Chiếu Kiến Ngũ Uẩn - Nhận Diện Thân Tâm 11
Tinh Hoa Nikāya
Chiếu Kiến Ngũ Uẩn
Nhận Diện Thân Tâm 11
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh quán thọ thực PAGEREF _Toc179916119 \h 1
II. Thịt đứa con PAGEREF _Toc179916120 \h 6
III. Xúc thực PAGEREF _Toc179916121 \h 10
IV. Tư niệm thực PAGEREF _Toc179916122 \h 13
V. Thức thực PAGEREF _Toc179916123 \h 15
I. Chánh quán thọ thực
Cảm giác hơi thở… Cảm giác cơ thể… Cảm giác toàn thân… Cảm giác sự an tịnh của thân tâm… Cảm giác sự an tịnh của không gian nơi này, vùng đất này và trời đất này… Cảm giác dễ chịu đối với không gian này, vùng đất này và trời đất này… Trong tâm thương rộng lớn này, mong tất cả các loài hữu tình đều được an lạc và bình an, tìm được niềm an vui cho mình… Thương mình bị tham, sân, si, bị vô minh, khát ái làm cho đau khổ, tâm thương mình thật nhiều và thương muôn loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Tâm thương rộng lớn… Rõ biết tâm thương rộng lớn… Cảm giác tâm thương rộng lớn… Cảm giác thân đang ngồi… Cảm giác cổ họng… Xem lại cảm thọ dục, ái trước bữa ăn này… Trước bữa ăn này, nước miếng có chảy không?... Có dục, ái trong việc chảy nước miếng này không? Hay nước miếng chảy đơn thuần do duyên xúc?... Nếu thấy có dục, ái trong thân tâm thì như lý tác ý để diệt dục, ái.
Chánh niệm tỉnh giác quán sát thân hành trong khi ăn. Khi ăn, tránh tạo ra tiếng muỗng đũa va chạm, tiếng múc cơm, tiếng vét cơm, tiếng để muỗng đũa xuống. Tránh tạo ra các tiếng động một cách tối đa. Kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn. Xin hãy mở mắt ra, đừng nhắm lại vì nhắm lại rất nguy hiểm, vô minh sẽ lập tức xâm chiếm thân tâm chúng ta, lúc nào nó cũng rình rập. Tiếng múc cơm, tiếng vét cơm hay tiếng muỗng đũa không được vang ra trong khi ăn, kiểm soát thân hành tối đa, bây giờ phải mở mắt sáng tỏ như tổ Bồ-đề Đạt-ma.
Kiểm soát thân hành khi ăn là kiểm soát tay, chân, mắt, miệng, kiểm soát hành động gắp thức ăn, cái chân ngồi có đàng hoàng không, cái miệng nhai phải kiểm tra. Trong khi ăn cơm phải làm việc rất nhiều chứ không phải chỉ đơn thuần là ăn, trong đó là cả một sự tu, một sự kiểm soát quản lý, quán chiếu, soi rọi, chế ngự, nhiếp phục, một sự thúc giục, ưa thích, thèm muốn ham ăn ở trong tâm. Kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn vào miệng, kiểm soát việc nhai thức ăn.
Khi nhai thức ăn không nhai thô thiển, không nhai nghe tiếng, kiểm soát quai hàm trong khi nhai, làm chủ độ nhai, đó là sự tỉnh giác và chánh niệm, là chánh quán thọ thực. Nhai hết muỗng cơm này rồi mới đưa muỗng cơm khác vào. Không vừa nhai vừa cầm sẵn muỗng thức ăn tiếp theo để đưa vào miệng.
Hôm nào chúng ta đi về trễ hoặc chúng ta bệnh thì khi đó chúng ta thực tập rồi sẽ thấy, khi ngồi chung với đại chúng thì phải theo chúng nhưng lâu lâu mình có dịp riêng thì chúng ta sẽ thấy pháp vận hành, hiển hiện trong khi ăn cơm, đây là cách ăn của Đức Phật, chúng ta lấy cách ăn của Đức Phật dạy ra học. Kiểm soát cảm thọ dục, ái trong khi ăn.
Dừng lại việc ăn nếu thấy dục, ái xuất hiện, đang ăn là thấy thục giục ham ăn, muốn ăn là dừng lại, không ăn nữa, để cho cảm giác thúc giục đó lắng dịu xuống an tịnh từ từ rồi mới ăn tiếp. Chỉ riêng vấn đề ăn cơm thôi cũng đã là một công phu thâm hậu chứ không hề đơn giản, như lý tác ý diệt tận dục ái đã sanh rồi sau đó mới ăn tiếp, để cảm thọ an tịnh lắng dịu xuống rồi mới ăn tiếp. Tập nhận diện ngũ uẩn trước khi ăn, trong khi ăn và sau khi ăn.
Trước khi ăn phải xem lại ngũ uẩn như thế nào, trong khi ăn phải xem ngũ uẩn đang thế nào và sau khi ăn cũng phải xem lại ngũ uẩn thế nào, về nhà viết nhật kí tu học nhận diện ngũ uẩn khi ăn cơm, khi thọ Trai. Chỉ cần thực tập một tuần thôi là chúng ta sẽ thấy chúng ta ăn cơm sẽ khác rất xa với lúc trước, trong đạo tràng Nikāya một trăm vị khi ăn cơm không hề nghe tiếng động gì cả.
Lúc đầu mới thực tập sẽ khó khăn vì trong tâm sẽ có sự chống đối vì đã quen với việc ăn cơm theo thói quen nhưng phải chịu thì từ từ sẽ quen, từ từ mình sẽ ăn trong trạng thái an tịnh lắng dịu, không ăn sôi nổi, ăn ngấu nghiến. Tập tâm thanh tịnh rộng lớn trong khi ăn, trong hàng Thánh chúng của chư Phật thì chư thiên rất thích cúng dường cho ngài Maha Ca-diếp vì khi ngài ăn cơm thường trú trong vô tướng tâm định, ngài trú trong định vô tướng mà cái định đó phước đức như hư không cho nên chư Thiên rất thích và mong muốn được cúng dường cho ngài để có phước đức nhiều. Vô tướng tâm định là tâm rộng lớn như hư khôn, ngài trú vào tâm này mỗi khi dùng cơm, cúng cho ngài là phước vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.
Trong khi ăn không để cho hương vị xâm chiếm hết tâm mà tâm mình phải trải rộng lớn cùng khắp hư không thế giới bằng tâm thương. Bữa ăn này được thọ nhận với chánh tư duy như sau: Ta thọ dụng thức ăn này không phải để vui đùa tức là ăn không phải để vui sướng, vui chơi, thường người ta ngoài đời lấy cái ăn làm cái vui nhưng ở đây ăn không phải để thích, vui đùa. Không phải để đam mê, không phải mê trong các món ăn đó. Không phải để trang sức.
Không phải để tự làm đẹp mình, không phải lựa món ăn để đẹp da, để mát, dễ đại tiểu tiện, để bổ não, bổ tim… Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật ăn như vậy đó, trên đây là tám đức, tám sự quán niệm trong khi ăn. Ăn chỉ để thân này được an trú, được an ổn, không bị đói khát, suy dinh dưỡng, được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, để hỗ trợ cho sự tu hành đạt đến đức hạnh thanh tịnh cao thượng, tối thượng của người xuất gia.
Nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn." Như vậy, là sự biết tiết độ trong ăn uống. Đây là pháp hành thường xuyên của chư Tỳ-kheo thời Đức Phật và hiện tại cũng có những vị tu theo Phật giáo nguyên thủy hành trì rất kĩ lưỡng. Khi Minh Thành đi qua bên trung tâm thiền quốc tế ở Thái Lan của ngài Ajahn Chah trong rừng thì hôm đó mình xin được đi khất thực chung với các sư và đa số các sư này là người Châu Âu, Châu Mỹ và trong chỗ đó họ giữ giới luật nghiêm khắc vô cùng, một ngày chỉ ăn một bữa.
Lúc đó đi khất thực với các sư cao to người Châu Âu nên bước đi của họ rất dài, còn mình thấp bé nên bị tuột lại phía sau, ôm bình bát đạp lên đá đau chân thì mới cảm nhận được pháp hành. Khi đồ ăn được dọn sẵn lên bàn chỉ để lên ăn thì khác nhưng khi ôm bình bát đi ăn xin thì lúc đó mới thấy được một người khất sĩ, một người ăn xin như thế nào và khi đi khất thực như vậy thì quán chiếu cảm thọ, nhận diện ngũ uẩn mới thấy chân đau đi trong trời nắng, dưới mặt đường nhựa thì nóng, đạp lên đá, đi không kịp với các sư, y áo luộm thuộm ôm bình bát lại không quen.
