Khổ Thánh Trí 10 - Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
KHỔ THÁNH TRÍ 10
Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 2
Thích Minh Thành
Trong thời điểm này rất thích hợp để chúng ta nghiền ngẫm, quán chiếu về sự thật của khổ trên cuộc đời này, đây là cơ hội để chúng ta thấy, nghe, nhận thức, cảm xúc, cảm thọ một cách sâu sắc về bản chất, sự đau khổ trong đời sống này. Cách đây vài hôm các cô của Minh Thành gọi lên khóc sướt mướt báo rằng xe cấp cứu đến đưa dượng Tư đi cách ly tập trung, vợ khóc, con khóc, cháu khóc mà không đi theo được, dượng chỉ ở trên lầu rất ít tiếp xúc người khác nhưng bất ngờ xét nghiệm lại nhiễm bệnh. Minh Thành có gọi hai lần để khuyến khích, nhắc nhở dượng nhớ chiêm nghiệm về pháp, nhớ tư duy, nhớ nghiền ngẫm thân thể này là già, bệnh, chết, bản chất của nó là đau khổ, thường niệm câu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", nếu nghiệp quả của mình đến, thọ mạng mình hết thì mình hãy tác ý từ bỏ, giống như chiếc xe cũ kỹ đã chạy 80 năm nên giờ đã rệu rã, mục nát thì hãy từ bỏ.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
Niệm sự an tịnh lắng dịu, niệm sự từ bỏ, buông xả. Con gái của dượng khóc nhiều vì lo lắng, sợ hãi, bất an, vợ cũng lên hàng 80, tóc bạc phơ. Đó là những ngày trước, thêm câu chuyện khác là có một cô cũng 80 tuổi, bất thình lình phải đi cách ly tập trung vì nhiễm bệnh, cô có một người cháu lo cho từ nhỏ, cách đây vài tháng hai cô cháu giận nhau không nhìn mặt rồi cuối cùng cô đi cách ly một mình không có ai lo lắng, cô này đem hết cả đời lo cho cháu vì cô không có con, giao hết gia tài, tiền của nhưng đến khi đối diện sống chết cô chỉ có một mình. Chúng ta thường nghe, thường học bản chất của đời sống này là vô tình, vô ngã, người thân trong gia đình nhiễm bệnh thì đem bỏ ngoài đường luôn, nằm ngoài mái hiên, ven đường vì người trong nhà sợ lây.
Nhìn khắp mọi nơi để thấy sự thật trước mắt mình, bên tai của mình, hôm trước có một Phật tử tâm sự với những dòng nước mắt, người này quen với một cô gái, chỉ mới quen chứ chưa thương sâu nặng gì, cô gái lấy dao cắt mạch máu tự vẫn, nếu anh không đồng ý thương thì cô sẽ chết. Anh này vì thương hại, vì tội nghiệp nên cưới cô, sau khi cưới mới thấy cô này không thương anh thật sự, xảy ra rất nhiều chuyện lăng nhăng, phá sạch tài sản tan nhà nát cửa, thiếu nợ ra đường ở. Cậu này muốn đi tu nhưng có mấy đứa con rồi, Minh Thành khuyên cậu hãy bình tĩnh và từ từ, tất cả cũng chỉ vì thương hại cô này, khi về sống chung mới biết cái đó cũng chỉ là vở tuồng của cô. Đức Phật dạy phải nhìn sâu vào bản chất của thế gian này mới thấy được cuối cùng thì đau khổ, sầu, bi, ưu, não là do chính tự thân mình phải chịu, dù có con cháu, vợ chồng, anh em nhưng khi đối diện với khổ đau, bệnh tật, chết chóc thì vẫn phải tự mình gánh chịu, nếu không có cái nhìn chính xác vào đời sống này, vào những cảm xúc, suy tư, tư tưởng thì mình sẽ đau khổ dài dài, bất an triền miên, đi trong vòng luẩn quẩn không có ngày chấm dứt.
