MẬT MÃ THẾ GIỚI 1
Tinh Hoa Nikāya
MẬT MÃ THẾ GIỚI 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ngũ uẩn là khổ đau PAGEREF _Toc112594124 \h 1
II.Vô minh đối với ngũ uẩn PAGEREF _Toc112594125 \h 4
III.Thánh trí ngũ uẩn PAGEREF _Toc112594126 \h 5
IV.Bài học cuộc sống sau đại dịch Covid-19 PAGEREF _Toc112594127 \h 8
V.Hạnh phúc của sự cho đi PAGEREF _Toc112594128 \h 10
Ngũ uẩn là khổ đau
Chúng ta sẽ cùng chiêm nghiệm về đời sống ngũ uẩn. Bản thân Minh Thành có thời gian ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và thấy rằng trí ngũ uẩn này là mật mã của nhân sinh vũ trụ, trí năm uẩn này bao trùm tất cả pháp. Trong thời gian gần đây, Minh Thành phát hiện thêm những điều lúc trước mình chưa thấy, tất cả pháp đều nằm trong ngũ uẩn, không có cái gì ra khỏi ngũ uẩn cho nên thấy ngũ uẩn là thấy pháp, thấy ngũ uẩn là thấy Phật, nếu không thấy ngũ uẩn là lúc đó chúng ta sống với vô minh, bản ngã, với tham, sân, si.
Khi có sự chiêm nghiệm, chúng ta sẽ thấy rằng thân người, đồ vật, cảnh vật, những cảm giác, nghĩ, tưởng và nhận thức bao trùm hết nhân sinh, vũ trụ. Ngũ uẩn đồng nghĩa với đời sống này, đồng nghĩa với cuộc sống này, đồng nghĩa với dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, vô minh, nói đầy đủ năm thủ uẩn đồng nghĩa với hơn thua, sân si, tham ái, đấu tranh. Sự nắm chặt vào năm thủ uẩn này đồng nghĩa với tranh chấp, tranh đấu, tranh hơn, tranh thua, đồng nghĩa với được mất, vinh nhục, khổ vui, thành bại… Cho nên tất cả mọi thứ trong cuộc đời này đều nằm trong ngũ uẩn, không gì nằm ngoài ngũ uẩn, chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều trong sự tu học này.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với cuộc sống thì như thế nào gọi là cuộc sống? Cuộc sống là phải có thân thể, cảm giác, suy tưởng, nhận thức. Cuộc sống này có một tấm thân, có tài sản, có cảnh vật, trong đó là những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, như vậy đây là cuộc sống của ngũ uẩn.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với thương, tức là lúc thương phải có đối tượng để thương, có cảm giác dễ chịu, có hình bóng người thương trong tâm, có suy nghĩ nhớ thương người đó, có nhận thức rõ biết suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, như vậy là ngũ uẩn thương mến. Nếu có sự nhận diện ngũ uẩn này trong khi thương thì chúng ta sẽ thấy không còn cái thương nữa; mà đó chỉ là thọ, tưởng, hành, thức mà thôi. Nếu lúc đó không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngũ uẩn thì mình bị dính chặt vào đó và cho rằng "tôi thương".
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với ghét thì phải có đối tượng ghét, có cảm giác khó chịu, có hình bóng của người làm mình bực bội trong tâm, suy nghĩ ghét người đó, có nhận thức mình đang có cái sân đó. Lúc này là ngũ uẩn ghét chứ làm gì có cái tôi ghét nhưng khi không nhận diện ngũ uẩn sẽ có "tôi ghét", "tôi giận", "tôi bực", khi nhìn ra ngũ uẩn sẽ tan biến đi cái tôi, như vậy nghĩa là thấy ngũ uẩn là thấy pháp.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với được, tức là mình có được một thứ gì trong sắc pháp này, ví dụ như món đồ, ruộng vườn, xe cộ hoặc là có được một người. Lúc đó sẽ có cảm giác lạc thọ, có hình bóng của món đồ hoặc con người mình được khởi lên trong tâm, có suy nghĩ mình được cái đó, mình nhận rõ được mình có cái đó, như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với được.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với mất, tức là khi bị mất đi sắc pháp nào đó, mình sẽ có cảm giác khổ thọ, có hình bóng món đồ hoặc con người bị mất đi, có suy nghĩ theo chiều hướng "tôi mất" và có sự rõ biết về thọ, tưởng, hành đó, như vậy là ngũ uẩn mất chứ mình không có mất.
Những điều này nghe qua rất đơn giản nhưng lại là trí tuệ của bậc Thánh, nếu học phất phơ về ngũ uẩn sẽ không thấy được tầm vóc, giá trị quan trọng của pháp hành. Như vậy cái thương, cái ghét, cái được, cái mất, cái vinh, cái nhục là ngũ uẩn chứ mình không có thương ghét, được mất, hơn thua, vinh nhục; nhưng nếu ta nhập cuộc làm một vơi ngũ uẩn thì lúc đó sẽ có được mất, thương ghét, hơn thua… Sự nhập cuộc như vậy gọi là vô văn phàm phu, còn nhận diện được năm uẩn thì gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử chỉ khác nhau ở chỗ nhận diện hay không nhận diện được năm uẩn. Nếu không thấy năm uẩn thì đồng hóa với nó và cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; khi bị đồng hóa, tâm này sẽ toàn là tham, sân, si, có không, được mất, vinh nhục, tranh đấu…
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với lo lắng, sợ hãi và bất an nghĩa là lo lắng cho sắc đẹp xấu, tươi tắn hay héo tàn, hưng thịnh hay suy vong. Tuy nhiên, bản chất của sắc là vô thường, nghĩa là tươi rồi héo, thịnh rồi suy, trẻ rồi già, tròn rồi khuyết, mập rồi ốm, mơn mởn rồi chai sần, tàn lụng. Bản chất của sắc là như vậy nhưng mình nắm giữ, nắm chặt cho nó là tôi, là của tôi thì làm sao không lo lắng, bất an được? Nếu nắm giữ cảm giác dễ chịu này, chỉ muốn có cảm giác dễ chịu chứ không muốn có cảm giác khó chịu, bất cứ khi nào có cảm giác khó chịu là mình bực bội, bức xúc, sân hận lên, mình chỉ muốn diệt trừ cảm giác khó chịu và giữ lại cảm giác dễ chịu, nếu không được thì khổ cho nên ngũ uẩn này đồng nghĩa với khổ đau. Như vậy, do không thành tựu trí huệ về thọ uẩn cũng như trước đó không thành tựu trí huệ về sắc uẩn, cứ nghĩ tất cả sẽ thường còn, bền đẹp, đứng vững, không suy suyển, đó là suy nghĩ sai, là tà kiến, rồi chấp thủ, nắm giữ vào đó.
