Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

9 Pháp An Trú Tâm B

2026-03-03 00:56:19
Kinh Nikāya Giảng Giải

9 Pháp An Trú Tâm B

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc177916654 \h 1

II. Pháp an trú tầm PAGEREF _Toc177916655 \h 6

I. Nhắc nhở tu học

Đức Phật dạy người xuất gia khi hội tụ chỉ có hai việc là giữ sự im lặng của bậc Thánh tức là ngồi thiền và thảo luận về chánh pháp. Một người xuất gia chân chánh khi hội tụ với nhau chỉ có hai việc là thiền định và bàn luận pháp, ngoài ra những điều khác không cần nói. Khi học sâu vào sự thực tập rồi sẽ thấy tâm mình đầy kiết sử, khi đã nhắc đến vậy mà vẫn còn nói chuyện riêng thì đó là sự vô tàm vô quý, không biết xấu hổ thì làm sao tu được?

Sự tu học rất thiên nan vạn nan, thật sự rất khó khăn, nếu những cái thô tháo mà chưa để tâm nhiếp phục thì đi đến vi tế là không thể tu được. Giữa lúc có thầy và đại chúng mà còn như vậy thì khi không có Tăng đoàn không biết sẽ thế nào, cho nên Minh Thành không còn gặp mọi người nhiều nữa nên cần cố gắng. Đây là những pháp hành phải đánh đổi bằng xương máu mới có được chứ không phải là những thứ bình thường. Phải nhớ rằng mình là người tu sĩ và người ta gọi mình bằng "thầy", mình phải có cái gì hơn người bình thường thì chữ "thầy" đó mới đúng nghĩa, còn không là rỗng không.

Hiện tại tu sĩ bị mất uy tín rất nhiều, lòng tin của người Phật tử mất rất lớn, nếu những trường Phật học, những học viện đào tạo ra những người tu không đủ đức hạnh thì sau này mình ra làm trụ trì, làm thầy người ta thì mình sẽ truyền dịch bệnh, những con virut của phóng dật, của tham, sân, si, bản ngã, của sự cứng cỏi, khó bảo. Khi học Nikāya sẽ vạch trần những thứ này ra hết, một cái tâm cứng cỏi, ương ngạnh thì làm sao học được Thánh Pháp?

Sự giáo dục của chúng ta hiện giờ rất ưu tư, đa số học về kiến thức, đạo đức từ ngoài đời đến trong chùa bị giảm rất nhiều cho nên những bậc chân tu sẽ vào rừng, vào núi vì người tu mà không chịu tu thì ai còn tu nữa. Một người mang danh là tu mà không chịu tu thì người không tu sẽ như thế nào? Đây là những điều rất chân thành Minh Thành chia sẻ với mọi người, những điều này bây giờ ít được nói, người được gọi là thầy tu mà không tu thì người nào tu đây?

Người được gọi là Đại Đức mà không có đức hạnh thì làm sao làm cho Phật giáo hưng thịnh? Dù số lượng thật đông nhưng không có chất lượng thì cuối cùng là hình thức sáo rỗng không giá trị, thậm chí là hủy hoại đạo pháp, đây là nỗi ưu tư lớn của các bâc tôn đức, Hòa Thượng quyền pháp chủ hay Hòa Thượng lãnh đạo thiền tông đều ưu tư vấn đề này rất nhiều và có tâm sự với Minh Thành, lớp xuất gia trẻ bây giờ không chịu tu, đây là báo động vô cùng nguy hiểm cho Phật giáo trong tương lai.

Chúng ta còn được ngồi bên nhau để đọc những lời kinh nguyên chất có từ 2600 năm trước bằng tình thương, bằng sự thân ái, sự cảm thông, bằng sự tác thành, sự tôn kính, quý trọng với nhau là cực kì hiếm hoi, có khi lần sau dịch bệnh không gặp được, vậy mà chúng ta không biết trân trọng giây phút được ở bên nhau. Mỗi giây phút được gặp nhau là vô cùng quý báu, Minh Thành không kể công nhưng Minh Thành phải đi 500 cây số để gặp nhau trong một tiếng đồng hồ, nhưng khi gặp thì mọi người lại nói chuyện riêng, không chú tâm nghe pháp. Vậy mà nhắc nhở là bản ngã, buồn giận thì làm sao tu? Thành ra đây là lần cuối cùng Minh Thành chia sẻ với quý huynh đệ, lần sau chỉ giảng thôi, nếu không được nữa thì đành thỉnh quý thầy khác giảng.

