Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh trí Năm Uẩn 4- định ngĩa Năm Uẩn 2

2026-03-03 00:56:19
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI

THÁNH TRÍ NĂM UẨN 4

ĐỊNH NGHĨA NĂM UẨN 2

Trường Trung Cấp Phật học TP.HCM ngày 08-04-2019

ĐĐ. Thích Minh Thành giảng

Người đánh văn bản : Nguyễn Thị Thúy An

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu- ni Phật.

Có huynh đệ nào xung phong nhận diện thọ, tưởng, hành ngay bây giờ? Cái cảm giác lúc ngồi hồi nãy như thế nào? Trong tâm có cái tưởng gì, cái hành, cái suy nghĩ gì? Cảm giác hình bóng nội tâm và những suy nghĩ trong lúc ngồi mấy phút hồi nãy là như thế nào? Nếu mình không nhìn ra được cái này thì sự học của mình chỉ ở bên ngoài thôi. Trong mấy phút mình ngồi lúc nãy thì cảm giác như thế nào, có những tưởng gì và suy nghĩ về cái gì hoặc ngay bây giờ cũng được.

Kính bạch thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng. Lúc nãy con có lên lớp dự ngồi thiền năm phút, nhưng lúc đó con đang ngồi ăn ngoài căn tin thì con nghe thầy niệm Phật. Lúc đó cảm thọ của con là thấy mình trễ, sanh ra cảm thọ là khổ thọ, cái tưởng hiện ra hình bóng thầy giáo thọ đang đứng niệm Phật cùng với đại chúng, cái hành nói với con ăn lẹ đi. Lúc đó con ăn lẹ để con đi lên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cho một tràng pháp tay lớn, đúng rồi đó, cộng một điểm thi.

Mô Phật, vừa qua con thấy trong người mình không được khỏe do con bị tai nạn, thì đó là cái khổ của con lúc đó. Con đã liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn xe, con đã nghĩ lúc đó do mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được.

Rồi bây giờ đó là thọ gì? Dạ là khổ thọ. Rồi cái tưởng ra làm sao? Dạ con liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn. Rồi còn gì nữa? Con thấy nguyên nhân mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được nên mình phải cố gắng tu tập hơn nữa. Thì cái đó là gì? Dạ đó là hành. Rồi cái thức lúc đó ra sao? Cái thức là nó biết được cảm giác khổ đó, những cái tưởng, hình bóng mình bị tai nạn, nó biết được mình đang suy nghĩ như vậy, đó là cái thức, nó biết được ba cái đó.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu- ni Phật. Kính bạch trên thầy và đại chúng. Qua năm phút ngồi tịnh tọa, con nhận diện về năm uẩn như sau: Con có cảm nhận về sắc thì thấy con của con đang ngồi trên ghế, mông chạm ghế có cảm giác cứng, cảm thọ là khi được ngồi trong lớp nghe thầy truyền trao kiến thức, tưởng của con là tưởng hình bóng của đại chúng trong lớp ngồi tịnh tọa năm phút trang nghiêm, cái hành của con là thúc giục con cố gắng chú tâm để nghe thầy truyền trao kiến thức, cái thức của con là biết rõ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức trên. A-di-đà Phật.

Kì trước chúng ta đã học định nghĩa về tưởng rồi: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Hôm nay chúng ta bước qua định nghĩa về hành, sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, “Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hành”. Mấy huynh đệ chỉ đọc kinh thôi thì không thể nào hiểu nổi, nếu không có người hướng dẫn và không có sự hành trì nhận diện là mình đọc không bao giờ mình hiểu được, là “làm cho hiện hành pháp hữu vi cho nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh”, đây là định nghĩa trong Kinh Đáng Được Ăn, Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 3. Cái này hết sức sâu sắc và thâm sâu, nếu không có thiền quán mình đọc không bao giờ hiểu nổi. Làm cho hiện hành pháp hữu vi cho nên gọi là hành, các huynh đệ phải nhớ cái phước duyên may mắn của lớp mình, đây là giáo trình của Cao Đẳng nhưng Minh Thành thấy lớp mình tương đối ngoan cho nên đem cái quan trọng nhất để lợi ích cho hiện tại và tương lai. Các huynh đệ nắm vững thánh trí năm uẩn này thì sự tu tập của mình có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai và sẽ giúp ích được những người mình muốn giúp ích.

Như thế nào là làm cho hiện hành cái pháp hữu vi? Là những suy nghĩ trong nội tâm của mình làm cho hiện hành ra sắc với sắc tánh, ví dụ mình thấy đóa hoa thì trong đầu mình nói là hoa hồng, hoa lan… đó có phải là làm hiện hành ra sắc không? Thấy khủng khiếp không? Mình chỉ đọc sách thôi thì làm sao mình hiểu nổi, cái tác ý, suy nghĩ của mình làm hiện hành ra pháp hữu vi. Mình nói hoa này vài bữa nữa sẽ héo thì đó là hiện hành sắc tánh, khi nói rằng đây là đóa hoa hồng hoặc đây là đóa hoa lan, hoa mai, hoa đào…thì lúc đó hiện hành sắc, rồi sau đó lại nói mấy đóa hoa này vài bữa nữa sẽ héo tàn thì đó là làm cho hiện hành sắc tánh, bản tánh của sắc là vô thường, là biến hoại, là tan rã, cho nên hành đây là tác ý, là tác động tâm ý. Cho nên trong Kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật có nói “tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, lấy tác ý làm sự tập khởi, sanh khởi. Tác ý là sự tác động của tâm ý, thì sự tác động của tâm ý đó thì các pháp mới sanh khởi, cho nên làm cho hiện hành sắc với sắc tánh. Ví dụ mình nhìn người đó thì trong suy nghĩ nói người đó là người quen mình, thì cái đó có phải làm hiện hành ra sắc không? Tiếp mình nghĩ người này tánh tốt lắm, hiền từ hay giúp người, người này hay đến hộ trì tam bảo nhưng mà người này bữa nay già rồi, yếu rồi, đó là hiện khởi sắc với sắc tánh. Các huynh đệ thấy tâm ý của mình cực siêu nhanh và bộ máy vận hành của ngũ uẩn, các huynh đệ thực tập thiền định, quán chiếu rồi sẽ thấy khủng khiếp, tất cả những cái tối tân của thế giới này chỉ là một phần tỷ của ngũ uẩn, không là cái gì đối với vận hành của ngũ uẩn.

Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh. Hồi nãy có huynh đệ đứng lên nói rằng con đang ăn con có cảm giác khó chịu, bị trễ giờ, đó là cảm thọ, nhưng cảm giác này là chạy nhanh vô lớp nghe thầy giảng thì thấy hoan hỷ, đó là cảm thọ nó vô thường, nó biến đổi sanh diệt, đó là làm hiện hành thọ với thọ tánh tức là sự tác ý, sự suy nghĩ của mình làm cho hiện khởi các pháp, mình không suy nghĩ thì các pháp không hiện khởi, cho nên cái suy nghĩ của mình khủng khiếp lắm, nếu mình không tu tập hành này là mình chết dài dài. Cho nên ngày mai mấy huynh đệ nghe bài “huấn luyện năm uẩn’ là bài mới nhất Minh Thành nói chuyện trên núi, rất là quan trọng, huấn luyện năm uẩn của mình như thế nào. Cho nên cái tu thông thường là tu ở trên thân tướng sắc uẩn còn giỏi hơn chút là tu trên tưởng và hành, tu trong suy nghĩ, nói như vậy nhưng tới chừng tu thì không được vậy cho nên mình tu ở trên bề mặt của suy nghĩ và các tưởng thôi, chưa vào tới cái thọ, thật ra cái gốc rễ của các pháp, chỗ quy tụ ở chỗ cảm thọ, cho nên mình tu làm sao phát sanh ra cảm giác thì cái tu đó mới tiến bộ, còn tu mà nghe pháp không có cảm xúc, không rung động thì cái nghe pháp đó chưa thâm sâu, nó trơ ra không làm phát sanh được cái thọ. Cho nên cái nghe pháp đó, cái làm việc đó hay cái tu đó không được thâm sâu, làm sao phát huy được thọ thì mới thâm sâu. Tại sao người ta đóng tiền hai-ba trăm đô để xem xiếc? Tại lúc đó cảm giác của người ta là khiếp sợ, rúng động, gọi là đi tìm cảm giác mạnh. Cho nên mình tu hay nghe pháp hay ngồi thiền mà mình trơ như khúc cây thì cái tu đó không đi tới đâu hết, phải làm cho cảm thọ của mình nó xúc động, nó chấn động trào dâng thì lúc đó cái tu của mình mới đạt. Cho nên quán bất tịnh là nước mắt phải trào ra, thân thể phải rung động nổi da gà, mình phải cảm thấy sự ngoa ngán, nhàm chán đối với cái thân, thì cái quán đó là sâu sắc, thành công còn cái quán mà ngồi trơ ra không nhúc nhích gì hết là không sanh thọ, mà không có sanh thọ thì cái tu của mình không có mạnh. Tất cả mọi cái các huynh đệ phải để ý chú trọng vào cái thọ, đây là mấu chốt.

Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh là giờ mình nói con có cái suy tưởng lúc con bị tai nạn giao thông thì đó làm cho hiện hành tưởng, những tưởng này là sanh diệt, là vô thường, đang ngồi đây đâu có tai nạn, mà tai nạn là tháng trước, đây là sắc tưởng của quá khứ. Hôm trước có một sư hỏi về định nghĩa Kinh Trăng Rằm, là sắc tưởng của quá khứ, tức là trong nội tâm mình có những hình bóng về cái sắc thuộc về lúc trước thì là sắc tưởng của quá khứ, nhưng cái suy nghĩ của mình là hành làm cho hiện hành điều đó ra, mình nói ra thì người ta mới biết được. Nếu sư không đứng lên nói hay thầy không nói thì làm sao biết được là thầy đang nghĩ về cái gì, như vậy cái mà làm cho hiện hành ra chính là suy nghĩ, cho nên cái suy nghĩ làm cho tất cả các pháp hiện ra, nếu người ta để trong bụng không nói ra thì làm sao mình biết, chỉ có người đó biết, tại vì cái hành làm hiện hữu ra. Làm cho hiện hành thức với thức tánh, cái sự rõ biết và tính chất của rõ biết là vô thường, làm cho hiện hành năm uẩn, mà năm uẩn hiện hành là thế giới hiện hành.