Hình bóng trong tâm cũng giống vậy, mình có một hình bóng về tự thân, về món đồ hoặc về một con người nào đó thì đó là hình bóng vô thường nhưng mình cứ nghĩ hình bóng đó thường còn, trừ khi nào có tu mới thấy hình bóng đó là vô thường. Căn bệnh trầm kha của tất cả chúng ta là khi nghĩ về bất kì món đồ hay đối tượng nào thì mình nghĩ nó sẽ như vậy hoài. Đến khi thấy món đồ đó tan vỡ, bể nát hoặc người mình thương nằm bệnh một chỗ, lấy hơi lên là mình đau khổ, tan nát, tim muốn vỡ ra, nước mắt chảy ra vì trong tâm mình là tưởng thủ uẩn. Tức là chúng ta cứ nắm chặt vào hình bóng mình đã thấy và cho rằng nó sẽ như vậy hoài, mấy chục năm sau nhớ lại cũng nghĩ hình bóng đó cũng như vậy, đến khi gặp lại nhau là bất ngờ vì người xưa đã thay đổi quá nhiều, đó là do tưởng thủ uẩn, nắm chặt vào hình bóng năm xưa và nghĩ rằng sẽ không đổi thay, không vô thường, không tan hoại. Đó là hình bóng người khác. Còn đối với hình bóng của tự thân, đến khi đi đến giai đoạn suy lão, bệnh tật hoặc sắp tan rã thì mình khổ đau rất nhiều, đó là tưởng thủ uẩn.
Như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với khổ đau và sự nắm giữ vào trong năm uẩn này là đồng nghĩa với khổ đau, vấn đề là sự nắm giữ này lại ăn vào xương tủy, không cần ai dạy mà sanh ra đã biết nắm giữ. Chẳng hạn, vừa được phân chia cái đơn là cho rằng cái đơn đó của mình, ai lại nằm hoặc xả rác trên đó là xảy ra chuyện liền, mặc dù đã có sự tu tập. Dù mỗi ngày đều quán chiếu ngũ uẩn, quán không có gì là tôi, không có gì của tôi mà còn vậy thì huống hồ gì kẻ phàm phu thì chấp thủ đến mức độ nào. Cho nên sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau. Mình nói điều đó mà người ta làm ngược lại là mình sân lên, tức giận, không hài lòng, mình muốn món đồ đó mà không được là buồn khổ, như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với khổ đau. Nói sâu hơn nữa là sự nắm giữ vào trong năm uẩn là đồng nghĩa khổ đau, lo lắng, sợ hãi, bất an. Thế mà chúng ta lại nắm giữ trong từng suy nghĩ, trong từng cảm giác, hình bóng, ngoài miệng nói xả bỏ nhưng trong tâm lại nghĩ bỏ hết thì tiếc, thì uổng, bỏ hết rồi còn gì nữa.
Phải thấy được những dục ái, chấp thủ này, phải nhìn ra được sự chống đối, sự ương ngạnh, cứng cỏi không nghe lời và tu với sự cứng cỏi, khó dạy, khó bảo đó. Khi chiêm nghiệm Minh Thành mới thấy những từ "tâm nhu nhuyến", "mềm mại", "dễ sử dụng" rất hay, mỗi một từ như vậy là chủ đề thiền quán trong nhiều năm, nhiều chục năm, để đạt được những tâm này thật sự phải rất công phu, cái tâm phải nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng trong thiện pháp, trong sự tu tập vì khi nghe pháp cũng vâng dạ nhưng trong tâm lại chống đối, không muốn buông bỏ, nếu vậy là tâm chưa được nhu nhuyến, tâm chưa mềm mại, tâm chưa dễ sử dụng.
Vô minh đối với ngũ uẩn
Tất cả thế gian này, từ vật chất, tinh thần cho đến tâm linh thế giới, mật mã của nhân sinh và vũ trụ chính là trí năm uẩn, tất cả đều do năm uẩn sanh khởi và vận hành, đưa mình đến lo lắng, bất an, sợ hãi và khổ sầu mà mình không hề hay biết, mình chỉ là con rối bị điều khiển, sai khiến, kêu gì làm đó.
Trước đây, chúng ta chỉ học chung chung về vô minh nhưng không biết vô minh với cái gì, tại sao vô minh. Nếu không học năm uẩn sẽ vô minh đối với sắc, không thấy không biết về tứ đại; vô minh đối với thọ, không biết những cảm giác dẫn dắt, không biết tham, sân, si, dục ái cư trú trong cảm thọ, không biết có sự nắm giữ, chấp thủ trong cảm thọ; không nhận ra những hình bóng trong tâm, những sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng đều không thấy không biết… Cái tưởng nào hiện lên cũng cho nó là tôi, không biết những hình bóng về sắc; không biết những hình bóng của âm thanh đã nghe; những mùi vị từng ngửi; từng ăn; những sự tiếp xúc đụng chạm đã từng tiếp xúc; những thọ, tưởng, hành bên trong (pháp tưởng) sanh khởi cũng cho rằng là tôi nghĩ, tôi tưởng. Chính vì vậy, chúng ta vô minh đối với thọ, vô minh đối với những hình bóng, vô minh đối với những suy nghĩ trong tâm, suy nghĩ nào khởi lên cũng cho rằng tôi hay, tôi giỏi, tôi tài, tôi lanh lợi.
"Người ngu biết mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Nếu ngu mà biết mình ngu thì còn cứu chữa được, còn ngu mà cho rằng mình có trí thì hết thuốc chữa, người đó xứng gọi chí ngu. Như vậy là vô minh đối với ngũ uẩn, không thấy không biết, không sáng tỏ, không thấu đáo, không nhìn ra mình vô minh, tham ái, tham muốn đối với ngũ uẩn. Vô minh đối với nhận thức, rõ biết, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, như vậy là mình không biết rành rõ là mình vô minh đối với năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Các pháp này là pháp biến hoại, tan rã, vỡ nát, mình nắm giữ vào nó là lo lắng, sợ hãi, bất an, khi mình hiểu được như vậy thì vô minh bị phá và minh sanh, vì thế minh hay vô minh đều căn cứ vào việc thấy hay không thấy ngũ uẩn.
Thánh trí ngũ uẩn
Trí ngũ uẩn này là mật mã mở ra hết cánh cửa của Thánh phàm, của ngũ thú lục đạo, của tam giới, của bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Khi nắm giữ vào ngũ uẩn là đồng nghĩa với kiết sử, kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Cái gì trói buộc? Sắc đẹp trói buộc, tiền bạc trói buộc, ruộng vườn trói buộc, tài sản trói buộc, đây chỉ mới là sắc trần bên ngoài, là năm dục trưởng dưỡng, còn những tư duy tham ái, sự suy nghĩ yêu thích, khoan khoái mới là dục, tức là thọ; tưởng; hành. Như vậy cái bên ngoài là sắc, còn suy nghĩ bên trong là hành uẩn, trong suy nghĩ có cảm giác thích thú, có hình bóng món đồ đó, như vậy sự trói cột này là sắc và những cảm giác, nghĩ tưởng ham muốn sắc trói buộc, phân tích kĩ là bao gồm chủ thể tham muốn và đối tượng tham muốn.
Cổ nhân có câu "hoa bất mê nhân, nhân tự mê. Tửu bất túy nhân, nhân tự túy". Nghĩa là sắc đẹp không tự nhiên làm người mê muội, chỉ có người tự mình mê đắm trong sắc đẹp; rượu không tự nhiên làm say người, chỉ có người tự làm mình say. Câu này nói đúng nhưng chỉ có một chiều, nếu không có đóa hoa đó thì làm sao người kia say mê được, không có người con gái đó thì làm sao người đàn ông này mê được, ngược lại, nếu không có người đàn ông này thì làm sao người phụ nữ kia tương tư được. Cho nên Đức Phật chỉ ra hai hướng cả bên ngoài lẫn bên trong nghĩa là sắc và những tư duy tham ái sắc đẹp đó, chính là năm dục trưởng dưỡng và những tư duy tham ái đối với năm dục đó.