Minh Thành thật sự rất thương quý huynh đệ bằng cả tấm lòng vì trong thời gian không lâu nữa Minh Thành cũng ẩn tu. Cho nên trước khi ẩn tu Minh Thành muốn gửi cho quý huynh đệ những gì quan trọng trong giáo pháp, sau này quý huynh đệ học phần nhiều là những kiến thức, còn pháp hành từ từ sẽ bị mai một trên thế giới này, ngay cả trong Phật giáo, còn lại những kiến thức, hình thức, còn các bậc hiền Thánh, những bậc hiền trí, những bậc Thánh Tăng cũng không thể làm gì được nếu chúng ta không chịu học.

Phải có tâm cung kính cầu pháp thì mới gặp được bậc chân nhân, mới gặp được những bậc hiền Thánh, gặp được những bậc Thánh đệ tử. Thế giới hôm nay đã lên gần 500 ca nhiễm, chết gần sáu triệu người, trong nước có hơn bốn chục ngàn ca, lúc ra đi là hình hài nhưng trở về là cát bụi, có thể vài ngày sau chúng ta không còn nữa nên cần trân trọng giây phút hiện tại. Trong lòng chúng ta phải khắc khoải, ưu tư vì cha mẹ đang chờ mình, thầy tổ đang hi vọng, những giờ phút được ngồi trong mái trường là lúc đó mình đang thực hiện pháp hành và pháp hành ngay bây giờ là sự cung kính, sự tôn kính, sự lắng nghe, pháp hành ngay bây giờ là một người học trò ngoan hiền, dễ bảo. Đó chính là pháp hành chứ đừng nghĩ pháp hành là cái gì cao siêu, ngay khi là học trò ngoan hiền, dễ nghe dễ bảo, cung kính, tôn trọng các bậc đồng phạm hạnh, các bậc giáo thọ sư là mình thành tựu pháp hành ngay khi mình còn là Tăng sinh.

Minh Thành nói những lời này bằng trái tim, quý huynh đệ lắng nghe rồi chiêm nghiệm, đây không phải là những lời nói bình thường mà nói bằng trái tim, bằng tấm lòng, bằng tinh thương đối với các huynh đệ. Không phải dễ để được cạo đầu đi tu mà cha mẹ phải bấm ruột, dứt ruột đôi ba lần, rơi lệ mới cho mình đi tu, hình ảnh cha mẹ mình rơi lệ khi đồng ý cho mình đi tu không được quên, phải lấy hình ảnh đó làm đề mục thiền quán tu tập. Hình ảnh mình tuôn trào khi từng mảng tóc được cạo rơi xuống đất, những người thân xung quanh chứng kiến cũng xúc động không kém, phải lấy hình ảnh này để thiền quán, lấy hình ảnh khi mình đắp y thọ giới ở giới đàn, khoác chiếc áo giải thoát làm thiền quán.

Mình phải trân trọng, trân quý, trân kính hình ảnh của người tu và mình phải biết quý trọng đời sống cao thượng, thánh thiện của một người xuất gia. Phải biết mình là ai, mình phải đi như thế nào, phải đứng như thế nào, phải ngồi như thế nào, phải cư xử, oai nghi như thế nào, phải có niệm thân vì người tu mà không có niệm thân sẽ như một thây chết, có thây mà không có hồn, đắp y lên mà bận rộn, thả lỏng các căn thì chiếc y đó không có giá trị gì cả, chỉ là một tấm vải thôi, khoác áo nâu sòng này lên thì trong đó phải có tâm tha thiết tăng thượng giới đức, lúc nào trong tâm cũng phải tha thiết, mong mỏi đức hạnh mỗi ngày một tăng trưởng, đó là tăng thượng giới học. Trong lòng lúc nào cũng khắc khoải, lo âu làm sao để càng ngày đạo đức, giới hạnh, đức hạnh phải càng được lớn lên, tăng trưởng lên, đó mới là tâm người tu.