Chúng ta cần chiêm nghiệm sâu sắc ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì? Chúng ta sanh ra trên đời này để làm gì? Mục đích thật sự của hành trình nhân sinh này là gì? Bao trùm mọi nơi là những pháp ác, đem lại sự bất an, sự lo lắng, sợ hãi, đau khổ. Trên thế giới mở ra những cuộc họp về sự biến đổi của khí hậu toàn cầu, nếu không hành động nhanh và kịp thời thì đồng hồ tận thế sẽ điểm giờ không còn lâu nữa. Sóng thần, lũ lụt, bão tố, động đất, sạt lở, ngập mặn, dịch bệnh, thiên tai, những thảm họa kép, bên trong lòng hữu tình chúng sanh là đầy rẫy dục vọng, ác tham, sân hận, những sự vô minh, bản ngã khủng khiếp, đến ngay cả người thân trong gia đình cũng phải đề phòng nhau, cũng phải lo sợ nhau thì bây giờ tin được ai. Đạo đức suy đồi, sa sút trầm trọng, báo động trên toàn thế giới, đây quả thật là tiếng đại hồng chung của vũ trụ đang vang vọng lên to lớn khắp hành tinh này để cho những chúng sanh, nhân loại, hữu tình thấy, nghe, cảm xúc, nhận thức để có sự thức tỉnh, thức giấc kịp thời, nếu không tự mình sẽ giết hại chính mình, hại người thân, hại đồng loại.
Chính thời điểm là lúc lời dạy của Đức Phật chói sáng, bừng sáng hơn bao giờ hết, đây là con đường thoát khổ cho chúng sanh, may mắn và hạnh phúc cho những ai biết nghe, biết tiếp nhận, biết giữ gìn, tu tập, biết nỗ lực, cố gắng, tinh tấn hành trì, đó là con đường an ổn độc nhất để chúng ta bước ra, chạy ra, thoát ra khỏi biển lửa này, biển khổ này, biển đầy rẫy sự bất an, lo lắng, sợ hãi. Những sự kiện mình nghe, mình thấy làm mình bàng hoàng, thanh niên trẻ mười mấy tuổi không có tiền trả tiền phòng trọ nên rủ bạn về giết mẹ mình chết để lấy tiền trả tiền phòng trọ, thật sự là khủng khiếp về đạo đức con người trong thời đại ngày nay, nếu cứ tiếp tục như vậy thì càng ngày sẽ càng sụp đổ, đúng như những gì Đức Phật đã nói cách đây 2600 năm, con người sẽ sát hại lẫn nhau thậm chí đến cả người thân chính mình. Chúng ta lấy những điều này để chiêm nghiệm, suy tư thật nhiều, thật sâu sắc để chúng ta có sự nhàm chán, lo lắng, để chúng ta có hướng rời ra, thoát ra, người trí là người phải truy cơ, biết trước sự việc sẽ xảy ra để có sự chuẩn bị, chính điều đó mà chúng ta bỏ phố thị, thành thị để về núi rừng, quy ẩn sơn lâm, ẩn cư nơi núi rừng trong sự lắng dịu của thân tâm, trong sự yên tịnh của hoàn cảnh, trong những buổi ngồi yên với một cái tâm trong sáng để soi rọi tất cả phương diện, khía cạnh của đời sống này, của nhân sinh, kiếp người này, của trái đất, hành tinh, thế giới này. Càng đọc, càng suy tư những lời của Đức Phật thì càng tỏ sáng sự thật tối thượng, vi diệu, chúng ta hãy nghiền ngẫm để thể nhập.
"- Thành tựu với sáu pháp, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Thế nào là sáu?
