Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 14 - Trạo Cử & Hối Hận

2026-03-03 00:56:18
Kinh Nikāya Giảng Giải

Năm Triền Cái 14

Trạo Cử & Hối Hận

Thích Minh Thành

Ngày 27 tháng 10 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trạo hối là gì? PAGEREF _Toc89546288 \h 1

II. Năm hạng người PAGEREF _Toc89546289 \h 3

III. Đối trị trạo cử PAGEREF _Toc89546290 \h 10

I. Trạo hối là gì?

Kính thưa tất cả các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Thế Tôn giảng giải về Năm triền cái. Nếu như thông thường thì không có nhiều, trong vài buổi là xong, nhưng như Minh Thành đã trình bày, gần năm trăm chủ đề phân loại Nikāya, mỗi một chủ đề đều là viên mãn, đầy đủ mọi phương diện, ngõ ngách, tất cả các pháp và khi mình học đầy đủ một pháp thì có thể mình thành tựu trí tuệ, đầy đủ trong Thánh pháp.

Vậy nên Năm triền cái chúng ta học đã được hơn mười buổi chỉ là một nửa, chúng ta không lấy làm ngại, dù đề tài chỉ là Năm triền cái nhưng bên trong có đầy đủ tất cả các pháp, có ba mươi bảy phẩm trợ đạo trong đó. Khi chúng ta đọc trong phân loại thì mỗi chủ đề đều viên mãn tất cả, ba mươi bảy phần giác ngộ, giúp cho chúng ta có một trí tuệ thâm sâu, rộng lớn, có những cách tu thiện xảo, khéo léo để tẩy sạch các cấu nhiễm.

Trước khi vào bài, Minh Thành nói sơ lược các ý để chúng ta hiểu được ý là tại sao mà năm triền cái nhiều như vậy.

Hôm trước chúng ta đã được Đức Phật dạy cách đối trị ngủ gục, hôn trầm cho Ngài Mục-kiền-liên, hôm nay chúng ta qua bài trạo hối, tức trạo cử và hối hận, trong trang hai mươi mốt:

Trạo cử gồm có thân trạo cử và thân trạo cử, trạo cử là sự dao động. Ví dụ như người hay lăn xăn, lóc chóc, táy máy tay chân, dao động, đứng ngồi không yên, cái đi của họ hấp tấp, vội vàng, đi cũng nhanh nhanh không kịp, ăn cũng thô tháo, làm việc đến đâu bể đến đó. Đó là dáng người, thân trạo cử, người đó đang bị trói cột. Điều này cần phải để ý thật nhiều mới sửa được, còn nếu không để tâm, cố gắng, tinh tấn, thì không chỉnh được cho tới chết. Đó gọi là thân trạo cử, về cách ăn, nói, đi đứng, làm việc cứ hấp tấp, vội vàng, lao chao, lóc chóc, lăn xăn, lúc nào cũng nói được dù là chuyện của ai, miệng bép xép, thân lao chao, lóc chóc.

Tâm trạo cử là bên trong thọ, tưởng, hành hoạt động liên tục, vận hành, sôi sục, sôi nổi, dao động, nổi loạn, đó gọi là tâm trạo cử. Ngồi thiền một lúc là không yên được, cứ ngứa ngái, nhức chỗ này chỗ kia và muốn làm này làm kia, thân tâm, nội công làm môi giới cho nhau, làm cho người này dao động suốt đời, cứ sống trong sự rộn ràng, lăn xăn, vội vàng, tất bật, dao động, đứng ngồi không yên. Vì vậy người tu nhiếp phục được điều này nhìn dáng ngoài sẽ biết được, rất điềm nhiên, thong thả, nhẹ nhàng, từ tốn, đó là người đã nhiếp phục được trạo cử của thân. Khi họ nói chuyện thì họ bình tĩnh, trầm tĩnh, từ tốn, suy nghĩ từ từ, sâu sắc, họ thường là người thành công, lãnh đạo, trong đạo thì tu mới được đắc đạo, thành đạo, mới có một mức độ trong sự tu tập.

Đối với một người lao chao, lăng xăng thì ở ngoài đời cũng có địa vị thấp kém, không đứng đầu được, trong đạo cũng không có tôn nghiêm, uy nghi. Bên trong nó làm che mờ tâm, che phủ, che đậy, che lấp ánh sáng của tâm. Giống như bầu trời đêm rằm trăng tròn, sáng nhưng mây cứ kéo mãi, ánh sáng không tỏa chiếu ra được. Vậy nên có người đứng hỏi “Nay đêm rằm sao không thấy trăng?” Đó là vì mây đen che. Độ sáng của tâm không phát huy được, nên gọi là cái, che đậy, che phủ, che mờ, che lấp, che kín tâm mình.

Triền là trói buộc, trói cột, trói chặt, bị những cái đó trói lại, buộc, cột. Hối là hối hận, ray rứt, bứt rứt. Trạo cử là riêng một sự lăn xăn của thân tâm, trạo hối gồm cả hai, hối là ray rứt, hối hận, day dứt trong tòa án lương tâm của mình.

Ví dụ như một người giết người nhưng không ai biết, họ đi trốn, năm năm, mười năm sau đó họ đi đầu thú. Đó là hối. Tức là bên trong tòa án lương tâm, những thọ, tưởng, hành, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ cứ giày xéo tâm can, làm cho người này ray rứt, thao thức, những hình ảnh, cảm giác đó ám ảnh, suy nghĩ cứ chập chờn trong tâm người này làm cho người này không chịu nổi, phải đi ra đầu thú. Đó là hối. Khi sự hối hận, ray rứt, day dứt, làm cho người này bất an, dằn vặt, giày xéo, làm cho người này ăn không ngon, ngủ không yên, mất ăn mất ngủ. Đó là trạo hối.

