những vị chư thiên ở dục giới, có những vị thiên cao cấp trên sắc giới, lên cao hơn có vô sắc giới, ngoài ra còn tứ thiên vương, tam thập tam thiên, Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại… Có nhiều tầng cấp độ khác nhau của chư thiên nhưng với những cấp độ này nếu không phải là bậc Đa văn Thánh đệ tử thì đều chìm trong lạc thọ, dù tu thật lâu đến ba ngàn năm, mười ngàn năm, trăm ngàn năm cũng chỉ để đạt được dục lạc thì cái đó tu trong luân hồi, có những câu chuyện ghi lại hai người đợi chờ nhau tam sinh tam thế, nghĩa trải qua đến ba đời ba kiếp chỉ để chờ đợi nhau nhưng có khi những câu chuyện này lại có thật, tâm tham ái trói cột nhau trong vô lượng. Đối với thù hận cũng vậy, đánh nhau kéo dài hàng vạn năm, hàng chục vạn năm, tất cả cũng chỉ là tham, sân, si với dục lạc vì thế Đức Phật dạy phải quán cảm giác vui là vô thường, quán cảm giác vui là tiêu vong, quán cảm giác vui sướng là không đáng để tham, là thứ để chấm dứt, đoạn diệt, từ bỏ, thoát ra, vì nếu mình dính mắc, tham đắm với cảm giác này thì có tu ngàn vạn năm cũng không thể giải thoát khỏi sanh tử, cho nên cảm giác này rất sâu sắc.

"Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh) 

Như thế nào là quán tiêu vong, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ? Cảm giác vui này lát nữa cũng tiêu tan cũng như ví dụ mật ong ngon trên đầu lưỡi nuốt vào bụng là xong, kết cuộc sau đó còn phải xét lại. Có người cưới vợ rồi hối hận, có chồng rồi suốt đời phải sống trong đau khổ, có người xây nhà lên là sụp đổ hết tất cả, mình quán cảm giác vui này rất nhanh chóng tiêu tan. Cảm giác vui này không đáng để ham thích, mỗi khi có cảm giác vui sanh khởi lên đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì tác ý "cảm giác vui này là bọt nước, là khói mây. Nó là thứ không đáng để mình phải ràng buộc, đau khổ, không đáng để mình làm đầy tớ, nô lệ cho nó. Phải rời xa nó, từ bỏ nó", như vậy gọi là quán ly tham. Quán nghĩa là phải nhắc tới nhắc lui, chiêm nghiệm nhiều góc độ, khía cạnh của vấn đề đó, nhìn vào nhiều phương diện không đáng để tham, phải nhắc tới nhắc lui đây là cái đáng để từ bỏ, là thứ vô thường, tan nát.

"Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.

Niệm 'Bỏ hết đi, cảnh vô thường!'

Niệm 'Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!'

Niệm 'Ngũ uẩn này, không phải ta'"

(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)

Trong lòng còn nuối tiếc bất cứ điều gì cũng phải niệm thầm "bỏ hết đi", nhắc liên tục thì lúc đầu sẽ không bỏ ngay được nhưng từ từ cũng bỏ được chút ít, rồi bỏ kha khá, bỏ nhiều nhiều và cuối cùng là bỏ hết tất cả cái thứ vô thường này. Có người lấy đồ thì mình sân lên, định sẽ nói chuyện cự cãi cho ra lẽ nhưng lúc đó hãy tác ý "bỏ hết đi những thứ vô thường này", niệm liên tục câu "tâm lặng yên, tâm dễ chịu", thực hành liên tục rồi sẽ thấy phép màu xuất hiện trong khi tác ý. Mỗi khi có cảm giác vui thích, ham muốn thì tác ý liên tục như vậy sẽ nhả ra từ từ, ngày xưa là theo sát gót, nó theo trong tim, trong xương, trong tủy nhưng giờ mình tách ra khỏi cảm thọ từ từ, cứ tác ý thường xuyên rồi mình sẽ tách ra khỏi cảm thọ. Vòi nước chảy từng giọt một nhưng chảy từ sáng đến chiều, từ chiều đến đêm, hết ngày này qua ngày khác cũng đầy thùng, thậm chí tràn thùng, sự tác ý, quán chiếu, nghe pháp, ngồi thiền của mình cũng giống như vậy, đến khi nào đầy đủ thì nhập Thánh quả. Đừng bao giờ nghĩ rằng tu như vầy biết bao giờ nhập Thánh trí, đừng lo chuyện đó, ông bà có câu "kiến tha lâu cũng đầy tổ", ngày đầu tiên cạo đầu mình không biết gì cả, bây giờ kinh pháp đầy bụng, sự suy tư, quán xét không còn giống như thuở ban đầu nữa. Một bức tranh đẹp là tổng hợp của nhiều nét vẽ tạo thành, sự tu tập của mình cũng vậy, mỗi khi vui thích thì quán chiếu liên tục và thường xuyên nó là thứ vô thường, khổ đau, tan hoại, bất tịnh, nhắc nhở liên tục ngày cũng như đêm cũng có ngày thành công.

"Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với xúc và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với xúc và lạc thọ bị đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh) 

Minh Thành có nói tu là tẩy não, não của mình bị nhiễm chất phóng xạ, nhiễm tam độc, dục tham đối với năm uẩn, cụ thể trong đây là thọ, bị nhiễm cảm giác vui sướng, thèm thuồng trong não. Bây giờ mình phải tẩy sạch nhưng không phải thời gian ngắn là được, phải nhắc nhở, la rầy "cái tâm ngu này cứ tham ăn, tham ngủ, tham chơi hoài. Lo tu đi", lúc trước vô minh nên không biết phải quở trách, la rầy thường xuyên "cái đó có gì đâu mà tham, cái đó có gì đâu mà vui sướng. Hỡi tâm mê này tỉnh ra chưa", "đồ cái thứ vô thường này hãy buông bỏ hết đi, cái thứ tan hoại, tiêu vong này hãy buông bỏ đi. Tỉnh ra chưa?". Nhắc nhở bản thân quán từ bỏ liên tục thì sẽ có ngày từ bỏ sự vui thích này, nhưng không phải bỏ hết một lần mà sẽ bỏ từ từ, từng cái một, đây cũng là những phép quán đối với năm thủ uẩn. Năm phép quán: Quán từ bỏ, quán đoạn diệt, quán ly tham, quán tiêu vong, quán từ bỏ là Như lai thần chưởng, dùng để đánh phá tham ái trong cảm thọ, sự chấp thủ, nắm chặt trong cảm thọ, nhất là những cảm thọ ác bất thiện pháp, tội lỗi là phải đánh mạnh, vui sướng trong ác bất thiện pháp là phải dùng năm phép quán này đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, nếu cứ quán chiếu, tư duy liên tục thì cái tham đi theo mình miên man đối với thân thể, cảm thọ vui sướng này sẽ chấm dứt, đoạn diệt. Đến được đây là tuyệt vời, biết bao mồ hôi, nước mắt và máu, thậm chí cả sinh mạng trong thời gian vừa qua được đánh đổi bằng nụ cười bất tử, bất diệt, muốn được như vậy phải bỏ công ra khổ luyện.

Mỗi khi có cảm thọ vui sướng là vị này quán chiếu tính chất tiêu tan, nó hoại diệt rất nhanh chóng, không tham muốn với nó, nó là thứ không đáng tham, không đáng mong muốn, nó là mây khói, là bọt nước, dễ tan biến nên không đáng để ham thích, "ta bỏ nhà ngươi, từ bỏ cảm thọ này, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi". Cuối cùng do vị ấy thường xuyên quán chiếu tính chất vô thường, tiêu tan, không đáng tham muốn đối với thân xác và cảm thọ vui này, do thường an trú và quán chiếu tính chất chấm dứt, đáng từ bỏ nên cái tham miên man trong tâm vị này đối với thân thể và cảm giác vui được chấm dứt, đoạn tận. Đây chính là Thánh pháp, đừng nghĩ Thánh pháp cao xa quá tu không nổi mà chính Thánh pháp này giúp cho hiền pháp, thiện pháp được thành tựu, nó có sự tương tác qua lại, do biết được Thánh pháp nên mình giảm bớt chạy theo ác bất thiện pháp nên tâm mình hiền, do mình biết được Thánh pháp nên mình siêng năng thực hành thiện pháp nên nghiệp thiện được thành tựu vì thế không tu hiền, không tu thiện là không tu được Thánh vì những cái này tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Do hiểu được Thánh pháp nên tâm nhả ra những cái tham bất thiện, từ đó hiền hòa trở lại làm những việc lành, như vậy Thánh pháp làm cho viên mãn hiền pháp, thiện pháp và hiền pháp, thiện pháp làm tăng thượng Thánh pháp, thể nhập Thánh pháp cho nên những cái này có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Nếu không có Thánh pháp này thì cái hiền, cái thiện kia nằm trong thế gian, nằm trong tham, sân, si cho bản ngã vì hiền và thiện để phục vụ cho bản ngã còn Thánh pháp đưa đến lìa tham, sân, si, công đức vô vi, vô lậu cho nên tu hiền, tu thiện mới đi đến Thánh quả. Ngài Vô Não Angulimala giết biết bao sinh mạng, khi đã xuất gia ngài đi khất thực thì bị người dân ném đá chảy máu vì nghiệp ác ngài làm trong quá khứ nhưng ngài không chống trả vì ngài biết bản thân phải trả những nghiệp cũ đã làm, từ đó ngài không khởi tâm sân hận.