Những sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, những sự xúc chạm êm ái, hấp dẫn cộng với bên trong là những cảm giác, nghĩ tưởng tham ái, tham dục đối với những thứ đó nên trở thành sự trói cột (kiết), sau đó là sai khiến mình đi tìm (sử), tìm không được thì đau khổ, tìm được cũng không kéo dài lâu, sau khi tìm được mà mất đi thì càng khổ hơn cho nên cả ba thời đều khổ. Như vậy là sai khiến và trói buộc là đối với ngũ uẩn nên có kiết sử, toàn bộ sự tu hành của mình là ly tham, nhàm chán đối với ngũ uẩn, thấy được nguy hiểm, tác hại, khổ sầu, bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, than đỏ trong ngũ uẩn.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Trong bài kinh “Vị giữ giới” đã nói tất cả sự tu tập là quán chiếu năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này chính là sự chấp thủ, sự nắm chặt vào trong ngũ uẩn này.
Bốn Thánh Trí Về Ngũ Uẩn:
- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ (Trí về Ngũ uẩn).
- Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và tham ái (Trí về Ngũ uẩn tập).
- Ngũ uẩn diệt tận khi hết vô minh và hết tham ái (Trí về Ngũ uẩn diệt).
- Phương Pháp Tám Đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn (Trí về Ngũ uẩn diệt đạo).
Trên đây cho chúng ta thấy sự vĩ đại về tu học của trí năm uẩn, nhiều khi chúng ta nghe rồi để đó thì không thấy được ý nghĩa thật sự của Thánh Pháp. Thế nên chúng ta phải thật sự để tâm chiêm nghiêm, tu tập để thấy được giá trị quý báu tối thượng của pháp. Những gì chúng ta nhìn thấy, từ thương ghét, được mất, khổ vui cho đến đời sống này, thân tâm này đều chỉ là ngũ uẩn, những vô minh, tham ái, kiết sử, tham, sân, si cũng chỉ là sự chấp thủ vào trong ngũ uẩn này. Đến lúc nào chúng ta nhìn thấy ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn, tỏ tường về ngũ uẩn thì lúc đó bớt khổ, giảm khổ. Ly tham được ngũ uẩn thì chúng ta trở thành người ngoài cuộc đối với thế giới này, nếu thấy tự thân mình còn ở trong ngũ uẩn thì chúng ta là người trong cuộc.
Bài học cuộc sống sau đại dịch Covid-19
Nhìn thấy những hình ảnh của những người bệnh nằm trên gường đau đớn, quằn quại hoặc nằm trên gường mà hấp hối gần chết, con thì động viên "ba ráng khỏe về với con", còn người cha thì nói "ba sợ quá con ơi", mẹ thì mới chết, giờ thì đến cha đang hấp hối, vợ chồng xa nhau, cháu mất ông bà, anh mất em, thậm chí cả nhà sáu bảy người, năm bảy người cùng chết, hoặc là cả một ngôi chùa ba bốn thầy đều chết, vài ngày lại nhận tin người quen đã qua đời, người kia nhiễm bệnh. Cả một hố sâu bằng sân vận động được dùng để chôn tập thể xác người chết vì nhiễm dịch bệnh, chúng ta hãy dùng thọ; tưởng; hành của mình để quán chiếu, mộ chồng lên mộ, xác chết lên xác trong những chiếc xe đông lạnh cả tuần lễ đến nửa tháng vì lò thiêu đã quá tải. Chúng ta chỉ nghe nói, chỉ tưởng tượng ra những hình ảnh đó đã thấy cay đắng, nước mắt cầm không được thì tự thân chúng ta hoặc cha mẹ, anh em, thân quyến rơi vào hoàn cảnh đó còn đau khổ hơn thế nào nữa.
Chúng ta được ở núi rừng đầy phước báo, phước duyên, có môi trường thù thắng, nếu chúng ta ở trong tâm dịch thì chúng ta sẽ thấy được sự khủng khiếp, sẽ hoảng loạn, bất an như thế nào, những người hết bệnh kể lại hành trình chống chọi với cơn bệnh đau đớn đến thế nào, mà đó là ở nhà, còn những người ở trong khu cách ly tập trung sẽ có biết bao nỗi lo lắng, bất an. Đây là một Phật tử và gia đình đã hộ trì Linh Quy Pháp Ấn rất nhiều năm, hiện tại Phật tử này đang mua thuốc Covid ở Đức để gửi về cúng dường cho các chùa và cho Linh Quy chúng ta, Phật tử này cảm xúc rất sâu sắc trước những cảnh khổ của con người đã viết lên những dòng suy nghĩ rất hiểu thương, chúng ta sẽ nghe một chút:
GIÁ TRỊ SỐNG
Có ai dám nghĩ mình sẽ tan biến bất cứ lúc nào trên cõi đời này không? Thật tình là không ai dám nghĩ đến, thế mà Covid làm được, đại dịch như một trận cuồng phong quét qua, thấy thân phận con người thật nhỏ bé và mong manh.
Hôm nay lại bất chợt nghe tin rồi bất ngờ biết được sự vô thường đã ghé thăm những người hàng xóm, những người ta quen biết. Có ai dám nghĩ mình sẽ ra đi trong lặng lẽ cô độc không? Sẽ không có chuyện đó mà, thế mà Covid làm được, người ra đi đến giây phút cuối của cõi tạm này cũng không được nhìn mặt một người thân nào, người ở lại thì nghẹn ngào cũng không thể với tới được giây phút sanh ly tử biệt kiếp người, chốn dừng ấy là nơi cuối cùng. Những cảm giác bàng hoàng, ngơ ngác, hoang mang, sợ hãi chưa bao giờ bao trùm cõi nhân gian này, thế mà Covid làm được và Covid đã làm được những điều đó, nó đang diễn ra từng giây, từng phút ở mọi nơi.
Đại dịch đã không phân biệt người nghèo khó hay kẻ giàu có, dù bạn là ai, dường như bất lực trước Covid. Khi mà chúng ta mất đi gần hết sự tự do, sinh hoạt bình thường thì chúng ta mới nhận ra rằng những cái mà ta từng nắm bắt được, tiền bạc, địa vị, sự nổi tiếng, sự chuẩn bị cho một đời sống bảo an, tất cả những thứ đó nó không giúp ta bảo vệ được sức khỏe, bảo vệ người thân.
Đại dịch đã dạy ta những gì? Dạy ta phải biết cảm ơn cuộc đời này vì ta vẫn còn sống, còn thấy những gương mặt của người thân yêu, vì ta còn sống lành lặn, khỏe mạnh, bình an, được sinh hoạt bình thường, được thưởng thức một bữa cơm đầm ấm với gia đình, vậy tại sao ta chưa làm một điều gì đó có ích cho đời, có ý nghĩa, có lợi ích cho những người xung quanh? Đó là sự biết ơn và tri ơn đến với cuộc đời này, sống là biết chia sẻ.