Đến giờ chính Minh Thành mới hiểu được từ này, khi mình đã nhận diện được ngũ uẩn thì tất cả các pháp hiện rõ ra, cái nào ra cái đó. Sau này chúng ta sẽ được học bài kinh người có tâm định tĩnh, khinh an, lạc thì lúc đó, các pháp bên trong hiện rõ ra. Lúc trước chúng ta học dựa trên lý thuyết, dựa trên kinh nghiệm người khác kể lại giờ khi nhận diện ngũ uẩn là đến để thấy, vấn đề là chúng ta có nhiếp phục và đoạn tận được hay không vì chúng ta đã thấy được đúng sự thật, đó gọi là sự thấy đúng, chánh kiến.

Ví như chúng ta bị mù, nghe người đời nói đó là cái chuông thì cũng sờ sờ biết là cái chuông tròn tròn như vậy, nghe là cái chén, cái muỗng thì cũng sờ sờ như vậy và tưởng tượng. Đến khi mắt sáng ra, nhìn được là như khi thấy được ngũ uẩn, lậu hoặc, thấy được pháp là các sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tham, sân si, vô minh, bản ngã, dục ái, những cấu uế, lậu hoặc nhìn thấy, đó gọi là thấy pháp. Thấy được những thứ đó làm cho mình đau khổ, nhưng lúc xưa mình không thấy được, không biết, khi thấy được gọi là thấy đúng, chánh kiến, gọi là sự thấy biết của bậc Thánh – Thánh Tri Kiến.

Như vậy chúng ta đã giải thích hai từ trạo hối, trạo hối này làm cho mình có rất nhiều chướng ngại pháp, không cho mình ngồi thiền, nghe pháp, không cho ở yên để tu mà cứ bày chuyện này chuyện kia ra. Ví dụ như mình đang đọc kinh thì nó lại nói thôi, mở qua kênh tin tức đi, rồi lại nhảy qua xem luôn mà chúng ta không phát giác, phát hiện ra, đó gọi là chướng ngại pháp, tức bước đường đi tới của mình bị chặn lại, không cho mình đi đến mục đích mà mình hướng tới.

Lậu hoặc sanh khi làm điều vi phạm khiến hối hận tăng trưởng.

Ý nói những mê lầm, phiền não sanh khởi khi mình làm những điều sai phạm, trong lòng mình cái hối hận tăng thêm lên, làm những điều sai thì phiền não, lậu hoặc, hối hận trong tâm mình lớn mạnh.

II. Năm hạng người

Bài kinh Làm sai lạc trong Tăng Chi Bộ Kinh tập hai:

“1. - Có năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

2. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.”

Ý nói hạng thứ nhất là làm điều vi phạm rồi hối hận. Ví dụ như chúng ta trộm đồ của ai khác, tâm mình lúc đó không yên, bất an, lo sợ người khác phát hiện, biết được. Chính tâm bất an, lo sợ và hối hận đó gọi là làm điều vi phạm và hối hận. Khi chúng ta gạt ai điều gì, nói dối, sau đó nghĩ lại thì biết là đó là phạm giới rồi. Trong đó tâm của mình sẽ bất an, hối hận, hối tiếc, lo lắng. Trong năm giới chúng ta đặt vào là thấy rõ.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.”

Ý nói: hạng thứ hai là làm điều vi phạm nhưng không hối hận, dù là làm lỗi nhưng trơ trơ, xem như bình thường.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.”

Ý nói người này không có lỗi nhưng hối hận, vì người này không có chánh kiến về thân tâm của mình. Như có những người có tập khí lạ là lúc nào người đó cũng sợ, cũng lo, tâm lúc nào cũng ray rứt. Là người dù không phạm lỗi lại có hối hận.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.”

Đây là những mức độ cao của các vị Tỳ-kheo.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, và như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.”

Trường hợp này như câu nói “Vị ấy tự mình rõ biết sanh đã tận!” Đó là như thật biết, là không có điều vi phạm, không hối hận và như thật biết tâm mình giải thoát, diệt tận được tham ái, tuệ giải thoát là chấm dứt hết vô minh. Nói tâm giải thoát, tuệ giải thoát là vì tâm bị tham ái, trói cột.

Như bài Tương Ưng Vô Thỉ, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột nên không được giải thoát, cứ lẩn quẩn trong ngũ uẩn gồm sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, trong sáu ái. Vậy nên tâm không được tự do, tự tại giải thoát mà bị sáu đối tượng buộc, sáu ái, năm dục trưởng dưỡng, ngũ uẩn. Vì vậy, tâm không ở trạng thái tự do tự tại mà bị buộc vào trong những đối tượng ái. Giờ nó phá hết tham ái đối với ngũ uẩn, với năm dục trưởng dưỡng, với sáu ái nên tâm hoàn toàn tự do, tự tại nên gọi là tâm giải thoát, tất cả tham ái chấm dứt hết.

Tuệ giải thoát là vô minh bị phá hoàn toàn, không còn chút nào nữa thì lúc đó trí tuệ bừng sáng như mặt trăng thuần thanh tuyệt điểm, là bầu trời hoàn toàn một màu xanh không có một điểm nhỏ nào hay gợn mây không có, vì mặt trăng hiển lộ toàn bộ ánh sáng của nó không còn gì bị che lấp. Như vậy gọi là tuệ giải thoát.

