Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Mười Điều Hạnh Phúc - Kinh Khả Lạc - Tăng Chi Bộ IV

2026-03-03 00:56:18
Kinh Nikāya Giảng Giải

Mười Điều Hạnh Phúc

Thích Minh Thành

Ngày 03 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mười điều khả lạc, khả hỷ, khả ý PAGEREF _Toc115709074 \h 1

II. Thụ động không hăng hái PAGEREF _Toc115709075 \h 3

III. Dung sắc PAGEREF _Toc115709076 \h 7

IV. Chướng ngại của không bệnh PAGEREF _Toc115709077 \h 10

V. Chướng ngại của giới đức PAGEREF _Toc115709078 \h 11

VI. Trình pháp PAGEREF _Toc115709079 \h 12

VII. Chế ngự căn PAGEREF _Toc115709080 \h 15

VIII. Chướng ngại của trí tuệ PAGEREF _Toc115709081 \h 19

IX. Chướng ngại cho các pháp PAGEREF _Toc115709082 \h 20

X. Chướng ngại cho thiên giới PAGEREF _Toc115709083 \h 20

I. Mười điều khả lạc, khả hỷ, khả ý

Kính thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta sẽ nghe một bài kinh rất đặc biệt là kinh “Khả Lạc”, Tăng Chi Bộ tập IV. Khả lạc có nghĩa là đáng vui. 

“1. - Có mười pháp này khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là mười?

2. Tài sản khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời, dung sắc... không bệnh... các giới đức... Phạm hạnh... các bạn bè... nhiều trí.... các pháp... thiên giới, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.

Này các Tỷ-kheo, mười pháp khả lạc, khả lạc, khả hỷ, khả này khó tìm được ở đời.

3. Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những chướng ngại. Thế nào là mười?

4. Thụ động và không hăng hái là chướng ngại cho tài sản. Không trang sức, không tô điểm là chướng ngại cho dung sắc. Hành động không thích ứng là chướng ngại cho không bệnh. Ác bằng hữu là chướng ngại cho giới đức. Không chế ngự các căn là chướng ngại cho Phạm hạnh. Lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè. Không học tập là chướng ngại cho nhiều trí. Không nghe, không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ. Không có chú tâm, không có quán sát là chướng ngại cho các pháp. Tà hạnh là chướng ngại cho Thiên giới.

Này các Tỷ-kheo, đối với mười khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những chướng ngại.

5. Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những thức ăn. Thế nào là mười?

6. Không thụ động, hăng hái là món ăn cho các tài sản. Trang sức, tô điểm là món ăn cho dung sắc. Hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh. Bạn bè với thiện bằng hữu là thức ăn cho các giới đức. Chế ngự các căn là thức ăn cho Phạm hạnh. Không có lừa dối là thức ăn cho bạn bè. Học tập là thức ăn cho trí tuệ. Chú tâm quán sát là thức ăn cho các pháp. Chánh hạnh là thức ăn cho Thiên giới.

Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những thức ăn.”

(Tăng Chi Bộ kinh IV – kinh Khả Lạc)

Nếu mà mình sanh ra trong một gia đình khá giả, giàu có, đầy đủ tài sản, chúng ta có thấy mình hạnh phúc không ạ? Mà điều đó khó tìm được ở đời, không phải ai sanh ra cũng giàu có, đầy đủ, sung túc, tài sản. Cho nên Đức Phật nói người có tài sản là người đáng vui, đáng mừng, thích ý, khó có được. Cái thứ hai là sắc đẹp, có những con người sanh ra họ rất đau khổ, rất tủi thân, tủi phận. Họ sanh ra là một hình dáng tật nguyền, dị dạng, dị hình, dị tật. Họ sanh ra trong hoàn cảnh mù, điếc, câm, ngọng, trong một thân tướng có một thước hai, một thước ba thôi. Họ sanh ra trong một cái thân ốm quá, mập quá, lùn quá hoặc cao quá, hay là mang những chứng bệnh. Cho nên ở đây Đức Phật nói tiếp theo của “sắc” là “không bệnh”, là đáng vui, đáng mừng, thích ý, khó tìm được ở đời.

Cho nên những cái này đều phải do phước nghiệp, phước báu, phước đức mà mình đã gieo trồng ở trong quá khứ và trong hiện tại. Một chút nữa Đức Phật sẽ chỉ cho chúng ta nhân quả của mười điều hạnh phúc này. Đầu tiên để chúng ta cảm nhận, chứ không thôi mình nghe mình thấy: “Ủa sao hổm rày mình học sắc là vô thường, đau khổ, từ bỏ không à, sao bữa nay nói cái này”, thì vô thường, đau khổ, từ bỏ đó là cái lý tuyệt đối. Nhưng ở đây Đức Phật nói trong cái pháp tương đối, là thật sự như vậy, không phải dễ có được tài sản, sắc đẹp, sức khỏe, mà nhất là trong tình trạng hiện nay, “chúng ta thấy sức khỏe có quý không?”, “Cô Thanh diệu thấy sức khỏe quý không?” Rất là quý. Cho nên Đức Thế Tôn nói là khó tìm được ở đời. Tiếp theo đến các “giới đức”, “Phạm hạnh”, là cái hạnh trong sạch, thanh tịnh. Tiếp nữa đến “bạn bè”, cũng không phải dễ mà có bạn đâu, bạn ở đây mà Đức Phật nói người bạn đạo, người bạn lành, người bạn tốt, người thiện tri thức, chứ không phải bạn ăn chơi, bạn bà tám bình thường để tâm sự đời cô lựu, không phải. Mà đây là bạn hữu, bạn lành, thiện tri thức. Chúng ta thấy trong cuộc đời đâu phải dễ mà gặp được một người bạn lành, một người thiện tri thức, minh sư hay là thiện hữu, có khi nhiều nhiều kiếp mới gặp được, không phải dễ có trong cả cuộc đời của mình.

Cho nên người xưa nói: “Tương thức mãn thiên hạ, tri âm hữu kỷ nhân”, tức là quen biết khắp thiên hạ, tri âm có mấy ai. Cái người mà thật sự tri âm, tri kỷ, tức là hiểu được mình một cách sâu sắc, thì không có được mấy người hết. Mình quen thì quen khắp thiên hạ, nhưng mà người hiểu được không có mấy ai. Đó là người đời họ nói vậy đó, cái kinh nghiệm, túi khôn của nhân loại là nói như vậy. Còn ở đây gọi bạn bè là thiện hữu thì nó còn hơn cái đó nữa, không những hiểu được mình, mà còn giúp cho mình đi về con đường sáng, đường lành, con đường cao thượng, thánh thiện, ở đây gọi là chữ bạn có nghĩa là như vậy. Tiếp theo là “nhiều trí”, “tuệ” ở đây là những điều đáng mừng, đáng vui, đáng thích ý, khó tìm được ở đời. Cũng như vậy, các pháp ở đây là những thiện pháp, những Thánh pháp và cuối cùng là “thiên giới”. Chúng ta thấy các bậc Thánh đệ tử, chư thiên cũng ở cõi trời, cho nên những cái này đáng vui, đáng thích, đáng hoan hỉ, khó tìm được ở đời, người dạy rất là kỹ cho chúng ta,

II. Thụ động không hăng hái

“Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những chướng ngại. Thế nào là mười?”

