CÁCH TRẢI TÂM TỪ 2 - KINH VÍ DỤ TẤM VẢI 3 - TRUNG BỘ I
Kinh Nikāya Giảng Giải
CÁCH TRẢI TÂM TỪ 2
KINH VÍ DỤ TẤM VẢI 3 – TRUNG BỘ I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cách trải tâm từ PAGEREF _Toc95335127 \h 1
1.Khai mở cảm thọ PAGEREF _Toc95335128 \h 1
2.Mở rộng tâm từ PAGEREF _Toc95335129 \h 8
3.Đi vào tâm từ PAGEREF _Toc95335130 \h 12
II.Bước đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc95335131 \h 15
Từ ngày bắt đầu học trực tuyến đến nay thì chỉ có Minh Thành nói một chiều, chưa được nghe các Tăng Ni sinh có những sự trao đổi, chia sẻ, thưa hỏi và trình pháp trong thời gian dịch bệnh được độc cư, an cư, tĩnh cư, tĩnh tu, ở yên này. Vì vậy, hôm nay Minh Thành mong muốn các Tăng Ni sinh có câu hỏi xung quanh vấn đề đã học trong môn Pháp hành Kinh Tạng Nikāya hoặc cảm nhận về những lời kinh Đức Phật dạy mà chúng ta đang được học trong Trung Bộ Kinh. Tăng Ni sinh cũng có thể chia sẻ về những chủ đề xung quanh môn học như: quán chiếu cảm thọ; nhận diện ngũ uẩn; phương pháp, cách thức nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận tham, sân, si, bản ngã và những lợi ích thiết thực đã thu hoạch được trong thời gian tu học vừa qua.
Cách trải tâm từ
Minh Thành từng giới thiệu tổng quát và sơ lược về cách trải tâm từ. Về phần này nếu được học trực tiếp thì sẽ có được nhiều lợi lạc hơn. Hoặc nếu được học ở Linh Quy hoặc đến nơi nào có không gian rộng lớn thì sẽ thực tập thuận tiện hơn, giúp tâm mình được rộng mở. Vì phải học trực tuyến nên Minh Thành chỉ có thể giới thiệu một cách tổng quát sơ lược. Đầu tiên, chúng ta chịu khó truy cập vào trang linhquyphapan.vn để được nghe rất nhiều bài về chuyên đề “Trải tâm từ” trong phần Từ Vô Lượng Tâm. Riêng phần trải tâm từ nếu muốn học cho kỹ và đào sâu thì ít nhất cũng cần bảy buổi học, trong đó gồm có 5 buổi học lý thuyết và 2-3 buổi thực hành. Minh Thành đã chia sẻ phần khai mở cảm thọ, cảm xúc, cảm giác thương cảm, mở rộng tâm từ đối với tự thân của chúng ta. Hôm nay đủ duyên chúng ta sẽ chia sẻ tiếp tục về bài hướng dẫn trải tâm từ, đây là bài kết hợp vừa lý thuyết vừa thực hành.
Khai mở cảm thọ
Khi bắt đầu vào thực tập tâm từ thì chúng ta hít vào, thở ra và kêu gọi cảm thọ của mình: “Nhẹ nhàng ơi! An lạc ơi”. Chúng ta lưu ý rằng sự thực tập này phải chú trọng vào cảm thọ, ban đầu mới tập kêu cảm thọ thì chúng ta có thể sẽ ngại, ngượng miệng vì chưa quen nhưng không sao, vì cứ tập từ từ thì chúng ta sẽ quen và có thể làm cho cảm thọ sanh khởi. Học Nikāya rất tuyệt vời vì chúng ta tập quản lí, giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ, dẫn dắt cảm thọ, tưởng và hành của mình, nói đầy đủ là huấn luyện ngũ uẩn. Mà trong năm uẩn thì cảm thọ là tối quan trọng, chính vì vậy, sự thực tập thiền quán là phải đào sâu vào cảm thọ, tuy chỉ nói là thọ nhưng trong đó có cả tưởng và hành, vì thọ, tưởng, hành thường đi chung và dính chùm với nhau.
Đầu tiên, chúng ta hướng vào cảm thọ nơi lồng ngực và làm cho cảm thọ sanh khởi:
Nhẹ nhàng ơi!
Nhẹ nhàng ơi!
An lạc ơi!
An lạc ơi!
Tình thương ơi!
Tình thương ơi!
Cảm thông ơi!
Cảm thông ơi!
Chúng ta hít vào thở ra nhẹ nhàng và hướng vào lồng ngực, hướng vào cảm thọ để khơi gợi cho cảm thọ này khởi động, khai mở và hiện lộ ra. Sau đó chúng ta tác ý và quán chiếu theo những câu tiếp theo của bài:
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
“Nay ta đã gặp được Chánh Pháp, nay ta đã nhận diện được năm uẩn, nay ta đã hiểu ra cảm thọ rồi, nay ta đã nhớ đến cảm thọ rồi nên thọ đừng sân giận nữa”. Mọi người hướng vào lồng ngực và nói với cảm xúc bực bội, giận hờn, gắt gỏng đó: “Thôi đừng tức giận, bực dọc, gắt gỏng, cọc cằn, cau có nữa thọ ơi! Cảm thọ ơi, đừng sân giận nữa, đừng tức giận nữa, đừng hận thù nữa. Cảm thọ ơi, từ này trở đi hãy biết thương mình nhiều nha. Đừng để tham sân hành hạ, đừng để mình khổ đau nữa, thọ ơi!”.
Ta đừng tìm đau khổ
Vì trái ý, nghịch lòng
Ta đừng làm ác nghiệp
Ta thương mình nhiều nha.
Chúng ta đừng tự đi tìm đau khổ cho mình nữa, đừng tự mình hại mình, đừng tự mình thiêu đốt mình, đừng tự mình dày xéo mình, đừng tự mình hành hạ mình nữa nha cảm thọ ơi. Như vậy gọi là lòng nhủ lòng, đó là chúng ta đang nói chuyện với cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình. Hãy làm cho lồng ngực dâng trào lên cảm thọ, cùng với những dòng nước mắt tuôn chảy xuống và toàn thân mình rúng động, chấn cảm, rung chấn. Giận như vậy là đủ rồi! Tham, sân, si như vậy là quá nhiều rồi! Hơn thua như vậy là mệt mỏi lắm rồi! Đừng vì một chút trái ý nghịch lòng mà nói nặng nói nhẹ, nói những lời thô bỉ, thô ác, thô bạo, có những hành vi độc ác rồi sau này phải lãnh ác nghiệp mà “Ta thương mình nhiều nha” – đó là chúng ta phải kêu cảm thọ biết thương tự thân mình. Cảm thọ ơi đừng mê nữa. Đừng dại khờ nữa cảm thọ ơi. Thọ đừng nhắm mắt nữa mà hãy sáng mắt ra để nhìn cho sâu sắc bản chất của ngũ uẩn này đi cảm thọ. Cảm thọ ơi đừng mù lòa, đừng dại khờ, đừng dại dột nữa.
Đừng để mình đau khổ
Này thọ giận, thọ hờn
Đừng để mình tạo nghiệp
Rồi chẳng kịp ăn năn.
Cảm thọ đừng để mình đau khổ vì cứ sân giận, hờn mát, buồn phiền, bất mãn, không hài lòng. Cảm thọ đừng để mình tạo nghiệp trong những cảm xúc nông nổi, bồng bột, ấu trĩ, thiển cận, cạn cợt, vô tri. Từ nay về sau cảm thọ phải nhớ không được tự làm khổ mình khổ người, đừng để mình tạo nghiệp, đừng để mình hối hận, ăn năn không kịp. Chúng ta nói chuyện với cảm thọ một cách thấm thía tới xương tới tuỷ, làm cho cảm thọ rung chấn, chấn cảm đến mức từng làn da thớ thịt, từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng mạch máu, từng huyết quản rung động và thật sự thấy rằng:
Trôi trong dòng sanh tử
Có khi nổi, khi chìm
Khổ đau nhiều vô lượng
Nước mắt đầy đại dương.
Này tâm mê ơi, hỡi này cảm thọ dại khờ ơi. Ngươi đã trôi nổi, chìm nổi, chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn trong dòng sống chết này bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi hả thọ. Có khi người được nổi lên làm người nhưng có khi ngươi lại chìm xuống làm súc sanh, thú vật, cô hồn, ngạ quỷ. Có khi ngươi được vươn lên tầm cao của chư Thiên nhưng có khi ngươi lại bị dìm xuống tầng sâu của địa ngục thống khổ. Bao nhiêu đau khổ rồi hả thọ? Bao nhiêu nước mắt rồi hả tâm mê? Bao nhiêu khổ sầu rồi hỡi những cảm xúc si dại? Ngày giờ này đây, khổ đau nhiều vô lượng, nước mắt đầy cả đại dương. Biết bao dòng nước mắt của mấy chục ngàn người chết trong nước và hàng triệu người mất vì đại dịch Covid-19 đã rơi xuống! Biết bao giọt lệ của chính tự thân mình đã tuôn chảy xuống, tuôn trào ra vì đau khổ! Hỡi này tâm mê muội, ngươi có nhìn thấy dòng sanh tử oan nghiệt này hay không? Người có nhìn thấy bao nhiêu nỗi khổ tràn ngập nhãn tiền hay không?