Khi đó nhận diện ngũ uẩn, nhận diện cảm thọ để tác ý chế ngự cảm xúc, cảm thọ của mình, mình đi tu mấy chục năm mới đi khất thực lần đầu tiên trong khi các ngài đi hằng ngày thì sao, tại sao mình lại thấp kém, hèn hạ, phải cố gắng, phải làm cho được.
Mình cảm nhận được cái hạnh khất thực rất quan trọng, ngoài ra còn một điều nữa là đồ ăn xin được đều đổ hết vào trong bình bát. Đồ kho, canh, chè đều để chung một bát thì các thầy có ăn được không? Người ta cho mình cái gì thì phải lấy cái đó chứ chẳng lẽ nói rằng "trong này là cơm canh đừng đổ chè vô", không được như vậy, có nhiều người để cả trái dừa vào bát là xong luôn, lúc đó phải xem lại cảm thọ có sân, có khó chịu không.
Đừng nghĩ rằng mình bây giờ tu hay nhất rồi, mình giỏi rồi vì ngoài kia còn rất nhiều vị tu hành rất giỏi, rất hay, còn nhiều đức hạnh sâu sắc mà mình cần học hỏi. Ngoài ra còn rất nhiều hình ảnh xúc động, đó là hình ảnh bà cụ già hay những em bé quỳ mọp bên ven đường, bưng cơm chờ sẵn để dâng lên cho mình trong khi họ đáng tuổi bà của mình, trong khi những người đó rất nghèo, nhà cửa xác xơ nhưng 5h sáng là họ quỳ chờ sẵn, thành kính dâng lên cho người tu. Có một hình ảnh Minh Thành suốt đời không thể quên, đó là khi đi khất thực về lên chánh điện để chuẩn bị thọ trai thì có một ông cụ lớn tuổi quỳ sẵn trước cửa chánh điện, kế bên có cái khăn và thau nước để ông cụ lau chùi chân cho mình, ông cụ đó đáng tuổi ông nội, ông ngoại của mình. Nếu mình tu không thành tựu những đạo hạnh thì những cái này làm sao mình trả nổi?
Khi vào ngồi ăn có những vị bốc tay ăn, còn mình không quen thì dùng muỗng nhưng mình vẫn tập bốc thử nhưng không quen, các ngài quen rồi nên dùng tay ăn rất gọn gàng, chỉnh chu, còn mình thì dính tay, rớt đồ ăn, dính quần áo. Cho nên ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ cho sự tu hành thành tựu những đức hạnh cao thượng, thanh tịnh của mình. Nếu ứng dụng theo tinh thần Đức Phật dạy thì rất kĩ lưỡng trong khi ăn, trong khi ăn là một thời khóa tu rất sâu sắc.
Ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới. Thế nào là cảm thọ cũ và thế nào là cảm thọ mới? Ví dụ hôm nay có món ruột của mình thì khi vào ngồi ăn thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về hương vị món ăn mà lúc trước mình đã ăn sanh khởi lên thì đó là cảm thọ cũ. Nếu vào ngồi mà thấy tô bún Huế hay tô phở thì mình liền nhớ lại cảm giác lúc trước mình đã ăn món này, mình hồi tưởng lại hình bóng mình đã ăn, cảm giác mình đã nếm, những suy nghĩ mình đã ăn trong quá khứ ngon như thế nào, thọ; tưởng; hành sanh khởi lại thì đó là cảm thọ cũ. Còn không cho sanh cảm thọ mới nghĩa là khi ăn phải tác ý, quán chiếu "ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình".
"Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị" (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Những câu này vô cùng sâu sắc, chỉ có tu như vậy mới đi đến chỗ diệt tận tất cả tham ái, trong khi mình bị tham ái qua mặt vù vù. Mình cứ nghĩ mình tu giỏi lắm, tu cũng gần tới tổ rồi nhưng đụng vào là "tổ sân" cho nên phải kiểm tra hết tất cả những cảm thọ, cảm xúc của mình để khi cái cũ sanh khởi lên mình không để nó dẫn dắt, còn cái mới đang có thì mình tác ý không thọ nhận, không thưởng thức, đam mê, thích thú trong những cảm thọ đó. Phải ăn chậm, ăn từ từ, rà soát, kiểm tra trong khi ăn.
Sự ăn uống đúng pháp như vậy sẽ mang đến phước báo lớn cho những người đã cho chúng ta bữa ăn hôm nay, không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báo của tự thân. Ăn được như vậy sẽ mang đến phước báo đã cho chúng ta bữa ăn, ăn được như vậy sẽ không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báo của tự thân. Những điều này chúng ta phải thực tập rất nhiều lần chứ không phải nói lên là làm được.
Nửa tháng chúng ta mới gặp nhau cho nên Minh Thành giới thiệu với tính cách những bản kinh, những tư liệu quý báo để các thầy về đọc và chiêm nghiệm, các bài giảng về chánh quán thọ thực, cách ăn của Đức Phật đã được Minh Thành chia sẻ kĩ trong các trường Phật học. Về vấn đề ăn chay, ăn mặn cũng đã được bàn luận rất nhiều, xã hội ngày xưa mấy ngàn năm trước nghèo khổ, khó khăn, đói thiếu nên người ta cho gì ăn nấy, mình đi đến nhà ăn mặn mà đòi người ta phải làm đồ chay cho mình thì đâu có được, như vậy mà còn có những bữa nhịn đói mà ngay cả Đức Thế Tôn có bữa đi khất thực về chỉ uống nước, không có ai cho đồ ăn vì lúc đó đạo Phật mới xuất hiện, người ta còn chưa biết đạo Phật là gì nên họ không cho.
Những khi bình thường đã không có dư để cho rồi, ăn còn không đủ ăn mà mình đến lại đòi làm đồ chay cho mình thì làm sao được, không phù hợp với hoàn cảnh, xã hội hiện thực trong thời điểm đó cho nên người ta cho gì ăn nấy. Sau này Phật giáo phát triển, chùa chiền có, nếp núc đầy đủ thì không lẽ mua gà về nấu rôti? Cho nên chúng ta phải thấy được rằng phải tùy theo nhân duyên, quan niệm nhưng Đức Phật nói những chuẩn tắc trong kinh Nikāya rất hay, cái nào là ác bất thiện pháp thì đừng làm, cái nào là thiện pháp thì cố gắng làm.
II. Thịt đứa con
Để giải thích về tứ thực này thì có một bài kinh rúng động, đó là bài kinh Thịt đứa con nằm trong Tương Ưng Bộ, tập II, qua bài kinh này chúng ta sẽ biết tại sao khi ăn phải quán chiếu kĩ lưỡng đến như vậy. Trong bài kinh này Đức Phật có bốn loại ví dụ về bốn loại thức ăn, mỗi một loại thức ăn thì Đức Phật dạy một ví dụ để mình quán chiếu.
"...Ở Sàvatthi.
...Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Có bốn loại thức ăn làm cho chúng sanh được tồn tại, có mặt hay làm cho nắm giữ, tiếp tục sanh ra trên cuộc đời này.
"Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Nếu mà cứ để như vậy thì sẽ chết cả ba, sau khi suy nghĩ đắn đo thì phải hi sinh một người. Họ nghĩ rằng phải giết đứa con đáng yêu, dễ thương thì hai vợ chồng mới sống, nếu không cả ba người sẽ chết hết.
"Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy."
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Ở đây chúng ta phải hiểu là ngày xưa người ta có cho thịt, cá là những thứ đồ mặn, ăn cái đó không phải để vui sướng, béo bổ, Đức Phật dạy rất nhiều trong Tương Ưng Vô Thỉ, thật là khó để tìm một người nam nào trong dòng luân hồi sanh tử vô lượng kiếp này chưa từng làm cha, làm anh, làm chồng, làm con, làm cháu. Thật là khó để tìm một người nữ nào chưa từng làm mẹ, làm vợ, làm con trong dòng luân hồi này cho nên ăn thịt chúng sanh đó là ăn thịt con.