“Thụ động và không hăng hái là chướng ngại cho tài sản”. Thụ động, không hăng hái, là lười biếng, không muốn làm gì hết, thì làm sao giàu có được? Ăn rồi ngủ, rồi chơi, làm sao giàu có, làm sao tăng trưởng tài sản được? Bây giờ mình kết hợp luôn về nhân quả của 10 điều này, Đức Phật nói: “Không thụ động, hăng hái là món ăn cho các tài sản” Không có thụ động, là hăng hái, nhiệt tâm, siêng năng và cố gắng, thì đó là món ăn của các tài sản. Thì chúng ta biết có hai loại tài sản, tài sản đời và tài sản đạo, tài sản phàm và tài sản Thánh. Tài sản phàm thì không cần nói rồi ai cũng biết rồi, còn tài sản Thánh ai nhớ không ạ? Bảy tài sản của bậc thánh, Thất Thánh tài: Tín, Giới, Tàm, Quý, Văn, Thí, Tuệ. Đó là tài sản của bậc Thánh, của đạo pháp, tâm linh người tu chúng ta. Mà nếu như mình thụ động, không có hăng hái, thì làm chướng ngại cho tài sản của đạo pháp, tài sản của Thánh hiền. Không có làm cho mình tăng trưởng, phát triển quản đại tín tâm đối với Tam bảo, mà càng ngày cái lòng tin mình nó càng lui sụt.

Mình không có tụng giới, không có nhắc giới, không có ôn giới, không có để tâm vào sự tu tập giới, thì cái giới của mình càng ngày càng suy giảm. Rồi bây giờ mình ít nghe pháp, không nghe pháp, làm biếng nghe pháp, thụ động trong việc nghe pháp, làm biếng viết nhật ký tu học, không muốn trình pháp, thì những cái đó làm cho mình trở thành sa sút, nghèo thiếu, giảm thiểu trong tài sản bậc Thánh. Giảm thiểu từ từ thì mình đi đến phá sản, không tu nữa. Cho nên chúng ta thấy không? Mình phải hiểu ở đây Đức Phật nói tài sản bình thường của thế gian, nhưng có chỗ khác Đức Phật nói tài sản của bậc Thánh, mình phải ứng dụng chỗ đó. Tại sao hàng ngày chúng ta đều nghe pháp, đều có thiền quán, trừ khi nào mà con bận dữ lắm không thể chia sẻ được, thì ngày đó con mới nghỉ. Nhưng mà nếu được thì tối hay trưa gì con cũng bù lại cái buổi tu học Nikāya trong mỗi ngày. Thì để cho tự thân mình và cho trong đạo tràng phải có hăng hái, nhiệt tâm, nỗ lực viết nhật ký tu học, thuyết trình pháp, nhận diện ngũ uẩn, nghe pháp, thiền quán, thiền định, lạy sám hối diệt ngã, chúng ta thấy nhiều những cái pháp không ạ? Đó là mình liên hệ đến các pháp trong đó.

Vậy chướng ngại và thức ăn của các pháp Đức Phật nói là gì? Ở đây Đức Phật nói: “Không có chú tâm, không có quán sát là chướng ngại cho các pháp” Pháp ở đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, các lậu hoặc, cũng như là các thiện pháp mà mình đã được tu học. Mình không có chú tâm, quán sát, cho nên các lậu hoặc, các phiền não, bản ngã của mình sanh khởi, vô minh xâm chiếm mà mình không thấy. Tại vì mình đâu có chú tâm, đâu có quán sát đâu mà thấy. Nếu mà người ta thương, giúp mình, chỉ mình, mà mình sân, mình bản ngã, như vậy riết rồi người ta đâu dám chỉ nữa. Cho nên sự tu của chúng ta là cả một quá trình, nói chỉ cần một chút xíu thức niệm, một suy nghĩ tà tư duy thôi là nó đẩy mình văng ra khỏi vòng pháp này ngay lập tức. Hành sự theo vô minh, bản ngã, tập khí, theo nghiệp là tam đồ ác đạo mở cửa rộng lớn cho mình, chỉ trong tích tắc à. Cái tâm, bản ngã bên trong con người của chúng ta, con nhớ con dùng từ “chúng ta”, chứ con không có nói quý vị, ý chỉ là có con trong đó nữa, ghê gớm, thâm độc, khủng khiếp lắm mà mình không có thấy hết được nguy hại của nó. Mình thấy được thì mình phải run sợ, lo sợ, lo lắng lắm, nếu thật sự được nhìn thấy nó. Cái tham, sân, si, bản ngã, lậu hoặc, mình mà thấy được một cách kha khá thôi, chứ con không có nói thấy được hết, thấy hết được thì tối thiểu Thánh quả thứ nhất đến bật thứ tư, tức là bật A-la-hán. Thấy hết được những ngõ nghách, góc cạnh, góc độ, phương diện của các bản ngã, chúng ta biết nó ghê gớm như vậy.

Cho nên tại sao mình tu mình cần đến thầy, đến bạn. Thì những lúc tâm mình bị chi phối bởi tham, sân, si, vô minh hoặc nó bị cái gì đó ganh tị, tật đố, thì lúc đó tâm của mình sẽ bị mờ trên năm triền cái. Chữ “cái” là che mờ, che đậy; chữ “triền’ là trói cột. Cái đó xuất hiện thì cái tâm của mình Đức Phật gọi là làm cho trí tuệ trú ẩn, làm cho mù lòa. Khi năm triền cái đó chi phối, thì mình không nhìn nhận đúng sự thật về các pháp. Mà con xin thưa, nếu mình chưa có vào sơ thiền, thì tất cả chúng ta ở trong năm triền cái đó hết. Cứ khi nào người đi vô sơ thiền mới ly được năm triền cái, mà chỉ trong giai đoạn trú ở trong thiền thôi, chứ còn trở ra là nó xâm chiếm tiếp tục, chúng ta thấy cái tâm của chúng ta ghê gớm không? Nhiều khi đang ngồi nghe pháp dục, ái, tham, bản ngã nó vẫn khởi, xong rồi hôn trầm nó xâm chiếm, mới vô ngồi mà con mắt nó lim dim. Cần phải thương lắm, thương ơi là thương, thương dạt dào chứa chan, bao la ngập tràn, hiểu rồi mình thương lắm. Nhưng mà tùy người, có người thì mình nói được, có người mình nói không khéo nó phản tác dụng, cho nên tốt nhất có khi phải im lặng.