Vô thường là đời sống
Nay còn rồi mai không
Giận hờn là thuốc độc
Đổ vào dòng tái sanh.
Vô thường là kiếp sống này! Bất thường là nhân sinh này! Bất trắc, bất an, bất ổn là đời sống này!
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Mọi người, mọi vật đều mới thấy đó rồi mất đó, cuộc đời này vô thường, mong manh, tạm bợ như vậy nhưng cứ giận hờn, sân hận với nhau, cho nên nói “vô thường nhưng lại lắm tham sân”. Trong khi đó sân hận là thuốc độc, là chất độc, là ác độc, là độc hại đổ vào dòng tái sanh khiến chúng ta cứ chết sống, sống chết, tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, nguy nan, đầy rẫy những sự bất an. Cho nên, cảm thọ giận hờn, sân hận này là ác độc, là thâm độc, là ác độc, là độc hại để làm cho dòng tái sanh cứ tiếp diễn trong sự tức giận, sân hận, thù hận và khổ đau. Khi thấy được nguy nan, hiểm họa, tai hại của sân hận thì chúng ta phải nhắc nhở cảm thọ của mình:
Thôi mình đừng sân giận
Đừng làm hại chính mình
Thôi mình đừng làm khổ
Đừng làm hại mình nha.
Thôi mình đừng sân hận nữa, mình giận như vậy là đủ rồi, mình sân như vậy là quá đủ rồi, mình hơn thua như vậy là quá lắm rồi, đừng làm hại mình nữa nha cảm thọ. Đừng tiếp tục làm hại mình trong những cảm giác tức giận, hơn thua nữa nha thọ. Đừng tự hại mình hại người nữa nha thọ. Đừng làm khổ mình khổ người nữa nha thọ ơi. Khổ như vậy là đủ rồi, khổ như vậy là vừa rồi, khổ như vậy là quá lắm rồi! Thôi mình đừng làm khổ người, hại mình nữa nha!
Thương thọ nhiều, nha thọ
Thương mình quá khổ rồi
Thương tham, sân hành hạ
Thôi, thương mình nhiều nha.
Chúng ta thương cảm thọ nhiều lắm, tự thấy thương mình vì mình đã quá đau khổ quá nhiều, cả đời phải chịu biết bao đau đớn, khổ sầu, buồn bã, nóng bứt, nhiệt não, đốt thiêu, thiêu hủy, hủy diệt bởi những cảm giác thiêu đốt, thù hận, hơn thua, ganh tỵ, tật đố này. Những cảm xúc, cảm thọ tham dục, đòi hỏi, khao khát, thèm thuồng, khát ái hành hạ, sai xử, sai khiến, lôi kéo, đày đọa, dày xéo, dày vò chúng ta không ngừng. Hàng ngày chúng ta bị tham sân hành hạ, bị những cảm thọ tham dục, tham ái, dục vọng, tham muốn, đòi hỏi, tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao, khát ái trói buộc. Chúng ta đã khổ vì chúng vô lượng, vô số, vô ức lần, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay. Vì vậy, từ này về sau chúng ta phải hiểu cho cảm thọ và tự thương mình thật nhiều.
Thương thân già, bệnh, chết
Thương thọ giận quên mình
Thương các nghiệp rập rình
Thương mình sanh tử mãi.
Chúng ta thương tấm thân này sẽ đến ngày già cỗi, bệnh tật và chết chóc. Thương cho tấm thân này sẽ phải chịu sự chi phối khốc liệt của tuổi già, phải chịu sự tàn hoại, tiều tuỵ, suy lão của các căn. Thương cho tấm thân này phải chịu bệnh hoạn, ung bướu, ung nhọt, ung hạch, ung thư. Thương cho tấm thân này phải gặp những tai nạn bất ngờ, đột ngột, đột quỵ, đột tử. Thương cho tấm thân này phải chịu những cảm giác đau đớn, thống khổ của bệnh hoạn, bệnh tật. Thương cho tấm thân này vì đến cuối cùng sắc uẩn tứ đại phải rã rời, sụp xuống, nằm xuống, ngã xuống, đổ xuống và tan ra, hoại diệt. Đó là chúng ta tập thương cho sự đau khổ vì sanh, già, bệnh, chết là ở ngoài thân.
Đồng thời chúng ta phải thương nhiều hơn đối với những bệnh tật trong tâm “thương thọ giận quên mình”. Mỗi khi giận lên là quên mình là ai, quên người, quên mình, quên cha, quên mẹ, quên anh, quên em, quên bà con, quên huyết thống, quên thân tộc, quên nghĩa tình, quên ân đức. Khi quên cả chính mình thì huynh đệ có thể thương tàn; anh em đâm chém nhau vì mấy tấc đất; hàng xóm giết nhau chết vì giành lối đi; người với người xảy ra án mạng vì một tiếng karaoke rồi phải ở tù chung thân hoặc bị tử hình. Thật sự đáng thương cho tự thân này! Thương cho sự khờ dại, vô minh, vô trí của thân này! Thương cho sự vô minh, vô trí của hữu tình chúng sanh!
Chúng ta càng phải thương cho các ác nghiệp đang rình rập, ẩn nấp phía trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới, xung quanh chúng ta. Những ác nghiệp này luôn chực chờ mình, sơ sảy một chút là những mũi tên của ác nghiệp sẽ phóng ra trúng đích. Những oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ và hiện tại cũng đang rình rập mình, chỉ cần mình lơ là một chút là nó sẽ sáp vào, bắn tới và tung ra những đòn trả đũa mà ta đã từng làm với chúng trong vô lượng kiếp vừa qua. Những nghiệp sát sanh mà mình đã giết hại chúng sanh; những hành động trộm cắp mà ta đã làm trong quá khứ trong đời này hoặc những đời trước; chúng ta cũng đã từng tà dâm, nói dối, lừa gạt, hãm hại, lừa đảo, lợi dụng, mưu toan và bây giờ những ác nghiệp đó đang rình rập sẵn và bất cứ lúc nào cũng có thể ập vào trả đũa.
Hơn nữa, chúng ta càng thương cho thân này vì phải trôi lăn mãi trong sanh tử “thương mình sanh tử mãi”. Cứ vay qua trả lại, trả vay, vay trả và như vậy chúng ta cứ sống chết dài dài, tiếp nối, tiếp diễn, tiếp tục, tái diễn, tái sanh, tái tục, tái tạo trong dòng sống chết bất tận, không dừng nghỉ.
Tình thương này rộng trải
Đến các lòai hữu tình,
Tình thương này rộng mở
Đến hữu tình gần xa.
Như vậy chúng ta khai mở, khơi gợi, làm lan toả, rộng mở cảm thọ hiểu và thương. Tình thương này được mở rộng đến khắp các lòai hữu tình – tất cả các lòai có tình thức, tình cảm. Tình thương này sẽ lan ra cùng khắp, rộng mở đến tất cả hữu tình gần xa. Khi nghe những câu này chúng ta tác ý để cảm thọ thương từ lồng ngực lan ra khắp châu thân và lan tỏa rộng ra đến tất cả những hữu tình chúng sanh có tình thức. Chúng ta làm sao cho tình thương này rộng mở, tỏa khắp gần xa… Như vậy là chúng ta đã thực tập khai mở tâm từ đối với chính mình.
Mở rộng tâm từ
Bước tiếp theo là chúng ta chính thức đi vào tâm từ rộng mở cho tất cả chúng sanh Tuy nói là chúng sanh nhưng trong đó luôn luôn có sẵn sự tự giác, giác tha - tự lợi, lợi tha - tự từ, từ tha. Sự thương mình và thương người hòa quyện, xen lẫn, đan xen, dung hòa trong tình thương của tâm từ, gọi là tự tha lưỡng lợi, bi mẫn đồng hành.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng từ tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng,
Đến tất cả hữu tình,
Và thương cả chính mình,
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau,
Trong những tâm nóng giận,
Tâm bực bội, cọc cằn,
Tâm bức xúc, khó chịu,
Chưa thấu hiểu cho nhau.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Từ tâm.
Bằng tình thương của chính mình đối với chúng sanh, bằng tâm từ và lòng xót thương sâu sắc thật sự mà mình thấy hiểu được chính mình và chúng sanh là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Sau khi thấy biết sâu sắc như vậy thì chúng ta có một tình thương bằng tất cả tấm lòng của mình đến với toàn thể chúng sanh. Nhìn từng con kiến, từng con muỗi, từng con sâu, từng con chuột, từng con rít, từng con giòi, từng con chim đến những con gà, vịt, trâu, bò, chó, mèo… mình đều có một sự thương cảm sâu sắc. Chúng ta cũng phải biết rằng do những dòng ác nghiệp của tham, sân, si, bản ngã mà biểu hiện ra thân tướng của súc sanh. Hơn nữa, tất cả những người chúng ta đã đối diện, gặp gỡ, tiếp xúc cũng chứa đựng toàn những sân hận, tham lam, ích kỷ, hơn thua, gây gổ, tranh giành. Từ đó, chúng ta tập nhìn tất cả mọi người, mọi vật bằng “mắt thương nhìn cuộc đời” – “từ nhãn thị chúng sanh”. Ánh nhìn đó là ánh nhìn của đại bi, đại từ. Đó là mắt thương nhìn thế gian, mắt thương nhìn cuộc đời, mắt thương nhìn hành tinh, mắt thương nhìn trái đất, mắt thương nhìn vũ trụ, mắt thương nhìn ngân hà, mắt thương nhìn tam thiên đại thiên thế giới. Đôi mắt thương này khi nhìn sâu vào bên trong sẽ thấy thương cả chính mình; thương những cảm giác sân si, bực bội; thương những cảm giác hận thù, hơn thua; thương những cảm giác dục vọng, ham muốn, đòi hỏi, thèm khát; thương những cảm giác ta đây, vênh váo, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người; thương những ác nghiệp; thương cho những dòng cảm thọ dại dột, dại khờ, vô tri, ngu muội, vô minh. Xót thương chính tự thân mình và xót thương hết tất cả vạn lòai hữu tình chúng sanh.