Chia sẻ chỉ cần thật tâm, đôi khi chỉ là một lời khuyên, kinh nghiệm, nói lời chân tình hay thậm chí chỉ là một ánh mắt thiện cảm, một nụ cười đôn hậu, một tấm lòng vị tha, bao dung. Sự chia sẻ luôn mang lại niềm vui, hạnh phúc, sức khỏe và thậm chí là cả sự sống cho người khác, những hành động chia sẻ đó thể hiện tấm lòng yêu thương của chúng ta dành cho mọi người và ta sẽ đón nhận được những điều tuyệt vời bắt nguồn từ sự cho đi mà ta không hề nghĩ đến, kì diệu hơn thế nữa, người đầu tiên nhận được sự cho đi chính là ta, ta sẽ hoàn thiện hơn phần người trong phần con nhỏ bé trong con người ta, đó là nhân cách sống, sống là biết chia sẻ.
Đại dịch đã lấy đi rất nhiều thứ nhưng đồng thời cũng lại rất nhiều thứ có giá trị như giá trị về mục đích sống mà ta đã bỏ quên từ rất lâu rồi, trân trọng giá trị hạnh phúc chân thật ta vẫn còn hờ hững lắm, giá trị hiện hữu của ta đến cuộc đời này để làm gì vì ai cũng chỉ sống có một lần, chúng ta sống với một đời sống thật sâu sắc, có ý nghĩa, có giá trị, làm lợi ích cho đời và chúng ta hãy biết quan tâm đến nhau nhiều hơn. Hạnh phúc là biết cho đi, hãy cho đi ngay cả khi bạn chỉ còn một chút, đại dịch đã dạy cho ta một bài học như thế.
Hạnh phúc của sự cho đi
Đẹp thay cuộc sống vì ai đó
Vì những tình thương ta đã cho
Hạnh phúc trong tay người trao tặng,
Chẳng ở cùng người không biết cho.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương.
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Trong cảnh bất an, bệnh khổ, lo lắng này chúng ta không làm được như những bác sĩ ở tuyến đầu, chúng ta không làm được như những y tá, điều dưỡng trong tâm dịch, chúng ta không làm được như những chú bộ đội, những thầy cô xung phong đi vào bệnh viện, những Phật tử cư sĩ, chúng ta tuy ở xa trong núi rừng cũng bằng cả một tấm lòng trao tặng, bằng cả một tình thương gửi đến những sự thật, những trí tuệ, những ngọn đèn, những cây đuốc mà Đức Phật đã truyền trao. Ý thức được đời sống ngũ uẩn vô thường, tham, sân, si bất an, khổ đau, mong mang, tạm bợ và ngắn ngủi này thì chúng ta càng phải nỗ lực tinh tấn, tu học các thiện pháp không ngừng nghỉ, không dừng lại và chúng ta càng phải phát huy, càng nỗ lực, hãy nghĩ đến những người đang đau khổ, đang bệnh hoạn, đang nằm trên gường giành giật từng hơi thở, những bác sĩ ở tuyến đầu giành giật mạng sống cho bệnh nhân.
Hạnh phúc trong tay người biết trao tặng chứ không ở trong tay người ích kỷ, chỉ biết suy nghĩ cho mình, không biết trao gửi, lan tỏa đến những người khác dù chỉ làm món quà nhỏ vật chất, tinh thần hay chánh pháp. Cái gì cho được hãy đem cho dù chỉ là niềm vui nhỏ, một ánh mắt từ ái, một lời nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, một nụ cười hoan hỉ hoặc vài lời chánh pháp, một câu kinh, hoặc ngồi yên lặng thiền định để trải tình thương đến những người bị lũ lụt làm tan nát nhà cửa, chiến tranh, dịch bệnh. Mình muốn biến mình trở thành một dòng sông của tình thương, của từ ái để cho tất cả chúng sanh đang đau khổ được uống, được tắm mình trong đó. Chúng ta hãy trở thành những đóa hoa sen tỏa hương đến những người đang cận kề mình, đừng làm những dây gai độc đầy độc hại làm khổ những người bên cạnh, hãy lan tỏa được những cảm thọ hiền thiện, hiểu thương, cảm thông, tha thứ, chia sẻ.
Hãy cứ đem cho những lời an ổn, an lạc, chúng ta cùng đồng hành với quý Phật tử trong suốt mấy tháng nay cũng mong muốn chia sẻ chút nào lo lắng của quý vị, chia sẻ một chút nào sợ hãi, bất an của quý vị, chia sẻ một chút đau khổ, bệnh tật, mất mát của quý vị bằng những lời sự thật của Đức Thế Tôn nhằm xoa dịu và mang lại ngọn đèn, cây đuốc, mang lại chỗ dựa của chánh pháp này để chúng ta có được bình an trong hoàn cảnh bất an, có được sự an ổn trong thế giới bất ổn này. Nếu lỡ vài ngày nữa chúng ta ngừng thở, tới lúc đó chúng ta không còn vương vấn gì cuộc đời này nữa, nhìn lại cả cuộc đời này đã không ngừng nghỉ tăng thượng giới, định, tuệ, không ngừng nghỉ tăng thượng thiện pháp, tu học Thánh pháp và chúng ta sống trong sự tinh cần, nỗ lực, cố gắng, chia sẻ những gì có thể chia sẻ.
Việc cho pháp được Đức Thế Tôn gọi là cho bất tử, cho pháp là cho phương pháp làm lắng dịu lòng tham muốn, làm lắng dịu lòng tức giận, lòng si mê, soi sáng tâm vô minh, cho pháp là cho con đường ly tham, nhàm chán ngũ uẩn này, thoát ra sự chấp thủ những hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, thoát ra khỏi tù ngục của hình hài này, của những tài sản vật chất này, của những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, thoát ra khỏi gông cùm, nhà lao, tù đày của sự trói buộc, trói cột tâm thức này trong ngũ uẩn để chúng ta thấy được ánh sáng, thấy được ánh đèn, thấy được mặt trời, mặt trăng, thấy được ánh sáng của tuệ giác tối thượng mà Thế Tôn truyền trao cho chúng ta. Chúng ta nhìn sâu sắc và rộng khắp thân tâm, thế giới này đều không ra khỏi năm chữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vì sự không thấy không biết, vì sự tham đắm, trói buộc trong này mà chúng ta mãi mãi bị quay cuồng, nhấn chìm, bị sai khiến, giam giữ, đọa đày trong lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng si mê, vô minh đối với năm uẩn.
Cả công trình tu học của chúng ta là nhận ra năm uẩn, nhìn thấy sự nắm chặt trong đây và tháo gỡ từ từ bằng sự thấy biết, nắm được nội kết chính là những tư duy tham ái, những cảm giác, nghĩ tưởng ham muốn trong thọ; tưởng; hành, đó là mối thắt gút trong tâm, chúng ta dùng sự tác ý, quán chiếu và suy tư để mở mối thắt gút này bằng sự kiên trì, bền chí, tịnh tín bất động không lay chuyển, không thối lui, không bỏ cuộc và nhất định trong sự tinh cần, tinh tấn này chúng ta sẽ mở toang, cắt đứt, thoát ra.
Chúng ta đem tâm từ ái, tâm thương xót này lan tỏa cùng khắp đem lại lợi ích cho mình, cho người, cho hữu tình chúng sanh, dùng năm uẩn vô thường này làm ngọn đuốc trí tuệ soi sáng cho tự thân và cho tha nhân. Đời sống tu tập đầy giá trị, lợi ích và an lạc đến như vậy và chúng ta hãy cố gắng tác ý ngày đêm, hoan hỉ, vui thích trong sự tu tập thiện pháp.
./.