Ánh sáng của tâm phát huy hoàn toàn công dụng của nó, đó là các bậc A-la-hán.

“3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Hạng người này cần phải được nói như sau: "Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận được tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy".”

Như vậy, đối với hạng người thứ nhất, Đức Phật khuyên phải đoạn tận các lậu hoặc, được sanh do làm điều vi phạm. Sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm và tuệ. Tức là phải nhìn thấy tại sao mình vi phạm và cái gì dẫn đến vi phạm đó. Ví dụ trộm cắp là do tham, tham đó xuất phát từ ý nghĩ, cảm thọ, hình bóng trong tâm, từ thọ, tưởng, hành. Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì một ý niệm tham sanh khởi lên thì mình biết, khi đó suy nghĩ nói lên, cảm thọ dâng lên, tham dục, tham ái, tham tiền, tham của, tham những điều khác… Khi đó, mình nhận diện ngũ uẩn là bước đầu tiên, đào sâu hơn nữa là suy tư, ý nghĩ, đi sâu vào các cảm thọ thì mới thấy được là dục lậu, tức đào thật sâu, bên dưới là các cảm thọ tham muốn, phải đoạn tận, chấm dứt những sự hối hận và muốn đoạn tận, chấm dứt thì phải tu tập tâm và tuệ.

Như chúng ta học trước giờ, tu tập tâm là nhận diện ngũ uẩn, tu tập tuệ là như lý tác ý, quán chiếu. Đức Phật từng dạy các cách tu là tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Tu tâm là tu về thọ, tưởng, hành, thức, những cảm giác nghĩ tưởng và nhận thức, mình nên thường nhìn lại, xem đó là thiện hay bất thiện để điều chỉnh nó. Cái nào bất thiện thì mình diệt nó, cái nào thiện thì cho nó phát huy, đó là tu tập tâm. Cái nào là lậu hoặc thì mình tẩy sạch, diệt tận nó. Và muốn tu tập tâm hiệu quả thì phải tu tập tuệ, vì có trí tuệ sắc bén, mới chặt đứt, đốt cháy, hủy diệt được những cái rì rào, thì thầm, dâng lên, bốc lên.

Đó là chúng ta thấy tất cả đi vào pháp hành của chúng ta, trước nay chúng ta học là chìa khóa, giờ chúng ta mới vào tạng kinh được là vì vậy. Nếu giờ mình cầm lên tạng kinh này, chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa biết lậu hoặc, chưa thấy dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã thì mình đọc chỉ lướt qua, giờ thì mới thấy rõ được vấn đề.

Chúng ta nhìn thấy các lớp trong kinh này, hối hận từ vi phạm, vi phạm từ lậu hoặc. Lậu hoặc từ thân, miệng, ý, năm uẩn nên sự tu của chúng ta là nhận diện năm uẩn này. Nhận diện thì mình thấy được rõ ràng nhất là trong suy tư, suy nghĩ, từ đó mới phát ra lời nói, hành động. Suy nghĩ mình đào sâu thêm một lớp nữa thì mới thấy được lậu hoặc.

Lậu hoặc này mình muốn phá thì Đức Phật dạy mình phải tu tâm và tu tuệ. Hối hận từ phạm lỗi từ thân, miệng, ý, giờ mình muốn điều chỉnh nó thì phải nhận diện được ngũ uẩn, nhìn thấy được suy nghĩ, đào sâu xuống cảm thọ, từ cảm thọ đó mưới thấy được lậu hoặc. Muốn tu tâm tu tuệ thì phải nhận diện được ngũ uẩn, nhận diện những suy nghĩ, cảm thọ để mình dùng trí tuệ phá nó, như lý tác ý, thiền quán, quán chiếu, an tịnh, lắng dịu, dùng để chỉ, quán, định huệ.

Việc nhận diện năm uẩn này thu thúc lục căn, là giới, phòng hộ bảo vệ. Giới, định, tuệ thì tu tâm ở bậc cao gọi là tứ thiền, tu tuệ là quán chiếu, có rất nhiều đề mục trong kinh Nikāya. Để thấy được cái vi phạm thì cần những bước đào sâu bên trong, đây Đức Phật dạy vắn tắt là lậu hoặc. Nên nhiều khi có người tu cả đời trong chùa cũng không biết được lậu hoặc là gì. Vì khi nghe giảng, nghe hướng dẫn tu nhưng có được bao người giảng giải về lậu hoặc? Có được ai chỉ cho mình biết được lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ra sao?

Đó là trạng thái khi thân không làm, miệng không nói, ý ít nghĩ nhưng khi chiêm bao lại thấy. Ví dụ như dục, hay bên trong có một cảm giác thầm ý, hướng tới, rất vi tế, đó là lậu hoặc.

Hữu lậu theo nghĩ đơn giản là sự dao động, không biết vì sao dao động, nó bất an, khó chịu nhưng không biết vì sao khó chịu, không yên, có một sự dao động rì rào mãi. Đó là trạng thái thô của hữu lậu.

Vô minh lậu là trạng thái đơ đơ, mờ mờ, không sáng tỏ và cứ ở trong trạng thái đó mãi. Dù đang mở mắt đi cũng vậy. Đó là các trạng thái từ thô đến tế, từ vô minh, si ám đến lậu hoặc. Hôn trầm là lúc nhẹ nhẹ, chìm vào chỗ lờ mờ. Lậu hoặc thì rất sâu sắc, khó nhìn thấy, vẫn nói, trình bày như mình trong vô minh lậu, không thấy rõ trạng thái của thọ, tưởng, hành, thức.