Các huynh đệ phải nhớ trong tàng kinh Nikaya dùng từ thế giới tức là thế giới ngũ uẩn, tại vì thông thường mình hiểu thế giới là các màu sắc, là thành phố, là đất là biển thì những cái đó mới chỉ là một sắc uẩn thôi, cho nên Đức Phật nói trí huệ đó là trí huệ triệt để, Đức Phật nói thế giới gồm năm uẩn cho nên nhân sinh và vũ trụ, nếu mình chỉ nói thế giới là nhà cửa, cây cỏ, đất đai, rừng núi, ao hồ thì đó chỉ mới là sắc uẩn thôi, hay là loài vật, con người thì cũng chỉ mới là sắc uẩn. Còn Đức Phật nói thế giới là bao gồm năm uẩn: vật chất và tinh thần, sắc và tâm. Hiện hành năm uẩn tức là hiện hành toàn thể thế giới, hiện hành tâm tư của thế giới, đây là một trong những pháp nếu người nào suy nghĩ là sẽ đi đến cuồng loạn, đây là một trong bốn điều mình không thể nào suy nghĩ được. Thứ nhất là cảnh Phật giới: Ai mà suy nghĩ sẽ đưa đến điên loạn, Phật giới là cảnh giới của chư Phật. Thứ hai là cảnh giới của thiền định, là mình không thể suy nghĩ được, nếu mình suy nghĩ sẽ điên loạn. Thứ ba là vị thục của nghiệp là mình không thể suy nghĩ được, mình suy nghĩ sẽ điên loạn. Thứ tư là tâm tư của thế giới nghiệp là không thể suy nghĩ được, mình suy nghĩ sẽ cuồng loạn, tâm tư của thế giới tức là tâm tư của ngũ uẩn. Cho nên mình thường ngạc nhiên tại sao một người hiền lành như vậy mà lại ra trường hợp vậy, tại sao cô đó như vậy mà cuối cùng ra vậy. Khủng khiếp như vậy nếu tôi biết tôi đâu có cưới làm vợ, thì đó là tâm tư của thế giới, đây là bốn cảnh giới mà suy nghĩ không thể đi tới cùng tận cho nên ngũ uẩn khủng khiếp lắm, nếu mình nghiên cứu được ngũ uẩn thì đã lắm, tuyệt diệu lắm. Mình nhìn mình sẽ biết được tâm tư, ngũ uẩn nó vận hành, còn các bậc chứng thánh quả rồi thì các Ngài ấy là thấy biết chứ không còn suy nghĩ nữa cho nên gọi là người trí tự mình giác hiểu. Vậy là mấy huynh đệ nắm vững được hành uẩn chưa? Nắm được định nghĩa về hành chưa? Đó là những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong nội tâm mình, những cái đó làm hiện hành ra tất cả mọi pháp. Thứ nhất là cảnh giới của Phật, thứ hai là cảnh giới của thiền định, thứ ba là quả vị thục của nghiệp, thứ tư là tâm tư của thế giới, bốn cảnh giới này không thể suy nghĩ được, nếu ai cố suy nghĩ thì người đó sẽ đi đến chỗ điên loạn, cho nên hỏi Phật đang ở đâu? Phật còn hay không là không trả lời được, vì mình còn đang trong năm uẩn mà Phật đi ra năm uẩn rồi thì lúc đó nói gì cho mình hiểu, mình lẩn quẩn trong năm uẩn, lấy năm uẩn này làm nhà, làm tôi, làm của tôi, làm tự ngã của tôi, mình mê đắm thích thú trong đây nhưng mà Đức Phật nhìn thấy bản chất của nó là bất tịnh là vô thường, là khổ, là gai độc, không đáng giá gì hết thì Phật vứt bỏ nó đi ra khỏi nó mà giờ mình hỏi thì sao Phật nói cho mình biết được. Cho nên nếu nói Phật còn thì còn giống như năm uẩn, còn nghĩ không còn thì không còn gì nữa, tại vì ngoài năm uẩn ra mình đâu có biết cái gì. Nan thông đạt cực nan thông đạt, là cảnh giới tối cao của Niết bàn. Ngoài năm uẩn ra mình không biết gì nữa, mình đam mê, thích thú, hoan hỷ, tham đắm và an trú trong năm uẩn, mình nhận năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và suốt cuộc đời của mình, của chúng sanh sanh trong tam giới là cuồng loạn, quay cuồng xung quanh dục, tham, ái đối với năm uẩn. Các bậc A-la-hán, Chư Phật, các bậc thánh giả là từ bỏ, là nhàm chán, là ly tham, là chấm dứt ra khỏi năm uẩn nên mới giải thoát sanh tử. Bây giờ mình nói mình đi tu để giải thoát sanh tử mà cái tham lúc trước có chút ít thôi mà giờ nó to hết bàn tay, thành ra là đi ngược hết. Cho nên đi tu để chấm dứt khổ mà không thấy hết khổ, lại càng khổ thêm, chấm dứt tham, sân, si cũng không được. Tại vì tâm mình đặt lệch hướng, người bắt đầu Nhập lưu quả và hướng Dự lưu là người bắt đầu đi ra khỏi năm uẩn, còn chưa hướng Dự lưu, chưa vào vòng trí huệ thì vẫn ở trong năm uẩn, không có ý niệm đi ra. Đây là chỗ quyết định trong sự học Phật của mình, cho nên Phàm,Tăng và Thánh Tăng khác nhau ở chỗ Thánh Tăng đã đi ra khỏi năm uẩn, là bốn đôi tám bậc hiền thánh, còn cái người dù cho làm bất cứ điều gì đi nữa mà vẫn đam mê trong năm uẩn này thì người này còn bị mù lòa, còn bị thống khổ, sầu bi, ưu não. Sanh tử người này còn dài dài tiếp diễn đến vô tận cho đến khi nào người đó nhận thức thấu triệt được bản chất của năm uẩn là đáng chán, đáng bỏ thì lúc đó người này mới thể nhập thánh trí.