MẬT MÃ THẾ GIỚI 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ngũ uẩn là khổ đau PAGEREF _Toc112594124 \h 1
II.Vô minh đối với ngũ uẩn PAGEREF _Toc112594125 \h 4
III.Thánh trí ngũ uẩn PAGEREF _Toc112594126 \h 5
IV.Bài học cuộc sống sau đại dịch Covid-19 PAGEREF _Toc112594127 \h 8
V.Hạnh phúc của sự cho đi PAGEREF _Toc112594128 \h 10
Ngũ uẩn là khổ đau
Chúng ta sẽ cùng chiêm nghiệm về đời sống ngũ uẩn. Bản thân Minh Thành có thời gian ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và thấy rằng trí ngũ uẩn này là mật mã của nhân sinh vũ trụ, trí năm uẩn này bao trùm tất cả pháp. Trong thời gian gần đây, Minh Thành phát hiện thêm những điều lúc trước mình chưa thấy, tất cả pháp đều nằm trong ngũ uẩn, không có cái gì ra khỏi ngũ uẩn cho nên thấy ngũ uẩn là thấy pháp, thấy ngũ uẩn là thấy Phật, nếu không thấy ngũ uẩn là lúc đó chúng ta sống với vô minh, bản ngã, với tham, sân, si.
Khi có sự chiêm nghiệm, chúng ta sẽ thấy rằng thân người, đồ vật, cảnh vật, những cảm giác, nghĩ, tưởng và nhận thức bao trùm hết nhân sinh, vũ trụ. Ngũ uẩn đồng nghĩa với đời sống này, đồng nghĩa với cuộc sống này, đồng nghĩa với dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, vô minh, nói đầy đủ năm thủ uẩn đồng nghĩa với hơn thua, sân si, tham ái, đấu tranh. Sự nắm chặt vào năm thủ uẩn này đồng nghĩa với tranh chấp, tranh đấu, tranh hơn, tranh thua, đồng nghĩa với được mất, vinh nhục, khổ vui, thành bại… Cho nên tất cả mọi thứ trong cuộc đời này đều nằm trong ngũ uẩn, không gì nằm ngoài ngũ uẩn, chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều trong sự tu học này.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với cuộc sống thì như thế nào gọi là cuộc sống? Cuộc sống là phải có thân thể, cảm giác, suy tưởng, nhận thức. Cuộc sống này có một tấm thân, có tài sản, có cảnh vật, trong đó là những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, như vậy đây là cuộc sống của ngũ uẩn.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với thương, tức là lúc thương phải có đối tượng để thương, có cảm giác dễ chịu, có hình bóng người thương trong tâm, có suy nghĩ nhớ thương người đó, có nhận thức rõ biết suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, như vậy là ngũ uẩn thương mến. Nếu có sự nhận diện ngũ uẩn này trong khi thương thì chúng ta sẽ thấy không còn cái thương nữa; mà đó chỉ là thọ, tưởng, hành, thức mà thôi. Nếu lúc đó không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngũ uẩn thì mình bị dính chặt vào đó và cho rằng "tôi thương".
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với ghét thì phải có đối tượng ghét, có cảm giác khó chịu, có hình bóng của người làm mình bực bội trong tâm, suy nghĩ ghét người đó, có nhận thức mình đang có cái sân đó. Lúc này là ngũ uẩn ghét chứ làm gì có cái tôi ghét nhưng khi không nhận diện ngũ uẩn sẽ có "tôi ghét", "tôi giận", "tôi bực", khi nhìn ra ngũ uẩn sẽ tan biến đi cái tôi, như vậy nghĩa là thấy ngũ uẩn là thấy pháp.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với được, tức là mình có được một thứ gì trong sắc pháp này, ví dụ như món đồ, ruộng vườn, xe cộ hoặc là có được một người. Lúc đó sẽ có cảm giác lạc thọ, có hình bóng của món đồ hoặc con người mình được khởi lên trong tâm, có suy nghĩ mình được cái đó, mình nhận rõ được mình có cái đó, như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với được.
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với mất, tức là khi bị mất đi sắc pháp nào đó, mình sẽ có cảm giác khổ thọ, có hình bóng món đồ hoặc con người bị mất đi, có suy nghĩ theo chiều hướng "tôi mất" và có sự rõ biết về thọ, tưởng, hành đó, như vậy là ngũ uẩn mất chứ mình không có mất.
Những điều này nghe qua rất đơn giản nhưng lại là trí tuệ của bậc Thánh, nếu học phất phơ về ngũ uẩn sẽ không thấy được tầm vóc, giá trị quan trọng của pháp hành. Như vậy cái thương, cái ghét, cái được, cái mất, cái vinh, cái nhục là ngũ uẩn chứ mình không có thương ghét, được mất, hơn thua, vinh nhục; nhưng nếu ta nhập cuộc làm một vơi ngũ uẩn thì lúc đó sẽ có được mất, thương ghét, hơn thua… Sự nhập cuộc như vậy gọi là vô văn phàm phu, còn nhận diện được năm uẩn thì gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử chỉ khác nhau ở chỗ nhận diện hay không nhận diện được năm uẩn. Nếu không thấy năm uẩn thì đồng hóa với nó và cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; khi bị đồng hóa, tâm này sẽ toàn là tham, sân, si, có không, được mất, vinh nhục, tranh đấu…
Khi nói ngũ uẩn đồng nghĩa với lo lắng, sợ hãi và bất an nghĩa là lo lắng cho sắc đẹp xấu, tươi tắn hay héo tàn, hưng thịnh hay suy vong. Tuy nhiên, bản chất của sắc là vô thường, nghĩa là tươi rồi héo, thịnh rồi suy, trẻ rồi già, tròn rồi khuyết, mập rồi ốm, mơn mởn rồi chai sần, tàn lụng. Bản chất của sắc là như vậy nhưng mình nắm giữ, nắm chặt cho nó là tôi, là của tôi thì làm sao không lo lắng, bất an được? Nếu nắm giữ cảm giác dễ chịu này, chỉ muốn có cảm giác dễ chịu chứ không muốn có cảm giác khó chịu, bất cứ khi nào có cảm giác khó chịu là mình bực bội, bức xúc, sân hận lên, mình chỉ muốn diệt trừ cảm giác khó chịu và giữ lại cảm giác dễ chịu, nếu không được thì khổ cho nên ngũ uẩn này đồng nghĩa với khổ đau. Như vậy, do không thành tựu trí huệ về thọ uẩn cũng như trước đó không thành tựu trí huệ về sắc uẩn, cứ nghĩ tất cả sẽ thường còn, bền đẹp, đứng vững, không suy suyển, đó là suy nghĩ sai, là tà kiến, rồi chấp thủ, nắm giữ vào đó.