Thương lắm quý vị ơi, thương ngũ uẩn lắm, tội cho ngũ uẩn lắm. Ngày đêm tâm chúng ta bị vô minh phong tỏa hết, trong lúc mình ngủ là không nói rồi, mà khi thức giấc rồi, mở con mắt vậy là vô minh, tham ái, bản ngã, dục mà mình không có thấy. Cho nên, để chúng ta luôn trong một trạng thái an tịnh hoàn toàn của ngũ uẩn là cả một cuộc chiến của máu, nước mắt và sinh mạng. Chứ không có nói tu là chuyện đơn giản, đó là cả một cuộc chiến đấu máu lửa, sanh mạng và nước mắt. Trong từng giây, từng phút, mỗi một suy nghĩ, mỗi một lời nói, cử chỉ, hành động của chúng ta đều phải quán sát. Ở đây Đức Phật nói: “Đối với mười điều mà đáng vui, đáng thích ý, vừa lòng, khó tìm được ở đời, chú tâm quan sát là thức ăn cho các pháp”. Cho nên trong Tứ niệm xứ, mình nói là quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp là các pháp này. Cái pháp ở đây không còn là mình nghe ở ngoài nữa, cái pháp này là pháp ở bên trong, tức là người muốn các pháp đó hiện rõ thì người đó phải chú tâm quán sát thường xuyên và liên tục, như vậy thì không có lúc nào thất niệm hết, thì cái pháp đó hiện rõ.

Cho nên chúng ta mới thấy chư vị Tỳ-kheo ngày xưa là độc cư, sống một mình, viễn ly, là như vậy đó. Tránh với duyên xúc, tránh với sự hướng ngoại, ở một mình, thậm chí người tu với nhau mà phải tránh nữa. Ở độc cư, để chăm chăm ngày đêm từng giây, từng phút, nhìn vô trong đó giải quyết cái vấn đề của mình, khi giải quyết xong thì các Ngài trở ra “nhân thiên phổ lợi”, một lời nói, một cử chỉ của các Ngài là “chuyển mê khai ngộ”. Cho nên mình tu chưa có gì hết trơn, mới có được chút chút đừng có vội tự ngã, ta đây, là thất bại lớn lắm. Cái hiểu của mình bây giờ như đom đóm thôi, đừng có tin vô những cảm thọ, suy nghĩ, hình thức của mình, mình tin vô đó nó giết mình chết. Thọ, tưởng, hành, thức là kẻ giết người mà “này các Tỳ-kheo, sắc là kẻ giết người, thọ là kẻ giết người, tưởng là kẻ giết người, hành là kẻ giết người, thức là kẻ giết người”, cho nên thức ăn của các pháp là chú tâm quán sát.

Con nói ví dụ như bây giờ ngồi thiền, tại sao mình hôn trầm, mình ngủ gục mà mình không hay? Tại vì mình không có chú tâm quán sát, nếu mà mình chú tâm quán sát, thì nó vừa mới bắt đầu lơ mơ là mình hay, mình bắt đầu xử lý. Tại vì mình không có chú tâm quán sát, không có tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, cho nên nó sanh khởi lên mình không biết, rồi nó nhập vô, con ma ngủ nó nhập vô mình cũng không hay, rồi tới chừng nó đi ra rồi thì mình mới biết “nãy giờ ngủ mới dậy”, thấy vô minh nó nặng không? Cho nên ngày đêm bị vô minh phong tỏa, đừng có tin vô suy nghĩ của mình, sai bét. Suy nghĩ của mình là suy nghĩ của phàm phu, bản ngã, thói quen, suy nghĩ của nghiệp. Nên nếu học cái này không thì học hết buổi hôm nay cũng chưa hết, nội các pháp này nó sâu lắm. Giờ chúng ta trở lại mấy cái phía trước, từ từ chúng ta đi tới.

“Thụ động không hăng hái là chướng ngại cho tài sản”, bài này chúng ta học kỹ, tài sản của bậc Thánh mà mình không có chăm sóc vô tính, giới, văn, thí. Có nhiều người dễ bị thiên lệch, tiêu cực, phiến diện lắm, nhiều khi bây giờ nói: “Giờ tôi không cần bố thí hay làm phước gì hết” Rồi có người bây giờ cứ bố thí thôi, chứ không có ngồi thiền được “tôi không nghe pháp, tôi làm bố thí thôi” Chúng ta có thấy không ạ? Chính vì cái tâm nó nghiêng lệch, thiên kiến, góc cạnh, cho nên bình thường được cái kết quả nó cũng thiên lệch như vậy. Người này sẽ có tài sản, nhưng không có trí tuệ, chúng ta có thấy cái này nhiều không ạ? Cho nên Đức Phật dạy cái này là Ngài dạy đại viên mãn ở chỗ đó.

III. Dung sắc

“Không trang sức, không tô điểm là chướng ngại của dung sắc”. Chúng ta thấy Đức Phật nói có bình dị không? Ngài đâu phải nói gì xa xôi, không thực tế đâu. Mình không có trang sức, không có tô điểm, không có chăm sóc cho dung sắc của mình thì tự nhiên nó là chướng ngại cho sắc đẹp. Thì cái sắc đẹp ở đây mình hiểu hai phương diện nữa, sắc đẹp của thân xác và sắc đẹp của đạo đức tâm hồn. Con chú trọng đạo đức này nhiều hơn, chứ sắc đẹp ở ngoài có khi tới là nguy hiểm lắm. Tại vì sắc là dục trưởng dưỡng mà, xúc là nó sinh ra thọ, tưởng, hành. Cho nên cái nét đẹp đạo đức, nét đẹp tâm linh là rất quan trọng. Mà muốn vậy thì mình phải thường trang sức và thường tô điểm. “Mình có trang sức, có đi thẩm mỹ viện tâm linh của Linh Quy Pháp Ấn không?” Tâm hiền, tâm từ là thẩm mỹ viện tâm linh, hai cái đó làm đẹp cho tự thân, đẹp cho tâm hồn, đẹp cho đạo đức. Cho nên người có tu cái tâm hiền thì dù cho hoàn cảnh hết sức bức xúc, sân hận, nhưng mà người ta cũng rất là nhẹ nhàng, không có tỏ ra bực bội, khó chịu. Thì cái đó là mới thành tựu được dung sắc ở trong pháp. Còn mình gặp chuyện gì chút xíu không vừa lòng là mình phẫn nộ, sân si lên, mình nói những lời không còn tình nghĩa, ân, đức gì hết.

Mình phải biết rằng trong con người mình nó còn xấu xí lắm. Dù cho bên ngoài có đẹp về hình dáng, mình phải tu cái tâm hiền, cái tâm từ thật là nhiều, thì tự nhiên những cảm thọ, những tưởng, hành, thức đó nó sẽ từ từ an tịnh, lắng dịu, đi đến đoạn tận và tẩy sạch. Chúng ta thấy không phải đơn giản tu được cái tâm hiền, cha mẹ mà mình có khi mặt chằm dằm, mình nói lời khó nghe, ý là đẻ mình ra, nuôi mình đó, thì chúng ta biết cái tâm dữ này nó như thế nào. Cha mẹ mình làm gì hay nói gì một chút mình không vừa lòng thôi, mình sẵn sàng phang ngang bửa củi, dằn mâm xán chén, mặt chằm dằm một đống, đó là cha mẹ của mình, là ân đức vĩ đại nhất trên hành tinh của mình, mà mình còn không có thể đối xử bằng một cái tâm hiền trọn vẹn. Cho nên bây giờ con mới thấm những chữ trong kinh Nikāya “chư hiền ơi! Hiền giả ơi! Các bậc hiền thiện ơi!” thấy hiền chưa vậy? (cười).