Đó là những cấp độ tu tập, tùy theo mức độ thu thúc sáu căn, mức độ an tịnh, lắng dịu của thọ, tưởng, hành, mức độ về độ sáng để mình nhìn lại của mình.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, và không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: "Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy".”

(Bài kinh Làm sai lạc – XV. Phẩm Tikandaki – 5. Chương Năm Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập hai)

Vì để biết được mình đang vi phạm là cả một vấn đề, mình phải có đủ trí tuệ, chánh kiến, phải biết rằng mình có vi phạm hay không vi phạm. Ví như Ngài Xá-lợi-phất đắp y làm y chấm trên đất thì Ngài cũng thấy hổ thẹn. Nhưng chúng ta kéo lê cũng thấy bình thường? Đó là làm sao để biết được mình có lỗi là cả một vấn đề.

Ví như mình nói một câu vô tư nhưng chạm tới bản ngã của người khác, làm cho người ta về cảm thấy ray rứt, khổ sở mà mình lại trơ trơ, không có gì, cứ vui cười bình thường, mình không biết. Đó là làm điều vi phạm nhưng không hối hận và để biết được như vậy là cả một sự tu học, nhận thức sâu sắc.

Nhiều khi mình vi phạm, người khác nhắc mình thì mình giận, đừng nói là mình không vi phạm mà mình chỉ ra, vì chính mình không đủ trí để biết được cái đó là phạm hay không phạm và phạm như thế nào, tình trạng nó ra sao. Chính vì vậy mình mới cần các bậc thiện tri thức, cần các thầy lành, bạn tốt, cần những thiện hữu vì mình không thấy hết, có người thấy dùm cho mình, phụ và chỉ cho mình.

Như trong kinh Pháp Cú có bài:

“Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,”

(Phẩm Hiền Trí - Kinh Pháp Cú)

Chỉ tốt hơn, không xấuHàng thứ nhất là làm điều vi phạm nhưng biết hối hận, mình phải cố gắng ở đó. Vì chúng ta chưa đến mức độ không vi phạm, đó là ở mức độ cao của các bậc Thánh. Có các bậc Thánh không biết là mình đã chứng Thánh quả.

Ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh hai hạng người là: có lỗi nhưng biết hối hận và một hạng có lỗi nhưng không biết hối hận. Đây là hai hạng người gần gũi mình. Nên chúng ta nên thường nhìn lại cử chỉ, hành vi, thường nhìn lại thân, miệng, ý, nhận diện năm uẩn để thấy được lỗi, khuyết điểm, thấy được chỗ mình còn dở, còn sai, còn lầm lỗi, hối hận thì mình mới có thể phấn đấu, cố gắng, nỗ lực.

Vì vậy hối hận là điều hay nhưng nếu không khéo sử dụng thì lại không hay, đây là chỗ thiện pháp và bất thiện pháp. Vì hối hận mãi không chịu tu, ray rứt, day dứt, giày xéo tâm can hoài nhưng ở giây phút hiện tại của mình thì lại bỏ, không chịu phấn đấu lên, như vậy là thất bại, sống với những cái đã chết, những dĩ vãng đã qua.

Giờ nếu hối hận thì đó là phương tiện để mình bước lên, tiến lên, tăng thượng lên, không phải hối hận là để cho mình chìm luôn ở nơi đó. Hối hận để mình nhìn lại thân, miệng, ý, để nhìn lại, nhận diện ngũ uẩn, thu hút lục căn, hối hận để mình xem lại những suy nghĩ của mình, quán chiếu các cảm thọ để phát hiện những lậu hoặc, để mình dùng sự an tịnh, lắng dịu của tâm để thấy rõ được các bất thiện pháp, dùng như lý tác ý để quán chiếu, tẩy sạch, thì hối hận đó là thiện pháp.

Nếu hối hận nhưng cứ trách chính mình, buồn, thì đó lại trở thành tự ti, mặc cảm: “Thôi giờ mình tu không được rồi. Chắc xong rồi! Không bao giờ tiến bộ được hết. Nghiệp con nặng lắm, con tu không được!” đó là tự ti. Tự tôn là “Dễ thôi, có gì đâu. Chỉ là tham, sân, si thôi, có gì đâu!” Đây là hai loại người ở hai thái cực và đều khó tu như nhau.

Vậy nên nhìn thấy lỗi mà không bị chết chìm trong lỗi mà phấn đấu, nỗ lực để đi ra khỏi lỗi đó thì hối hận đó thành thiện pháp. Nhìn thấy lỗi mà cứ ôm ấp, sống với cái đó, cứ suy nghĩ với cái đó hoài, đắm chìm, nhấn chìm mình trong đó, thì đó đã trở thành ác pháp.

Người có lỗi nhưng không hối hận thì người đó trở thành trơ trơ, vô cảm, không có cơ hội nhìn thấy lỗi, điều chỉnh lỗi, sửa đổi lỗi để làm cho mình trở thành hết lỗi, giảm lỗi, hết lỗi. Nên chúng ta thấy được, mình khéo léo vận dụng để tâm của mình đi đến trạng thái an ổn, để tu, tâm của mình phải hân hoan, mừng, nhẹ nhàng, an vui, thì mới có thể tập trung tâm ý và các đề mục thiền định hay quán chiếu.