Hình bóng trong tâm cũng giống vậy, mình có một hình bóng về tự thân, về món đồ hoặc về một con người nào đó thì đó là hình bóng vô thường nhưng mình cứ nghĩ hình bóng đó thường còn, trừ khi nào có tu mới thấy hình bóng đó là vô thường. Căn bệnh trầm kha của tất cả chúng ta là khi nghĩ về bất kì món đồ hay đối tượng nào thì mình nghĩ nó sẽ như vậy hoài. Đến khi thấy món đồ đó tan vỡ, bể nát hoặc người mình thương nằm bệnh một chỗ, lấy hơi lên là mình đau khổ, tan nát, tim muốn vỡ ra, nước mắt chảy ra vì trong tâm mình là tưởng thủ uẩn. Tức là chúng ta cứ nắm chặt vào hình bóng mình đã thấy và cho rằng nó sẽ như vậy hoài, mấy chục năm sau nhớ lại cũng nghĩ hình bóng đó cũng như vậy, đến khi gặp lại nhau là bất ngờ vì người xưa đã thay đổi quá nhiều, đó là do tưởng thủ uẩn, nắm chặt vào hình bóng năm xưa và nghĩ rằng sẽ không đổi thay, không vô thường, không tan hoại. Đó là hình bóng người khác. Còn đối với hình bóng của tự thân, đến khi đi đến giai đoạn suy lão, bệnh tật hoặc sắp tan rã thì mình khổ đau rất nhiều, đó là tưởng thủ uẩn.
Như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với khổ đau và sự nắm giữ vào trong năm uẩn này là đồng nghĩa với khổ đau, vấn đề là sự nắm giữ này lại ăn vào xương tủy, không cần ai dạy mà sanh ra đã biết nắm giữ. Chẳng hạn, vừa được phân chia cái đơn là cho rằng cái đơn đó của mình, ai lại nằm hoặc xả rác trên đó là xảy ra chuyện liền, mặc dù đã có sự tu tập. Dù mỗi ngày đều quán chiếu ngũ uẩn, quán không có gì là tôi, không có gì của tôi mà còn vậy thì huống hồ gì kẻ phàm phu thì chấp thủ đến mức độ nào. Cho nên sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau. Mình nói điều đó mà người ta làm ngược lại là mình sân lên, tức giận, không hài lòng, mình muốn món đồ đó mà không được là buồn khổ, như vậy ngũ uẩn đồng nghĩa với khổ đau. Nói sâu hơn nữa là sự nắm giữ vào trong năm uẩn là đồng nghĩa khổ đau, lo lắng, sợ hãi, bất an. Thế mà chúng ta lại nắm giữ trong từng suy nghĩ, trong từng cảm giác, hình bóng, ngoài miệng nói xả bỏ nhưng trong tâm lại nghĩ bỏ hết thì tiếc, thì uổng, bỏ hết rồi còn gì nữa.
Phải thấy được những dục ái, chấp thủ này, phải nhìn ra được sự chống đối, sự ương ngạnh, cứng cỏi không nghe lời và tu với sự cứng cỏi, khó dạy, khó bảo đó. Khi chiêm nghiệm Minh Thành mới thấy những từ "tâm nhu nhuyến", "mềm mại", "dễ sử dụng" rất hay, mỗi một từ như vậy là chủ đề thiền quán trong nhiều năm, nhiều chục năm, để đạt được những tâm này thật sự phải rất công phu, cái tâm phải nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng trong thiện pháp, trong sự tu tập vì khi nghe pháp cũng vâng dạ nhưng trong tâm lại chống đối, không muốn buông bỏ, nếu vậy là tâm chưa được nhu nhuyến, tâm chưa mềm mại, tâm chưa dễ sử dụng.
Vô minh đối với ngũ uẩn
Tất cả thế gian này, từ vật chất, tinh thần cho đến tâm linh thế giới, mật mã của nhân sinh và vũ trụ chính là trí năm uẩn, tất cả đều do năm uẩn sanh khởi và vận hành, đưa mình đến lo lắng, bất an, sợ hãi và khổ sầu mà mình không hề hay biết, mình chỉ là con rối bị điều khiển, sai khiến, kêu gì làm đó.
Trước đây, chúng ta chỉ học chung chung về vô minh nhưng không biết vô minh với cái gì, tại sao vô minh. Nếu không học năm uẩn sẽ vô minh đối với sắc, không thấy không biết về tứ đại; vô minh đối với thọ, không biết những cảm giác dẫn dắt, không biết tham, sân, si, dục ái cư trú trong cảm thọ, không biết có sự nắm giữ, chấp thủ trong cảm thọ; không nhận ra những hình bóng trong tâm, những sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng đều không thấy không biết… Cái tưởng nào hiện lên cũng cho nó là tôi, không biết những hình bóng về sắc; không biết những hình bóng của âm thanh đã nghe; những mùi vị từng ngửi; từng ăn; những sự tiếp xúc đụng chạm đã từng tiếp xúc; những thọ, tưởng, hành bên trong (pháp tưởng) sanh khởi cũng cho rằng là tôi nghĩ, tôi tưởng. Chính vì vậy, chúng ta vô minh đối với thọ, vô minh đối với những hình bóng, vô minh đối với những suy nghĩ trong tâm, suy nghĩ nào khởi lên cũng cho rằng tôi hay, tôi giỏi, tôi tài, tôi lanh lợi.
"Người ngu biết mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Nếu ngu mà biết mình ngu thì còn cứu chữa được, còn ngu mà cho rằng mình có trí thì hết thuốc chữa, người đó xứng gọi chí ngu. Như vậy là vô minh đối với ngũ uẩn, không thấy không biết, không sáng tỏ, không thấu đáo, không nhìn ra mình vô minh, tham ái, tham muốn đối với ngũ uẩn. Vô minh đối với nhận thức, rõ biết, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, như vậy là mình không biết rành rõ là mình vô minh đối với năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Các pháp này là pháp biến hoại, tan rã, vỡ nát, mình nắm giữ vào nó là lo lắng, sợ hãi, bất an, khi mình hiểu được như vậy thì vô minh bị phá và minh sanh, vì thế minh hay vô minh đều căn cứ vào việc thấy hay không thấy ngũ uẩn.
Thánh trí ngũ uẩn
Trí ngũ uẩn này là mật mã mở ra hết cánh cửa của Thánh phàm, của ngũ thú lục đạo, của tam giới, của bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Khi nắm giữ vào ngũ uẩn là đồng nghĩa với kiết sử, kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Cái gì trói buộc? Sắc đẹp trói buộc, tiền bạc trói buộc, ruộng vườn trói buộc, tài sản trói buộc, đây chỉ mới là sắc trần bên ngoài, là năm dục trưởng dưỡng, còn những tư duy tham ái, sự suy nghĩ yêu thích, khoan khoái mới là dục, tức là thọ; tưởng; hành. Như vậy cái bên ngoài là sắc, còn suy nghĩ bên trong là hành uẩn, trong suy nghĩ có cảm giác thích thú, có hình bóng món đồ đó, như vậy sự trói cột này là sắc và những cảm giác, nghĩ tưởng ham muốn sắc trói buộc, phân tích kĩ là bao gồm chủ thể tham muốn và đối tượng tham muốn.
Cổ nhân có câu "hoa bất mê nhân, nhân tự mê. Tửu bất túy nhân, nhân tự túy". Nghĩa là sắc đẹp không tự nhiên làm người mê muội, chỉ có người tự mình mê đắm trong sắc đẹp; rượu không tự nhiên làm say người, chỉ có người tự làm mình say. Câu này nói đúng nhưng chỉ có một chiều, nếu không có đóa hoa đó thì làm sao người kia say mê được, không có người con gái đó thì làm sao người đàn ông này mê được, ngược lại, nếu không có người đàn ông này thì làm sao người phụ nữ kia tương tư được. Cho nên Đức Phật chỉ ra hai hướng cả bên ngoài lẫn bên trong nghĩa là sắc và những tư duy tham ái sắc đẹp đó, chính là năm dục trưởng dưỡng và những tư duy tham ái đối với năm dục đó.