Chỉ có quán chiếu như vậy để từ bỏ lòng dục, lòng tham, lòng vui sướng, khao khát, tham đắm trong đó, vì ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt thì tứ thực đoạn diệt cho nên giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, không còn tạo ra những tấm thân tham ái này nữa. Nếu chúng ta nghĩ rằng có ăn thịt thì mới quán là ăn thịt đứa con, còn không ăn thịt thì không cần quán, có thật như vậy không? Có khi trong canh có sâu trong đó, chúng ta ăn một lúc mới thấy con sâu thì mới sợ vì cái thức lúc đó chưa biết, ăn đã rồi mới thấy sâu, ruồi nằm dưới đáy nồi, trong hạt gạo chúng ta ăn có biết bao chúng sanh chết trong đó.
Chúng ta đừng nghĩ rằng ăn chay là chúng ta hay vì không giết hại chúng sanh, những trái cây, những bó rau, hạt gạo đều có nhiều sinh mạng li ti trong đó, trong mỗi bước chân chúng ta đi có đạp chết chúng sanh cũng không biết cho nên khi ăn phải quán chiếu là đang ăn thịt đứa con, có biết bao chúng sanh chết trong đây, ăn không phải để khoan khoái, thích thú, béo bổ, không phải ăn để sung sướng, đam mê.
Trong bữa ăn của chúng ta là máu, là nước mắt, là xương dù cho ăn chay hay ăn mặn, nếu là ăn chay thì đỡ hơn chút nhưng cũng đừng nghĩ rằng ăn chay là mình ngon, mình hay, đó là bản ngã, là sự hơn thua, cao thấp. Đối với những vị thường quán chiếu cái này, thành tựu trí tuệ này thì đối với người ta ăn chay mặn không quan trọng mà quan trọng là nhiếp phục được lòng tham ái đối với thức ăn, chỗ thâm sâu là cái ái đối với thức ăn được giảm thiểu rồi đi đến chỗ nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, cái đó mới quan trọng.
Những bài này đều là những bài thiền quán nên cần đọc tới đọc lui để thuộc lòng, những khi ăn cơm hay đi kinh hành để qua trai đường thì phải tác ý "phải ăn thịt đứa con" để giảm bớt sự nhiệt tình, nóng bỏng trong sự ăn. Thực tập rồi sẽ thấy rất hay, đều là sự tu tập tác ý, quán chiếu, có như vậy thì chúng ta mới có vốn liếng trí huệ, tư liệu để thiền quán, nghiền ngẫm, tác ý, nếu không là chẳng biết gì để tác ý.
Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Khi mình thấy biết về bản chất của những thức ăn này thì mình sẽ thấy biết được lòng tham của mình đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, trong bữa ăn mình sẽ nhìn ra được lòng tham đối với ngũ dục ngay trong bữa ăn đó. Kiết sử là sự trói buộc và sai khiến, chính sự trói buộc và sai khiến này làm cho chúng ta phải tái sanh trở lại đời sau. Khi phá được tham thì những trói cột, sai khiến sẽ không còn nữa, khi những trói cột, sai khiến, tham ái không còn thì không còn sanh tử nữa, chứng nhập bất tử, đi vào thế giới của bất tử.
Cứ hễ còn ngũ uẩn là còn sanh tử, cho đến khi nào nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn, thấy được tính chất vô thường, khổ đau, bất tịnh, vô ngã, trống rỗng, không còn ưa thích, thèm khát nữa thì lúc đó thể nhập bất tử, khi tâm bất động giải thoát thì lúc đó chúng ta thành công, đi đến được căn nhà đại Niết-bàn. Nếu nhìn lại trong tâm còn ham thích, mong muốn, thèm thuồng, khát khao, tìm kiếm thì còn sanh tử, không phải tự nhiên mà một ngày nào đó bất thình lình chứng ngộ vào Niết-bàn.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Đức Thế Tôn nói trong pháp của ngài không có chuyện đột ngột chứng ngộ mà phải có tuần tự, trình tự từ từ đi đến đích.
III. Xúc thực
Sau đây là ví dụ thứ hai về thứ ăn của sự tiếp xúc.
"Và này các Tỳ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỳ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Đó là quán chiếu xúc thực như miếng da lở loét của con bò, tiếp xúc chỗ nào cũng đau đớn, bức rứt, khó chịu. Quán chiếu như vậy để nhàm chán đối với tất cả các xúc, trên đường đi thấy ngôi chùa đẹp như cung điện mà nếu bình thường không quán chiếu thì nhìn vào là thấy thích thú, khoan khoái, vào chụp hình, thế là dục sanh khởi, tham sanh khởi, ái sanh khởi nhưng bây giờ mình chán cái xúc, cái thứ sắc tướng lòe loẹt đầy màu sắc vô thường này làm cho mình sanh khởi lòng dục, lòng ái, lòng tham nên không ưa nhìn, không muốn nhìn. Mình thấy nhàm chán đối với các sắc, không muốn tiếp xúc, vì thế những bậc tu hành ngày xưa, thậm chí là Đức Phật đều muốn độc cư, trong giai đoạn ngài độc cư tối thượng từ xưa đến nay thì khi thấy bóng người là ngài bỏ chạy, lúc đó ngài chưa chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
"Này các Tỳ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Khi hiểu biết được xúc là mình hiểu biết được ba loại cảm thọ. Cái xúc này vô cùng ghê gớm, có nhân có câu "tứ mục tương cố" nghĩa là bốn mắt nhìn nhau trói buộc cả đời. Chỉ cần tiếp xúc một lần thôi là bị trói buộc suốt cả đời, nhưng không phải chỉ trong đời này mà có thể là nhiều kiếp sau. Khi Minh Thành giảng ở chùa Di Đà có hai trăm bạn sinh viên trẻ muốn xin lên Linh Quy Pháp Ấn để mở khóa tu, Minh Thành thấy không tiện nên giới thiệu qua chùa Di Đà, khi qua đó chia sẻ pháp thì từ đầu đến cuối buổi giảng con ruồi cứ bu quanh người nên phải nhiếp phục cảm thọ và trải tâm từ với nó, mọi người ngồi không biết gì cả chỉ có bản thân mình biết mà thôi cho nên cái tu không phải đơn giản, không phải ai nhìn thấy cũng biết được.
Mình đang ngồi đây là mình đang xúc với pháp, xúc với trí tuệ, xúc với sự thật, xúc với giác ngộ, xúc với những sự thật mà chưa bao giờ mình thấy, chưa bao giờ mình nghe, chưa bao giờ mình hiểu trong vô lượng kiếp vừa qua. Mình đang tiếp xúc với Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo để đi đến Thánh quả, đến mức độ này thì phải tập cho mình nhàm chán đối với tất cả sự tiếp xúc.
Chẳng may đang ngồi thiền mà người ta mở nhạc lên hát, lúc đầu thì khó chịu nhưng phải tác ý "do duyên có lỗ tai, có âm thanh, có sự rõ biết âm thanh nên mới sanh ra thọ do nhĩ xúc sanh nên mới khó chịu. Nếu không có tai, không có âm thanh, không có nhĩ thức, không có nhĩ xúc thì không có cảm thọ này cho nên đây là pháp duyên sanh, pháp kết hợp, lắp ráp. Vì thế cần nhàm chán cả lỗ tai này, nhàm chán tất cả âm thanh này, nhàm chán sự rõ biết âm thanh này, nhàm chán tất cả những pháp vận hành, nhàm chán cả cảm thọ đang sân hận, bực bội này".
Ngay đó mình xả bỏ cảm thọ, cả bỏ căn – trần – thức, ngay lúc ngồi thiền quán chiếu nhàm chán lỗ tai, nhàm chán âm thanh, nhàm chán đối với sự rõ biết âm thanh, nhàm chán sự tiếp xúc của lỗ tai, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán đối với tất cả và tác ý từ bỏ nó thì mình sẽ không bị tiếng nhạc đó quấy rối nữa, nếu không ngồi thiền một lúc là đi theo tiếng nhạc đó luôn, một là sân, hai là tham, ba là si. Sân là "giờ tôi tu mà cứ quậy hoài, phá hoài", tham là ngồi một hồi rồi thưởng thức âm thanh đó, tiếng nhạc đó, si là dù có hát long trời lở đất cũng ngồi ngủ luôn.