Muốn tâm hiền thì phải tập thêm, tập cho nhiều, chừng nào người ta chửi mình, mình chưa tới nói đến mức độ ngọt ngào, nhưng mà mình cũng vẫn được cái bình bình, ổn ổn, không có điên lên, thì lúc đó là cái tâm hiền nó cũng khấm khá rồi đó. Người ta chửi mà mình không có bị thần kinh, mặt mình không có đổi sắc, thọ mình không có những cái thô động, mình vẫn có thể kiểm soát được thọ, tưởng, hành của mình trong đó. Chúng ta phải tu sao mà tới mức độ đó, thì mới cứu mình ra khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta đừng có xem thường cái tâm hiền, đi vô, nhảy vô rồi “Quán thất giác chi, Tứ niệm xứ, Tứ Thánh đế, chứ tu có tâm hiền này lâu quá. Con không hiền sao thầy cứ kêu con tu hiền hoài vậy?” Có nhiều Phật tử giờ đến chùa hay ngay cả lên tới núi, con cũng cúi cúi đầu thôi hay kêu sư phụ, lạy dưới chân mà con sợ lắm. Thật sự khi mình nhìn ra cái ngũ uẩn mình sợ lắm, nước mắt đầm đìa, lạy khóc dưới chân, quỳ lạy vậy đó, nhưng mà quay ra vẫn có thể rất là nhiều khả năng xảy ra. Trừ khi nào người đó thành tựu cái tâm hiền mới cưa hết hai cái sừng, thì lúc đó mới bảo đảm.

Cho nên chúng ta tu tâm hiền là tới chết, mà phải tu từ suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức của mình. Phải dẫn cái tâm, nhận thức theo chiều hướng của tâm hiền, đừng có nhận thức theo chiều hướng của tâm hung dữ, đó là mình chăm sóc sắc đẹp đó. “Có biết chăm sóc sắc đẹp không? Hỡi những người đẹp trong đạo tràng Nikāya?” Mình tu thì mình phải đẹp trong tâm hiền thiện, đẹp trong tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền lành, hiền đức, hiền trí chịu không? “Hổm rày cho khóc nhiều quá rồi hôm nay cho tươi một chút” Thật sự là hạnh phúc lắm, mình tu cái tâm hiền này mình nhìn vô gương thấy mình dễ thương, mình không cần gương mình cảm thọ cái gương mặt của mình cũng cảm thấy dễ thương. Không cần cái gương ở bên ngoài, mà chính trong cái cảm thọ của mình, mình cảm thấy mình hiền thiện hơn lúc xưa. Tuy rằng chưa có được trăm phần trăm, trăm phần trăm là vô bậc Thánh rồi, nhưng “hồi xưa dữ tám chục lần, bây giờ còn sáu chục, năm chục được không?” Rồi từ từ bớt xuống bốn chục, ba chục, nhiều khi không phải bớt hàng chục mà nó bớt hàng lẻ cũng được. Và mình phải trang sức, chăm sóc, tô điểm dung nhan của mình, tức là cái cảm thọ thô động, phản kháng, phản ứng, chống đối mình phải diệt tận, nhiếp phục, chế ngự nó.

Dù bất cứ chuyện gì xảy ra, cha mẹ có chửi mắng, vu oan giá họa, dù thầy có la oan ức cho mình, thì mình vẫn ngọt ngào, dễ chịu, đó là những gì hành giả Nikāya phải đi tới. Cha mẹ mình có chửi oan, chia đồ ăn, chia của mà chia mình ít, chia cho đứa kia nhiều thì mình cũng nhẹ nhàng “dù sao cũng là vô thường chứ có gì đâu, phước ai nấy hưởng. Ông kia có phước nhiều thì ông hưởng nhiều, mình phước ít thì mình hưởng ít, tự nhiên mình ganh tị, đố kỵ làm chi” Ở nhà cũng ganh tị, đố kỵ mà vô tu cũng ganh tị, đố kị nữa “khổ vậy đó” Nhiều khi thấy người ta tu nhiều cũng không ưa nữa “làm như tu giỏi lắm vậy đó, làm dáng” khổ vậy đó. Mà những ý nghĩa đó mình phải đọc được, phải diệt được, chăm sóc sức khỏe tâm linh cho mình, chăm sóc sắc đẹp tâm hồn cho mình, tô điểm dung nhan, giới đức của mình. Quý vị thấy không? Đức Phật dạy không còn một cái gì sót hết, tại mình không chịu tác ý nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực thực hành thôi chứ đâu có sót cái gì.

IV. Chướng ngại của không bệnh

“Hành động không thích ứng là chướng ngại cho không bệnh” Nghĩa là sở dĩ mà mình bệnh, là có khi do những hành động không thích ứng của mình. Thí dụ như trời đang mưa lớn, mình chạy xe Honda mà mình cứ nói: “Mình khỏe, mình không sao hết, cứ việc chạy” thì cái đó là hành động không thích ứng. Kết quả là về nhà mình bị cảm, ảnh hưởng đến công ăn, việc làm, sức khỏe, gia đình, ảnh hưởng đến sự tu học luôn. Tới chừng lên tới khóa tu rồi cứ nhảy mũi, ho, không dám đến khóa tu, ở nhà mở nhà mở trực tuyến lên xem, xong rồi quẹo cổ ngủ gục, còn không thì mở trực tuyến lên, thầy cứ nói, con ngáy, con cứ ngủ, con bệnh. Chúng ta thấy không? Đó là một chút xíu cái hành động không thích ứng đó, mà cái hệ quả của nó rất là nhiều thứ. Mà làm sao để cho hành động thích ứng? Là do Chánh niệm và tỉnh giác, mới biết được cái nào nên và cái nào không nên. Thí dụ bây giờ mình chạy nhanh thêm có 10 phút thì có gì đâu, mình tấp vô trú mưa, ẩn mưa, tránh mưa, thì 10 phút sau mình về, thì đôi đường khỏe khoắn, nhưng không chịu “tôi khỏe, không sao hết” Nhanh lẹ phóng ga lên. Mà đó là chưa kể đường trơn trượt, rồi tiếp theo sao? Một cái “rầm”, rồi xong.

Rồi đi lễ chết và bị thương mấy chục mạng, mà lần nào ăn tết, lần nào lễ cũng chết quá trời quá đất, mấy chục, cả trăm, tất cả đó là hành động không thích ứng, chứ không có gì hết trơn. Thí dụ như cái xe tải nó đang đi, mà đi xe Honda mà cũng ráng buờn bườn vượt qua, mà phụ nữ, thậm chí chở con nhỏ nữa, hậu quả là bầy nhầy hết, chết tại chỗ hai mẹ con, đó là hành động không thích ứng còn dẫn đến tử vong nữa. Mà mình muốn tránh như vậy mình phải có Chánh niệm tỉnh giác, cho nên ba cái pháp của mình là quan trọng lắm: “Rõ biết trước mặt”, “cảm giác toàn thân” biết lúc đó là dục đang thúc giục, “nội tâm tỉnh giác” là mình phải biết được cái nào nên, cái nào không nên, cái nào được, cái nào không được, cái nào qua, cái nào không qua, cái nào dừng, cái nào lùi, cái nào tiến, mình phải biết được. Còn mình là cứ tiến lên thôi, cứ việc tiến lên, tiến lên rồi đi thẳng về phía trước, cuối cùng lọt hố, sụp hầm, rơi xuống vực sâu. Không có Chánh niệm tỉnh giác, không có quán sát các pháp một cách sâu sắc, không có quay trở lại nhìn tự thân nhận diện ngũ uẩn của mình, mình cứ nhìn người ta thấy lỗi của người ta, không thấy được tự thân của mình cái đó là nó đưa mình đến vực sâu.