Những sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, những sự xúc chạm êm ái, hấp dẫn cộng với bên trong là những cảm giác, nghĩ tưởng tham ái, tham dục đối với những thứ đó nên trở thành sự trói cột (kiết), sau đó là sai khiến mình đi tìm (sử), tìm không được thì đau khổ, tìm được cũng không kéo dài lâu, sau khi tìm được mà mất đi thì càng khổ hơn cho nên cả ba thời đều khổ. Như vậy là sai khiến và trói buộc là đối với ngũ uẩn nên có kiết sử, toàn bộ sự tu hành của mình là ly tham, nhàm chán đối với ngũ uẩn, thấy được nguy hiểm, tác hại, khổ sầu, bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, than đỏ trong ngũ uẩn.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Trong bài kinh “Vị giữ giới” đã nói tất cả sự tu tập là quán chiếu năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này chính là sự chấp thủ, sự nắm chặt vào trong ngũ uẩn này.
Bốn Thánh Trí Về Ngũ Uẩn:
- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ (Trí về Ngũ uẩn).
- Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và tham ái (Trí về Ngũ uẩn tập).
- Ngũ uẩn diệt tận khi hết vô minh và hết tham ái (Trí về Ngũ uẩn diệt).
- Phương Pháp Tám Đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn (Trí về Ngũ uẩn diệt đạo).
Trên đây cho chúng ta thấy sự vĩ đại về tu học của trí năm uẩn, nhiều khi chúng ta nghe rồi để đó thì không thấy được ý nghĩa thật sự của Thánh Pháp. Thế nên chúng ta phải thật sự để tâm chiêm nghiêm, tu tập để thấy được giá trị quý báu tối thượng của pháp. Những gì chúng ta nhìn thấy, từ thương ghét, được mất, khổ vui cho đến đời sống này, thân tâm này đều chỉ là ngũ uẩn, những vô minh, tham ái, kiết sử, tham, sân, si cũng chỉ là sự chấp thủ vào trong ngũ uẩn này. Đến lúc nào chúng ta nhìn thấy ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn, tỏ tường về ngũ uẩn thì lúc đó bớt khổ, giảm khổ. Ly tham được ngũ uẩn thì chúng ta trở thành người ngoài cuộc đối với thế giới này, nếu thấy tự thân mình còn ở trong ngũ uẩn thì chúng ta là người trong cuộc.
Bài học cuộc sống sau đại dịch Covid-19
Nhìn thấy những hình ảnh của những người bệnh nằm trên gường đau đớn, quằn quại hoặc nằm trên gường mà hấp hối gần chết, con thì động viên "ba ráng khỏe về với con", còn người cha thì nói "ba sợ quá con ơi", mẹ thì mới chết, giờ thì đến cha đang hấp hối, vợ chồng xa nhau, cháu mất ông bà, anh mất em, thậm chí cả nhà sáu bảy người, năm bảy người cùng chết, hoặc là cả một ngôi chùa ba bốn thầy đều chết, vài ngày lại nhận tin người quen đã qua đời, người kia nhiễm bệnh. Cả một hố sâu bằng sân vận động được dùng để chôn tập thể xác người chết vì nhiễm dịch bệnh, chúng ta hãy dùng thọ; tưởng; hành của mình để quán chiếu, mộ chồng lên mộ, xác chết lên xác trong những chiếc xe đông lạnh cả tuần lễ đến nửa tháng vì lò thiêu đã quá tải. Chúng ta chỉ nghe nói, chỉ tưởng tượng ra những hình ảnh đó đã thấy cay đắng, nước mắt cầm không được thì tự thân chúng ta hoặc cha mẹ, anh em, thân quyến rơi vào hoàn cảnh đó còn đau khổ hơn thế nào nữa.
Chúng ta được ở núi rừng đầy phước báo, phước duyên, có môi trường thù thắng, nếu chúng ta ở trong tâm dịch thì chúng ta sẽ thấy được sự khủng khiếp, sẽ hoảng loạn, bất an như thế nào, những người hết bệnh kể lại hành trình chống chọi với cơn bệnh đau đớn đến thế nào, mà đó là ở nhà, còn những người ở trong khu cách ly tập trung sẽ có biết bao nỗi lo lắng, bất an. Đây là một Phật tử và gia đình đã hộ trì Linh Quy Pháp Ấn rất nhiều năm, hiện tại Phật tử này đang mua thuốc Covid ở Đức để gửi về cúng dường cho các chùa và cho Linh Quy chúng ta, Phật tử này cảm xúc rất sâu sắc trước những cảnh khổ của con người đã viết lên những dòng suy nghĩ rất hiểu thương, chúng ta sẽ nghe một chút:
GIÁ TRỊ SỐNG
Có ai dám nghĩ mình sẽ tan biến bất cứ lúc nào trên cõi đời này không? Thật tình là không ai dám nghĩ đến, thế mà Covid làm được, đại dịch như một trận cuồng phong quét qua, thấy thân phận con người thật nhỏ bé và mong manh.
Hôm nay lại bất chợt nghe tin rồi bất ngờ biết được sự vô thường đã ghé thăm những người hàng xóm, những người ta quen biết. Có ai dám nghĩ mình sẽ ra đi trong lặng lẽ cô độc không? Sẽ không có chuyện đó mà, thế mà Covid làm được, người ra đi đến giây phút cuối của cõi tạm này cũng không được nhìn mặt một người thân nào, người ở lại thì nghẹn ngào cũng không thể với tới được giây phút sanh ly tử biệt kiếp người, chốn dừng ấy là nơi cuối cùng. Những cảm giác bàng hoàng, ngơ ngác, hoang mang, sợ hãi chưa bao giờ bao trùm cõi nhân gian này, thế mà Covid làm được và Covid đã làm được những điều đó, nó đang diễn ra từng giây, từng phút ở mọi nơi.
Đại dịch đã không phân biệt người nghèo khó hay kẻ giàu có, dù bạn là ai, dường như bất lực trước Covid. Khi mà chúng ta mất đi gần hết sự tự do, sinh hoạt bình thường thì chúng ta mới nhận ra rằng những cái mà ta từng nắm bắt được, tiền bạc, địa vị, sự nổi tiếng, sự chuẩn bị cho một đời sống bảo an, tất cả những thứ đó nó không giúp ta bảo vệ được sức khỏe, bảo vệ người thân.
Đại dịch đã dạy ta những gì? Dạy ta phải biết cảm ơn cuộc đời này vì ta vẫn còn sống, còn thấy những gương mặt của người thân yêu, vì ta còn sống lành lặn, khỏe mạnh, bình an, được sinh hoạt bình thường, được thưởng thức một bữa cơm đầm ấm với gia đình, vậy tại sao ta chưa làm một điều gì đó có ích cho đời, có ý nghĩa, có lợi ích cho những người xung quanh? Đó là sự biết ơn và tri ơn đến với cuộc đời này, sống là biết chia sẻ.