Hôm nay bật mí cho các huynh đệ thấy giữa Phàm, Tăng và Thánh Tăng khác nhau chỗ nào, giữa một bậc giác ngộ và người còn đam mê khác nhau như thế nào dù cho người đó vẫn còn tham, sân, si chưa phá hết nhưng người đó đang hướng ra khỏi năm uẩn là bắt đầu bước vào bốn đôi tám bậc của hiền thánh. Khi đã xác định hướng ra khỏi năm uẩn thì họ sẽ phá từ từ tại vì dòng chảy của chánh tri kiến nữa mình sẽ học Bát Chánh Đạo, khi thành tựu chánh tri kiến thì chánh tư duy sẽ sanh khởi, mà chánh tư duy sanh khởi thì chánh ngữ sanh khởi, nó được chánh tri kiến dẫn đầu, đó là dòng pháp đưa người về phía trước, nhất định phải như vậy không thể khác. Tại vì dòng chảy của trí huệ mà mình đã nhập vào được rồi thì nó sẽ đưa mình qua đến dòng bên kia, đó là chỗ đặc biệt thù thắng nhất của chánh tri kiến trong Bát Chánh Đạo, mà chánh tri kiến đầu tiên là phải thấy được năm uẩn tức là thấy Phật. Người nào chưa thấy được năm uẩn thì người đó vẫn còn mù lòa trong giáo pháp, tại vì không thấy năm uẩn thì cái tôi vẫn còn đó, bản ngã vẫn còn, ngã và ngã sở đầy rẫy, đụng vào thì tham, sân, si trỗi dậy, còn người thường lúc nào cũng thấy năm uẩn, thấy một đống cảm giác khốn khổ, cứ thúc giục mình đi tìm nữa, còn thanh niên thì chạy theo cảm giác hoài hoài, còn trung niên mà không biết chánh pháp cũng chạy kiếm nữa, còn bảy tám chục tuổi cũng theo dài dài trừ khi Nhập lưu vào dòng chảy trí huệ thì mới bắt đầu dừng lại. Vì thế vấn đề nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng cho nên các huynh đệ không nhìn ra được thì tất cả sự tu hành đều không thành công. Ai có thời gian đọc kinh tạng Nikaya thì tràn ngập trong kinh đều nói về năm uẩn. Mà giáo lý của Như Lai giảng dạy thường xuyên nhiều nhất là trình bày về trí năm uẩn, mình tu mình phải biết năm uẩn chính là mình, là thân tâm của chính mình, đó cũng chính là Tứ Niệm Xứ mà Tứ Niệm Xứ là luôn luôn quán sát thân thể, cảm giác, nội tâm và sự vận hành trong nội tâm, đó chính là Tứ Niệm Xứ, là thân, thọ, tâm pháp. Mặc dù là nói Tứ Niệm Xứ nhưng có một danh từ khác chính là năm uẩn, là thân tâm của mình, là bao trùm cả thế giới. Bây giờ mình tu học mà cứ nhìn bên ngoài, dụng công phu bên ngoài thì tới lúc nào điều chỉnh được thân tâm? Nội tâm mình có gì cũng không biết, trong thân đang có tưởng gì cũng không biết, đang có cảm giác như thế nào cũng không hay, đang có những suy nghĩ, bản ngã ra sao cũng không biết thì đó là kẻ mù lòa, làm sao tu chỉnh được, chỉ cần người ta nói một câu là sân hận, bực tức tại vì không nhìn ra được cảm giác, không nhìn ra được sự sanh khởi của các cảm giác, sự tập khởi của thọ, sự an trú của thọ, sự vận hành của thọ, sự chấm dứt của thọ, mình hoàn toàn không thấy không biết thì làm sao mình điều phục được cảm thọ, cho nên “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố rằng lậu hoặc được đoạn trừ là ta nói cho người thấy, người biết không phải nói cho người không thấy, không biết”, đó là Trung Bộ Kinh cực kì quan trọng, nếu mình không thấy, không biết thì làm sao mình đoạn tận được, mà thấy biết là thấy và biết được nội tâm của mình.