Còn đối với bên trong cứ ray rứt, day dứt hoài, không vui, khổ, không hân hoan thì không mừng, nhẹ nhàng, không an vui, không tập trung tâm ý vào định, khi đó không thấy được sự thấy biết đúng sự thật, như thật tri kiến không có, thì không sanh khởi lên được sự nhàm chán, khi đó không thành tựu được trí về đoạn diệt các lậu hoặc. Nhàm chán nên mới muốn chấm dứt, không nhàm chán thì không muốn chấm dứt.

Vì vậy, mình hối hận để mình sửa lỗi, để tâm được bình an, để tu. Không phải cứ ở trong cái hối hận, ray rứt hoài như vậy thì trở thành bất thiện pháp, làm cắt đứt con đường phía trước, tương lai của mình. Chúng ta phải nhớ điều đó.

Đối với không có lỗi và không hối hận cũng là sai, hối hận nhưng chết chìm trong hối hận cũng là sai. Phải biết hối hận để đưa được pháp về phía trước.

Mục đích của chúng ta là dần dần để đạt đến được sự đoạn diệt các lậu hoặc.

III. Đối trị trạo cử

Bài kinh đối trị Trạo cử trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba:

“1. - Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này.

2. Thế nào là ba? - Trạo cử, không bảo vệ, phóng dật.”

Ý nói ba pháp là lăng xăng, không bảo vệ sáu căn, buông lung, buông thả, thả lỏng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

“Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này. Để đoạn tận ba pháp này, ba pháp cần phải tu tập

3. Thế nào là ba?

 Để đoạn tận trạo cử, chỉ cần phải tu tập.

 Để đoạn tận không bảo vệ, bảo vệ cần phải tu tập

 Để đoạn tận phóng dật, không phóng dật cần phải tu tập.

Để đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ba pháp cần phải tu tập.”

(Bài kinh Trạo cử - XI. Phẩm Ba Pháp – Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 3)

Chúng ta thấy rằng Đức Thế Tôn giải thích rất đơn giản: Để đoạn tận trạo cử thì phải tu tập chỉ, đoạn tận không bảo vệ thì tu tập bảo vệ, muốn đoạn tận phóng dật thì tu tập không phóng dật.

Như vậy, chủ yếu của sự đối trọng với trạo cử là sự đình chỉ. Như hôm qua chúng ta từng nói về tịnh chỉ các hành, người thường trạo cử, lăn xăn thì mình nên thường nhắc mình hoài là “Dừng lại!” Tịnh chỉ là vậy, tịnh chỉ thân hành, khẩu hành, ý hành, cứ nghĩ hoài hết điều này đến điều khi thì tự nhắc mình ngay “Dừng lại! An tịnh đi! Lắng dịu đi! Tịnh chỉ đi!”

Chúng ta thấy mỗi bệnh là Đức Phật dạy cho một thuốc trị. Người nói hoài, nói nhiều thì người khác phải nhắc “Im lặng!” Cứ nhắc thường xuyên như vậy, lăn xăn thì nhắc “Dừng lại!” Trước khi lăn xăn nhắc, trong khi lăn xăn nhắc và sau khi lăn xăn nhắc tiếp. Tức là mình dạy dỗ, huấn luyện các cảm thọ, suy nghĩ, ý hành trong mình, dẫn đường cho nó đi.

Giống như người tài xế, muốn lái xe đi đâu là xe đi đến đó, mình phải là người dẫn dắt tâm, làm chủ tâm, không để cho tâm dẫn dắt mình, không để cho thọ, tưởng, hành dẫn dắt mình. Không để cho thói quen điều khiển, sai khiến, chi phối mình mà mình phải vùng vẫy, điều khiển ngược lại nó, lúc đầu nó đấu tranh rất nhiều nhưng mình cứ kiên trì, quan trọng là mình gọi đúng tên, nhắc đúng lúc, dùng nhiều cách để chế ngự nó thì dần dần sẽ giảm bớt. Đó là nhờ sự để tâm của mình vào đó, mình muốn cho nó dẹp trạo cử này đi.

Và mình phải cố gắng làm, thực hiện điều muốn này, để tâm theo dõi nó, khi thấy có nhúc nhích, cử động thì phải nhắc nhở ngay. Mình tìm đủ mọi cách để mình làm cho bằng được, vận dụng tứ như ý túc. Đầu tiên chúng ta phải muốn, sự muốn này phải đủ mạnh, kế đến là mình cố gắng, khi đủ mạnh là tự động cố gắng, là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc.

Khi cố gắng rồi cũng không phải là xong, vì cố gắng sai, không vào trọng tâm thì cố gắng đó không thành công. Mà cố gắng phải để tâm, nhúc nhích, cục cựa chỗ nào, muốn quậy phá hay hoạt động vận hành ra sao thì mình phải nắm được mặt mũi, tên tuổi, tính tình của thân, tâm quậy phá, lao chao, lóc chóc, lăn xăn đó. Mình để tâm vào chỗ đó và thấy là nó bắt đầu nhúc nhích, cử động thì mình nắm ngay, tìm đủ mọi cách để nhắc nhở nó “Tịnh chỉ! An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu đi!”

Đối với không bảo vệ thì mình tu tập bảo vệ, giữ gìn, phòng hộ. Như những người bảo vệ ở công ty, trường học thì trách nhiệm của họ là canh giữ, trông chừng, giữ gìn tài sản. Cũng vậy, mình phải canh chừng sự lăn xăn, trông coi nó, như người bảo mẫu giữ trẻ. Luôn phải bảo vệ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý, bảo vệ cảm thọ của mình, bảo vệ suy nghĩ, thân, miệng, ý của mình. Luôn phải phòng hộ, canh chừng, giữ gìn, bảo vệ.