Chúng ta thương mình và chúng sanh vì tất cả hiện đang còn lặn hụp, trôi nổi, đắm chìm, ngụp lặn trong những dòng cảm thọ của dục vọng, sân hận, si mê, bản ngã. Thương cho chúng ta phải trải qua vô lương kiếp lặn hụp trong sống chết và khổ đau. Thương cho những cảm thọ nóng giận, những cảm giác bực bội, những cảm xúc cọc cằn, những cảm thọ bức xúc, khó chịu đang hành hạ chúng ta mỗi ngày. Thương cho chúng ta vì không thấu hiểu cho nhau mà gây ra bao đau khổ cho mình và cho người.
Tại sao cứ nóng giận hoài vậy thọ? Tại sao cứ nóng giận hoài vậy thọ? Tại sao cứ cọc cằn hoài vậy thọ? Tại sao cứ hở chút là bức xúc, khó chịu vậy thọ? Tất cả cũng bởi vì cảm thọ này là cảm thọ vô minh, ngu muội, chưa thấu hiểu cho nhau. Chúng ta không hiểu được người đối diện đang đau khổ; không hiểu được người đối diện đang lo lắng, sợ hãi; không hiểu được người đối diện đang bị ngọn lửa nóng bứt của sân hận thiêu đốt; không hiểu được người đối diện đang có bóng đêm bao phủ trong tâm họ; không hiểu được người ở bên cạnh mình có một nội tâm mù lòa, một nội tâm bệnh tật, bệnh hoạn. Bởi vì bệnh như vậy nên họ mới cọc cằn, khó chịu bức xúc, cau có, gắt gỏng và khổ đau, nếu chúng ta biết họ đang bệnh thì mình sẽ hiểu và cảm thông, tha thứ hết cho họ.
Ví như một em bé năm tuổi bị sốt, nửa đêm khóc thét vì mệt mỏi, đau đớn thì người mẹ không ngại mệt nhọc mà yêu thương, dỗ dành con mình cho nín khóc và được an tịnh, lắng dịu để ngủ tiếp. Bởi vì người mẹ hiểu được cảm giác khó chịu đang vận hành bên trong đứa con thơ dại nên con mình mới khóc gào giữa đêm khuya nên người mẹ mới yêu thương, cảm thông, chăm sóc. Cũng vậy, chúng ta phải giáo dục những cảm thọ sân hận, bực bội, bức xúc, nổi loạn trong tâm mình như một người mẹ dạy con, phải từng chút một giáo huấn, dạy bảo, dỗ dành cảm thọ.
Đồng thời chúng ta phải thấu hiểu cho những người đang bị cảm thọ nóng bức, phừng phựt thiêu đốt để cảm thông và thương cho họ, vì họ đang bị tâm bệnh, họ đang trúng độc của sự sân hận, hơn thua, nhân ngã, bản ngã, thế nên, chúng ta càng phải thương nhiều hơn nữa. Một khi đã thấu hiểu được như vậy thì chúng ta sẽ thương và tha thứ cho tất cả mọi người dù cho họ có làm mình đau khổ. Bởi lẽ, họ vốn dĩ không muốn làm khổ mình nhưng vì sự vô minh, sân hận, ngu si, bản ngã, hơn thua, đố kị, ganh tỵ khiến họ trở thành con rối và bị những cảm giác đó điều khiển, sai khiến, sai bảo. Họ trở thành nô lệ, tôi đòi cho những cảm giác tham, sân, si, bản ngã đó mà không biết gì cả. Họ trở thành những kẻ mù lòa vì bị mù con mắt pháp, mù con mắt trí, mù con mắt tuệ, mù con mắt đạo và chúng ta càng phải thương những người mù.
Như vậy, trước tiên, chúng ta cần phải chữa trị cho con mắt của mình được sáng ra và sau đó bằng con mắt sáng, con mắt pháp, con mắt trí, con mắt tuệ, con mắt đạo thì mình mới nhìn thấy được những người mù bên cạnh. Xung quanh chúng ta là những kẻ quờ quạng trong bóng tối. Xung quanh chúng ta là vô số hữu tình đang sống trong vô minh, si ám, khổ đau. Một khi con mắt pháp được mở thì chúng ta sẽ thấy được chúng sanh, hữu tình, vạn loại đang mù lòa.
Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa… (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, III. Phẩm Tất cả, bài kinh Mù Lòa)
Đức Phật đã tuyên bố rằng con mắt là mù lòa; sắc đối diện với con mắt là mù lòa; sự rõ biết các sắc gọi là nhãn thức cũng là mù lòa; sự tiếp xúc của con mắt, các sắc và sự rõ biết các sắc cũng là mù lòa. Sau khi con mắt tiếp xúc với các sắc và sanh ra các cảm thọ vui sướng, hoặc đau khổ, hoặc không vui sướng không đau khổ thì cảm thọ đó là mù lòa. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng mù lòa như vậy... Thương thay tâm mờ tối! Thương thay mắt mù lòa! Thương thay tâm khờ dại! Thương thay thọ si mê! Thương thay tưởng hôn ám! Thương thay hành vô minh! Thương thay thức khờ dại! Như vậy, tất cả đều mù lòa, sắc mù lòa, thọ mù lòa, tưởng mù lòa, hành mù lòa, thức mù lòa… Tất cả chúng sanh đều đang sống trong mù lòa và bóng đêm.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Từ tâm.
Vì nỗi đau khổ của sự mù lòa và bóng đêm, vì nỗi đau khổ của sự bốc cháy và thiêu hủy của chính mình và hữu tình mà chúng ta phải thành tâm và tha thiết tu tập trải từ tâm, trải tình thương này ra khắp tất cả. Có đáng thương không hỡi những cuộc sống đang bị thiêu đốt? Có đáng thương không hỡi những cuộc sống trong bóng đêm? Có đáng thương không hỡi những cuộc sống mù lòa, hôn ám? Chính vì vậy, chúng ta phải thành tâm, tha thiết, da diết, chân thành bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự thương tưởng đến khắp vạn loại để mình tu tập trải từ tâm.
Đi vào tâm từ
Như vậy, chúng ta bắt đầu đi vào tâm từ và đầu tiên là sự giải thích về tâm từ:
Tâm từ là tâm hiểu
Nỗi khổ của chúng sanh
Bị các nghiệp chi phối,
Chìm nổi trong tái sanh,
Nô lệ trong tham muốn,
Nóng bỏng trong hận sân,
U mê trong tâm trí,
Lùng nhùng trong khổ đau.
Như vậy, tâm từ chính là tâm thấu hiểu cho nỗi khổ của chúng sanh, cần lưu ý, chúng sanh không phải chỉ cho người bên ngoài mà mình cũng là chúng sanh. Tâm từ là sự thấu hiểu được nỗi khổ về ngũ uẩn này và tất cả những hình thái, trạng huống, vạn thức của ngũ uẩn. Tâm từ này không chỉ là chỉ là thương mà còn là sự thấu hiểu. Đây là định nghĩa đặc biệt chưa từng có, vì trước giờ chúng ta cứ nghĩ rằng trí tuệ mới là hiểu biết, thế nhưng, tâm từ của kinh tạng Nikāya và các bậc Thánh được đặt trên nền tảng của sự thấu hiểu. Cho nên,“Tâm từ là sự tâm hiểu – Nỗi khổ của chúng sanh”, tức là hiểu được nỗi khổ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nỗi khổ của chúng sanh là bị các thứ nghiệp chi phối nên bị chìm nổi trong tái sanh và phải làm “nô lệ cho tham muốn”. Chúng ta không làm chủ được tham muốn của mình mà bị lòng dục, lòng tham, lòng ái làm chủ, bắt mình làm kẻ nô lệ, tôi đòi, tay sai, đầy tớ cho nó để phục vụ, phục dịch cho những cảm thọ tham muốn, tham dục, đòi hỏi, thúc giục bên trong. Nó bắt chúng ta phải phục vụ, phục dịch, phục tùng, nghe theo những sự sai khiến, sai xử, sai bảo của nó và trở thành đầy tớ cho những tham dục, tham muốn, tham lam đó. Thật đáng thương cho kẻ nô lệ này! Thật đáng thương cho kẻ tôi đòi này! Thật đáng thương cho kẻ thấp hèn, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu này! Thật đáng thương khi chúng ta bị tâm tham dục thống trị, đè đầu cỡi cổ, sai khiến mình răm rắp nghe theo lời nó để cuối cùng chỉ nhận được toàn đau khổ, nước mắt, tai nạn, bệnh tật, già nua, chết chóc, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ sầu! Thật đáng thương cho kẻ nô lệ cho những tham muốn! Tâm nô lệ cho dục tham này thật sự là một tâm đáng thương xót!