Luôn luôn lúc nào và bất cứ ở đâu cũng mong muốn có thân an tịnh, tâm lắng dịu, hướng đến sự an tịnh của nội tâm, bất cứ lúc nào cũng tập sự an tịnh, lắng dịu, không tháo động, không dao động, không động loạn từ thân đến tâm thì đó là tăng thượng tâm học. Lúc nào trong lòng cũng khao khát, thao thức, ưu tư, cũng cố gắng, nhiệt tình làm cho thân tâm này đi đến sự lắng dịu hoàn toàn các trạo cử và dao động, thân an tịnh, tâm lắng dịu trong cảm giác dễ chịu, ngọt ngào của thiền định thì gọi là tăng thượng tâm học. Phải có tâm mong muốn như vậy, đó là Dục Như Ý Túc, còn không có tâm mong muốn đó thì tu không tiến, năm năm hay mười năm trong chùa cũng y như vậy, thậm chí càng ngày càng tệ. Thuở ban đầu rất dễ thương nhưng ở lâu thì buông lung phóng dật với một tâm bản ngã.

Thật là thương xót thay, đau đớn thay cho một đời sống xuất gia!

Thật là nhục nhã thay!

"Khổ thay, này các Tỳ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm!

An lạc thay, này các Tỳ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!"

(Tương Ưng Bộ kinh, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Trong lòng lúc nào cũng cần phải suy tư, ưu tư, lo lắng tương lai đạo hạnh, giới đức, thiền định của mình, đó mới là người chân tu, thật sự, đó là người có tâm tu, là một thầy tu chân chánh, đó mới là Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh. Còn một người có tâm buông lung phóng dật, không nghĩ gì về giới, định, tuệ, sống theo dục, theo ái, theo bản ngã, vô minh, tập khí, thói quen, sống thả lỏng các căn thì thật là đau khổ thay, thống khổ thay.

Chỉ có học kinh thật nhiều mới biết tác ý, biết giáo dục, biết huấn luyện tâm của mình. Thứ ba là tăng thượng tuệ học nghĩa là luôn thao thức, băn khoăn, ưu tư làm thế nào để tăng trưởng trí tuệ, cái thấy biết của mình trong Thánh pháp, trong sự thật mà Đức Phật đã truyền trao, không còn thấy biết theo phàm phu, thường tình, theo một cái tâm nhỏ hẹp, ngu si, vô minh, dại khờ. Mình thấy chán nản với những cái tâm ngu muội đó, ghét cái tâm đó, mình muốn xả bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ những cái tâm đó.

Mình muốn hướng đến cái tâm của bậc hiền Thánh, muốn hướng đến trí tuệ của bậc thượng nhân, gọi là thượng nhân pháp, bất cứ trong khi ăn, ngủ, ngồi, nằm, thậm chí nửa đêm thức giấc cũng ưu tư làm sao để thành tựu Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát uẩn và Thánh giải thoát tri kiến uẩn, đó là tâm tư của người tu hành chân chánh, tâm tư của bậc hiền trí, tâm tư của bậc Thánh đệ tử, tâm tư của người chân tu.

Phải sanh khởi được những tâm niệm đó, phải tưới tẩm những tâm niệm đó, phải vun vén, nuôi dưỡng những tâm niệm đó, phải làm cho tăng trưởng, phát triển sung mãn trong tâm mình những tâm niệm đó, tăng thượng về giới đức, tăng thượng về tâm an tịnh thiền định, tâm thượng Thánh trí tuệ, tăng thượng sự giải thoát tức là sự thoát ra những tham dục của đời sống này. Mình muốn thoát ra những sự tham muốn mà người đời tham muốn, mình không ưa, không thích, lòng mình lúc nào cũng hướng đến sự viễn ly, rời xa, thoát ra những dục vọng của thế gian, đó là tăng thượng giải thoát uẩn.