Chia sẻ chỉ cần thật tâm, đôi khi chỉ là một lời khuyên, kinh nghiệm, nói lời chân tình hay thậm chí chỉ là một ánh mắt thiện cảm, một nụ cười đôn hậu, một tấm lòng vị tha, bao dung. Sự chia sẻ luôn mang lại niềm vui, hạnh phúc, sức khỏe và thậm chí là cả sự sống cho người khác, những hành động chia sẻ đó thể hiện tấm lòng yêu thương của chúng ta dành cho mọi người và ta sẽ đón nhận được những điều tuyệt vời bắt nguồn từ sự cho đi mà ta không hề nghĩ đến, kì diệu hơn thế nữa, người đầu tiên nhận được sự cho đi chính là ta, ta sẽ hoàn thiện hơn phần người trong phần con nhỏ bé trong con người ta, đó là nhân cách sống, sống là biết chia sẻ.
Đại dịch đã lấy đi rất nhiều thứ nhưng đồng thời cũng lại rất nhiều thứ có giá trị như giá trị về mục đích sống mà ta đã bỏ quên từ rất lâu rồi, trân trọng giá trị hạnh phúc chân thật ta vẫn còn hờ hững lắm, giá trị hiện hữu của ta đến cuộc đời này để làm gì vì ai cũng chỉ sống có một lần, chúng ta sống với một đời sống thật sâu sắc, có ý nghĩa, có giá trị, làm lợi ích cho đời và chúng ta hãy biết quan tâm đến nhau nhiều hơn. Hạnh phúc là biết cho đi, hãy cho đi ngay cả khi bạn chỉ còn một chút, đại dịch đã dạy cho ta một bài học như thế.
Hạnh phúc của sự cho đi
Đẹp thay cuộc sống vì ai đó
Vì những tình thương ta đã cho
Hạnh phúc trong tay người trao tặng,
Chẳng ở cùng người không biết cho.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương.
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Trong cảnh bất an, bệnh khổ, lo lắng này chúng ta không làm được như những bác sĩ ở tuyến đầu, chúng ta không làm được như những y tá, điều dưỡng trong tâm dịch, chúng ta không làm được như những chú bộ đội, những thầy cô xung phong đi vào bệnh viện, những Phật tử cư sĩ, chúng ta tuy ở xa trong núi rừng cũng bằng cả một tấm lòng trao tặng, bằng cả một tình thương gửi đến những sự thật, những trí tuệ, những ngọn đèn, những cây đuốc mà Đức Phật đã truyền trao. Ý thức được đời sống ngũ uẩn vô thường, tham, sân, si bất an, khổ đau, mong mang, tạm bợ và ngắn ngủi này thì chúng ta càng phải nỗ lực tinh tấn, tu học các thiện pháp không ngừng nghỉ, không dừng lại và chúng ta càng phải phát huy, càng nỗ lực, hãy nghĩ đến những người đang đau khổ, đang bệnh hoạn, đang nằm trên gường giành giật từng hơi thở, những bác sĩ ở tuyến đầu giành giật mạng sống cho bệnh nhân.
Hạnh phúc trong tay người biết trao tặng chứ không ở trong tay người ích kỷ, chỉ biết suy nghĩ cho mình, không biết trao gửi, lan tỏa đến những người khác dù chỉ làm món quà nhỏ vật chất, tinh thần hay chánh pháp. Cái gì cho được hãy đem cho dù chỉ là niềm vui nhỏ, một ánh mắt từ ái, một lời nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, một nụ cười hoan hỉ hoặc vài lời chánh pháp, một câu kinh, hoặc ngồi yên lặng thiền định để trải tình thương đến những người bị lũ lụt làm tan nát nhà cửa, chiến tranh, dịch bệnh. Mình muốn biến mình trở thành một dòng sông của tình thương, của từ ái để cho tất cả chúng sanh đang đau khổ được uống, được tắm mình trong đó. Chúng ta hãy trở thành những đóa hoa sen tỏa hương đến những người đang cận kề mình, đừng làm những dây gai độc đầy độc hại làm khổ những người bên cạnh, hãy lan tỏa được những cảm thọ hiền thiện, hiểu thương, cảm thông, tha thứ, chia sẻ.
Hãy cứ đem cho những lời an ổn, an lạc, chúng ta cùng đồng hành với quý Phật tử trong suốt mấy tháng nay cũng mong muốn chia sẻ chút nào lo lắng của quý vị, chia sẻ một chút nào sợ hãi, bất an của quý vị, chia sẻ một chút đau khổ, bệnh tật, mất mát của quý vị bằng những lời sự thật của Đức Thế Tôn nhằm xoa dịu và mang lại ngọn đèn, cây đuốc, mang lại chỗ dựa của chánh pháp này để chúng ta có được bình an trong hoàn cảnh bất an, có được sự an ổn trong thế giới bất ổn này. Nếu lỡ vài ngày nữa chúng ta ngừng thở, tới lúc đó chúng ta không còn vương vấn gì cuộc đời này nữa, nhìn lại cả cuộc đời này đã không ngừng nghỉ tăng thượng giới, định, tuệ, không ngừng nghỉ tăng thượng thiện pháp, tu học Thánh pháp và chúng ta sống trong sự tinh cần, nỗ lực, cố gắng, chia sẻ những gì có thể chia sẻ.
Việc cho pháp được Đức Thế Tôn gọi là cho bất tử, cho pháp là cho phương pháp làm lắng dịu lòng tham muốn, làm lắng dịu lòng tức giận, lòng si mê, soi sáng tâm vô minh, cho pháp là cho con đường ly tham, nhàm chán ngũ uẩn này, thoát ra sự chấp thủ những hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, thoát ra khỏi tù ngục của hình hài này, của những tài sản vật chất này, của những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, thoát ra khỏi gông cùm, nhà lao, tù đày của sự trói buộc, trói cột tâm thức này trong ngũ uẩn để chúng ta thấy được ánh sáng, thấy được ánh đèn, thấy được mặt trời, mặt trăng, thấy được ánh sáng của tuệ giác tối thượng mà Thế Tôn truyền trao cho chúng ta. Chúng ta nhìn sâu sắc và rộng khắp thân tâm, thế giới này đều không ra khỏi năm chữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vì sự không thấy không biết, vì sự tham đắm, trói buộc trong này mà chúng ta mãi mãi bị quay cuồng, nhấn chìm, bị sai khiến, giam giữ, đọa đày trong lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng si mê, vô minh đối với năm uẩn.
Cả công trình tu học của chúng ta là nhận ra năm uẩn, nhìn thấy sự nắm chặt trong đây và tháo gỡ từ từ bằng sự thấy biết, nắm được nội kết chính là những tư duy tham ái, những cảm giác, nghĩ tưởng ham muốn trong thọ; tưởng; hành, đó là mối thắt gút trong tâm, chúng ta dùng sự tác ý, quán chiếu và suy tư để mở mối thắt gút này bằng sự kiên trì, bền chí, tịnh tín bất động không lay chuyển, không thối lui, không bỏ cuộc và nhất định trong sự tinh cần, tinh tấn này chúng ta sẽ mở toang, cắt đứt, thoát ra.
Chúng ta đem tâm từ ái, tâm thương xót này lan tỏa cùng khắp đem lại lợi ích cho mình, cho người, cho hữu tình chúng sanh, dùng năm uẩn vô thường này làm ngọn đuốc trí tuệ soi sáng cho tự thân và cho tha nhân. Đời sống tu tập đầy giá trị, lợi ích và an lạc đến như vậy và chúng ta hãy cố gắng tác ý ngày đêm, hoan hỉ, vui thích trong sự tu tập thiện pháp.
./.