Chúng ta còn phải thương cảm thọ lúc nào cũng “nóng bỏng trong hận sân” này. Cảm thọ này hàng ngày bị thiêu đốt, đốt cháy, phá hủy, hủy diệt, hủy hoại. Thật đáng thương cho cảm thọ nhiệt não, bức xúc! Thật đáng thương cho cảm thọ làm người ta mất ăn, bỏ ngủ, bất an, bất an, bức xúc, bực bội, bất mãn. Hơn nữa, tâm trí này còn mê mê, dại dại, u u, ám ám, mờ mờ, tối tối nên không thấy rõ được năm uẩn, không nhìn ra được các lậu hoặc, không soi tỏ được tham, sân, si, không chiếu kiến được bản ngã ngu si. Thật đáng thương khi phải sống trong sự“U mê trong tâm trí – Lùng nhùng trong khổ đau”, đây là một tâm thức u mê, tâm thức của bóng đêm, tâm thức của si ám, tâm thức của mù lòa. Đối với những đau khổ thì cứ tới lui, do dự, lùng nhùng, không chịu dứt ra, không chịu bỏ ra, không chịu thoát ra nên phải chịu sự dày vò, quanh quẩn trong đau khổ.
Vì nhìn ra đau khổ
Trong cảnh tái sanh này
Nên tâm đầy thương cảm
Cho hữu tình chúng sanh.
Vì thế, chúng ta cần nhìn ra được sự đau khổ trong dòng sống chết này, con người cứ sanh ra rồi làm nô lệ cho tham, sân, si, bản ngã, chịu sự chi phối của già, bệnh và cuối cùng ai cũng phải chết. Sau khi chết nếu được sanh ra thì lại tiếp tục chìm nổi trong những tham muốn, dục vọng, hơn thua, thèm thuồng, khao khát, sân hận, giành giật, bản ngã… và cuối cùng lại phải chết đi. Dù cho sanh ra trong hình hài, vạn thức, sắc tướng nào thì chúng ta cũng đầy rẫy tham lam, sân hận, si mê, bản ngã; đầy rẫy nước mắt, máu mủ, thân xác, bộ xương; đầy rẫy những sự vô thường, lo sợ, bất an và khổ sầu. Khi nhìn ra được nỗi đau khổ trong vòng sanh tử này thì trong tâm chúng ta tràn đầy tình thương, sự cảm thông và thấu hiểu cho hữu tình chúng sanh.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong.
Sau khi thấu hiểu và ngập tràn tình thường thì chúng ta mong cho tất cả những thân xác, hình hài, thân tướng này đều được bình an, thoát khỏi bệnh tật, khổ đau. Tha thiết mong cho nội tâm của tất cả chúng sanh được yên, được vui, được an tịnh, được lắng dịu.
Mong tất cả thấu hiểu,
Vạn vật là vô thường,
Chúng chỉ là năm uẩn,
Tạo ra mọi vở tuồng.
Chúng ta cũng mong rằng tất cả đều thấu hiểu rằng vạn sự, vạn vật trên thế gian này không có gì là còn hoài, không có gì là thế mãi. Mà bản chất của tất cả là đổi thay đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử. Tất cả mọi vật, mọi việc đều nằm trong sự bất an, bất ổn, bất thường, bất toại nguyện và không thể thoát khỏi những sự biến động, biến đổi, biến dịch, biến tan. Tất cả mọi thứ trên cuộc đời này cũng chỉ là năm uẩn…
Đây là nửa bài đầu của phần thực tập Từ Vô Lượng Tâm.
Bước đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn
Câu hỏi: Trong lúc tu học, không tiếp xúc với duyên bên ngoài thì mới nhận diện được ngũ uẩn?
Khi không tiếp xúc bên ngoài, những lúc chúng ta ngồi thiền thì sự nhận diện năm uẩn được rõ ràng hơn. Vì tâm mình trước nay đã quen hướng ngoại, nếu ra ngoài nhìn, nghe, tiếp xúc thì sự nhận diện năm uẩn không được rõ ràng do chúng ta chỉ mới bắt đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn. Thế nên, khi ra ngoài, chúng ta sẽ chịu sự chi phối của tâm buông lung phóng dật, cho nên dù cho có nhìn thấy được ngũ uẩn thì cũng không rõ. Vì vậy, trong giờ ngồi thiền, tránh duyên xúc thì chúng ta sẽ nhận diện được rõ ràng hơn.
Câu hỏi: Đối với đời sống hiện tại của Tăng Ni sinh, hầu hết mọi người đều ở trong môi trường tu học và sinh hoạt với đại chúng, vậy làm thế nào để nhận diện sâu sắc về ngũ uẩn?
Chúng ta rất cần thời gian ở yên một mình hoặc ngồi thiền để thực tập nhận diện ngũ uẩn từ từ cho đến mức quen thuộc, thuần thục, rõ ràng, minh bạch, rạch ròi. Nhờ đã quen thuộc và nhìn rõ được ngũ uẩn lúc ở một mình nên lúc ra tiếp xúc với đại chúng thì chúng ta sẽ nhìn lại được thân tâm của chính mình. Ngược lại, nếu không tập nhận diện ngũ uẩn khi ở một mình, đến khi ra ngoài tiếp xúc thì tâm mình sẽ bị loạn động, cùng với sự buông lung phóng dật sẽ khiến mình không thấy rõ được ngũ uẩn hoặc hoàn toàn không nhìn thấy được. Thế là chúng ta bị ngoại cảnh lôi kéo, tâm mình bị thổi bay mất như bông gòn bị phong ba bão táp thổi bay tứ tung, khắp bốn phương tám hướng.
Vì vậy, nhờ ở một mình, nhờ nhập thất, nhờ tĩnh tu, nhờ ngồi thiền, nhờ sự chịu khó nhìn lại mình một cách thường xuyên nên khi tiếp xúc với đại chúng thì chúng ta sẽ nhận diện thân tâm mình một cách rõ ràng, chính xác. Hơn nữa, chúng ta còn có thể phát giác, phát hiện ra những rác bẩn còn nằm yên, ngủ ngầm, mà đến khi ra tiếp xúc với mọi người thì nó mới thức dậy. Ví dụ, chúng ta không biết độ tức giận của mình đến đâu nhưng khi bị người khác chọc giận thì mình sẽ chứng kiến được cảm thọ sân hận của mình đến mức độ nào. Còn nếu cứ ở yên, đóng cửa một mình rồi cứ nghĩ mình hết giận nhưng khi ra ngoài thì mới thấy rằng cái giận đó không hết mất hết đi.
Thế nên, khi ở một mình thì tu rất hay và lúc ở trong chúng thì sự tu cũng rất là khéo. Nếu chúng ta thiện xảo trong sự nhận diện ngũ uẩn, tinh anh trong việc xử lý các cảm thọ, cảm xúc và sự mạnh mẽ hùng tráng, hùng cường, hùng lực trong sự tác ý thì ở hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy năm uẩn và nhiếp phục, chế ngự, tác ý, đoạn tận nó. Tuy nhiên, khi mới thực tập thì việc được ở một mình và dành nhiều thời gian ngồi thiền là vô cùng tốt, cũng nhờ vậy mà giai đoạn đầu tu tập được thuần thục, giúp chúng ta thấy rõ năm uẩn, sau đó, khi ra ngoài tiếp xúc nhiều thì mình mới dễ dàng thấy hơn. Bằng không, nếu giai đoạn đầu không thấy kỹ, bị lẫn lộn, bị nhiễu loạn trong pháp, chẳng hạn tưởng nhầm qua hành, thọ nhầm qua thức thì từ lúc đầu đã không rõ pháp, không có sự biện biệt, giãn trạch, trạch pháp một cách rành rõ, phân minh, chính xác thì sau này tu không đạt được kết quả như Đức Phật dạy.
Chính vì thế, ở một mình tu càng tốt, hoặc có duyên ở trong chúng thì tu càng hay, điều quan trọng nhất vẫn là thường xuyên quay về nhận diện, xử lý những thọ, tưởng, hành của mình. “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ – Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm”, cố gắng tu tập, nhận diện và đưa mình về những tâm hiền, tâm an tịnh, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, tâm từ, tâm thương, tâm hiểu, tâm cảm thông, tha thứ và thấu hiểu lẫn nhau.
Như vậy chúng ta đã thực tập sâu sắc về cách trải tâm từ. Chúng ta phải học thuộc lòng, nghe đi nghe lại, nghiền ngẫm để nắm được cách thực tập thì sau này chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong cảm thọ, điều kỳ diệu xuất hiện bên trong cảm xúc và tình thương của chúng ta sẽ được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, quảng đại, rộng lớn và bao la. Không lâu nữa chúng ta sẽ thành công. Kính chúc đại chúng luôn luôn thực tập tâm từ, trải rộng tình thương cho mình cùng với hữu tình, chúng sanh để có được tâm bình an, lắng dịu, an lành.