Mình nghĩ mình biết được nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là chỉ nói miệng, còn nếu Minh Thành yêu cầu các huynh đệ chỉ ra các thân thức là các huynh đệ không biết, mà nói ra duyên sanh pháp của sáu thức này là càng mù tịt, rất là khó không phải dễ, mà nhận thức rồi thì rất dễ tại vì mình thường dùng. Có sáu thức thân “Này các Tỳ-kheo, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức”. Kinh Đáng Được Ăn trong Tương Ưng Bộ, tập 3 (Tương Ưng Bộ, Tập III: Thiên Uẩn, Chương I: Tương Ưng Uẩn, III: Phẩm Những Gì Ăn Được). Đây là cái mà mình phải nhận diện thật là kĩ về thức, hồi xưa Minh Thành học thì có một số người định nghĩa thức là cái suy nghĩ, phân biệt là không đúng. Thức chỉ là rõ biết, còn suy nghĩ là hành, mới học tức thì còn lộn tại vì trước nay mình học sai, không đúng. Mình học thức là suy nghĩ, là phân biệt thì sai, cái đó là hành. Hãy nhớ cho kĩ, vì cái này rất quan trọng, một khi cái pháp của mình bị lẫn lộn là loạn pháp rồi thì tu sẽ không có kết quả, như trong máy bay chỉ cần bấm lộn nút thôi là xuống biển, không thì xuống mồ, pháp cũng vậy, nếu mình đã nhận thức lầm lẫn, loạn pháp rồi thì tu sẽ không đi đến kết quả như Đức Phật nói. Mà Đức Phật nói có bốn kết quả, đó là thánh quả thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, đó là bốn thành quả của người tu chánh pháp. Bây giờ các huynh đệ hãy nghĩ trồng cây mà có trái là bình thường, mà trồng cây ba-bốn chục năm gần chết luôn mà cũng không có trái là bất bình thường hay bình thường? Bất bình thường. Vậy tại sao tu kêu chứng thánh quả thì lại sợ? Đó là sự đảo lộn, sự bất bình thường trong người tu, cho nên tu mà chứng quả là bình thường, tu mà không chứng quả mới bất bình thường, do tu sai, tu lầm, tu trật cho nên mới không chứng quả, mà chứng quả chính là thành quả của sự tu tập đúng pháp. Tại sao bây giờ nghe nói thành quả là sợ, sợ thánh quả à? Đừng nghĩ không có, nếu tu đúng theo kinh Nikaya là sẽ có những bậc hiền thánh, đó là thật. Tại vì công thức như vậy, định lý như vậy, cách thức là như vậy mà làm đúng theo thì ra kết quả y như vậy, làm sai thì không thành đạo, chỉ vậy thôi. Mà giáo pháp Đức Phật Thích-ca chưa có diệt, trong thời kì tượng pháp tức là mường tượng giống như vậy nhưng không phải, các huynh đệ học rồi thì các huynh đệ nhìn thì là như vậy đó, gọi là tượng pháp, giống nhưng không phải, chỗ này chính là thánh đạo, thánh quả, làm y như lời Phật thì sẽ có bốn kết quả, chắc chắn 100%.

Bây giờ nhận diện sáu thức. Chỗ này học rất khó nhưng hay, phải nói y như trong tạng kinh Nikaya mới được, chứ nói trật là không được, tại vì mình suy nghĩ thì đó là cái suy nghĩ của mình chứ không phải pháp, mà kiểu học bây giờ là mình suy nghĩ sao thì mình nói như vậy, đó là suy nghĩ của con thì con học làm gì, suy nghĩ của con thì con ở nhà suy nghĩ đi. Phải nói đúng theo tạng kinh Nikaya, mà làm đúng theo như vậy 100% thì mới ra kết quả chứ không thể nói rằng con xin trình bày cho giáo thọ cái này cái kia suy nghĩ của con thì không được, mạnh ai người đó suy nghĩ thì sẽ ra cái gì, đâu còn chánh pháp nữa, mà bây giờ kiểu của mình là kiểu suy nghĩ đó đó. Lên giảng rồi cũng suy nghĩ tùm lum hết, mười ông giảng hết mười lăm kiểu thì chánh pháp không còn nữa. Cho nên tại sao bên Myanma người ta học thuộc tam tạng, mấy huynh đệ biết pháp sư là những bậc triền trì pháp tạng, đâu phải muốn nói sao là nói. Do duyên có con mắt, do duyên có các sắc khởi lên nhãn thức tức là sự rõ biết các sắc, chứ không được nói cái biết của con mắt mà là sự rõ biết các sắc, thì đó là nhãn thức. Phải dùng từ đúng như trong kinh Nikaya. Bây giờ các huynh đệ nói rằng cái biết của con mắt rồi cái lúc người chết hoặc lúc ngủ thì lấy gì biết, phải trình bày cho đủ duyên sanh pháp, người chết lúc đó có mở mắt thì cũng không có biết đâu, lúc mình nhắm mắt ngủ thì có biết con mắt đâu, lúc mình ngất xỉu cũng có biết con mắt đâu, rồi lúc lỗ tai bệnh không nghe được mà người ta nói ầm ầm thì cái biết của lỗ tai ở đâu, phải trình bày cho đủ duyên sanh pháp, là do có lỗ tai, có tiếng khởi lên nhĩ thức là sự rõ biết các âm thanh, do có lỗ mũi, các mùi khởi lên tỷ thức là sự rõ biết các mùi, mình chỉ học tới đây thôi còn duyên sanh pháp là dài sau nữa, do có lưỡi, có các vị, mình gắp thức ăn để vô thì lúc đó khởi lên thiệt thức là sự rõ biết các vị, do đủ duyên mới sanh lên sự rõ biết đó chứ thiếu duyên thì không được, ví như lưỡi bị bệnh, bị đẹn thì cảm giác bị rát, nhứt chứ không cảm nhận được cái ngon của thức ăn cho nên cái duyên phải đầy đủ thì duyên mới sanh khởi. Và thọ là do thiệt xúc sanh, tức là cảm giác từ sự tiếp xúc của lưỡi đưa lại, mắt tiếp xúc mới sanh ra thọ thì đó là do nhãn xúc sanh.