Mỗi giờ phải thấy hạnh phúc, hỷ lạc trong pháp. Mỗi tuần, mỗi tháng phải thấy lớn mạnh trong giới, định, tuệ. Mỗi năm đi qua phải thấy mình có chân đứng trong pháp và luật này, có như vậy khi nhớ về cha mẹ sẽ thấy vui "con ra đi con tăng trưởng giới, định, tuệ để đem về báo hiếu cho cha mẹ", khi nhớ về thầy sẽ thấy hoan hỉ "con sẽ đem Thánh trí tuệ về để đền đáp ơn thầy tổ", nhớ về Đàn-na tín thì thì mình hoan hỉ vì mình sẽ đem tâm đại bi, tâm nhúng nhường, khiêm cung như nùi giẻ rách để đền ơn Đàn-na tín thí. Tâm mình sẽ hỷ lạc trong pháp suốt ngày đêm, phải

tu với cái tâm mới thành công, phải có chí hướng như vậy, phải đặt tâm đúng hướng như vậy thì sự tu của mình mới thành tựu, mới đi đến ánh sáng, mới tăng thượng. Còn bây giờ chỉ có việc nói chuyện trong lớp mà phải nhắc từ đầu năm đến cuối năm, qua năm sau vẫn còn nhắc thì đó là sự yếu kém, là cái không đáng.

Mình là những đại nhân, là người lớn nhận thức được sự đau khổ của thế gian này vì sanh, già, bệnh, chết, vì sầu, bi, khổ, ưu, não mà bỏ cha bỏ mẹ đi tu, mình không phải là người tầm thường như lớp mẫu giáo mà chỉ có chuyện nhỏ nhặt như vậy cứ để nhắc hoài. Đối với những pháp tu khác cũng phải như vậy, phải đặt tâm mình ở vị trí cao thượng.

"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng".

(Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Đó là câu kinh Nikāya mà Minh Thành treo ở thiền đường ngay Cổng Trời. Cho nên cần đặt tâm ở cao thượng trong giới, định, tuệ thì mình mới đạt được những pháp thượng nhân, còn mình đặt tâm ở những chỗ bình thường là bằng cấp, địa vị, ngôi chùa thì đó là phàm phu pháp, uổng cho cuộc đời tu.

II. Pháp an trú tầm

Chúng ta trở lại với pháp tu của ngài Xá-lợi-phất. Pháp quán thứ sáu là quán trở thành con của người Chiên-đà-la, đó là giai cấp thấp tận cùng trong xã hội Ấn Độ ngày xưa, giống như bây giờ là con của kẻ ăn mày.

"Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Ngài an trú tâm của ngài là một người thấp kém, hèn hạ nhất, lúc nào cũng nhớ nghĩ như vậy thì tâm ngã mạn sẽ tiêu tan. Người xuất gia mà không nhớ điều này là mất đi mạng căn, phải luôn nhớ mình là kẻ ăn xin. Mình ngồi để một người đáng tuổi bà nội, bà ngoại, đáng tuổi cha mẹ mình quỳ lạy dâng bao thư rồi mình nghĩ là mình tài giỏi, đó là tai họa. Khi người ta lạy mình thì nhất định mình cũng phải chắp tay và cúi đầu xuống, dù những người khác không làm thì mình vẫn chắp tay và cúi đầu xuống đồng thời quán tưởng hình ảnh mình là kẻ ăn xin, quần áo rách rưới, cầm bát chìa ra, còn những người quỳ ở dưới là những thí chủ. Không những trong lúc ngồi trai Tăng mà thường xuyên phải quán tưởng hình ảnh này vì đó là pháp tu của bậc Thánh Tăng, đây là pháp tu của bậc đại trí và ngài được Thế Tôn xác nhận là có khả năng thay thế Đức Như Lai.

"Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:

-- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?

-- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo.

-- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được". (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)

Ngài thường an trú tâm là một kẻ ăn mày, ăn xin, quần áo rách rưới, thấp hèn, hạ liệt. Người xuất gia hiện tại ngày nay được bao nhiêu người thực hành cái này? Có được bao nhiêu chỗ học điều này? Cho nên chúng ta là những người may mắn khi được học cái này, đây là chất liệu thật sự của người xuất gia, nếu quên là bị mất chất, mất gốc. Lúc nào cũng phải nhớ an trú tâm là kẻ ăn mày vì quên là lập tức bản ngã sanh khởi "tôi là thầy" ,"tôi là trụ trì", "tôi là thầy quản chúng"… rồi nói chuyện với giọng ta đây, đó là một sự thất bại, càng có trách nhiệm chừng nào thì càng phải xưng "con" và càng phải khiêm hạ, khiêm tốn chừng đó, lấy đức phục chúng chứ không phải lấy chức quyền để chèn ép người khác.

Phải luôn luôn nhớ mình là kẻ ăn mày, đó là tâm tư của bậc hiền trí, hiền Thánh, nếu quên là một sự thất bại, khi trú vào tâm là kẻ ăn mày thì tâm mình sẽ co lại, hình tướng mình cúi xuống ngoan hiền, tâm an tịnh lắng dịu, tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, tâm hạ thấp xuống và trong tâm mình thường trú hình ảnh quỳ xuống lạy đối với bất kì ai trong cuộc đời này.

Đó là nội dung của bài sám hối diệt ngã trong nghi thức tu học Nikāya và cũng là tinh túy, trái tim của tam tạng kinh điển và là con mắt của mười hai phần giáo, là cốt tủy của Thánh pháp, tức là đập tan bản ngã kiêu căng, ngạo mạn này, là cốt tủy của Thánh trí tuệ. Tu để thành tựu cái này chứ không phải tu để thành một bản ngã to lớn rồi không xem ai ra gì, sư phụ nói cũng không muốn nghe mà còn muốn dạy lại sư phụ, như vậy có tu cả đời cũng chỉ là phàm phu ngu si, vô minh chứ không thể trở thành được bậc hiền Thánh vì pháp của bậc hiền Thánh là pháp diệt ngã, pháp diệt tận cái tôi, cái ta.

Hôm nay mình mới biết được bí mật của ngài Xá-lợi-phất, trước nay mình chỉ nghe nói ngài là trí huệ đệ nhất, tướng quân chánh pháp, chí thượng thanh văn, mình nghe thì thích những danh từ như vậy nhưng không biết tại sao và hôm nay chúng ta được biết tại sao ngài lại được gọi như vậy, đây là những pháp mà ngài tu tập. Tu đi rồi sẽ thấy sự tuyệt diệu, rồi cuộc đời chúng ta sẽ đổi đời, xác lập kỉ lục, tâm mình sẽ hiền ngoan, dù người ta có chửi mắng thì mình cũng không ganh tỵ, sân hận, đố kỵ, tâm ngọt ngào dễ chịu, trải một tình thương bao trùm đối phương mà mình đang sân hận, đó là người đáng thương xót.

Họ đang bị lửa đốt cháy cảm xúc, cảm thọ, họ đang bị bản ngã hành hạ, khống chế, họ đang bị vô minh bao phủ, trùm lấy. Họ là kẻ đui mù, điên khùng, đáng thương, kẻ bị hại và mình thương họ chứ không có chút gì sân hận, tức giận người đó vì tâm mình an trú vào nùi giẻ rách, vào kẻ ăn xin thì vênh váo với ai, kiêu căng, ngạo mạn với ai, hơn thua với ai.

Mỗi ngày ở Linh Quy Pháp Ấn thường xuyên đọc tụng và thiền quán những pháp này, không tụng kinh thông thường mà thường đọc tụng những cái này, mỗi thời khóa tu và mỗi ngày thường xuyên đọc tụng những cái này. Không phải tu để thành bậc chí cao vô thượng mà tu để thành cái nùi giẻ rách, tu để thành kẻ ăn xin, tu để đập tan, diệt tận bản ngã kiêu căng, ngạo mạn này, đó là lối tu của bậc Thánh, lối tu của bậc đại trí, Thánh pháp, Thánh đạo lộ, Thánh trí tuệ, Thánh tác ý. Những bài này là bài thi và cũng là cốt tủy của tất cả pháp hành trong kinh Nikāya.