./.
CÁCH TRẢI TÂM TỪ 2
KINH VÍ DỤ TẤM VẢI 3 – TRUNG BỘ I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cách trải tâm từ PAGEREF _Toc95335127 \h 1
1.Khai mở cảm thọ PAGEREF _Toc95335128 \h 1
2.Mở rộng tâm từ PAGEREF _Toc95335129 \h 8
3.Đi vào tâm từ PAGEREF _Toc95335130 \h 12
II.Bước đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc95335131 \h 15
Từ ngày bắt đầu học trực tuyến đến nay thì chỉ có Minh Thành nói một chiều, chưa được nghe các Tăng Ni sinh có những sự trao đổi, chia sẻ, thưa hỏi và trình pháp trong thời gian dịch bệnh được độc cư, an cư, tĩnh cư, tĩnh tu, ở yên này. Vì vậy, hôm nay Minh Thành mong muốn các Tăng Ni sinh có câu hỏi xung quanh vấn đề đã học trong môn Pháp hành Kinh Tạng Nikāya hoặc cảm nhận về những lời kinh Đức Phật dạy mà chúng ta đang được học trong Trung Bộ Kinh. Tăng Ni sinh cũng có thể chia sẻ về những chủ đề xung quanh môn học như: quán chiếu cảm thọ; nhận diện ngũ uẩn; phương pháp, cách thức nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận tham, sân, si, bản ngã và những lợi ích thiết thực đã thu hoạch được trong thời gian tu học vừa qua.
Cách trải tâm từ
Minh Thành từng giới thiệu tổng quát và sơ lược về cách trải tâm từ. Về phần này nếu được học trực tiếp thì sẽ có được nhiều lợi lạc hơn. Hoặc nếu được học ở Linh Quy hoặc đến nơi nào có không gian rộng lớn thì sẽ thực tập thuận tiện hơn, giúp tâm mình được rộng mở. Vì phải học trực tuyến nên Minh Thành chỉ có thể giới thiệu một cách tổng quát sơ lược. Đầu tiên, chúng ta chịu khó truy cập vào trang linhquyphapan.vn để được nghe rất nhiều bài về chuyên đề “Trải tâm từ” trong phần Từ Vô Lượng Tâm. Riêng phần trải tâm từ nếu muốn học cho kỹ và đào sâu thì ít nhất cũng cần bảy buổi học, trong đó gồm có 5 buổi học lý thuyết và 2-3 buổi thực hành. Minh Thành đã chia sẻ phần khai mở cảm thọ, cảm xúc, cảm giác thương cảm, mở rộng tâm từ đối với tự thân của chúng ta. Hôm nay đủ duyên chúng ta sẽ chia sẻ tiếp tục về bài hướng dẫn trải tâm từ, đây là bài kết hợp vừa lý thuyết vừa thực hành.
Khai mở cảm thọ
Khi bắt đầu vào thực tập tâm từ thì chúng ta hít vào, thở ra và kêu gọi cảm thọ của mình: “Nhẹ nhàng ơi! An lạc ơi”. Chúng ta lưu ý rằng sự thực tập này phải chú trọng vào cảm thọ, ban đầu mới tập kêu cảm thọ thì chúng ta có thể sẽ ngại, ngượng miệng vì chưa quen nhưng không sao, vì cứ tập từ từ thì chúng ta sẽ quen và có thể làm cho cảm thọ sanh khởi. Học Nikāya rất tuyệt vời vì chúng ta tập quản lí, giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ, dẫn dắt cảm thọ, tưởng và hành của mình, nói đầy đủ là huấn luyện ngũ uẩn. Mà trong năm uẩn thì cảm thọ là tối quan trọng, chính vì vậy, sự thực tập thiền quán là phải đào sâu vào cảm thọ, tuy chỉ nói là thọ nhưng trong đó có cả tưởng và hành, vì thọ, tưởng, hành thường đi chung và dính chùm với nhau.
Đầu tiên, chúng ta hướng vào cảm thọ nơi lồng ngực và làm cho cảm thọ sanh khởi:
Nhẹ nhàng ơi!
Nhẹ nhàng ơi!
An lạc ơi!
An lạc ơi!
Tình thương ơi!
Tình thương ơi!
Cảm thông ơi!
Cảm thông ơi!
Chúng ta hít vào thở ra nhẹ nhàng và hướng vào lồng ngực, hướng vào cảm thọ để khơi gợi cho cảm thọ này khởi động, khai mở và hiện lộ ra. Sau đó chúng ta tác ý và quán chiếu theo những câu tiếp theo của bài:
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
“Nay ta đã gặp được Chánh Pháp, nay ta đã nhận diện được năm uẩn, nay ta đã hiểu ra cảm thọ rồi, nay ta đã nhớ đến cảm thọ rồi nên thọ đừng sân giận nữa”. Mọi người hướng vào lồng ngực và nói với cảm xúc bực bội, giận hờn, gắt gỏng đó: “Thôi đừng tức giận, bực dọc, gắt gỏng, cọc cằn, cau có nữa thọ ơi! Cảm thọ ơi, đừng sân giận nữa, đừng tức giận nữa, đừng hận thù nữa. Cảm thọ ơi, từ này trở đi hãy biết thương mình nhiều nha. Đừng để tham sân hành hạ, đừng để mình khổ đau nữa, thọ ơi!”.
Ta đừng tìm đau khổ
Vì trái ý, nghịch lòng
Ta đừng làm ác nghiệp
Ta thương mình nhiều nha.
Chúng ta đừng tự đi tìm đau khổ cho mình nữa, đừng tự mình hại mình, đừng tự mình thiêu đốt mình, đừng tự mình dày xéo mình, đừng tự mình hành hạ mình nữa nha cảm thọ ơi. Như vậy gọi là lòng nhủ lòng, đó là chúng ta đang nói chuyện với cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình. Hãy làm cho lồng ngực dâng trào lên cảm thọ, cùng với những dòng nước mắt tuôn chảy xuống và toàn thân mình rúng động, chấn cảm, rung chấn. Giận như vậy là đủ rồi! Tham, sân, si như vậy là quá nhiều rồi! Hơn thua như vậy là mệt mỏi lắm rồi! Đừng vì một chút trái ý nghịch lòng mà nói nặng nói nhẹ, nói những lời thô bỉ, thô ác, thô bạo, có những hành vi độc ác rồi sau này phải lãnh ác nghiệp mà “Ta thương mình nhiều nha” – đó là chúng ta phải kêu cảm thọ biết thương tự thân mình. Cảm thọ ơi đừng mê nữa. Đừng dại khờ nữa cảm thọ ơi. Thọ đừng nhắm mắt nữa mà hãy sáng mắt ra để nhìn cho sâu sắc bản chất của ngũ uẩn này đi cảm thọ. Cảm thọ ơi đừng mù lòa, đừng dại khờ, đừng dại dột nữa.
Đừng để mình đau khổ
Này thọ giận, thọ hờn
Đừng để mình tạo nghiệp
Rồi chẳng kịp ăn năn.
Cảm thọ đừng để mình đau khổ vì cứ sân giận, hờn mát, buồn phiền, bất mãn, không hài lòng. Cảm thọ đừng để mình tạo nghiệp trong những cảm xúc nông nổi, bồng bột, ấu trĩ, thiển cận, cạn cợt, vô tri. Từ nay về sau cảm thọ phải nhớ không được tự làm khổ mình khổ người, đừng để mình tạo nghiệp, đừng để mình hối hận, ăn năn không kịp. Chúng ta nói chuyện với cảm thọ một cách thấm thía tới xương tới tuỷ, làm cho cảm thọ rung chấn, chấn cảm đến mức từng làn da thớ thịt, từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng mạch máu, từng huyết quản rung động và thật sự thấy rằng:
Trôi trong dòng sanh tử
Có khi nổi, khi chìm
Khổ đau nhiều vô lượng
Nước mắt đầy đại dương.
Này tâm mê ơi, hỡi này cảm thọ dại khờ ơi. Ngươi đã trôi nổi, chìm nổi, chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn trong dòng sống chết này bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi hả thọ. Có khi người được nổi lên làm người nhưng có khi ngươi lại chìm xuống làm súc sanh, thú vật, cô hồn, ngạ quỷ. Có khi ngươi được vươn lên tầm cao của chư Thiên nhưng có khi ngươi lại bị dìm xuống tầng sâu của địa ngục thống khổ. Bao nhiêu đau khổ rồi hả thọ? Bao nhiêu nước mắt rồi hả tâm mê? Bao nhiêu khổ sầu rồi hỡi những cảm xúc si dại? Ngày giờ này đây, khổ đau nhiều vô lượng, nước mắt đầy cả đại dương. Biết bao dòng nước mắt của mấy chục ngàn người chết trong nước và hàng triệu người mất vì đại dịch Covid-19 đã rơi xuống! Biết bao giọt lệ của chính tự thân mình đã tuôn chảy xuống, tuôn trào ra vì đau khổ! Hỡi này tâm mê muội, ngươi có nhìn thấy dòng sanh tử oan nghiệt này hay không? Người có nhìn thấy bao nhiêu nỗi khổ tràn ngập nhãn tiền hay không?