Với dục tầm, với sân tầm, với hại tầm, với dục tưởng, với sân tưởng, với hại tưởng. Thành tựu với sáu pháp này, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VIII. Phẩm A-La-Hán, (I). Khổ)
Ai có đầy đủ sáu pháp này thì ngay trong hiện tại sống trong đau khổ, sống trong tức giận, sống trong buồn lo, nóng bức. Sau khi chết đi thì địa ngục, cô hồn, quỷ đói chờ đợi, những đời sống của thú vật, súc sanh chời đợi người đó. Đó là những suy tư, tìm kiếm về dục vọng, là những suy tư, tìm kiếm về sân hận, tức giận, là những tư tưởng, hướng tâm về việc hại người khác, gọi là dục tầm, với sân tầm, với hại tầm, với dục tưởng, với sân tưởng, với hại tưởng. Đó là những suy tư, nghĩ tưởng về tham vọng, dục vọng, tham dục, tham muốn, những sự suy tư, nghĩ tưởng về sự tức giận, thù hận, sân hận, những suy tư, nghĩ tưởng về ác ý, hại người, gây sự đau khổ cho người khác, danh từ chuyên môn gọi là dục tầm, sân tầm, hại tầm và dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, danh từ hiện tại là những suy tư, nghĩ tưởng về dục vọng, những suy tư, nghĩ tưởng về nóng giận, những suy tư, nghĩ tưởng ác ý, hại người.
Ai có đầy đủ sáu tư tưởng này thì người đó ngay trong hiện tại sẽ đau khổ, trong giận hờn, buồn lo, nóng bức vì trong tâm cứ đòi hỏi, thúc giục, khao khát, thèm thuồng, uống bao nhiêu vẫn không đủ, ăn bao nhiêu vẫn thấy thiếu, hưởng thụ bao nhiêu vẫn không thỏa mãn, lúc nào người này cũng sống trong tâm nghèo nàn, thiếu thốn, túng thiếu, sống trong tâm khát khao, thèm muốn, Đức Thế Tôn gọi là khát ái. Nội tâm người này đầy rẫy sự đau khổ, lúc nào cũng thấy thiếu, lúc nào cũng thấy muốn thêm nữa, ăn rồi cũng đói, uống rồi vẫn khát, lúc nào cũng sống trong suy tư, nghĩ tưởng về dục thì đó là nội tâm thiếu thốn, nghèo đói, khát ái.
Khi người này bị tham dục quấy rối thì họ rất bức xúc, khó chịu, dù cho làm bất cứ cái gì cũng thấy bứt rứt, khao khát cho nên người này sống trong đau khổ, sống trong sự nghèo đói của tinh thần.
Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết:
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham,
Bình yên, an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền
Thân bức xúc không yên ổn được,
Đứng, đi, ngồi, nằm rất bất an
Giờ đây xả dục, ly tham
Nên thân tâm được bình an, yên lành.
Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui, thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Trong sự tu tập của chúng ta thì tác ý hỷ lạc để trú trong sơ thiền rất quan trọng vì cái lạc này phàm phu không có, chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử tu tập đúng chánh pháp biết tác ý thì hỷ lạc mới sanh khởi. Còn tu không đúng chánh pháp, không có người hướng dẫn thì tu đến chết cũng không biết được sơ thiền. Thậm chí ngay đó là sơ thiền cũng không biết, chỉ biết có trạng thái dễ chịu, nhẹ nhàng chứ không biết đó là trạng thái của sơ thiền, chính là ly dục sanh hỷ lạc. Đó là tâm không khao khát, thèm muốn, tâm xả ly tham dục, tâm không tìm kiếm những sắc; thanh; hương; vị; xúc, tâm này thoát ra, rời xa năm dục trưởng dưỡng nên vui. Còn chúng sanh chỉ biết vui sướng trong năm dục trưởng dưỡng, giống như người bị cùi hơ vào hố than hừng nhưng lại thấy vui thích trong đó vì sướng, đã ngứa. Thế Tôn nói chúng sanh sống trong dục thì họ chỉ thỏa mãn, thích thú trong năm dục trưởng dưỡng đó, tức là sắc đẹp, mùi vị, tiếng hay, xúc chạm.