Bằng trí tuệ soi vào mới thấy được những cái này, phải nhàm chán mọi sự tiếp xúc, dù cho nhìn thấy hình tướng đẹp tuyệt vời, âm thanh thánh thót hay mùi vị, hương thơm ngọt ngào cũng đều nhàm chán giống như da con bò bị lở loét, đứng ở đâu cũng bị côn trùng bay vào cắn cho nên tập quán nhàm chán đối với tất cả các xúc. Không phải nhìn thấy cái nào khổ, cái nào đau thì mới chán mà nhìn cái đẹp, vui, sung sướng cũng chán vì chính cái lòe loẹt, đầy màu sắc đó làm cho tâm đam mê, tham dục, tham ái, phải quở trách tâm để nhàm chán với mọi sự tiếp xúc.
Không ưa nhìn, không đứng nghe chuyện để mang phiền não vào người, đó là sự quán chiếu về xúc thực cho nên tu được cái này là độc cư tuyệt vời, ở một mình tối thượng vì không lệ thuộc vào bất kì đối tượng nào cả. Một khi thành tựu được Thánh tri kiến, chánh tri kiến, nhìn thấy đúng pháp là vô cùng tuyệt vời, Đức Phật nói rằng người đạt được hết tất cả tài sản trên quả địa cầu này không bằng một phần mười sáu của một bậc chứng quả Dự Lưu, ngay cả vua trời cũng còn khát ngưỡng sự thấy biết của bậc chánh tri kiến cho nên cần nhàm chán đối với căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ.
IV. Tư niệm thực
"Và này các Tỳ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỳ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
Này các Tỳ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Tư niệm thực là sự nghĩ nhớ và sự nghĩ nhớ đó cũng là thức ăn, cái nhìn, cái ngó, cái nghe cũng là thức ăn và bây giờ ngồi nhớ nghĩ cũng là thức ăn. Bây giờ phải quán sự nhớ nghĩ giống như hố than hừng, chúng ta nói tu vô niệm là như vậy đó, tức là không còn sự nhớ nghĩ nữa, không còn nhớ ai nữa, không còn mong muốn gì nữa, tâm hoàn toàn thanh tịnh, không ưa thích nhớ nghĩ, không ham muốn nhớ nghĩ vì nhớ nghĩ là thức ăn để nuôi thọ; tưởng; hành; thức.
Hai điều nổi bật là yêu và hận đều có sự nhớ nghĩ rất nhiều, hai người yêu nhau tha thiết đến sống chết là do họ cứ nhớ nghĩ về nhau, lúc đầu gặp nhau thì bình thường nhưng khi về thì nuôi dưỡng tình cảm, nhớ nghĩ và muốn tiếp xúc, đó là xúc thực và tư niệm thực, còn thức thực là muốn biết người đó bây giờ đang làm gì, muốn nói chuyện với người đó. Chính vì nuôi bằng sự nhớ nghĩ, bằng sự tiếp xúc, bằng sự muốn biết về đối tượng đó nên trở thành tương tư, Hòa Thượng Thiện Trí ngày xưa chuyên giảng kinh Pháp Hoa nên ngài thường đọc bài Tương Tư.
"Tương tư không biết cái làm sao?
Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào!
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao"
(Nguyễn Công Trứ)
Muốn vẽ hình người đó mà vẽ không được vì không phải họa sĩ, cứ ảm ảnh hình bóng đó, những cảm giác, suy nghĩ đó, cứ nhớ nghĩ hoài. Đó là cái yêu, còn cái hận cũng giống như vậy, cứ nhớ nghĩ về đối tượng mà mình giận, cứ tiếp xúc với những hình bóng, suy nghĩ trong tâm, muốn gặp mặt ở ngoài để xử lý, cứ cho nó ăn bằng thức ăn của tư niệm thực, cứ nhớ nghĩ, tiếp xúc, muốn biết người đó bây giờ ra sao.
Thức ăn đoàn thực thì dễ thấy nhưng thức ăn trong nội tâm về sự tiếp xúc, nhớ nghĩ về nhận thức, rõ biết thì rất sâu sắc, cái này để nuôi ngũ uẩn, nuôi cho những đời sau. Đức Phật dạy mình quán chiếu những cái này giống như hố than hừng, trong tâm còn nghĩ nhớ ai nhiều thì đó là hố than hừng, khi hình ảnh sanh khởi lên thì mình nói "đây là hố than hừng", cái tưởng sanh khởi lên thì mình nói "đây là hố than hừng" để đánh tan cái tưởng, thoát ra khỏi cái tưởng, giống như một người bị hai người lực sĩ lôi vào hố than thì người này giãy giụa muốn đi ra vì vào đó là chết, đó là tư niệm thực. Khi nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy rõ được những cái này. Phần sau từ từ chúng ta sẽ học vì nó rất sâu sắc, phần sau nói về ba ái chỉ cho sự yêu thích trong ba cõi, dục ái, hữu ái và vô hữu ái.
V. Thức thực
"Và này các Tỳ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: "Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn". Vị vua nói như sau về người ấy: "Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng". Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.
Rồi vị vua vào buổi trưa nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa". Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
Rồi vị vua vào buổi chiều nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?"
-- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều".
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?
-- Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
-- Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.
Này các Tỳ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Không ưa thích sự rõ biết này, ví dụ nhìn mà thích thú trong cái thấy nhưng lại khởi tham sân, chính do nhận thức mới khởi tham sân cho nên thức thực Đức Phật ví dụ giống như bị đánh ba trăm roi. Đối với sáu thức không tham đắm, không ưa nhìn, không cho thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thức là vô thường, là duyên sanh, là khổ, là vô ngã.
Nhìn thấy là tham, ái, dục, nhìn thấy là sân hận, sân si, cống cao ngã mạn, giành giật, đấu đá, hai anh em giết nhau chỉ vì năm tấc đất vì nhìn thấy miếng đất kia lớn hơn của mình nên giết nhau chết, bên kia hát karaoke lớn quá nên bực thế là cãi qua cãi lại đâm nhau chết, nếu lúc đó không có ở nhà không nghe thấy tiếng hát thì làm gì có án mạng xảy ra, đó là do nhĩ thức nghe thấy, nhãn thức nhìn thấy cho nên cái thức này là duyên sanh, là vô thường, là tham, sân, si nên không ưa thích sáu thức.
Cái biết này đưa đến tham muốn, dục vọng, vì cái biết này mới đưa đến sân hận, bực bội, thù hằn, khó chịu, vì cái biết này mới ta đây, hơn thua, cao thấp, "tôi tu mười năm nay trong khi ông mới vô chùa muốn làm sư phụ tôi hả", đó là bản ngã vì thế cái thức nó phân biệt, rõ biết, từ cái này thì ý hành phân biệt, biết bao cảm thọ, nghĩ tưởng dính vào nhau, ngũ uẩn vận hành.
Trên đây là sự giới thiệu tổng quát, sơ lược vì những cái này rất sâu sắc vì liên hệ đến tứ thực cho nên Minh Thành chia sẻ để chúng ta thấy rằng cái sắc uẩn này tồn tại là do bốn loại thức ăn đó và nó hoại diệt cũng do không có bốn loại thức ăn đó. Do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, do ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, yêu thích ăn uống, yêu thích tiếp xúc, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, yêu thích nhớ nghĩ, yêu thích trong sự nhận thức, rõ biết đó. Biết để phiền não thì biết làm gì, biết để hơn thua thì biết làm gì.
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt.
Lòng Đạo xin tròn một tấm gương"
(Nguyễn Đình Chiểu)
Sự đời này thà mù lòa không thấy nhưng lòng đạo thì trong sáng như một tấm gương, thấy được đạo pháp, trí tuệ mới là tối thượng. Người ta tạo ra những bức tượng con khỉ che mắt, che tai là nhằm nhắc nhở chúng ta đóng bớt lại, đừng dính mắc, chấp thủ trong cái thức đó. Nhãn thức, nhĩ thức thấy nghe để phiền não, nói một lúc là có chuyện xảy ra, cho nên học để biết được những thức ăn này rồi bớt cho nó ăn lại vì nhiều khi mình nuôi nó mà mình không biết, mình cứ tưởng mình đang tu nhưng lại đang nuôi luân hồi sanh tử, nuôi sự tái sanh mà không biết. Mình chặn đứng lại bốn loại thức ăn, nhiếp phục, giảm bớt sự tham ái, ham thích trong đó.