Vô thường là đời sống
Nay còn rồi mai không
Giận hờn là thuốc độc
Đổ vào dòng tái sanh.
Vô thường là kiếp sống này! Bất thường là nhân sinh này! Bất trắc, bất an, bất ổn là đời sống này!
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Mọi người, mọi vật đều mới thấy đó rồi mất đó, cuộc đời này vô thường, mong manh, tạm bợ như vậy nhưng cứ giận hờn, sân hận với nhau, cho nên nói “vô thường nhưng lại lắm tham sân”. Trong khi đó sân hận là thuốc độc, là chất độc, là ác độc, là độc hại đổ vào dòng tái sanh khiến chúng ta cứ chết sống, sống chết, tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, nguy nan, đầy rẫy những sự bất an. Cho nên, cảm thọ giận hờn, sân hận này là ác độc, là thâm độc, là ác độc, là độc hại để làm cho dòng tái sanh cứ tiếp diễn trong sự tức giận, sân hận, thù hận và khổ đau. Khi thấy được nguy nan, hiểm họa, tai hại của sân hận thì chúng ta phải nhắc nhở cảm thọ của mình:
Thôi mình đừng sân giận
Đừng làm hại chính mình
Thôi mình đừng làm khổ
Đừng làm hại mình nha.
Thôi mình đừng sân hận nữa, mình giận như vậy là đủ rồi, mình sân như vậy là quá đủ rồi, mình hơn thua như vậy là quá lắm rồi, đừng làm hại mình nữa nha cảm thọ. Đừng tiếp tục làm hại mình trong những cảm giác tức giận, hơn thua nữa nha thọ. Đừng tự hại mình hại người nữa nha thọ. Đừng làm khổ mình khổ người nữa nha thọ ơi. Khổ như vậy là đủ rồi, khổ như vậy là vừa rồi, khổ như vậy là quá lắm rồi! Thôi mình đừng làm khổ người, hại mình nữa nha!
Thương thọ nhiều, nha thọ
Thương mình quá khổ rồi
Thương tham, sân hành hạ
Thôi, thương mình nhiều nha.
Chúng ta thương cảm thọ nhiều lắm, tự thấy thương mình vì mình đã quá đau khổ quá nhiều, cả đời phải chịu biết bao đau đớn, khổ sầu, buồn bã, nóng bứt, nhiệt não, đốt thiêu, thiêu hủy, hủy diệt bởi những cảm giác thiêu đốt, thù hận, hơn thua, ganh tỵ, tật đố này. Những cảm xúc, cảm thọ tham dục, đòi hỏi, khao khát, thèm thuồng, khát ái hành hạ, sai xử, sai khiến, lôi kéo, đày đọa, dày xéo, dày vò chúng ta không ngừng. Hàng ngày chúng ta bị tham sân hành hạ, bị những cảm thọ tham dục, tham ái, dục vọng, tham muốn, đòi hỏi, tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao, khát ái trói buộc. Chúng ta đã khổ vì chúng vô lượng, vô số, vô ức lần, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay. Vì vậy, từ này về sau chúng ta phải hiểu cho cảm thọ và tự thương mình thật nhiều.
Thương thân già, bệnh, chết
Thương thọ giận quên mình
Thương các nghiệp rập rình
Thương mình sanh tử mãi.
Chúng ta thương tấm thân này sẽ đến ngày già cỗi, bệnh tật và chết chóc. Thương cho tấm thân này sẽ phải chịu sự chi phối khốc liệt của tuổi già, phải chịu sự tàn hoại, tiều tuỵ, suy lão của các căn. Thương cho tấm thân này phải chịu bệnh hoạn, ung bướu, ung nhọt, ung hạch, ung thư. Thương cho tấm thân này phải gặp những tai nạn bất ngờ, đột ngột, đột quỵ, đột tử. Thương cho tấm thân này phải chịu những cảm giác đau đớn, thống khổ của bệnh hoạn, bệnh tật. Thương cho tấm thân này vì đến cuối cùng sắc uẩn tứ đại phải rã rời, sụp xuống, nằm xuống, ngã xuống, đổ xuống và tan ra, hoại diệt. Đó là chúng ta tập thương cho sự đau khổ vì sanh, già, bệnh, chết là ở ngoài thân.
Đồng thời chúng ta phải thương nhiều hơn đối với những bệnh tật trong tâm “thương thọ giận quên mình”. Mỗi khi giận lên là quên mình là ai, quên người, quên mình, quên cha, quên mẹ, quên anh, quên em, quên bà con, quên huyết thống, quên thân tộc, quên nghĩa tình, quên ân đức. Khi quên cả chính mình thì huynh đệ có thể thương tàn; anh em đâm chém nhau vì mấy tấc đất; hàng xóm giết nhau chết vì giành lối đi; người với người xảy ra án mạng vì một tiếng karaoke rồi phải ở tù chung thân hoặc bị tử hình. Thật sự đáng thương cho tự thân này! Thương cho sự khờ dại, vô minh, vô trí của thân này! Thương cho sự vô minh, vô trí của hữu tình chúng sanh!
Chúng ta càng phải thương cho các ác nghiệp đang rình rập, ẩn nấp phía trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới, xung quanh chúng ta. Những ác nghiệp này luôn chực chờ mình, sơ sảy một chút là những mũi tên của ác nghiệp sẽ phóng ra trúng đích. Những oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ và hiện tại cũng đang rình rập mình, chỉ cần mình lơ là một chút là nó sẽ sáp vào, bắn tới và tung ra những đòn trả đũa mà ta đã từng làm với chúng trong vô lượng kiếp vừa qua. Những nghiệp sát sanh mà mình đã giết hại chúng sanh; những hành động trộm cắp mà ta đã làm trong quá khứ trong đời này hoặc những đời trước; chúng ta cũng đã từng tà dâm, nói dối, lừa gạt, hãm hại, lừa đảo, lợi dụng, mưu toan và bây giờ những ác nghiệp đó đang rình rập sẵn và bất cứ lúc nào cũng có thể ập vào trả đũa.
Hơn nữa, chúng ta càng thương cho thân này vì phải trôi lăn mãi trong sanh tử “thương mình sanh tử mãi”. Cứ vay qua trả lại, trả vay, vay trả và như vậy chúng ta cứ sống chết dài dài, tiếp nối, tiếp diễn, tiếp tục, tái diễn, tái sanh, tái tục, tái tạo trong dòng sống chết bất tận, không dừng nghỉ.
Tình thương này rộng trải
Đến các lòai hữu tình,
Tình thương này rộng mở
Đến hữu tình gần xa.
Như vậy chúng ta khai mở, khơi gợi, làm lan toả, rộng mở cảm thọ hiểu và thương. Tình thương này được mở rộng đến khắp các lòai hữu tình – tất cả các lòai có tình thức, tình cảm. Tình thương này sẽ lan ra cùng khắp, rộng mở đến tất cả hữu tình gần xa. Khi nghe những câu này chúng ta tác ý để cảm thọ thương từ lồng ngực lan ra khắp châu thân và lan tỏa rộng ra đến tất cả những hữu tình chúng sanh có tình thức. Chúng ta làm sao cho tình thương này rộng mở, tỏa khắp gần xa… Như vậy là chúng ta đã thực tập khai mở tâm từ đối với chính mình.
Mở rộng tâm từ
Bước tiếp theo là chúng ta chính thức đi vào tâm từ rộng mở cho tất cả chúng sanh Tuy nói là chúng sanh nhưng trong đó luôn luôn có sẵn sự tự giác, giác tha - tự lợi, lợi tha - tự từ, từ tha. Sự thương mình và thương người hòa quyện, xen lẫn, đan xen, dung hòa trong tình thương của tâm từ, gọi là tự tha lưỡng lợi, bi mẫn đồng hành.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng từ tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng,
Đến tất cả hữu tình,
Và thương cả chính mình,
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau,
Trong những tâm nóng giận,
Tâm bực bội, cọc cằn,
Tâm bức xúc, khó chịu,
Chưa thấu hiểu cho nhau.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Từ tâm.
Bằng tình thương của chính mình đối với chúng sanh, bằng tâm từ và lòng xót thương sâu sắc thật sự mà mình thấy hiểu được chính mình và chúng sanh là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Sau khi thấy biết sâu sắc như vậy thì chúng ta có một tình thương bằng tất cả tấm lòng của mình đến với toàn thể chúng sanh. Nhìn từng con kiến, từng con muỗi, từng con sâu, từng con chuột, từng con rít, từng con giòi, từng con chim đến những con gà, vịt, trâu, bò, chó, mèo… mình đều có một sự thương cảm sâu sắc. Chúng ta cũng phải biết rằng do những dòng ác nghiệp của tham, sân, si, bản ngã mà biểu hiện ra thân tướng của súc sanh. Hơn nữa, tất cả những người chúng ta đã đối diện, gặp gỡ, tiếp xúc cũng chứa đựng toàn những sân hận, tham lam, ích kỷ, hơn thua, gây gổ, tranh giành. Từ đó, chúng ta tập nhìn tất cả mọi người, mọi vật bằng “mắt thương nhìn cuộc đời” – “từ nhãn thị chúng sanh”. Ánh nhìn đó là ánh nhìn của đại bi, đại từ. Đó là mắt thương nhìn thế gian, mắt thương nhìn cuộc đời, mắt thương nhìn hành tinh, mắt thương nhìn trái đất, mắt thương nhìn vũ trụ, mắt thương nhìn ngân hà, mắt thương nhìn tam thiên đại thiên thế giới. Đôi mắt thương này khi nhìn sâu vào bên trong sẽ thấy thương cả chính mình; thương những cảm giác sân si, bực bội; thương những cảm giác hận thù, hơn thua; thương những cảm giác dục vọng, ham muốn, đòi hỏi, thèm khát; thương những cảm giác ta đây, vênh váo, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người; thương những ác nghiệp; thương cho những dòng cảm thọ dại dột, dại khờ, vô tri, ngu muội, vô minh. Xót thương chính tự thân mình và xót thương hết tất cả vạn lòai hữu tình chúng sanh.