Con không mong các thầy làm bài thi được điểm cao mà con chỉ mong các thầy khắc sâu những hình ảnh, cảm thọ này vào tâm để trở thành một người xuất gia chân chánh. Các thầy hãy nhớ kĩ những lời hôm nay con nói, đệ tử - chú tiểu Thích Minh Thành này, cái nùi giẻ rách đang ngồi đây, kẻ ăn mày đang ngồi đây, không phải là một thầy giáo thọ, không phải là một người thầy giáo mà là kẻ ăn mày đang ngồi đây và chắp tay cúi đầu trông mong các thầy an trú tâm mình vào tâm của bậc hiền Thánh để đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu cho các thầy.

"Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Ngài an trú tâm ngài giống như con bò bị cưa hai sừng hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, không hại một ai, ngài an trú trong một cái tâm hiền hậu, hiền lương, hiền từ của bậc hiền Thánh. Hai cái sừng của con bò đực là vũ khí sắc bén nhất vậy mà giờ bị cưa mất hết, không còn cái gì để gây hại cho đối phương, không còn đâm hay húc hay gây ra sự tranh đấu với những con bò khác, trở thành hiền lương, hiền hòa, khéo huấn luyện, dù có đi từ ngã tư này đến ngã tư khác cũng không thể làm hại ai.

Một cái tâm thuần hóa, thuần thục, thuần hậu, thuần thành trong cái tâm hiền, tâm từ của bậc Thánh nhân, đó là cái tâm của ngài Xá-lợi-phất, tức là những cảm thọ sân hận, tức giận, hơn thua là hoàn toàn bị diệt tận trong tâm ngài, không còn những cảm giác, suy nghĩ đấu tranh, cạnh tranh với người khác, ngài không còn ý tưởng hơn thua, giành giật với người khác, ngài hoàn toàn không còn bất cứ thọ; tưởng; hành; thức nào hại người khác. Tâm ngài trở thành hiền thiện, mát mẻ, nguội lạnh, ngọt ngào, không còn bất cứ khả năng nào để ngài xâm hại người khác.

Đó là ngài trú trong từ vô lượng tâm, ngài thường trú trong đó trong bất cứ lúc nào, trong cả ngày lẫn đêm, ngài chứng đắc được tứ vô lượng tâm, tâm từ của ngài dù có bị người khác đâm chém chảy máu thì ngài cũng không sân hận, một chút sân hận cũng không khởi thì mới gọi là chứng đắc từ vô lượng tâm của bậc Thánh, đó gọi là vô hại, bất hại. Còn mình chưa gì mà đã sân hận, bức xúc, trong tâm còn rất hung dữ, nhìn mặt nghĩ hiền nhưng chạm vào rồi mới biết chuyện, trong đó là lửa cháy, súng đạn, gươm đao, những cảm thọ sân hận, ác hại.

Chỉ có nhận diện ngũ uẩn, nhận diện các cảm thọ, nhận diện Tứ Niệm Xứ thì chúng ta mới biết được sự cấu nhiễm của tâm là khủng khiếp và ghê gớm, phải có cái nhìn chân chánh về thân tâm thì mới phát hiện ra sự thật kinh hoàng của nội tâm, còn nhìn bên ngoài thì vĩnh viễn là phàm phu.

Trong tâm chúng ta đầy rẫy dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Một câu góp ý bằng tình thương mà trong tâm vẫn thấy khó chịu, bực bội chứ đừng nói gì góp ý bằng tâm sân, đó là tâm còn hung dữ, tâm chưa hiền hòa giống như đất, nước, gió, lửa rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

Nguyện tâm luôn nhớ thân hôi thối

Có gì để vui thích, khoe khoang

Nguyện tâm luôn nhớ thân lủng lỗ

Có gì ngoài tủi hổ, ê chề.

Chán chê, một cái thân lủng lỗ

Rỉ chảy nhơ hôi suốt cả ngày,

Có gì đáng để khoe, để nói

Có gì để ngã mạn, ta đây.