./.
Chiếu Kiến Ngũ Uẩn
Nhận Diện Thân Tâm 11
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh quán thọ thực PAGEREF _Toc179916119 \h 1
II. Thịt đứa con PAGEREF _Toc179916120 \h 6
III. Xúc thực PAGEREF _Toc179916121 \h 10
IV. Tư niệm thực PAGEREF _Toc179916122 \h 13
V. Thức thực PAGEREF _Toc179916123 \h 15
I. Chánh quán thọ thực
Cảm giác hơi thở… Cảm giác cơ thể… Cảm giác toàn thân… Cảm giác sự an tịnh của thân tâm… Cảm giác sự an tịnh của không gian nơi này, vùng đất này và trời đất này… Cảm giác dễ chịu đối với không gian này, vùng đất này và trời đất này… Trong tâm thương rộng lớn này, mong tất cả các loài hữu tình đều được an lạc và bình an, tìm được niềm an vui cho mình… Thương mình bị tham, sân, si, bị vô minh, khát ái làm cho đau khổ, tâm thương mình thật nhiều và thương muôn loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Tâm thương rộng lớn… Rõ biết tâm thương rộng lớn… Cảm giác tâm thương rộng lớn… Cảm giác thân đang ngồi… Cảm giác cổ họng… Xem lại cảm thọ dục, ái trước bữa ăn này… Trước bữa ăn này, nước miếng có chảy không?... Có dục, ái trong việc chảy nước miếng này không? Hay nước miếng chảy đơn thuần do duyên xúc?... Nếu thấy có dục, ái trong thân tâm thì như lý tác ý để diệt dục, ái.
Chánh niệm tỉnh giác quán sát thân hành trong khi ăn. Khi ăn, tránh tạo ra tiếng muỗng đũa va chạm, tiếng múc cơm, tiếng vét cơm, tiếng để muỗng đũa xuống. Tránh tạo ra các tiếng động một cách tối đa. Kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn. Xin hãy mở mắt ra, đừng nhắm lại vì nhắm lại rất nguy hiểm, vô minh sẽ lập tức xâm chiếm thân tâm chúng ta, lúc nào nó cũng rình rập. Tiếng múc cơm, tiếng vét cơm hay tiếng muỗng đũa không được vang ra trong khi ăn, kiểm soát thân hành tối đa, bây giờ phải mở mắt sáng tỏ như tổ Bồ-đề Đạt-ma.
Kiểm soát thân hành khi ăn là kiểm soát tay, chân, mắt, miệng, kiểm soát hành động gắp thức ăn, cái chân ngồi có đàng hoàng không, cái miệng nhai phải kiểm tra. Trong khi ăn cơm phải làm việc rất nhiều chứ không phải chỉ đơn thuần là ăn, trong đó là cả một sự tu, một sự kiểm soát quản lý, quán chiếu, soi rọi, chế ngự, nhiếp phục, một sự thúc giục, ưa thích, thèm muốn ham ăn ở trong tâm. Kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn vào miệng, kiểm soát việc nhai thức ăn.
Khi nhai thức ăn không nhai thô thiển, không nhai nghe tiếng, kiểm soát quai hàm trong khi nhai, làm chủ độ nhai, đó là sự tỉnh giác và chánh niệm, là chánh quán thọ thực. Nhai hết muỗng cơm này rồi mới đưa muỗng cơm khác vào. Không vừa nhai vừa cầm sẵn muỗng thức ăn tiếp theo để đưa vào miệng.
Hôm nào chúng ta đi về trễ hoặc chúng ta bệnh thì khi đó chúng ta thực tập rồi sẽ thấy, khi ngồi chung với đại chúng thì phải theo chúng nhưng lâu lâu mình có dịp riêng thì chúng ta sẽ thấy pháp vận hành, hiển hiện trong khi ăn cơm, đây là cách ăn của Đức Phật, chúng ta lấy cách ăn của Đức Phật dạy ra học. Kiểm soát cảm thọ dục, ái trong khi ăn.
Dừng lại việc ăn nếu thấy dục, ái xuất hiện, đang ăn là thấy thục giục ham ăn, muốn ăn là dừng lại, không ăn nữa, để cho cảm giác thúc giục đó lắng dịu xuống an tịnh từ từ rồi mới ăn tiếp. Chỉ riêng vấn đề ăn cơm thôi cũng đã là một công phu thâm hậu chứ không hề đơn giản, như lý tác ý diệt tận dục ái đã sanh rồi sau đó mới ăn tiếp, để cảm thọ an tịnh lắng dịu xuống rồi mới ăn tiếp. Tập nhận diện ngũ uẩn trước khi ăn, trong khi ăn và sau khi ăn.
Trước khi ăn phải xem lại ngũ uẩn như thế nào, trong khi ăn phải xem ngũ uẩn đang thế nào và sau khi ăn cũng phải xem lại ngũ uẩn thế nào, về nhà viết nhật kí tu học nhận diện ngũ uẩn khi ăn cơm, khi thọ Trai. Chỉ cần thực tập một tuần thôi là chúng ta sẽ thấy chúng ta ăn cơm sẽ khác rất xa với lúc trước, trong đạo tràng Nikāya một trăm vị khi ăn cơm không hề nghe tiếng động gì cả.
Lúc đầu mới thực tập sẽ khó khăn vì trong tâm sẽ có sự chống đối vì đã quen với việc ăn cơm theo thói quen nhưng phải chịu thì từ từ sẽ quen, từ từ mình sẽ ăn trong trạng thái an tịnh lắng dịu, không ăn sôi nổi, ăn ngấu nghiến. Tập tâm thanh tịnh rộng lớn trong khi ăn, trong hàng Thánh chúng của chư Phật thì chư thiên rất thích cúng dường cho ngài Maha Ca-diếp vì khi ngài ăn cơm thường trú trong vô tướng tâm định, ngài trú trong định vô tướng mà cái định đó phước đức như hư không cho nên chư Thiên rất thích và mong muốn được cúng dường cho ngài để có phước đức nhiều. Vô tướng tâm định là tâm rộng lớn như hư khôn, ngài trú vào tâm này mỗi khi dùng cơm, cúng cho ngài là phước vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.
Trong khi ăn không để cho hương vị xâm chiếm hết tâm mà tâm mình phải trải rộng lớn cùng khắp hư không thế giới bằng tâm thương. Bữa ăn này được thọ nhận với chánh tư duy như sau: Ta thọ dụng thức ăn này không phải để vui đùa tức là ăn không phải để vui sướng, vui chơi, thường người ta ngoài đời lấy cái ăn làm cái vui nhưng ở đây ăn không phải để thích, vui đùa. Không phải để đam mê, không phải mê trong các món ăn đó. Không phải để trang sức.
Không phải để tự làm đẹp mình, không phải lựa món ăn để đẹp da, để mát, dễ đại tiểu tiện, để bổ não, bổ tim… Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật ăn như vậy đó, trên đây là tám đức, tám sự quán niệm trong khi ăn. Ăn chỉ để thân này được an trú, được an ổn, không bị đói khát, suy dinh dưỡng, được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, để hỗ trợ cho sự tu hành đạt đến đức hạnh thanh tịnh cao thượng, tối thượng của người xuất gia.
Nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn." Như vậy, là sự biết tiết độ trong ăn uống. Đây là pháp hành thường xuyên của chư Tỳ-kheo thời Đức Phật và hiện tại cũng có những vị tu theo Phật giáo nguyên thủy hành trì rất kĩ lưỡng. Khi Minh Thành đi qua bên trung tâm thiền quốc tế ở Thái Lan của ngài Ajahn Chah trong rừng thì hôm đó mình xin được đi khất thực chung với các sư và đa số các sư này là người Châu Âu, Châu Mỹ và trong chỗ đó họ giữ giới luật nghiêm khắc vô cùng, một ngày chỉ ăn một bữa.
Lúc đó đi khất thực với các sư cao to người Châu Âu nên bước đi của họ rất dài, còn mình thấp bé nên bị tuột lại phía sau, ôm bình bát đạp lên đá đau chân thì mới cảm nhận được pháp hành. Khi đồ ăn được dọn sẵn lên bàn chỉ để lên ăn thì khác nhưng khi ôm bình bát đi ăn xin thì lúc đó mới thấy được một người khất sĩ, một người ăn xin như thế nào và khi đi khất thực như vậy thì quán chiếu cảm thọ, nhận diện ngũ uẩn mới thấy chân đau đi trong trời nắng, dưới mặt đường nhựa thì nóng, đạp lên đá, đi không kịp với các sư, y áo luộm thuộm ôm bình bát lại không quen.