Ví dụ trên mâm ăn, đối với người lúc nào cũng có chánh niệm, sự phòng hộ, bảo vệ, không buông lung phóng dật, không buông thả các căn, thì họ để các cái chén, muỗng cũng nhẹ nhàng, êm ái. Đối với người thả lỏng các căn thì làm tới đâu thì ồn ào, rổn rảng đến đó, chén, muỗng rơi kêu lẻng kẻng, lộp cộp dù là đang cúng. Đó là không bảo vệ, buông lung, thả lỏng các căn.

Vậy nên khi tu là mình bảo vệ cho mình và bảo vệ cho người, vì khi không bảo vệ, mình phát ra một câu làm cho người khác giận, nói chừng ba mươi giây mà ba ngày sau hay ba tuần sau người kia còn giận thì mình cũng khổ, thấy khó chịu, nhưng lỗi đó là từ chỗ miệng bép xép, không phòng hộ, thả lỏng miệng muốn nói gì nói. Hay như thả lỏng tay chân, làm rơi bể đồ, chén, đồ cổ… nên mang họa dù có biển cấm sờ, tay chân tái mái nên có chuyện. Nhưng những gì người khác cấm, không cho thì lại muốn làm.

Ví dụ như người ta trồng hoa làm hàng rào ngăn lại để đừng vào, rồi cũng có người lén vào chụp hình, đăng lên cả biển Cấm vào để rồi bị người đời bình luận, phê phán. Đó là không phòng hộ, bảo vệ.

Vậy nên mình phải có sự phòng hộ, giữ gìn, bảo vệ, thâu nhiếp các căn. An nhiên đến đi vắng lặng, làm cho mọi cử chỉ, hành động của mình trở thành tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật của chánh niệm. Không chỉ nhiếp phục được trạo cử mà làm nên nghệ thuật, tác phẩm mỹ thuật trong lời nói, bước đi, hành động trở thành nghệ thuật của chánh niệm.

Mỗi bước đi thiền hành hay kinh hành của mình thật ra là đang tu chỉ. Mỗi bước đi có sự ý thức, tỉnh thức, bảo vệ trong mỗi bước chân của mình, mỗi bước chân không buông thả, buông lung, phóng dật. Nên thay vì những bước đi bình thường thì trở thành đi thiền hành.

Cũng là bước đi nhưng có sự an tịnh, bảo vệ, chánh niệm, không buông lung phóng dật thì bước chân đó trở thành bước thiền, thiền đi, thiền hành. Cũng trong việc ăn, ăn bình thường gọi là ăn nhưng ăn có sự quán chiếu, nhìn nhận thì gọi là chánh quán thọ thực, thiền ăn. Cứ ăn mà buông thả, nhai rộn rạo, lia lịa hay là ăn mà bình tĩnh, nhẹ nhàng, từ tốn, kiểm soát được dục, tham, ái, biết ơn những người nông phu, trồng lúa, người đi chợ, nấu nướng, đàn na tín thí cúng dường cho mình, người dọn lên… Như vậy, chúng ta quán chiếu cả một chuỗi dài của công lao cực khổ, khó nhọc, mồ hôi, nước mắt khi có được bữa ăn.

Như lúc nhỏ chúng ta học bài thơ:

“Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi, bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.”

(Bài ca dao là bản dịch bài thơ Mẫn nông của Lý Thân đời Đường (Trung Quốc).)

Nên khi chúng ta bưng bát cơm lên, chúng ta ăn từng muỗng cơm, đũa gắp, chúng ta nhẹ nhàng, nâng niu, tri ơn, cảm ơn, nhớ ơn, nguyện ăn được hạt cơm này sẽ báo ơn. Khi đó, ăn cơm là nghệ thuật của chánh niệm, gọi là chánh quán thọ thực, là cách ăn của bậc chân nhân, thiện nhân, trí nhân, hiền nhân, của người biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn và nguyện sẽ đền ơn.

Từng muỗng rau, muỗng canh chúng ta ăn thì biết được bao mồ hôi, cực nhọc, khó khăn của người trồng trọt, hái vào, nấu lên, mang lên đến trên bàn cho chúng ta. Cách ăn như vậy là tuyệt vời, nghệ thuật. Chúng ta ăn sẽ không cẩu thả, không dám rơi đổ, phung phí, hoang phí, hủy của trời, hạt gạo như hạt ngọc.

Như chúng ta từng học trong kinh Trường Bộ, về sự hình thành nhân sinh, thế giới, vũ trụ thì lúc đầu gạo tự mọc, con người khi đó xem thường, hủy phước rồi sau đó học trồng chúng, rồi mất mùa.

Nên chúng ta ăn trong sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, chánh niệm, ăn trở thành nghệ thuật, không dám phung phí, lãng phí, rơi đổ. Dù còn một hạt cơm cũng vét cho hết, sau đó rót nước trà vào tráng cái bát, không dám phung phí, hủy của. Đó gọi là thiền ăn. Và trong khi ăn mình phải xem dục, tham, ái của mình, trải tình thương đến những người đã cúng dường, nấu nướng, trồng trọt… Như vậy là thiền ăn.

Đối với ăn mà chỉ biết ngon dở, mặn ngọt, chê khen, so sánh hôm qua hôm nay, bữa trước bữa nay thì đó là ăn không bảo vệ, không có chánh niệm, tỉnh thức. Đó không phải là thiền ăn mà là phàm ăn.