Cho nên cái hành động thích ứng là hết sức quan trọng, thí dụ nhưng bây giờ trong người đang lạnh, mình đi ăn đồ mát, mình uống nước đá vô, nó có thích ứng không ạ? “Không” Thì vậy nó mới đưa đến bệnh đó. Rồi bây giờ cái chân của mình nó yếu nhưng thích đi chơi, mà thích đi nhanh, nó thích ứng không ạ? Hậu quả của nó thì tự quý vị suy ra rồi biết. Hành động không thích ứng là chướng ngại cho sức khỏe, cho không bệnh, cho nên mình có bệnh mình phải hết sức cẩn thận. Bây giờ đang dịch bệnh vậy đó, mà chỗ nào đông mình cũng đi vô hết trơn, vậy thì thích ứng không ạ? Cực chẳng đã đi tu mình mới đi, công việc mình phải làm, mình phải giữ kỹ những cái gì mà bộ y tế quy định, cẩn thận, thích ứng trong từng hoàn cảnh, từng lúc, từng việc, tùy người, tùy đối tượng. Mà muốn biết được cái đó phải có sự Chánh niệm tỉnh giác. Còn nếu mình chưa có biết thì mình phải hỏi các vị có trí tuệ, có Chánh niệm sâu sắc, có tỉnh giác cao độ, người ta sẽ hướng dẫn cho mình, nêu những cái mình không biết.

V. Chướng ngại của giới đức

“Ác bạn hữu là chướng ngại của giới đức” Bạn ác là chướng ngại của giới đức. Người bên ngoài người ta nói: “Nhìn bạn của người đó thì tôi có thể biết được người đó như thế nào”, mình qua lại với những người nào thì nó phải tương ứng, đồng thanh tương ứng, đồng chí tương cầu. Cho nên bạn bè là rất quan trọng “ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là rất quan trọng “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Cho nên mình đã quá sân si, phiền não, vô minh, bản ngã rồi, mình chơi với người sân si, phiền não, vô minh, bản ngã nữa thì hai cái này cộng lại nó bình phương lên, mình tìm người ít ít tham, sân, si, bản ngã. Ở đây Đức Phật nói: “Bạn bè với thiện bằng hữu là thức ăn cho giới đức”, “hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh”, cho sức khỏe. Bạn bè với thiện, con nhớ là con có chia sẻ nhiều bài lắm về làm bạn với thiện “chúng ta còn nhớ không hay quên rồi?” “Cả một loạt bài làm bạn với thiện có nghe chưa? Chưa nghe thì về nghe” Làm bạn với thiện ở đây chữ thiện trong kinh Nikāya nhiều cấp độ lắm, là có một con người để mình làm bạn, nhưng thiện cũng là những thiện pháp, Thánh pháp. Lấy cái đó làm bạn, nếu ở ngoài có bạn thì tốt, nếu ở ngoài không có bạn thì mình làm bạn với pháp ngon hơn chứ. “Nhất trí làm bạn với Thánh pháp không?”

Làm bạn với khổ Thánh đế, cứ thăm khổ Thánh đế hoài vậy đó, gặp cái gì “nè khổ đó thấy không bạn hiền? Khổ nè” Làm bạn với viễn ly, mình ở một mình, mình thấy hạnh phúc, sung sướng, an lạc. Mình được viễn ly mình được rời xa, từ bỏ, vui sướng, hạnh phúc vô cùng làm bạn với cái cô đơn, cô độc, độc cư, viễn ly, xuất ly đó. Con làm bạn nhiều với pháp lắm, cho nên con ở một mình nhưng mà rất nhiều bạn, vô số bạn luôn. Chút xíu trí huệ lại thăm, chút xíu Thánh trí lại thăm, chút xíu từ tâm vô lượng, hỷ lạc, Tứ niệm xứ, Tứ tính cần, Tứ như ý túc, ba mươi bảy Thánh hữu lại thăm. “Biết ba mươi bảy Thánh hữu không ạ?” Là ba bảy phẩm trợ đạo, ba mươi bảy người bạn Thánh. Mình cứ tác ý là bạn lại liền chứ gì, tất cả các pháp đều lấy tác ý làm sanh khởi mà. Mình ở một mình hạnh phúc quá, an lạc, vui sướng quá mình được ở một mình “vui thay chúng ta sống không rộn ràng giữa rộn ràng, giữa những người rộn ràng ta sống không rộn ràng”. Biết bao lâu mình mới được ở một mình như vậy, hạnh phúc, vui sướng, an lạc, mầu nhiệm, hi hữu, thù thắng, hiếm có ở trên đời quá. 

VI. Trình pháp

“Con mời cô chia sẻ cảm thọ bây giờ sao mà nới tới bạn pháp là cảm xúc trào dâng vậy? Mời cô”

Phật tử trình pháp

“-Con bạch sư phụ, con bạch các thầy, các cô ở đây.

Lần đầu tiên con đến đạo tràng nghe pháp, con nghe của thầy trên mạng được vài tháng rồi. Hồi đó con cứ ngủ thì con thấy kêu con đi tu đi, nhưng mà con nghĩ theo con đường này sao mà nó khổ quá, không lẽ con không gặp được Chánh pháp. Con có nguyện nếu mà ơn trên có muốn con thì cho con gặp được Chánh pháp, và gặp được Chánh pháp của thầy trên mạng. Con thật sự là hồi đó tới giờ không có đi chùa, con cứ nghe pháp của thầy trên mạng.

Ở nhà mỗi lần nghe pháp mà chung quanh con không có ai hết, con không có một người bạn để hiểu về pháp giống con, con cũng không có ai để khuyến khích, khích tấn con, chỉ có con nghe pháp thôi. Mỗi lần như vậy thì con được khuyến khích, con tinh tấn hơn, còn mỗi lần con không nghe, con bỏ mấy bữa thì nó lại xuống. Con buồn lắm, con nói: “Sao con không có được khi thầy giảng mấy cái bạn lành được tinh tấn này nọ mà con không có được con buồn lắm, con khóc. Con nghe thầy giảng tới mình có thể có bạn lành, bạn là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mình có thể theo tâm hiền hoặc là mình có thể ở một mình làm mình vui, thì con cảm thấy hoan hỉ lắm, con cảm thấy vui lắm. Vì tâm trạng của con là một mình con không có ai hết, chỉ có pháp của thầy thôi.