Khi đó nhận diện ngũ uẩn, nhận diện cảm thọ để tác ý chế ngự cảm xúc, cảm thọ của mình, mình đi tu mấy chục năm mới đi khất thực lần đầu tiên trong khi các ngài đi hằng ngày thì sao, tại sao mình lại thấp kém, hèn hạ, phải cố gắng, phải làm cho được.
Mình cảm nhận được cái hạnh khất thực rất quan trọng, ngoài ra còn một điều nữa là đồ ăn xin được đều đổ hết vào trong bình bát. Đồ kho, canh, chè đều để chung một bát thì các thầy có ăn được không? Người ta cho mình cái gì thì phải lấy cái đó chứ chẳng lẽ nói rằng "trong này là cơm canh đừng đổ chè vô", không được như vậy, có nhiều người để cả trái dừa vào bát là xong luôn, lúc đó phải xem lại cảm thọ có sân, có khó chịu không.
Đừng nghĩ rằng mình bây giờ tu hay nhất rồi, mình giỏi rồi vì ngoài kia còn rất nhiều vị tu hành rất giỏi, rất hay, còn nhiều đức hạnh sâu sắc mà mình cần học hỏi. Ngoài ra còn rất nhiều hình ảnh xúc động, đó là hình ảnh bà cụ già hay những em bé quỳ mọp bên ven đường, bưng cơm chờ sẵn để dâng lên cho mình trong khi họ đáng tuổi bà của mình, trong khi những người đó rất nghèo, nhà cửa xác xơ nhưng 5h sáng là họ quỳ chờ sẵn, thành kính dâng lên cho người tu. Có một hình ảnh Minh Thành suốt đời không thể quên, đó là khi đi khất thực về lên chánh điện để chuẩn bị thọ trai thì có một ông cụ lớn tuổi quỳ sẵn trước cửa chánh điện, kế bên có cái khăn và thau nước để ông cụ lau chùi chân cho mình, ông cụ đó đáng tuổi ông nội, ông ngoại của mình. Nếu mình tu không thành tựu những đạo hạnh thì những cái này làm sao mình trả nổi?
Khi vào ngồi ăn có những vị bốc tay ăn, còn mình không quen thì dùng muỗng nhưng mình vẫn tập bốc thử nhưng không quen, các ngài quen rồi nên dùng tay ăn rất gọn gàng, chỉnh chu, còn mình thì dính tay, rớt đồ ăn, dính quần áo. Cho nên ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ cho sự tu hành thành tựu những đức hạnh cao thượng, thanh tịnh của mình. Nếu ứng dụng theo tinh thần Đức Phật dạy thì rất kĩ lưỡng trong khi ăn, trong khi ăn là một thời khóa tu rất sâu sắc.
Ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới. Thế nào là cảm thọ cũ và thế nào là cảm thọ mới? Ví dụ hôm nay có món ruột của mình thì khi vào ngồi ăn thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về hương vị món ăn mà lúc trước mình đã ăn sanh khởi lên thì đó là cảm thọ cũ. Nếu vào ngồi mà thấy tô bún Huế hay tô phở thì mình liền nhớ lại cảm giác lúc trước mình đã ăn món này, mình hồi tưởng lại hình bóng mình đã ăn, cảm giác mình đã nếm, những suy nghĩ mình đã ăn trong quá khứ ngon như thế nào, thọ; tưởng; hành sanh khởi lại thì đó là cảm thọ cũ. Còn không cho sanh cảm thọ mới nghĩa là khi ăn phải tác ý, quán chiếu "ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình".
"Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị" (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Những câu này vô cùng sâu sắc, chỉ có tu như vậy mới đi đến chỗ diệt tận tất cả tham ái, trong khi mình bị tham ái qua mặt vù vù. Mình cứ nghĩ mình tu giỏi lắm, tu cũng gần tới tổ rồi nhưng đụng vào là "tổ sân" cho nên phải kiểm tra hết tất cả những cảm thọ, cảm xúc của mình để khi cái cũ sanh khởi lên mình không để nó dẫn dắt, còn cái mới đang có thì mình tác ý không thọ nhận, không thưởng thức, đam mê, thích thú trong những cảm thọ đó. Phải ăn chậm, ăn từ từ, rà soát, kiểm tra trong khi ăn.
Sự ăn uống đúng pháp như vậy sẽ mang đến phước báo lớn cho những người đã cho chúng ta bữa ăn hôm nay, không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báo của tự thân. Ăn được như vậy sẽ mang đến phước báo đã cho chúng ta bữa ăn, ăn được như vậy sẽ không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báo của tự thân. Những điều này chúng ta phải thực tập rất nhiều lần chứ không phải nói lên là làm được.
Nửa tháng chúng ta mới gặp nhau cho nên Minh Thành giới thiệu với tính cách những bản kinh, những tư liệu quý báo để các thầy về đọc và chiêm nghiệm, các bài giảng về chánh quán thọ thực, cách ăn của Đức Phật đã được Minh Thành chia sẻ kĩ trong các trường Phật học. Về vấn đề ăn chay, ăn mặn cũng đã được bàn luận rất nhiều, xã hội ngày xưa mấy ngàn năm trước nghèo khổ, khó khăn, đói thiếu nên người ta cho gì ăn nấy, mình đi đến nhà ăn mặn mà đòi người ta phải làm đồ chay cho mình thì đâu có được, như vậy mà còn có những bữa nhịn đói mà ngay cả Đức Thế Tôn có bữa đi khất thực về chỉ uống nước, không có ai cho đồ ăn vì lúc đó đạo Phật mới xuất hiện, người ta còn chưa biết đạo Phật là gì nên họ không cho.
Những khi bình thường đã không có dư để cho rồi, ăn còn không đủ ăn mà mình đến lại đòi làm đồ chay cho mình thì làm sao được, không phù hợp với hoàn cảnh, xã hội hiện thực trong thời điểm đó cho nên người ta cho gì ăn nấy. Sau này Phật giáo phát triển, chùa chiền có, nếp núc đầy đủ thì không lẽ mua gà về nấu rôti? Cho nên chúng ta phải thấy được rằng phải tùy theo nhân duyên, quan niệm nhưng Đức Phật nói những chuẩn tắc trong kinh Nikāya rất hay, cái nào là ác bất thiện pháp thì đừng làm, cái nào là thiện pháp thì cố gắng làm.
II. Thịt đứa con
Để giải thích về tứ thực này thì có một bài kinh rúng động, đó là bài kinh Thịt đứa con nằm trong Tương Ưng Bộ, tập II, qua bài kinh này chúng ta sẽ biết tại sao khi ăn phải quán chiếu kĩ lưỡng đến như vậy. Trong bài kinh này Đức Phật có bốn loại ví dụ về bốn loại thức ăn, mỗi một loại thức ăn thì Đức Phật dạy một ví dụ để mình quán chiếu.
"...Ở Sàvatthi.
...Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Có bốn loại thức ăn làm cho chúng sanh được tồn tại, có mặt hay làm cho nắm giữ, tiếp tục sanh ra trên cuộc đời này.
"Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Nếu mà cứ để như vậy thì sẽ chết cả ba, sau khi suy nghĩ đắn đo thì phải hi sinh một người. Họ nghĩ rằng phải giết đứa con đáng yêu, dễ thương thì hai vợ chồng mới sống, nếu không cả ba người sẽ chết hết.
"Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy."
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Ở đây chúng ta phải hiểu là ngày xưa người ta có cho thịt, cá là những thứ đồ mặn, ăn cái đó không phải để vui sướng, béo bổ, Đức Phật dạy rất nhiều trong Tương Ưng Vô Thỉ, thật là khó để tìm một người nam nào trong dòng luân hồi sanh tử vô lượng kiếp này chưa từng làm cha, làm anh, làm chồng, làm con, làm cháu. Thật là khó để tìm một người nữ nào chưa từng làm mẹ, làm vợ, làm con trong dòng luân hồi này cho nên ăn thịt chúng sanh đó là ăn thịt con.