Khi uống cũng vậy, như câu “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Uống nước nhớ người đào giếng.” Chúng ta cầm ly nước lên, uống từng ngụm cảm nhận thọ của mình ra sao, ngấm, thấm như thế nào và cảm ơn dòng nước, người đã đem nước này tới, cảm ơn người đã mang lên tới đây, hay pha, khuấy thành các loại nước khác.

Khi bưng nước mà nhớ đến chuyện này chuyện kia, không có chánh niệm trong uống, uống mà mình lãng quên, tâm trong sự buông trôi, buông thả, buông lung thì đó không là thiền uống.

Trong mỗi việc mà chúng ta có sự thâu nhiếp, thu thúc, chánh niệm ở trong đó thì trở thành phép màu, nghệ thuật, vi diệu, tuyệt vời. Lúc ngồi cũng vậy, ngồi trong sự nhẹ nhàng, an tịnh lắng dịu, chánh niệm thì đó trở thành ngồi thiền. Không phải giờ ngồi thiền mới là ngồi thiền. Trong tất cả mọi cử chỉ, hành động của chúng ta đều để tâm vào trong đó, vào sự thu nhiếp, thu thúc, sự an tịnh, lắng dịu, oai nghi, chánh niệm thì trở thành phép màu, phép lạ, những tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật.

Trong lời nói của chúng ta cũng vậy, lời nói như hoa như mật, chúng ta không tu chỉ, không an tịnh, lắng dịu, không biết bảo vệ lời nói, để cho lời nói của mình buông thả, buông trôi, buông lơi, buông lung phóng dật thì nó trở thành lời nói như phân, hôi thối, bẩn thỉu. Lời nói có sự chánh niệm, phòng hộ, bảo vệ, tu tập thì lời nói như hoa, như mật, như trầm hương, lời nói trở thành lời thiền, pháp ngữ, thiền ngữ, ái ngữ, chân ngữ, thật ngữ, lợi ích ngữ.

Nên có nhiều người chỉ nói một câu làm cho người khác không muốn nói nữa, mình muốn tốt, muốn giúp cho họ nhưng nghe một câu là dừng lại. Ví dụ như “Con có đồ không thầy cho?” - “Đồ của thầy con mặc không vừa!” - “À để thầy chọn, thầy tìm vừa vặn!” - “Đồ mà vừa vặn thì đã cho từ lâu!” Đến đó mình dừng lại, dù là mình thương, tội nghiệp họ nhưng không giúp được nữa.

Đó là khi nói nhẹ nhàng trong chùa, còn bên ngoài nói ra một câu làm cho người khác phùng mang, trợn mắt, động tay động chân, động thủ. Lời nói đó họ làm cho đau khổ, cũng là lời nói nhưng làm cho hạnh phúc, có lời nói làm cho bất an cũng có lời nói làm cho bình an. Lời nói làm cho bất hạnh nhưng cũng có lời nói làm cho vinh hạnh, hạnh phúc. Tất cả những cái đó là do sự an tịnh, lắng dịu, thâu nhiếp, bảo vệ, chánh niệm, tỉnh thức.

Vì vậy, tu là cả một nghệ thuật, nghệ thuật của chánh niệm, của sự tỉnh thức, của bình an, gốc rễ là sự biết dừng lại đúng lúc, lúc nào cần dừng, biết bảo vệ thường xuyên và biết sự kiểm soát, kiểm tra, kiểm kê, kiểm điểm, thu nhiếp lại, giữ gìn không cho sự buông lơi, buông thả, buông trôi, buông xuôi, buông lung phóng dật. Đó là đẹp, là tác phẩm đại mỹ thuật của vũ trụ, là đời sống của những người tu tập chánh niệm và tỉnh thức. Là tác phẩm mỹ thuật vĩ đại của nhân sinh, nhất cử nhất động đều tuyệt diệu, tuyệt vời.

Có thiền đi, thiền ăn, thiền uống, thiền ngữ, làm trở thành tác phẩm là nhờ vào sự biết dừng lại, không lao chao, lóc xóc, dao động, rối loạn, bạo động mà tâm luôn luôn an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, bình an. Như vậy, cảm xúc, cảm thọ đó, cảm giác đó lan tỏa cho người chung quanh.

Vậy nên chúng ta nhớ lại rất nhiều hình ảnh đẹp trong kinh Nikāya như: Thế Tôn và Ngài Xá-lợi-phất từ xa đi đến thì những người ngoại đạo liền nói “Tôn giả Gotama tới, im lặng. Ngài ấy không thích ồn ào. Nếu mình im lặng thanh tịnh thì Ngài sẽ đi vào hội chúng của mình.” Chúng ta thấy trong một câu kinh đơn giản nhưng trong đó là cả một nghệ thuật, phép màu, tác phẩm mỹ thuật vĩ đại, siêu phẩm của bậc Chánh Đẳng Giác.

Vì nhiều khi thời điểm quan trọng chưa xảy ra, mình đã dùng hết thứ yếu thì đến thời điểm quan trọng thì mình mất hết năng lượng, năng lực. Ví dụ như cần chuẩn bị một buổi lễ, trước đó mình đã lăn xăn làm nhiều việc, đến lúc chánh yếu để làm lễ thì mình hết năng lượng, hết pin. Vậy nên mình đầu tư vào những cái không quan trọng, đến khi tới lúc quan trọng thì mình đã hết công lực, năng lực, hết pin. Vì mình không biết được thứ nào yếu và trọng yếu.