Khi con nghe kinh Nikāya mà con không hiểu gì thì con lên mạng con kiếm pháp của thầy hay là của cô Chơn Tính Toàn thôi, chứ ngoài ra không có ai hết. Hôm đó con buồn quá con có gọi về chùa và con gặp được thầy Pháp Nghĩa, thầy có hướng dẫn con. Thầy hỏi “cô ở đâu”, con mới nói con ở thành phố. Rồi thầy nói ở chùa Bửu Liên có pháp thoại, lúc con đi không được. Con có nhắn lại thầy khi nào ở chùa Bửu Liên có pháp thoại lại thấy nhắn giúp con để con tới. Và nhờ thầy Pháp Nghĩa hôm nay con mới có mặt ở đây. Cảm thọ của con bây giờ là rung mà con thấy vui lắm, vì con biết được cách khi con ở một mình mà không có bạn bè nào hết, không có một người nào khích tấn cho con hết, nên con vui và hạnh phúc lắm.

-Hôm nay cô biết cách làm bạn với pháp chưa?

-Dạ con đội ơn thầy vì hôm nay con biết cách làm bạn với pháp.”

Chúng ta lấy pháp làm bạn, mình không có cô độc, không cô đơn, tuy mình một mình nhưng mình không cô độc, cô đơn, mình làm bạn với pháp của bậc hiền Thánh, làm bạn với tâm hiền, tâm từ, với một tình thương rộng lớn cùng khắp tất cả ngũ uẩn trên trái đất này. Mình làm bạn với tâm xót thương, tâm hoan hỷ, Tứ niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Thánh đạo phần, sự viễn ly, sự rời xa. Mình làm bạn với pháp ly tham, mình tác ý mình thấy mình vui lắm, mình thích lắm. Còn nếu mình chưa tự tác ý được thì mở bài con lên, làm bạn với cái nùi giẻ Thích Minh Thành, nhìn trên màn hình có cái nùi giẻ ở trên đó “các cô biết cái nùi giẻ không? Diệu Trang biết nùi giẻ Thích Minh Thành không?” Làm bạn với cái nùi giẻ đó, cái bóng mờ của cái nùi giẻ rách đó. Cứ mở lên thân cận với pháp, hoan hỷ với pháp, an trú với pháp, sống chung với pháp. Đức Phật có bài kinh là “Sống Với Pháp” Thành ra chúng ta rất là hạnh phúc, bình an khi ngồi một mình, đi một mình, thiền một mình, cảm nhận được sự bình yên của nội tại bên trong, không cần phải chạy theo số đông.

Đức Phật nói: “Không tìm được người bằng mình hoặc hơn mình, thì thà sống một mình, chứ không kết bạn với kẻ ngu” Người ngu si làm cho mình phiền não, mệt mỏi lắm. Nếu không tìm thấy người hơn mình, không tìm thấy người bằng mình, vậy thì sống một mình chứ không làm bạn với kẻ ngu. Làm bạn với pháp, làm bạn với trí tuệ, với tâm từ, bạn này mới giúp mình bớt khổ. Còn bây giờ mình làm bạn với thông thường, chúng ta đi tu học, mình học pháp này rồi, mình còn thích đi lại nhảy nhót, ca hát gì không? Bây giờ mình cảm thấy nó ngao ngán lắm, mình không thấy có cái gì vui ở trong đó hết. Rồi mình thấy bây giờ nhảy đầm nhậu nhẹt này kia, không có ý nghĩa gì nữa, mệt mỏi, phiền não, nói qua nói là một hồi có chuyện, về nhà có chuyện, lời qua tiếng lại. Cho nên con ưa sống một mình, từ xưa tới giờ chứ không phải khi đi vô pháp này mới thích sống một mình. Cực chẳng đã là những chỗ ơn nghĩa hay những người cầu pháp, còn ngoài ra những cái khác xúc để làm cái gì? Để sanh khởi sân, si, phiền não, hơn thua, bực bội thì tiếp xúc để làm cái gì? Để sanh hơn thua, bực bội.

VII. Chế ngự căn

Cho nên duyên xúc là hết sức quan trọng, chúng ta tu thì chúng ta để ý. Những tiếp xúc nào làm cho mình sân hận, động loạn, phiền não thì những cái xúc đó mình tránh, mình giảm tối đa, mình cắt luôn càng tốt. Cái xúc nào đưa mình đến sự thật, trí tuệ, hiền từ, hiền thiện, tăng thượng giới đức, trí tuệ thiền định, giải thoát, thì mình cố gắng xúc. Như hiện tại mình cũng đang tiếp xúc với Thánh pháp đó, nhớ để ý cái đó. Ác bạn hữu là chướng ngại cho giới đức, bạn bè thiện là thức ăn cho giới đức. Đạo đức mình được tăng thượng là nhờ những người bạn, người thầy có đời sống thanh cao, có một chí hướng cao thượng. Mình ở gần những người đó, mình phải để ý học hỏi cách sống, cách hành xử, cái tâm lượng lớn của các vị đó. Khi tự mình giữ giới, xem người khác giữ giới mình học cái giới, cái thức, cái tâm, cái hạnh của người khác. Chứ không phải mình chỉ đi moi móc tìm cái xấu của người ta, thì làm sao mình học? Cái tốt người ta bảy phần, cái xấu người ta ba phần, mà mình thấy cái xấu không thì làm sao mình học nữa? Bây giờ con nói đơn giản là mẹ của mình hi sinh cả cuộc đời cho mình, mà mình giận lên là mình nhớ tới xấu của mẹ mình không à, nhớ một chút cái xấu đó thôi, mình thấy mình có ngu không? Cái tâm này có vô minh không? Nó bị che mờ hết trơn rồi.

Cũng vậy, những người bạn lành của mình, thiện tri thức, những người có trí tuệ, có từ tâm, có công đức lớn. Mình phải biết nhìn những cái hay, những cái tốt, những cái cao thượng, những thành tựu để mình tu học. Tại vì mình không có khéo tác ý, khéo để tâm, cho nên thiện pháp của mình không có tăng trưởng, không có lớn mạnh. Không khéo lại suy dinh dưỡng, suy sụp, suy giảm, cho đến kiệt quệ rồi nó thoái đoạ, và cuối cùng nó văng ra khỏi vòng pháp này. Rồi sau đó người ta quay lại trách, bởi vì họ không thấy, không biết, họ đi ra đời rồi còn nói xấu lại nữa, đa số là như vậy, con bị thiếu gì. Nhưng mà con không có khổ đau, phiền não, tại vì bản chất của cuộc đời này là vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, mình nhớ bốn chữ “vô” này. Ai có tình, có nghĩa, phải là những bậc hướng dự lưu cho đến nhập lưu vào Thánh chúng. Những người đó cảm thọ họ không có thay đổi, họ luôn sống trong cảm thọ biết ơn nhớ ơn đối với những bậc có ơn. Còn những người chưa đi vào trong sự tu tập thì tâm nó còn thay đổi liên tục “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” nó là vô thường mà. Mà nó còn không còn được tu tập nữa thì nó đổi thành vô ơn, bội nghĩa là bình thường.