Thân thức là như thế nào? Do có thân tiếp xúc thì cũng chưa đúng. Phải học thuộc duyên sanh pháp trong bài Kinh Cả Hai là Minh Thành mới vừa giảng Tâm học tối thượng, đó là nguyên lý sanh ngũ uẩn. Bài Kinh Cả hai mới được đưa lên mạng thì bài đó là nguyên lý sanh ngũ uẩn. Thân thức là do có thân, có quần áo, bàn ghế… do có sự tiếp xúc đụng chạm với các món đồ vật đó thì nó khởi lên thân thức là sự rõ biết của thân tiếp xúc do dụng chạm các món đồ, ngay chỗ nào tiếp xúc thì biết ngay chỗ đó, là cái sự rõ biết khi thân xúc chạm với bất cứ đồ vật nào, khi mình biết được như vậy thì để mình thấy được sự riêng lẽ của các thức, cái này hết sức quan trọng, bình thường mình không nhận diện ra các thức thì mình thấy cái biết của mình là trọn vẹn, điều này là sai, không đúng, cái biết của mình nó rời rạc cho nên gọi là nhãn thức giới, tỷ thức giới, nhĩ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới. Cái ‘giới’ đó là phạm trù, là ranh giới tức là nhãn thức chỉ biết các sắc, ngoài sắc ra thì không nghe tiếng được, nhãn thức chỉ rõ biết các sắc, mà cái biết cũng bị giới hạn trước tầm mắt, còn sau tầm mắt thì không thể biết được, chỉ có thể tưởng tượng, mà tưởng tượng thì đã qua tưởng. Nhĩ thức là sự rõ biết các âm thanh, nghĩa là chỉ biết tiếng còn ngoài ra không biết gì nữa cho nên gọi là nhĩ thức giới, là phạm vi hoạt động nhận thức của nhĩ thức chỉ trong âm thanh mà thôi, chứ không phải một cái biết của mình là biết chung hết là không chính xác, ví dụ nói trong tâm tôi thì tôi biết hết thì điều đó là không đúng, trật lất hết cho nên sáu thức hoạt động riêng lẽ từng phạm vi, từng bộ phận, đó là cái biết rời rạc, khi mình ngồi thiền yên tịnh thì mình nhận ra điều này rất rõ, còn tỷ thức là cái mũi chỉ nhận biết được các mùi, ngoài ra không biết cái khác, mà mùi thì cũng phải đủ duyên, phải tiếp xúc gần gần chứ mùi ở xa hàng cây số thì cũng không thể ngửi được cho nên đó gọi là duyên sanh pháp, là sự kết hợp tạm bợ vô thường, trống rỗng không có bản chất, nhưng ngửi mùi rồi tối ngồi thiền thì hương tưởng khởi lên lại, nhớ lại sáng nay ngửi cái mùi lạ lạ thì đó là hương tưởng, mà mình không biết cái mùi đó là vô thường, là vô ngã, là do duyên sanh, do mình tiếp xúc mới có. Cho nên duyên sanh pháp này là tuyệt vời, mình học trong nội tâm khi thấy, khi nghe, khi đụng, khi chạm, khi nếm, khi ngửi là mình thấy được hết cái trí huệ của mình soi rành rẽ hết tất cả các pháp chứ không phải lộn xộn, lung tung không biết gì hết, trí huệ là phải phải biết rõ hết tất cả các pháp, nó hiện hành trong nội tâm của mình, đó là quán pháp ở trên pháp. Một nhà tâm lý học vĩ đại để có thể nghiên cứu hết tất cả các tập khởi của năm uẩn và sự chấm dứt của năm uẩn. Một nhà tâm linh thế giới bao trùm hết tất cả vũ trụ trời đất này, thấu biết hết tất cả liễu tri, thắng tri, tuệ tri đó là bậc Đa Văn Thánh đệ tử. Bậc Đa Văn Thánh đệ tử mới được như thế còn mình đi tu lại thành vô văn phàm phu, mình nghe cái gì đâu chứ không có vô nghe chánh pháp, mình nghe cái mê tín, nghe cái hướng ngoại nên hiểu sai lầm hết, mình thích những cái gì dễ thì hành trong tâm sẽ nói cái này khó quá sao tu được thì đó là ma, là ma làm biếng, nhát lười. Muốn thành thánh quả, muốn thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà làm thì làm những điều đơn giản thôi, thì đó là dục, là ái, là tham, là con ma dục, con ma ái, con ma tham, con ma làm biếng muốn ngồi mát hưởng bát vàng, đó là ma nhập chứ không có thánh trí nào như vậy.

Các huynh đệ thử nghĩ một người học y học mà lên đến tiến sĩ, bác sĩ thì họ phải học bao nhiêu năm, rồi nghiên cứu rồi thực tập trong bao lâu mới trở thành một bác sĩ có địa vị, có tiếng tăm, có thực lực, thực tài? Bây giờ mình tu mà cứ nghĩ làm chi cho nhiều, học chi cho nhiều thì phải nhìn ra được đó là ái, là ưa thích sự lười nhát, lười biếng. Mình học cái này thì mắt mình giống như Dương Tiễn, sẽ nhìn thấu ra được hết, xuyên thấu hết tất cả qua những lớp da, qua ruột, gan, phèo, phổi, xuyên thấu hết những cảm giác, những nghĩ tưởng nhận thức, xuyên thủng qua khối đại vô minh uẩn. Đó là trí huệ tuyệt vời của thánh trí năm uẩn mà mình đang học đây, tuyệt vời là thánh trí năm uẩn này.