Chỉ có quán chiếu như vậy để từ bỏ lòng dục, lòng tham, lòng vui sướng, khao khát, tham đắm trong đó, vì ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt thì tứ thực đoạn diệt cho nên giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, không còn tạo ra những tấm thân tham ái này nữa. Nếu chúng ta nghĩ rằng có ăn thịt thì mới quán là ăn thịt đứa con, còn không ăn thịt thì không cần quán, có thật như vậy không? Có khi trong canh có sâu trong đó, chúng ta ăn một lúc mới thấy con sâu thì mới sợ vì cái thức lúc đó chưa biết, ăn đã rồi mới thấy sâu, ruồi nằm dưới đáy nồi, trong hạt gạo chúng ta ăn có biết bao chúng sanh chết trong đó.
Chúng ta đừng nghĩ rằng ăn chay là chúng ta hay vì không giết hại chúng sanh, những trái cây, những bó rau, hạt gạo đều có nhiều sinh mạng li ti trong đó, trong mỗi bước chân chúng ta đi có đạp chết chúng sanh cũng không biết cho nên khi ăn phải quán chiếu là đang ăn thịt đứa con, có biết bao chúng sanh chết trong đây, ăn không phải để khoan khoái, thích thú, béo bổ, không phải ăn để sung sướng, đam mê.
Trong bữa ăn của chúng ta là máu, là nước mắt, là xương dù cho ăn chay hay ăn mặn, nếu là ăn chay thì đỡ hơn chút nhưng cũng đừng nghĩ rằng ăn chay là mình ngon, mình hay, đó là bản ngã, là sự hơn thua, cao thấp. Đối với những vị thường quán chiếu cái này, thành tựu trí tuệ này thì đối với người ta ăn chay mặn không quan trọng mà quan trọng là nhiếp phục được lòng tham ái đối với thức ăn, chỗ thâm sâu là cái ái đối với thức ăn được giảm thiểu rồi đi đến chỗ nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, cái đó mới quan trọng.
Những bài này đều là những bài thiền quán nên cần đọc tới đọc lui để thuộc lòng, những khi ăn cơm hay đi kinh hành để qua trai đường thì phải tác ý "phải ăn thịt đứa con" để giảm bớt sự nhiệt tình, nóng bỏng trong sự ăn. Thực tập rồi sẽ thấy rất hay, đều là sự tu tập tác ý, quán chiếu, có như vậy thì chúng ta mới có vốn liếng trí huệ, tư liệu để thiền quán, nghiền ngẫm, tác ý, nếu không là chẳng biết gì để tác ý.
Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Khi mình thấy biết về bản chất của những thức ăn này thì mình sẽ thấy biết được lòng tham của mình đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, trong bữa ăn mình sẽ nhìn ra được lòng tham đối với ngũ dục ngay trong bữa ăn đó. Kiết sử là sự trói buộc và sai khiến, chính sự trói buộc và sai khiến này làm cho chúng ta phải tái sanh trở lại đời sau. Khi phá được tham thì những trói cột, sai khiến sẽ không còn nữa, khi những trói cột, sai khiến, tham ái không còn thì không còn sanh tử nữa, chứng nhập bất tử, đi vào thế giới của bất tử.
Cứ hễ còn ngũ uẩn là còn sanh tử, cho đến khi nào nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn, thấy được tính chất vô thường, khổ đau, bất tịnh, vô ngã, trống rỗng, không còn ưa thích, thèm khát nữa thì lúc đó thể nhập bất tử, khi tâm bất động giải thoát thì lúc đó chúng ta thành công, đi đến được căn nhà đại Niết-bàn. Nếu nhìn lại trong tâm còn ham thích, mong muốn, thèm thuồng, khát khao, tìm kiếm thì còn sanh tử, không phải tự nhiên mà một ngày nào đó bất thình lình chứng ngộ vào Niết-bàn.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Đức Thế Tôn nói trong pháp của ngài không có chuyện đột ngột chứng ngộ mà phải có tuần tự, trình tự từ từ đi đến đích.
III. Xúc thực
Sau đây là ví dụ thứ hai về thứ ăn của sự tiếp xúc.
"Và này các Tỳ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỳ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Đó là quán chiếu xúc thực như miếng da lở loét của con bò, tiếp xúc chỗ nào cũng đau đớn, bức rứt, khó chịu. Quán chiếu như vậy để nhàm chán đối với tất cả các xúc, trên đường đi thấy ngôi chùa đẹp như cung điện mà nếu bình thường không quán chiếu thì nhìn vào là thấy thích thú, khoan khoái, vào chụp hình, thế là dục sanh khởi, tham sanh khởi, ái sanh khởi nhưng bây giờ mình chán cái xúc, cái thứ sắc tướng lòe loẹt đầy màu sắc vô thường này làm cho mình sanh khởi lòng dục, lòng ái, lòng tham nên không ưa nhìn, không muốn nhìn. Mình thấy nhàm chán đối với các sắc, không muốn tiếp xúc, vì thế những bậc tu hành ngày xưa, thậm chí là Đức Phật đều muốn độc cư, trong giai đoạn ngài độc cư tối thượng từ xưa đến nay thì khi thấy bóng người là ngài bỏ chạy, lúc đó ngài chưa chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
"Này các Tỳ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Khi hiểu biết được xúc là mình hiểu biết được ba loại cảm thọ. Cái xúc này vô cùng ghê gớm, có nhân có câu "tứ mục tương cố" nghĩa là bốn mắt nhìn nhau trói buộc cả đời. Chỉ cần tiếp xúc một lần thôi là bị trói buộc suốt cả đời, nhưng không phải chỉ trong đời này mà có thể là nhiều kiếp sau. Khi Minh Thành giảng ở chùa Di Đà có hai trăm bạn sinh viên trẻ muốn xin lên Linh Quy Pháp Ấn để mở khóa tu, Minh Thành thấy không tiện nên giới thiệu qua chùa Di Đà, khi qua đó chia sẻ pháp thì từ đầu đến cuối buổi giảng con ruồi cứ bu quanh người nên phải nhiếp phục cảm thọ và trải tâm từ với nó, mọi người ngồi không biết gì cả chỉ có bản thân mình biết mà thôi cho nên cái tu không phải đơn giản, không phải ai nhìn thấy cũng biết được.
Mình đang ngồi đây là mình đang xúc với pháp, xúc với trí tuệ, xúc với sự thật, xúc với giác ngộ, xúc với những sự thật mà chưa bao giờ mình thấy, chưa bao giờ mình nghe, chưa bao giờ mình hiểu trong vô lượng kiếp vừa qua. Mình đang tiếp xúc với Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo để đi đến Thánh quả, đến mức độ này thì phải tập cho mình nhàm chán đối với tất cả sự tiếp xúc.
Chẳng may đang ngồi thiền mà người ta mở nhạc lên hát, lúc đầu thì khó chịu nhưng phải tác ý "do duyên có lỗ tai, có âm thanh, có sự rõ biết âm thanh nên mới sanh ra thọ do nhĩ xúc sanh nên mới khó chịu. Nếu không có tai, không có âm thanh, không có nhĩ thức, không có nhĩ xúc thì không có cảm thọ này cho nên đây là pháp duyên sanh, pháp kết hợp, lắp ráp. Vì thế cần nhàm chán cả lỗ tai này, nhàm chán tất cả âm thanh này, nhàm chán sự rõ biết âm thanh này, nhàm chán tất cả những pháp vận hành, nhàm chán cả cảm thọ đang sân hận, bực bội này".
Ngay đó mình xả bỏ cảm thọ, cả bỏ căn – trần – thức, ngay lúc ngồi thiền quán chiếu nhàm chán lỗ tai, nhàm chán âm thanh, nhàm chán đối với sự rõ biết âm thanh, nhàm chán sự tiếp xúc của lỗ tai, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán đối với tất cả và tác ý từ bỏ nó thì mình sẽ không bị tiếng nhạc đó quấy rối nữa, nếu không ngồi thiền một lúc là đi theo tiếng nhạc đó luôn, một là sân, hai là tham, ba là si. Sân là "giờ tôi tu mà cứ quậy hoài, phá hoài", tham là ngồi một hồi rồi thưởng thức âm thanh đó, tiếng nhạc đó, si là dù có hát long trời lở đất cũng ngồi ngủ luôn.