Chúng ta thương mình và chúng sanh vì tất cả hiện đang còn lặn hụp, trôi nổi, đắm chìm, ngụp lặn trong những dòng cảm thọ của dục vọng, sân hận, si mê, bản ngã. Thương cho chúng ta phải trải qua vô lương kiếp lặn hụp trong sống chết và khổ đau. Thương cho những cảm thọ nóng giận, những cảm giác bực bội, những cảm xúc cọc cằn, những cảm thọ bức xúc, khó chịu đang hành hạ chúng ta mỗi ngày. Thương cho chúng ta vì không thấu hiểu cho nhau mà gây ra bao đau khổ cho mình và cho người.
Tại sao cứ nóng giận hoài vậy thọ? Tại sao cứ nóng giận hoài vậy thọ? Tại sao cứ cọc cằn hoài vậy thọ? Tại sao cứ hở chút là bức xúc, khó chịu vậy thọ? Tất cả cũng bởi vì cảm thọ này là cảm thọ vô minh, ngu muội, chưa thấu hiểu cho nhau. Chúng ta không hiểu được người đối diện đang đau khổ; không hiểu được người đối diện đang lo lắng, sợ hãi; không hiểu được người đối diện đang bị ngọn lửa nóng bứt của sân hận thiêu đốt; không hiểu được người đối diện đang có bóng đêm bao phủ trong tâm họ; không hiểu được người ở bên cạnh mình có một nội tâm mù lòa, một nội tâm bệnh tật, bệnh hoạn. Bởi vì bệnh như vậy nên họ mới cọc cằn, khó chịu bức xúc, cau có, gắt gỏng và khổ đau, nếu chúng ta biết họ đang bệnh thì mình sẽ hiểu và cảm thông, tha thứ hết cho họ.
Ví như một em bé năm tuổi bị sốt, nửa đêm khóc thét vì mệt mỏi, đau đớn thì người mẹ không ngại mệt nhọc mà yêu thương, dỗ dành con mình cho nín khóc và được an tịnh, lắng dịu để ngủ tiếp. Bởi vì người mẹ hiểu được cảm giác khó chịu đang vận hành bên trong đứa con thơ dại nên con mình mới khóc gào giữa đêm khuya nên người mẹ mới yêu thương, cảm thông, chăm sóc. Cũng vậy, chúng ta phải giáo dục những cảm thọ sân hận, bực bội, bức xúc, nổi loạn trong tâm mình như một người mẹ dạy con, phải từng chút một giáo huấn, dạy bảo, dỗ dành cảm thọ.
Đồng thời chúng ta phải thấu hiểu cho những người đang bị cảm thọ nóng bức, phừng phựt thiêu đốt để cảm thông và thương cho họ, vì họ đang bị tâm bệnh, họ đang trúng độc của sự sân hận, hơn thua, nhân ngã, bản ngã, thế nên, chúng ta càng phải thương nhiều hơn nữa. Một khi đã thấu hiểu được như vậy thì chúng ta sẽ thương và tha thứ cho tất cả mọi người dù cho họ có làm mình đau khổ. Bởi lẽ, họ vốn dĩ không muốn làm khổ mình nhưng vì sự vô minh, sân hận, ngu si, bản ngã, hơn thua, đố kị, ganh tỵ khiến họ trở thành con rối và bị những cảm giác đó điều khiển, sai khiến, sai bảo. Họ trở thành nô lệ, tôi đòi cho những cảm giác tham, sân, si, bản ngã đó mà không biết gì cả. Họ trở thành những kẻ mù lòa vì bị mù con mắt pháp, mù con mắt trí, mù con mắt tuệ, mù con mắt đạo và chúng ta càng phải thương những người mù.
Như vậy, trước tiên, chúng ta cần phải chữa trị cho con mắt của mình được sáng ra và sau đó bằng con mắt sáng, con mắt pháp, con mắt trí, con mắt tuệ, con mắt đạo thì mình mới nhìn thấy được những người mù bên cạnh. Xung quanh chúng ta là những kẻ quờ quạng trong bóng tối. Xung quanh chúng ta là vô số hữu tình đang sống trong vô minh, si ám, khổ đau. Một khi con mắt pháp được mở thì chúng ta sẽ thấy được chúng sanh, hữu tình, vạn loại đang mù lòa.
Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa… (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, III. Phẩm Tất cả, bài kinh Mù Lòa)
Đức Phật đã tuyên bố rằng con mắt là mù lòa; sắc đối diện với con mắt là mù lòa; sự rõ biết các sắc gọi là nhãn thức cũng là mù lòa; sự tiếp xúc của con mắt, các sắc và sự rõ biết các sắc cũng là mù lòa. Sau khi con mắt tiếp xúc với các sắc và sanh ra các cảm thọ vui sướng, hoặc đau khổ, hoặc không vui sướng không đau khổ thì cảm thọ đó là mù lòa. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng mù lòa như vậy... Thương thay tâm mờ tối! Thương thay mắt mù lòa! Thương thay tâm khờ dại! Thương thay thọ si mê! Thương thay tưởng hôn ám! Thương thay hành vô minh! Thương thay thức khờ dại! Như vậy, tất cả đều mù lòa, sắc mù lòa, thọ mù lòa, tưởng mù lòa, hành mù lòa, thức mù lòa… Tất cả chúng sanh đều đang sống trong mù lòa và bóng đêm.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Từ tâm.
Vì nỗi đau khổ của sự mù lòa và bóng đêm, vì nỗi đau khổ của sự bốc cháy và thiêu hủy của chính mình và hữu tình mà chúng ta phải thành tâm và tha thiết tu tập trải từ tâm, trải tình thương này ra khắp tất cả. Có đáng thương không hỡi những cuộc sống đang bị thiêu đốt? Có đáng thương không hỡi những cuộc sống trong bóng đêm? Có đáng thương không hỡi những cuộc sống mù lòa, hôn ám? Chính vì vậy, chúng ta phải thành tâm, tha thiết, da diết, chân thành bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự thương tưởng đến khắp vạn loại để mình tu tập trải từ tâm.
Đi vào tâm từ
Như vậy, chúng ta bắt đầu đi vào tâm từ và đầu tiên là sự giải thích về tâm từ:
Tâm từ là tâm hiểu
Nỗi khổ của chúng sanh
Bị các nghiệp chi phối,
Chìm nổi trong tái sanh,
Nô lệ trong tham muốn,
Nóng bỏng trong hận sân,
U mê trong tâm trí,
Lùng nhùng trong khổ đau.
Như vậy, tâm từ chính là tâm thấu hiểu cho nỗi khổ của chúng sanh, cần lưu ý, chúng sanh không phải chỉ cho người bên ngoài mà mình cũng là chúng sanh. Tâm từ là sự thấu hiểu được nỗi khổ về ngũ uẩn này và tất cả những hình thái, trạng huống, vạn thức của ngũ uẩn. Tâm từ này không chỉ là chỉ là thương mà còn là sự thấu hiểu. Đây là định nghĩa đặc biệt chưa từng có, vì trước giờ chúng ta cứ nghĩ rằng trí tuệ mới là hiểu biết, thế nhưng, tâm từ của kinh tạng Nikāya và các bậc Thánh được đặt trên nền tảng của sự thấu hiểu. Cho nên,“Tâm từ là sự tâm hiểu – Nỗi khổ của chúng sanh”, tức là hiểu được nỗi khổ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nỗi khổ của chúng sanh là bị các thứ nghiệp chi phối nên bị chìm nổi trong tái sanh và phải làm “nô lệ cho tham muốn”. Chúng ta không làm chủ được tham muốn của mình mà bị lòng dục, lòng tham, lòng ái làm chủ, bắt mình làm kẻ nô lệ, tôi đòi, tay sai, đầy tớ cho nó để phục vụ, phục dịch cho những cảm thọ tham muốn, tham dục, đòi hỏi, thúc giục bên trong. Nó bắt chúng ta phải phục vụ, phục dịch, phục tùng, nghe theo những sự sai khiến, sai xử, sai bảo của nó và trở thành đầy tớ cho những tham dục, tham muốn, tham lam đó. Thật đáng thương cho kẻ nô lệ này! Thật đáng thương cho kẻ tôi đòi này! Thật đáng thương cho kẻ thấp hèn, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu này! Thật đáng thương khi chúng ta bị tâm tham dục thống trị, đè đầu cỡi cổ, sai khiến mình răm rắp nghe theo lời nó để cuối cùng chỉ nhận được toàn đau khổ, nước mắt, tai nạn, bệnh tật, già nua, chết chóc, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ sầu! Thật đáng thương cho kẻ nô lệ cho những tham muốn! Tâm nô lệ cho dục tham này thật sự là một tâm đáng thương xót!