Mọi người phải nhớ ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành, cái này hết sức quan trọng phải nhớ kĩ. Cái ý thức của mình chỉ biết cảm giác, những hình bóng và những suy nghĩ trong nội tâm mình, ý thức chỉ biết ba điều này thôi. Chứ ý thức không biết được các sắc ở ngoài cũng không thể biết được âm thanh, biết được các sắc và âm thanh chỉ có nhãn thức và nhĩ thức. Năm thức trước là biết ở bên ngoài, còn ý thức mới biết bên trong nội trần, cho nên khi hỏi đang có suy nghĩ gì thì mình phải quay lại coi kĩ tâm mình, mình nhìn trở lại bên trong thì mình mới thấy chứ còn hỏi đang có suy nghĩ gì mà mình lại nhìn ra bên ngoài rồi nói chuyện này kia thì làm sao biết được mình đang có suy nghĩ gì, mình phải nhìn trở lại bên trong cho nên thiền định rất là cần, thì mình mới nhận diện được các pháp ở bên trong. Không ngồi yên tịnh mà nội soi, nội quán thì mình không thể nào thấy được bên trong, cho nên lâu lâu mình đi khám, nội soi, chụp X-Quang là người ta phải đưa đồ vô bên trong người mình để người ta soi trong đó có gì, bệnh ra sao thì ý thức của mình là ý thức có tu tập sẽ khác với ý thức không có tu tập. Ý thức không có tu tập sẽ ở trong vô minh, trong suy ái, không biết không thấy gì, còn ý thức có tu tập sẽ thường nhìn lại thọ, tưởng, hành xem trong đó nó như thế nào. Các huynh đệ để ý rằng mình đang có cảm giác gì, khi đứng lên nghĩ lại khi nãy mình có cảm giác gì, để ý lại xem trong tâm mình đang suy nghĩ gì vậy, có hình bóng gì trong nội tâm thì lúc đó mới bắt đầu mới nhìn lại thì ra hồi nãy mình nghĩ như vậy, có hình bóng vậy hiện lên, còn bây giờ mình lo nhìn bên ngoài cái này đẹp, cái kia xấu, cái nọ đúng, cái kia sai thì cái đó là đi xa rồi, gọi là hướng ngoại thì sẽ không có thời gian ngồi lại nhìn tâm mình, sáng con mắt nhìn cái này, tối về lại nhìn điện thoại, ngủ thì nhìn trong giấc chiêm bao chứ không có thời gian nhìn lại nội tâm. Cay đắng- đó là tiếng gầm của sư tử, những tiếng chuông mạnh mẽ được đánh lên để những tên vô minh thức tỉnh vì vẫn còn đang ngập chìm trong bóng đêm. Đức Phật dạy mình trong cái tu này thú vị lắm, tại vì mình phải liên tục nhìn lại thọ, tưởng, hành, thức của mình đang hoạt động liên tục để mình chấm dứt, cho nên mình phải nhận diện được sáu cái thức này, phải tập nhận diện.

Các huynh đệ thấy phòng kế bên la lên là bên đây nhìn qua liền, có thấy tâm hướng ngoại mạnh mẽ không? Đó là thọ do nhĩ xúc sanh, mình phải quán được pháp này, đây chính là Tứ Niệm Xứ, thọ do nhĩ xúc sanh, nghĩa là khi lỗ tai mình nghe được âm thanh do có lỗ tai, do có âm thanh của lớp kế bên la lên thì nhĩ thức khởi lên sự rõ biết âm thanh, khi rõ biết âm thanh thì sẽ sanh ra cảm thọ, cảm giác, và đây là cảm giác không phòng hộ các căn, thả lỏng các căn, không có chú tâm tỉnh giác và không có niệm thân, tức là không biết mình đang làm gì và không biết cái tiếng đó là ở đâu, cũng không biết giờ này đang là giờ gì mà mình đang ngồi với ai, tất cả cái đó cho nên cái quán pháp hay như vậy đó, làm cho mình từ từ trở nên hiện pháp, nghĩa là mình sẽ có sự chánh niệm và tỉnh giác trong giây phút hiện tại và mình biết mình đang ngồi ở đâu, đang làm cái gì, đang tiếp xúc ai và chỗ đó phải như thế nào, cái này tuyệt vời lắm, đây là những học pháp mà được kết hợp từ sự chánh niệm và tỉnh thức. Ví dụ nguyên thủ quốc gia đi vào một chỗ nào đó mà nghe tiếng la rồi nhảy qua nhìn thì còn gì nữa. Đó là bị ngoại cảnh, ngoại trần tác động, lôi kéo và mình mất sự tự chủ khi mình nghe thấy âm thanh. Chỗ này Minh Thành phân tích kỹ để các huynh đệ thấy hay lắm, bây giờ chỉ có một tiếng la đơn giản như vậy mà có thể lôi kéo được mình thì một tiếng chửi sẽ ra sao? Mình sẽ hoàn toàn mất mình, còn nếu là một tiếng khen ngợi, ca tụng thì cũng đánh mất mình luôn, còn một tiếng thương mến, tình cảm tình ái thì mình cũng chết luôn. Vì thế chỉ có một tiếng bình thường như vậy, người ta nhìn vào sẽ biết cái sức tu tập, công phu của mình như thế nào, tức là thành ra một người suy nhược, ốm yếu trong pháp và luật. Minh Thành không nói riêng cá nhân một ai trong phòng này mà đây chính là những bài học sống để mình thực tập nhìn lại tâm mình, tức là người này hoàn toàn không có sức niệm định tuệ thì người này nhất định khi đối diện xúc cảnh sẽ bị nghiêng ngã và sụp đổ. Điều này hết sức hay và quan trọng, các huynh đệ thực tập sẽ thấy được sự màu nhiệm trong pháp. Ví dụ mình đang ngồi thì vách tường đằng sau đổ sụp xuống là mình sẽ rối loạn, nhảy lên rồi chạy cho nên mình tu tập càng ngày sức niệm định huệ càng vững chắc. Chữ ‘niệm’ đó bao gồm cả Tức Niệm Xứ chứ không phải niệm chỉ là đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, đó chỉ là một phần nhỏ của niệm thân thôi, riêng niệm thân là phải có sáu phần: niệm oai nghi, niệm hơi thở, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi, đó gọi là Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi người nào thực hành được điều này sẽ nếm được hương vị của bất tử. Chỉ cần niệm oai nghi, hành động thôi thì người này đã là một người tuyệt vời rồi, người nào chỉ cần chú ý để tâm mình vào hành động, cử chỉ để điều chỉnh thì người này đã là người có vỏ ngoài của phạm hạnh, còn mình bây giờ tu thì càng thấy nhiều hơn nữa thành ra ngán. Thật sự là Minh Thành ngán, nhiều lúc Minh Thành thấy rồi cuối mặt nhìn xuống, không dám nhìn mà nhìn mình với ánh mắt mình cũng thấy hơi sợ cho nên mình phải luôn luôn nhận diện lại sắc, gọi là:

Đệ tử Gotama

Luôn luôn tự tỉnh giác

Bất luận ngày hay đêm

Quán sắc thân thường niệm

Kinh Pháp Cú 297

Học kinh Nikaya này sướng lắm tại vì nó nhất quán, mình học vô thì đâu đâu nó liên kết rõ ràng một cái đường lối, một cái đạo lộ tu tập còn mình học lung tung mình không biết cái nào ra cái nào, rối như một đống xà bần. Kinh Nikaya cái nào ra cái đó, có một hệ thống rất rõ ràng và mình thấy được đạo lộ, thánh đạo rất rõ và thánh quả đi theo, cho nên Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các huynh đệ phải để tâm vào bốn bộ kinh Nikaya: Tương Ưng Bộ là quan trọng nhất, lõi của tất cả lõi cây ở trong Tương Ưng Bộ, tất cả những vấn đề mà ngày Ấn Thuận đạo sư gọi là vô biên thậm thâm pháp nghĩa đều nằm trong Tương Ưng Bộ kinh. Tiếp theo là Trung Bộ, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ , còn Tiểu Bộ là sau này chỉ sử dụng một vài phần thôi, nhưng sau này có thêm vào nhiều cái nữa, thì người sâu sắc mới biết được cái nào là thêm vô của người sau. Ngay cả trong tạng kinh nguyên thủy mà còn phải chắt lọc như vậy thì huống hồ gì những bộ kinh sau 500 năm Phật nhập diệt mới xuất hiện, mấy cái này để qua một bên. Ngay cả bộ đầu còn như vậy thì mấy bộ sau để qua một bên, xếp lại.

Các huynh đệ đi vào trong kinh Nikaya rồi sẽ thấy những lời Đức Phật dạy là tuyệt diệu dù cho mình chưa lên thánh quả nhưng ít nhất mình cũng là hiền nhân trong Phật giáo, là những bậc thiền thiện hướng đến trí huệ. Đừng nghe lung tung, tông phái này nọ, ai có thể so sánh ngang hàng với bậc không có người ngang hàng, không có người so sánh, không có người xứng đối, là bậc duy nhất trên đời này? “Này các Tỳ-kheo, có một người xuất hiện trên đời này, người đó sẽ đem lại lợi ích cho đa số, lợi lộc cho đa số, đem lại phúc báo an lạc dài lâu cho hiện tại và tương lai, người đó là Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn” ( Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người 1-7 Như Lai). Ai có thể so sánh được với bậc đó mà tại sao không học theo Ngài mà lại học lung tung, chạy loạn qua Phổ Đà Sơn để chứng pháp, qua bên Ngũ Đài để tìm Văn Thù, lại tới Nga Mi để kiếm Phổ Hiền. Phật sờ sờ trước mắt, lời dạy của Đức Thế Tôn đây mà không chịu để tâm vào những bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chạy tìm cái khác mà không biết rằng cái chạy đó là từ cái dục, nó thúc giục ở bên trong để đi chơi, để đi hướng ra ngoài, để tìm những cảnh vật thôi rồi ra xá lợi, bột bán tùm lum, chạy qua Tàu, qua Tạng, qua Miên, qua Thái mà trong tạng kinh là đại tôn đức trưởng lão thượng minh hạ châu, một bậc đại đạo sư của Phật giáo Việt Nam, một công lao không tiền tuyệt hậu của Phật giáo Việt Nam, cái người mà xứng đáng cho tất cả Tăng Ni của toàn quốc này chắp tay tôn trọng, cuối đầu đảnh lễ cúng dường là ruộng phước vô thượng của Phật giáo Việt Nam ta, và hiện tại chưa có mấy người biết được hết giá trị của tàng kinh Nikaya, nếu Minh Thành chỉ còn một hơi thở cuối cùng cũng phải nói lên một sự thật này để cho tất cả Tăng Ni, Phật tử thấy được lời dạy chân chánh của bậc chánh biến tri thiện thệ, bậc đại đạo sư của chúng, nếu không chúng ta bị lạc vào Tiểu Thừa là coi như dập mất hết thánh đạo của Phật giáo mình và không có thánh quả nữa, đó là Bà-la-môn giáo và Trung Quốc đã phán định như vậy, để làm cho Phật giáo mình không còn thánh đạo và thánh quả nữa, dám bịa đặt ra những lời phê phán ngài Xá-lợi-phất và các thánh Tăng mà Minh Thành không dám nhắc lại. Những bộ kinh sau này hết sức là nguy hiểm, mình nghe theo là mình chết mà mình còn mang thêm tội phỉ báng bậc tướng quân của chánh pháp, cho nên phải bám sát vào bốn bộ kinh Nikaya, Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả quý Phật tử và tất cả chư Tăng Ni, bên Học Viện cũng như vậy. Thượng tọa trụ trì chùa Hoằng Pháp bây giờ là đóng cửa lại để trong tàng Nikaya, đó là một tấm gương cho mình.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.