Bằng trí tuệ soi vào mới thấy được những cái này, phải nhàm chán mọi sự tiếp xúc, dù cho nhìn thấy hình tướng đẹp tuyệt vời, âm thanh thánh thót hay mùi vị, hương thơm ngọt ngào cũng đều nhàm chán giống như da con bò bị lở loét, đứng ở đâu cũng bị côn trùng bay vào cắn cho nên tập quán nhàm chán đối với tất cả các xúc. Không phải nhìn thấy cái nào khổ, cái nào đau thì mới chán mà nhìn cái đẹp, vui, sung sướng cũng chán vì chính cái lòe loẹt, đầy màu sắc đó làm cho tâm đam mê, tham dục, tham ái, phải quở trách tâm để nhàm chán với mọi sự tiếp xúc.
Không ưa nhìn, không đứng nghe chuyện để mang phiền não vào người, đó là sự quán chiếu về xúc thực cho nên tu được cái này là độc cư tuyệt vời, ở một mình tối thượng vì không lệ thuộc vào bất kì đối tượng nào cả. Một khi thành tựu được Thánh tri kiến, chánh tri kiến, nhìn thấy đúng pháp là vô cùng tuyệt vời, Đức Phật nói rằng người đạt được hết tất cả tài sản trên quả địa cầu này không bằng một phần mười sáu của một bậc chứng quả Dự Lưu, ngay cả vua trời cũng còn khát ngưỡng sự thấy biết của bậc chánh tri kiến cho nên cần nhàm chán đối với căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ.
IV. Tư niệm thực
"Và này các Tỳ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỳ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
Này các Tỳ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Tư niệm thực là sự nghĩ nhớ và sự nghĩ nhớ đó cũng là thức ăn, cái nhìn, cái ngó, cái nghe cũng là thức ăn và bây giờ ngồi nhớ nghĩ cũng là thức ăn. Bây giờ phải quán sự nhớ nghĩ giống như hố than hừng, chúng ta nói tu vô niệm là như vậy đó, tức là không còn sự nhớ nghĩ nữa, không còn nhớ ai nữa, không còn mong muốn gì nữa, tâm hoàn toàn thanh tịnh, không ưa thích nhớ nghĩ, không ham muốn nhớ nghĩ vì nhớ nghĩ là thức ăn để nuôi thọ; tưởng; hành; thức.
Hai điều nổi bật là yêu và hận đều có sự nhớ nghĩ rất nhiều, hai người yêu nhau tha thiết đến sống chết là do họ cứ nhớ nghĩ về nhau, lúc đầu gặp nhau thì bình thường nhưng khi về thì nuôi dưỡng tình cảm, nhớ nghĩ và muốn tiếp xúc, đó là xúc thực và tư niệm thực, còn thức thực là muốn biết người đó bây giờ đang làm gì, muốn nói chuyện với người đó. Chính vì nuôi bằng sự nhớ nghĩ, bằng sự tiếp xúc, bằng sự muốn biết về đối tượng đó nên trở thành tương tư, Hòa Thượng Thiện Trí ngày xưa chuyên giảng kinh Pháp Hoa nên ngài thường đọc bài Tương Tư.
"Tương tư không biết cái làm sao?
Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào!
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao"
(Nguyễn Công Trứ)
Muốn vẽ hình người đó mà vẽ không được vì không phải họa sĩ, cứ ảm ảnh hình bóng đó, những cảm giác, suy nghĩ đó, cứ nhớ nghĩ hoài. Đó là cái yêu, còn cái hận cũng giống như vậy, cứ nhớ nghĩ về đối tượng mà mình giận, cứ tiếp xúc với những hình bóng, suy nghĩ trong tâm, muốn gặp mặt ở ngoài để xử lý, cứ cho nó ăn bằng thức ăn của tư niệm thực, cứ nhớ nghĩ, tiếp xúc, muốn biết người đó bây giờ ra sao.
Thức ăn đoàn thực thì dễ thấy nhưng thức ăn trong nội tâm về sự tiếp xúc, nhớ nghĩ về nhận thức, rõ biết thì rất sâu sắc, cái này để nuôi ngũ uẩn, nuôi cho những đời sau. Đức Phật dạy mình quán chiếu những cái này giống như hố than hừng, trong tâm còn nghĩ nhớ ai nhiều thì đó là hố than hừng, khi hình ảnh sanh khởi lên thì mình nói "đây là hố than hừng", cái tưởng sanh khởi lên thì mình nói "đây là hố than hừng" để đánh tan cái tưởng, thoát ra khỏi cái tưởng, giống như một người bị hai người lực sĩ lôi vào hố than thì người này giãy giụa muốn đi ra vì vào đó là chết, đó là tư niệm thực. Khi nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy rõ được những cái này. Phần sau từ từ chúng ta sẽ học vì nó rất sâu sắc, phần sau nói về ba ái chỉ cho sự yêu thích trong ba cõi, dục ái, hữu ái và vô hữu ái.
V. Thức thực
"Và này các Tỳ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: "Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn". Vị vua nói như sau về người ấy: "Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng". Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.
Rồi vị vua vào buổi trưa nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa". Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
Rồi vị vua vào buổi chiều nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?"
-- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều".
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?
-- Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
-- Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.
Này các Tỳ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, bài Thịt Đứa Con)
Không ưa thích sự rõ biết này, ví dụ nhìn mà thích thú trong cái thấy nhưng lại khởi tham sân, chính do nhận thức mới khởi tham sân cho nên thức thực Đức Phật ví dụ giống như bị đánh ba trăm roi. Đối với sáu thức không tham đắm, không ưa nhìn, không cho thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thức là vô thường, là duyên sanh, là khổ, là vô ngã.
Nhìn thấy là tham, ái, dục, nhìn thấy là sân hận, sân si, cống cao ngã mạn, giành giật, đấu đá, hai anh em giết nhau chỉ vì năm tấc đất vì nhìn thấy miếng đất kia lớn hơn của mình nên giết nhau chết, bên kia hát karaoke lớn quá nên bực thế là cãi qua cãi lại đâm nhau chết, nếu lúc đó không có ở nhà không nghe thấy tiếng hát thì làm gì có án mạng xảy ra, đó là do nhĩ thức nghe thấy, nhãn thức nhìn thấy cho nên cái thức này là duyên sanh, là vô thường, là tham, sân, si nên không ưa thích sáu thức.
Cái biết này đưa đến tham muốn, dục vọng, vì cái biết này mới đưa đến sân hận, bực bội, thù hằn, khó chịu, vì cái biết này mới ta đây, hơn thua, cao thấp, "tôi tu mười năm nay trong khi ông mới vô chùa muốn làm sư phụ tôi hả", đó là bản ngã vì thế cái thức nó phân biệt, rõ biết, từ cái này thì ý hành phân biệt, biết bao cảm thọ, nghĩ tưởng dính vào nhau, ngũ uẩn vận hành.
Trên đây là sự giới thiệu tổng quát, sơ lược vì những cái này rất sâu sắc vì liên hệ đến tứ thực cho nên Minh Thành chia sẻ để chúng ta thấy rằng cái sắc uẩn này tồn tại là do bốn loại thức ăn đó và nó hoại diệt cũng do không có bốn loại thức ăn đó. Do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, do ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, yêu thích ăn uống, yêu thích tiếp xúc, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, yêu thích nhớ nghĩ, yêu thích trong sự nhận thức, rõ biết đó. Biết để phiền não thì biết làm gì, biết để hơn thua thì biết làm gì.
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt.
Lòng Đạo xin tròn một tấm gương"
(Nguyễn Đình Chiểu)
Sự đời này thà mù lòa không thấy nhưng lòng đạo thì trong sáng như một tấm gương, thấy được đạo pháp, trí tuệ mới là tối thượng. Người ta tạo ra những bức tượng con khỉ che mắt, che tai là nhằm nhắc nhở chúng ta đóng bớt lại, đừng dính mắc, chấp thủ trong cái thức đó. Nhãn thức, nhĩ thức thấy nghe để phiền não, nói một lúc là có chuyện xảy ra, cho nên học để biết được những thức ăn này rồi bớt cho nó ăn lại vì nhiều khi mình nuôi nó mà mình không biết, mình cứ tưởng mình đang tu nhưng lại đang nuôi luân hồi sanh tử, nuôi sự tái sanh mà không biết. Mình chặn đứng lại bốn loại thức ăn, nhiếp phục, giảm bớt sự tham ái, ham thích trong đó.
./.