Vì vậy, trước các lễ quan trọng trong lúc trước, Minh Thành thường không làm gì cả, không để cho tâm dao động, chỉ đi thiền hành hay ngồi tĩnh tọa, nhiếp niệm, an trú vào trong pháp.

Chúng ta nên nhớ điều đó, phải biết thứ nào yếu và trọng yếu, nhiều khi lăn xăn các thứ yếu rồi đến cái trọng yếu thì đã sức tàn lực kiệt. Mình nhớ mỗi bước chân, cử chỉ, hành động, bữa ăn cơm, cách cư xử với nhau đều phải trong sự chánh niệm tỉnh thức, nghệ thuật, mỹ thuật, phép màu. Mình sẽ ít làm phiền cho ai khác, ít bị bất hòa, bất ổn, buồn giận với nhau trong chúng, phải tôn trọng, luôn luôn giữ được sự an tịnh, lắng dịu thường xuyên cho mình và mọi người. Nghĩ đến mọi người cũng như mình và làm sao để cho mình và mọi người thường được an trú trong pháp, sống với pháp.

Khi nghĩ được như vậy thì mình sẽ không nói chuyện thị phi, không nói chuyện để cho người khác sân si, mình sẽ nói chuyện để cho người ta an tịnh, lắng dịu, để thấy sự thật thì lời nói đó trở thành pháp ngữ, đạo ngữ, thiền ngữ, chân ngữ, thật ngữ, ái ngữ, trí ngữ. Nếu nói không khéo sẽ nói lời khơi gợi lên sự hơn thua, phải quấy làm cho mình khó chịu và người nghe cũng bực bội, cuối cùng mình làm khổ cho mình cho người, đó là lời nói không có chánh niệm, lời nói không giữ gìn, bảo vệ. Lời nói buông thả, thả lỏng các căn.

Mắt mình cũng vậy, nhìn bằng sự từ ái, tình thương. Tai mình nghe để hiểu, để cảm thông, tha thứ, để thương. Mỗi cử chỉ, hành động của mình phải thực tập sự chánh niệm, tỉnh thức cao độ.

“Nên sáu căn an nhiên, đến đi vắng lặng”. Đây là câu trong Quy Sơn Cảnh Sách:

“Lục căn vi nhiên

Hành trụ tịch mặc”

Nhiều thầy xuống thất không biết mà chỉ thấy bóng ôm bình bát đi im lặng, còn mình đi tới đâu thì vang dội cả núi rừng, đó là pháp sống.

Phải tập luyện để giảm bớt sự lăn xăn, trạo cử vì lúc mình sắp ra đi, nếu mình không có sức định tĩnh, chánh niệm, an tịnh, lắng dịu thì lúc đó mình sẽ rất khổ, kêu gào thảm thiết. Nên khi Bà Năm Diệu Hiền ra đi yên tịnh, lắng dịu như vậy nhờ vào thường xuyên an tịnh, lắng dịu.

Cũng nhờ những người đó tu tập nhiều đời kiếp, không phải là bình thường. Cảm thọ được trầm lắng, an tịnh, lắng dịu nên những đau khổ, đau đớn nhiều như vậy nhưng vẫn quen, an trú được. Nếu như mình không tập thì chỉ một chút thôi là mình rối loạn lên hết, dao động hết, thì khi có tai nạn, thần chết đến, đến ngưỡng cửa của sanh tử thì tâm của mình không được an tịnh, lắng dịu.

Đức Thế Tôn từng dạy: Khổ thường đưa đến mê loạn. “Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn.”

Nhất là khổ sắp ra đi, tâm của mình dễ bị hôn mê, rối loạn nên bình thường nên tập sự an tịnh, lắng dịu là tuyệt đối quan trọng. Ít nhất là mình không đọa lạc vào đường ác, lúc đó mình bình tĩnh, chánh niệm, sáng suốt để mình nhớ pháp, nhớ các sự thật, nhờ sự thật trong đứng đi, nói năng, làm việc hằng ngày, nhiều ngày nhiều tháng, nhiều năm, chục năm, hai chục năm, đến lúc đó được thuần thục, nhuần nhuyễn, lão luyện.

Vì vậy, sự an tịnh, lắng dịu này rất tuyệt vời, dù cho mình làm việc hay có chuyện gì xảy ra. Ví như dưới quê báo là ở quê Dượng Tư là F0, xe đưa đi rồi, người con gái khóc lóc, người cô hoảng loạn thì Minh Thành khuyên nên bình tĩnh. Bình tĩnh để xem cái nào nên làm và không nên làm, làm như thế nào. Rối loạn lên thì lúc đó mê loạn, tâm mình sẽ mờ tối, rối loạn.

Nhất là trong thời buổi này tai họa, tổ hợp của thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, bão táp, mưa sa, càng phải chánh niệm tỉnh thức, bình tĩnh, để mình giảm bớt được khổ, ít khổ hơn những người khác. Còn nếu mình rối loạn, dao động thì mình cũng như người ta.

Hãy nhớ tu tập sự bình tĩnh này, an tịnh, lắng dịu này, sự giảm bớt trạo cử, lăn xăn, dao động này thì chúng ta sẽ được nhiều lợi lạc. Đời sống của chúng ta sẽ trở thành một nghệ thuật sống, sống đẹp, có ích. Ít nhất cũng là sự sống bình an, không làm cho người khác bất an.

Chánh niệm là phép lạ, sự tỉnh thức là vi diệu, phép màu, chúng ta cố gắng thực tập thân hành niệm, niệm oai nghi, hành động, tập kêu cảm thọ của mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào.

Như vậy, hôm nay chúng ta xong phần trạo cử.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.