Chúng ta còn phải thương cảm thọ lúc nào cũng “nóng bỏng trong hận sân” này. Cảm thọ này hàng ngày bị thiêu đốt, đốt cháy, phá hủy, hủy diệt, hủy hoại. Thật đáng thương cho cảm thọ nhiệt não, bức xúc! Thật đáng thương cho cảm thọ làm người ta mất ăn, bỏ ngủ, bất an, bất an, bức xúc, bực bội, bất mãn. Hơn nữa, tâm trí này còn mê mê, dại dại, u u, ám ám, mờ mờ, tối tối nên không thấy rõ được năm uẩn, không nhìn ra được các lậu hoặc, không soi tỏ được tham, sân, si, không chiếu kiến được bản ngã ngu si. Thật đáng thương khi phải sống trong sự“U mê trong tâm trí – Lùng nhùng trong khổ đau”, đây là một tâm thức u mê, tâm thức của bóng đêm, tâm thức của si ám, tâm thức của mù lòa. Đối với những đau khổ thì cứ tới lui, do dự, lùng nhùng, không chịu dứt ra, không chịu bỏ ra, không chịu thoát ra nên phải chịu sự dày vò, quanh quẩn trong đau khổ.
Vì nhìn ra đau khổ
Trong cảnh tái sanh này
Nên tâm đầy thương cảm
Cho hữu tình chúng sanh.
Vì thế, chúng ta cần nhìn ra được sự đau khổ trong dòng sống chết này, con người cứ sanh ra rồi làm nô lệ cho tham, sân, si, bản ngã, chịu sự chi phối của già, bệnh và cuối cùng ai cũng phải chết. Sau khi chết nếu được sanh ra thì lại tiếp tục chìm nổi trong những tham muốn, dục vọng, hơn thua, thèm thuồng, khao khát, sân hận, giành giật, bản ngã… và cuối cùng lại phải chết đi. Dù cho sanh ra trong hình hài, vạn thức, sắc tướng nào thì chúng ta cũng đầy rẫy tham lam, sân hận, si mê, bản ngã; đầy rẫy nước mắt, máu mủ, thân xác, bộ xương; đầy rẫy những sự vô thường, lo sợ, bất an và khổ sầu. Khi nhìn ra được nỗi đau khổ trong vòng sanh tử này thì trong tâm chúng ta tràn đầy tình thương, sự cảm thông và thấu hiểu cho hữu tình chúng sanh.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong.
Sau khi thấu hiểu và ngập tràn tình thường thì chúng ta mong cho tất cả những thân xác, hình hài, thân tướng này đều được bình an, thoát khỏi bệnh tật, khổ đau. Tha thiết mong cho nội tâm của tất cả chúng sanh được yên, được vui, được an tịnh, được lắng dịu.
Mong tất cả thấu hiểu,
Vạn vật là vô thường,
Chúng chỉ là năm uẩn,
Tạo ra mọi vở tuồng.
Chúng ta cũng mong rằng tất cả đều thấu hiểu rằng vạn sự, vạn vật trên thế gian này không có gì là còn hoài, không có gì là thế mãi. Mà bản chất của tất cả là đổi thay đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử. Tất cả mọi vật, mọi việc đều nằm trong sự bất an, bất ổn, bất thường, bất toại nguyện và không thể thoát khỏi những sự biến động, biến đổi, biến dịch, biến tan. Tất cả mọi thứ trên cuộc đời này cũng chỉ là năm uẩn…
Đây là nửa bài đầu của phần thực tập Từ Vô Lượng Tâm.
Bước đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn
Câu hỏi: Trong lúc tu học, không tiếp xúc với duyên bên ngoài thì mới nhận diện được ngũ uẩn?
Khi không tiếp xúc bên ngoài, những lúc chúng ta ngồi thiền thì sự nhận diện năm uẩn được rõ ràng hơn. Vì tâm mình trước nay đã quen hướng ngoại, nếu ra ngoài nhìn, nghe, tiếp xúc thì sự nhận diện năm uẩn không được rõ ràng do chúng ta chỉ mới bắt đầu thực tập nhận diện ngũ uẩn. Thế nên, khi ra ngoài, chúng ta sẽ chịu sự chi phối của tâm buông lung phóng dật, cho nên dù cho có nhìn thấy được ngũ uẩn thì cũng không rõ. Vì vậy, trong giờ ngồi thiền, tránh duyên xúc thì chúng ta sẽ nhận diện được rõ ràng hơn.
Câu hỏi: Đối với đời sống hiện tại của Tăng Ni sinh, hầu hết mọi người đều ở trong môi trường tu học và sinh hoạt với đại chúng, vậy làm thế nào để nhận diện sâu sắc về ngũ uẩn?
Chúng ta rất cần thời gian ở yên một mình hoặc ngồi thiền để thực tập nhận diện ngũ uẩn từ từ cho đến mức quen thuộc, thuần thục, rõ ràng, minh bạch, rạch ròi. Nhờ đã quen thuộc và nhìn rõ được ngũ uẩn lúc ở một mình nên lúc ra tiếp xúc với đại chúng thì chúng ta sẽ nhìn lại được thân tâm của chính mình. Ngược lại, nếu không tập nhận diện ngũ uẩn khi ở một mình, đến khi ra ngoài tiếp xúc thì tâm mình sẽ bị loạn động, cùng với sự buông lung phóng dật sẽ khiến mình không thấy rõ được ngũ uẩn hoặc hoàn toàn không nhìn thấy được. Thế là chúng ta bị ngoại cảnh lôi kéo, tâm mình bị thổi bay mất như bông gòn bị phong ba bão táp thổi bay tứ tung, khắp bốn phương tám hướng.
Vì vậy, nhờ ở một mình, nhờ nhập thất, nhờ tĩnh tu, nhờ ngồi thiền, nhờ sự chịu khó nhìn lại mình một cách thường xuyên nên khi tiếp xúc với đại chúng thì chúng ta sẽ nhận diện thân tâm mình một cách rõ ràng, chính xác. Hơn nữa, chúng ta còn có thể phát giác, phát hiện ra những rác bẩn còn nằm yên, ngủ ngầm, mà đến khi ra tiếp xúc với mọi người thì nó mới thức dậy. Ví dụ, chúng ta không biết độ tức giận của mình đến đâu nhưng khi bị người khác chọc giận thì mình sẽ chứng kiến được cảm thọ sân hận của mình đến mức độ nào. Còn nếu cứ ở yên, đóng cửa một mình rồi cứ nghĩ mình hết giận nhưng khi ra ngoài thì mới thấy rằng cái giận đó không hết mất hết đi.
Thế nên, khi ở một mình thì tu rất hay và lúc ở trong chúng thì sự tu cũng rất là khéo. Nếu chúng ta thiện xảo trong sự nhận diện ngũ uẩn, tinh anh trong việc xử lý các cảm thọ, cảm xúc và sự mạnh mẽ hùng tráng, hùng cường, hùng lực trong sự tác ý thì ở hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy năm uẩn và nhiếp phục, chế ngự, tác ý, đoạn tận nó. Tuy nhiên, khi mới thực tập thì việc được ở một mình và dành nhiều thời gian ngồi thiền là vô cùng tốt, cũng nhờ vậy mà giai đoạn đầu tu tập được thuần thục, giúp chúng ta thấy rõ năm uẩn, sau đó, khi ra ngoài tiếp xúc nhiều thì mình mới dễ dàng thấy hơn. Bằng không, nếu giai đoạn đầu không thấy kỹ, bị lẫn lộn, bị nhiễu loạn trong pháp, chẳng hạn tưởng nhầm qua hành, thọ nhầm qua thức thì từ lúc đầu đã không rõ pháp, không có sự biện biệt, giãn trạch, trạch pháp một cách rành rõ, phân minh, chính xác thì sau này tu không đạt được kết quả như Đức Phật dạy.
Chính vì thế, ở một mình tu càng tốt, hoặc có duyên ở trong chúng thì tu càng hay, điều quan trọng nhất vẫn là thường xuyên quay về nhận diện, xử lý những thọ, tưởng, hành của mình. “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ – Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm”, cố gắng tu tập, nhận diện và đưa mình về những tâm hiền, tâm an tịnh, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, tâm từ, tâm thương, tâm hiểu, tâm cảm thông, tha thứ và thấu hiểu lẫn nhau.
Như vậy chúng ta đã thực tập sâu sắc về cách trải tâm từ. Chúng ta phải học thuộc lòng, nghe đi nghe lại, nghiền ngẫm để nắm được cách thực tập thì sau này chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong cảm thọ, điều kỳ diệu xuất hiện bên trong cảm xúc và tình thương của chúng ta sẽ được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, quảng đại, rộng lớn và bao la. Không lâu nữa chúng ta sẽ thành công. Kính chúc đại chúng luôn luôn thực tập tâm từ, trải rộng tình thương cho mình cùng với hữu tình, chúng sanh để có được tâm bình an, lắng dịu, an lành.
./.