Nhưng mình không muốn làm cái bình thường đó, mình muốn làm Thánh đệ tử, thì mình phải nỗ lực rất là nhiều để có thể nhiếp phục cái tâm thường, cái tâm hạ liệt, thấp kém đó. Cho nên bạn bè thiện là thức ăn cho giới đức, quan trọng lắm. Ví dụ trong đạo tràng mà mình nhìn người đó thấy “sao hết sức là khiêm nhường”, mình để ý cái sự khiêm cung đó mình học, rồi mình thấy “người kia sao thích bố thí, vòng tay rộng mở, thích làm việc bố thí cúng dường” mình học cái tâm bố thí của người đó. “Chị này có cái hạnh rất là hay” mình tùy hỷ thôi, nhiều khi mình chưa làm được, nhưng mình chỉ vui theo thôi thì mình cũng đã có cái thiện pháp rồi. Mình thấy: “Ờ thầy sao nhìn hiền” mình học cái hạnh hiền của thầy. “Cô kia sao mà cái tâm rất là tốt luôn, lo lắng cho đại chúng, cho mọi người” mình học cái tâm đó. Đó là thức ăn cho giới đức, cho hạnh lành, cho thiện pháp. Mình thấy huynh đệ, thầy, bạn: “Sao vị đó có oai nghi, đi đứng trang nghiêm, thanh tịnh” mình học cái đó.

“Không chế ngự các căn là chướng ngại cho phạm hạnh, chế ngự các căn là thức ăn cho phạm hạnh” chế ngự các căn có sự kìm chế, chế ngự, thu thúc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì đời sống của mình nó mới thanh cao, cao thượng, mới giữ được các giới. Còn nếu không có chế ngự thì nó làm chướng ngại cho đức hạnh thanh cao, thanh tịnh của mình. Phải thường luôn giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phải thường luôn giữ gìn, nhắc nhớ, thu thúc sáu căn, chế ngự mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thu thúc lục căn, thanh tịnh giới từ cái hành động, cử chỉ, lời nói, việc làm. Từ cái cảm thọ, suy tưởng trong tâm, thu thúc, chế ngự không cho nó nghĩ xấu về người khác, không cho nó nghĩ sân hận. Thì người tốt không cho nó bản ngã đối với những người thậm chí là những người thấp hơn mình cho nó nhiếp phục nó. Thành ra, cái này nếu mà khai triển ra thì rất là nhiều cái pháp để chúng ta học.

“Không có lừa dối là thức ăn cho các bạn bè, lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè” mình không có chân thật, mình nói gạt, dối trá người ta, cho nên không có những người bạn thân lâu năm, chơi một thời gian người ta bỏ. Tại vì mình không có uy tín, chân thực, chân thành, chân chánh, lừa dối thì “lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè” Tại sao không có bạn thân? Tại sao không có bạn lâu năm? Là chướng ngại, là vì lừa dối, dối trá là không phải là ngườ chân thành, chân thật, thật thà, cho nên chướng ngại cho bạn bè là sự dối trá. “Chướng ngại cho nhiều trí là không có học tập”, “không nghe, không hỏi là chướng ngại cho tuệ”, “học tập là thức ăn cho nhiều trí”, “khéo nghe, biết hỏi là thức ăn cho tuệ”. Chỗ này chúng ta thấy hay lắm, không có học tập là chướng ngại cho nhiều trí, phải học và tập. Học rồi thực tập, làm bài tập, mình mới có nhiều trí được. Thí dụ như bây giờ học nhận diện ngũ uẩn, học các cách Như lý tác ý, học các cảm giác toàn thân, học trải tâm từ, học tu tâm hiền, mà mình học nhưng mình không có tập, học thì có học nghe, thì mình có nghe nhưng mình không tập “đúng ý không mà cười vậy?” hoặc là tập rất ít, chừng nào vô có mặt thầy bạn mới tập, hết buổi thầy giảng rồi là trả sách, trả pháp lại cho thầy. Mình không chịu tập, tập làm tới, làm lui, làm đi, làm lại, làm chừng nào cho được thì thôi. Thì cái đó gọi là tập dợt, thực tập, “chúng ta có tập nhiều không ạ?” Có tập thì mới ngồi đây, còn không có tập thì không ngồi đây, mà tập nhiều thì mới tiến sâu vào vòng pháp, mới có nhiều trí.

Cho nên cái trình pháp của mình, tại sao mình lên nói 1, 2 hay 3 câu là hết trơn. Hoặc là mình nói một hồi mình nói hướng ngoại, nói người này, người nọ, người kia, chứ mình không có thành tựu nhiều trí tuệ về cái pháp đang thực hành là tại vì mình không có tập. Thí dụ cái tâm hiền đó mà con chia sẻ cho chúng ta là hàng chục buổi, mấy chục tiếng đồng hồ. Tại sao con có thể nhìn ra được nhiều khía cạnh của tâm hiền? Là con phải để tâm rất là nhiều, con học thì thầy con dạy con “à cái tâm hiền là như vậy đó đó” 1, 2 buổi thôi à, nhưng sau đó con phải tập. Từ chỗ thầy dạy nhìn ra được những khía cạnh rộng ra, nhiều ra, đa dạng thêm hơn nữa, chứ không phải chỉ có chỗ thầy dạy. Tự mình sẽ có được cách thức, phương pháp, sự tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, làm lớn mạnh, khéo léo ở trong sự thực tập tâm từ là cái đó phải do mình tập và hành.

Ví dụ hồi xưa con học cái tâm hiền, thì trong khi học đâu có nói là tu tập sáu căn, là con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái ý phải hiền đâu. Nhưng mà con học “Tương Ưng Sáu Xứ” rồi con áp dụng qua, thì mình thấy cái này cần phải tâm hiền cả sáu xứ luôn “con mắt mình nhìn coi có hiền không?” Nhiều khi con ngồi con chia sẻ pháp tâm hiền, con thấy con mắt dưới nhìn lên con sợ liền, con cúi xuống liền, con không dám nhìn, có khi như vậy nữa đó. Và có khi trong ánh mắt đó nhìn sợ lắm, nhưng mà nhiều khi tự thân người đó cũng không biết, tại vì vô minh làm sao mà biết được. Mà không những người cư sĩ nha, người xuất gia rồi đó, mà nhìn cái ánh nhìn mà nhìn vô con cũng sợ nữa. Trong con mắt đó là nó có thọ, tưởng, hành, thức gì là biểu hiện ra ánh mắt như vậy liền. Con thưa các bậc hiền trí, người ta nói con mắt là gì ạ? Là cửa sổ tâm hồn. Cửa sổ là mình nhìn vô mình sẽ thấy có cái gì trong nhà phải không? Thì đó là như vậy đó. Người mà yêu thương mình con mắt họ nhìn mình dễ chịu, ngọt ngào, khả ái. Còn người mà giận nhìn con mắt, cửa sổ tâm hồn, chưa cần nói gì hết trơn là mình biết người này thương mình, ghét mình hay là người này bình thường.