"Tôn giả Angulimala buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, một cục đất do một người ném, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một cây gậy do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một hòn sỏi do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala. Rồi Tôn giả Angulimala bị lỗ đầu, chảy máu, bình bát bị bể, ngoại y bị rách, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Angulimala từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với Tôn giả Angulimala: 'Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Ông đang gặt hái ngay trong hiện tại quả báo của nghiệp mà đáng lẽ Ông phải chịu nấu sôi ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm'.

Rồi Tôn giả Angulimala sống độc cư, Thiền tịnh, cảm thọ được giải thoát lạc". (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)

Một hôm ngài thấy một người phụ nữ đau quằn quại chuẩn bị sanh con, ngài về kể lại cho Đức Phật thì Đức Phật dạy ngài quay trở lại nói rằng bản thân từ ngày sanh ra không làm bất cứ một điều gì ác nghiệp, sống trong thiện nghiệp, cầu chúc cho mẹ tròn con vuông. Ngài ngờ vực vì trước đó ngài làm biết bao điều ác, Đức Phật giải thích rằng từ ngày ngài sanh ra trong Thánh pháp này là ngài sống trong tâm hiền thiện, Angulimar tỏ ngộ nên đến cầu chúc cho mẹ tròn con vuông thế là bà mẹ sanh đứa bé bình an, tốt lành.

"Tôn giả Angulimala, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Savatthi để khất thực. Trong khi đi khất thực từng nhà một ở Savatthi, Tôn giả Angulimala thấy một người đàn bà đang sanh đẻ, rất là nguy kịch và đau đớn. Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: 'Thật đau khổ thay các chúng sanh! Thật đau khổ thay các chúng sanh!'. Rồi Tôn giả Angulimala, sau khi đi khất thực ở Savatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Angulimala bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, ở đây, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào thành Savatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, trong khi đi khất thực từng nhà một ở Savatthi, con thấy một người đàn bà đang sanh đẻ, rất là nguy kịch, đau đớn. Thấy vậy, con suy nghĩ: 'Thật đau khổ thay các chúng sanh! Thật đau khổ thay các chúng sanh!'

-- Này Angulimala, Ông hãy đi đến Savatthi, sau khi đến, nói với người đàn bà ấy như sau: 'Này Bà chị, vì rằng tôi từ khi sanh ra chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn!'

-- Bạch Thế Tôn, nếu làm vậy, thời con là cố ý nói láo. Bạch Thế Tôn, con đã cố ý giết hại mạng sống rất nhiều chúng sanh rồi.

-- Vậy thì, này Angulimala, Ông hãy đi đến Savatthi, sau khi đến hãy nói với người đàn bà ấy như sau: 'Này Bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến này chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn và sanh đẻ được an toàn!'

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Angulimala, sau khi vâng đáp Thế Tôn, đi đến Savatthi, sau khi đến nói với người đàn bà ấy như sau: 'Thưa Bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn!'. Và người đàn bà được an toàn, sanh đẻ được an toàn". (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)

Thánh trí huệ này sẽ giải quyết tất cả mọi vấn đề vì thế đừng sợ Thánh trí thâm sâu, chỉ nên sợ rằng không được nghe Thánh pháp này vì đây là cái nghe vô thượng, không có cái nghe nào trên thế gian sánh bằng, càng nghe Thánh pháp nhiều chừng nào thì lợi đắc càng nhiều chừng đó, mỗi ngày nghe pháp là mỗi ngày huân tập, tích tập những Thánh trí để làm viên mãn hiền tâm, thiện pháp, làm cho mình tăng thượng Thánh hạnh, Thánh đạo, Thánh trí cho nên đừng sợ pháp thâm sâu.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng:'Ðây là không nghe'. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Phải nghe để hiểu, hiểu để thấm vào tâm, thấm vào rồi để mình nhả bớt ra những cái ngu si, mê muội vì trong vô lượng vô biên sanh tử kiếp vừa qua chưa từng được nghe Thánh pháp này cho nên mới mang tấm thân nghiệp báo này. Bây giờ được nghe phải vui mừng, hoan hỉ, thích thú để những tia sáng mặt trời Thánh tuệ chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm thức đen tối, si mê, vô minh, vì vậy phải vui mừng, khát ngưỡng, cung kính, cần cầu, mong muốn để được nghe những cái này. Chỉ có nghe nhiều mới hiểu, mới thấm rồi mới có sức chuyển hóa, tẩy rửa, gọi là tẩy não vô minh, chấp thủ, tham ái, tẩy từ từ mà thậm chí đến bản thân mình cũng không biết mình sạch được nhiều rồi, chỉ khi nào đụng chuyện thấy tâm bình an lúc đó mới nhận ra còn tẩy sạch hoàn toàn là thành tựu.

./.