(Nghi thức tu học Nikāya)

Cái thân này đầy bất tịnh, lủng lỗ, rỉ chảy ra những thứ bất tịnh. Cái thân lúc nào trong ở trong trạng thái lo âu, xấu hổ, bây giờ nói chuyện phải che khẩu trang, lỡ tiếp xúc rồi lo lắng, bất an, sợ hãi. Mang cái thân đầy rẫy những thứ như vậy mà không thấy không biết, cứ nghĩ thân này bền đẹp, chắc chắn, còn hoài, đó là tâm điên đảo, kiến điên đảo, tưởng điên đảo, lỡ bài tiết ra mà đi không kịp thì xấu hổ vô cùng. Thân lủng lỗ bài tiết ra những thứ xấu hổ, dơ bẩn nhưng bây giờ nói mình hôi thối là giận, bản ngã sanh khởi, vô minh nên không chấp nhận sự thật, còn khen đẹp, trắng ra thì hớn hở, vui mừng, đó là thích lời ngon tiếng ngọt, thích bị gạt gẫm, thích dụ ngọt để rồi khổ, còn nói sự thật thì tức giận, bản ngã.

Đó chính là Khổ Thánh Đế. Ở trên là nước miếng, ráy rai, gỉ mũi, ở dưới là máu mủ, mồ hôi, phân, nước tiểu, đây là sự thật nhưng nói ra thì ai cũng thấy ghê, đó là sự thật nhưng mình chối bỏ sự thật thì mình sống trong vô minh. Bậc Thánh giả là phơi bày những gì bị che kín, đen đèm sáng vào trong bóng tối để cho người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, đó là Thánh trí tuệ. Cái bị che kín chính là thân lủng lỗ đầy bất tịnh này nhưng mình lại đam mê, thèm thuồng trong đó, say đắm, đau khổ, giành giật, đâm chém trong đó, các bậc hiền Thánh thương xót chúng ta vô cùng vô tận.

Nếu chúng ta không thực tập những pháp này thì làm sao mình loại bỏ được vô minh và khát ái? Cho nên đây là những pháp thiền quán, chín đề mục thiền quán này hằng ngày phải được thực tập, mình tâm đắc đề mục nào thì mình lấy đề mục đó làm chính, còn những cái khác là phụ. Cần quán tưởng, suy nghĩ, nhớ nghĩ đề mục đó liên tục để tẩy rửa những cảm giác vô minh, tham ái bên trong, xóa bóng đêm trong tâm mình, tẩy sạch những sự si ám bên trong.

Đây là chín pháp quán của bậc đại Thánh được tôn xưng là trí tuệ đệ nhất trong hàng Thánh chúng, tướng quân chánh pháp, chí thượng thanh văn, thượng thủ của Thánh hiền. Ngài Mục-kiền-liên và ngài Xá-lợi-phất còn được gọi là sanh mẫu và dưỡng mẫu của Thánh chúng, tức là mẹ đẻ và mẹ nuôi của các tất cả các bậc hiền Thánh lúc Thế Tôn còn tại thế. Ngài tu tập chín pháp đó thường xuyên và liên tục suốt ngày đêm, an trú và thiền quán, chiêm nghiệm và suy tư, nghiền ngẫm và quán xét.

Hôm nay Minh Thành đem hết tấm lòng để gửi đến các thầy trong ngày đầu năm, hiện tại thời cuộc vô thường, chưa chắc gì chúng ta còn gặp nhau nữa cho nên mỗi lần gặp nhau là bằng cả tấm lòng. Chúng ta cần phải cố gắng rất nhiều, nhất là trong thời buổi này rất thuận lợi cho mình tu tập, cho mình độc cư, cách ly là ở một mình để thực hành những pháp này. Mình cần cố gắng học, nghiền ngẫm, tu tập để có được lợi ích an lạc dài lâu, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Như vậy đề thi là Tăng sinh hãy trình bày chín pháp quán của tôn giả Xá-lợi-phất trong bài kinh Sau khi an cư, Tăng Chi Bộ kinh, tập IV.

./.