Ba cái cảm thọ biểu hiện trong con mắt luôn mà, thọ do nhãn xúc sanh, ba cái thọ biểu hiện trong ánh nhìn đó. Như vậy mình tu cho cái ánh nhìn không? Cũng như người này lại kiếm chuyện, gây sự với mình, mà mình nhìn bằng con mắt gì ạ? “Sao cười ta? Bài tập này coi bộ hơi khó hả?” Trong khi nghe mình có nghe bằng cái cảm thọ hiền thiện không? Ngửi mình có thử ngửi mà không có tu tâm hiền không? Mình mới nghe cái mùi là mình khó chịu, mặt mày mình sao ạ? Nó ảnh hưởng hết trơn. Cũng như hôm qua con đi xe Phương Trang đi về đây, đi vô cái toilet thấy một đống hôi in ở trỏng, mình vừa thấy cảm giác mình khó chịu lên là mình huấn luyện cảm giác liền “làm sao phải khó chịu? Cái này sự thật mà làm sao phải khó chịu? Hiền dịu đi con”, dạy nó ở trong cầu tiêu đó, dạy cái lỗ mũi vậy đó “các cảm thọ lỗ mũi tiếp xúc với thinh tại sao nhà ngươi khó chịu? Đây là sự thật của ngươi mà khó chịu cái gì?” Phải huấn luyện cái lỗ mũi cũng phải hiền, mà cái miệng phải huấn luyện kỹ hơn tất cả các cái khác nữa.

Chúng ta phải tập thì tự động sẽ có nhiều trí tuệ ở trong cái tu tập tâm hiền đó, tâm từ cũng vậy, Tứ niệm xứ, quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp đều vậy hết trơn. Khi mình tập nhiều thì trí huệ trong đó sẽ thành tựu các loại trí tuệ, mình tập đúng là nó thành tựu những cái trí tuệ mà tương ưng với trí tuệ của Đức Phật chỉ dạy. “Tại sao con thấy một cục hậu quả của người đi trước để lại trong cái toilet đó không quán bất tịnh, mà lại khó chịu? Đây là cơ hội cho quán bất tịnh phải không? Tại sao không nắm bắt cơ hội để quán bất tịnh mà lại khó chịu” Bắt cái tâm nó phải lắng dịu, hiền thiện xuống, phải nhìn thấy sự thật. Chúng ta chịu khó tập đi rồi hay lắm, chúng ta sẽ có nhiều trí tuệ ở trong các pháp hành của mình.

VIII. Chướng ngại của trí tuệ

“Không nghe không hỏi là chướng ngại cho tuệ” không nghe, không hỏi, cho nên những người tu mà không có nghe pháp, không ưa thích nghe pháp, không ham nghe pháp, không chịu nghe pháp một thời gian là hết tu à, từ xuất gia cho đến cư sĩ. Tại vì đâu có thành tựu trí tuệ đâu mà tu, có tu thì tu cũng trong mê tín à. Thành ra nghe, hỏi, học, tập là thành tựu trí và tuệ. Chẳng những nghe mà còn phải hỏi nữa, thấy tu hoài mà không thấy hỏi gì hết, có biết gì đâu mà hỏi. Tại vì mình có thực tập mình mới thấy có vấn đề, mình không thực tập mình đâu thấy có vấn đề. Rồi có vấn đề mình cũng nói “thôi kệ bỏ qua” Mình không có quan trọng, không có để tâm cái vấn đề, cho nên học, tập, nghe, hỏi, bốn cái này quan trọng. Học là mình phải tập, rồi thì mình hỏi, nếu như mình có tập thì mình hỏi nó mới chính xác vô cái trọng tâm của pháp hành.

Còn nếu mình không có sự tập, mình hỏi một hồi mà không khéo lại gặp người trả lời không biết là còn dính vô những cái thị phi nữa. Cái này là cả một sự Chánh niệm và tỉnh giác, xin thưa đại chúng câu hỏi của mình mà mình hỏi là người ta biết mình có tu không, tu đúng hay không và dụng tâm ở chiều hướng nào. Cho nên tự động mình có nghe, có học, có thực tập thì mình hỏi là nó trúng, mà câu hỏi của mình rất là hay, rất là cần, mà nhiều lợi lạc cho mình và cho người. Chúng ta có thấy chỗ này không ạ? Nhiều khi mình nghĩ: “Thôi khỏi cần hỏi gì hết trơn, có người khác hỏi giùm rồi, mình hỏi làm chi nữa” Thì cũng được, mà mình phải thọ nhận câu trả lời đó, mình khắc ghi, mình nhớ, về mình nghe tới nghe lui, ghi trở vô tập, vô sách hoặc là mình phải nhớ luôn hoài ở trong đầu của mình, để mình thực hành. Thì cái đó là các pháp làm cho mình tang cao nhiều trí và tuệ.

IX. Chướng ngại cho các pháp

“Không chú tâm không quán sát là chướng ngại cho các pháp”, “chú tâm và quán sát là thức ăn cho các pháp”, “học tập là thức ăn cho nhiều trí”, “khéo nghe, biết hỏi là thức ăn cho tuệ” Nghe mà còn dùng chữ khéo nghe nữa, Đức Phật không bao giờ dùng chữ mà dư hay không bao giờ dùng chữ mà thiếu. Thế nào là “khéo nghe”? Nhiều khi nguyên bài pháp với những cốt lõi ở trong đó mà không có để tâm, mà cái không phải là cốt lõi mà mình lại để ý. Chẳng hạn như khi cho ví dụ mà mình nhớ những ví dụ tiêu cực, rồi mình nắm lên mình nói: “Sao thầy nói cái này?” Trong khi cả bài pháp đang nói về Thánh trí, ngũ uẩn mình không nhớ mình nhớ cái này, cái đó là không khéo nghe, không khéo nắm giữ các pháp đó. Cho nên chúng ta thấy không? Cái vấn đề nào cũng có Chánh niệm và tỉnh giác sâu sắc trong đó hết. Mình khéo nghe, khéo nắm bắt, khéo quán sát các pháp trong và bên ngoài, thì lúc đó cái tuệ của mình nó mới sanh, các pháp nó mới hiện rõ.

X. Chướng ngại cho thiên giới

Và cuối cùng là: “Tà hạnh là chướng ngại cho thiên giới”, “Chánh hạnh là thức ăn cho thiên giới” Tà hạnh tức là tà dâm, ngoại tình là chướng ngại cho thiên giới, tức là không bao giờ được sanh cõi trời. Chánh hạnh là người chung thủy hoặc người xuất gia, là người giữ giới đức sâu sắc, thì những người đó được sanh lên thiên giới, cõi trời. Như vậy thì quý vị thấy hôm nay chúng ta học bài này hết sức là đặc biệt, kinh “Khả Lạc” đáng vui, mười điều hạnh phúc, chúng ta nhớ chưa ạ? “Nguyên do mình được tài sản? Không có thụ động, hăng hái.

Sao mình có được sắc đẹp? Trang sức và tô điểm.

Sao mình có được sức khỏe? Hành động thích ứng.

Sao mình có được giới đức? Bạn bè với thiện.

Sao mình có được đức hạnh thanh cao, cao thượng? Chế ngự cách căn.

Sao mình có được bạn bè tốt? Là không có lừa dối, dối trá, sống chân thành, chân chánh, chân thật, thật thà, thì mình có được bạn bè dài lâu và tốt.

Sao mình có được nhiều trí? Là mình phải học tập.

Sao mình có được tuệ? Mình phải khéo nghe và biết hỏi.

Sao mình có được rõ các pháp? Do mình chú tâm quán sát thì các pháp sẽ hiện rõ.

Sao mình được sanh thiên giới? Chánh hạnh.”

Vậy bài kinh về mười điều hạnh phúc hôm nay chúng ta nắm thật là kỹ để chúng ta thực tập.