Thế Tôn nói Ngài có cái vui cao thượng, thánh thiện hơn, cái vui trong sạch hơn, Ngài không ưa thích cái vui thấp hèn, hạ liệt đó cho nên người tu muốn tiến sâu thì phải thường tác ý và an trú trong thiền thứ nhất, nếu có được điều này thì nhìn dung sắc sẽ biết được ngay, nếu không có thì nhìn sẽ tiều tụy, thiếu thốn. Vua Ba- tư-nặc nói người ở trong hoàng cung thưởng thức biết bao sơn hài hải vị nhưng khi nhìn vị Tỳ-kheo và Đức Phật có dung sắc thù diệu dù các Ngài ăn một ngày chỉ có một bữa, ở dưới gốc cây, lại còn đi khất thực nhưng thần thái lại dung dung, thư thái. Các vị Tỳ-kheo trả lời rằng quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, các Ngài an trú trong giây phút hiện tại.
"Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây".
(Trung Bộ Kinh, 133. Kinh Ðại Ca-chiên-diên Nhất dạ hiền giả)
Phàm phu thường tiếc nuối quá khứ và mong ngóng tương lai, giống như cây lao héo úa, cứ tiếc nuối dĩ vãng, kí ức, kỉ niệm của quá khứ hoặc là tưởng mơ, ao ước, mong chờ, hi vọng trong tương lai, còn giây phút hiện tại thì lãng quên, không thấy không biết thực tại, không cảm nhận được sự thật trong giây phút hiện tại rồi sống trong khổ não, bất an. Nhưng trong tâm này ngoài dục ra còn có sân hận, bức xúc, hận thù, ganh tỵ, giận rồi phải nghĩ cách làm hại, làm khổ người ta, như vậy là hiện tại sống trong đau khổ, nóng bức, buồn lo, nóng bức là do sân, buồn lo là tham mà không được, trong nội tâm là cả một bãi chiến trường, nhắm mắt là địa ngục chờ đợi, những đời sống của ngạ quỷ, cô hồn, súc sanh, thú vật chờ đợi, ngoài đời hở chút là đâm chém, giết hại nhau thì đều là tam đồ ác đạo chờ đợi, ngay trong hiện tại chịu án tử hình hoặc chung thân thì đó cũng đã là địa ngục, nhắm mắt thì đi xuống cảnh giới thật sự của địa ngục vì chỉ có nơi đó mới tương ứng với tâm ác, tâm sân hận đó. Đó là sáu pháp đưa đến khổ ngay trong hiện tại và sau khi chết.
"Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú.
Với xuất ly tầm, với vô sân tầm, với bất hại tầm, với xuất ly tưởng, với vô sân tưởng, với bất hại tưởng. Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VIII. Phẩm A-La-Hán, (I). Khổ)
Thành tựu sáu pháp này ngay trong hiện tại được an vui, hòa đồng, sống được bình an, an yên, sống được mát mẻ, được thanh lương, nhẹ nhàng, an lành, sau khi chết thì đỉnh cao của loài người và phước báo chờ đợi, thiên giới chờ đợi. Sáu pháp đó là một tâm hướng về sự thoát ra, cái tâm hướng đến không giận, hướng đến sự bất hại, tức là sự suy tư, suy nghĩ về sự thoát ra, không giận bất kì ai cũng không hại bất kì ai, sống với tâm từ, tâm tha thứ, bao dung, độ lượng, tâm thương yêu, không làm hại bất kì chúng sanh hữu tình nào. Thành tựu sáu pháp này sẽ sống không nóng bức, ưu não mà sống với sự thanh lương, hiền hòa, hạnh phúc, sau khi chết thì chờ đợi là đỉnh cao phước báo của loài người, chờ đợi là đỉnh cao phước báo của cõi trời, chờ đợi là con đường lành, con đường thiện, con đường an vui.
II.
Biết rõ cuộc đời này là khổ, biết rõ nguyên nhân của khổ để làm gì?
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii
Lúc bấy giờ, nhiều Tỳ-kheo sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến các Tỳ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo:
-- Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
-- Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), I. Ða Số)
Thế Tôn đã nói các dục vọng, sắc đẹp, tiếng hay, mùi vị, những sự tiếp xúc đụng chạm nam nữ, ái dục là những thứ bị thời gian chi phối. Sắc đẹp đó cũng sẽ bị tàn phai theo năm tháng, sắc đẹp đó rồi cũng đổi thay tình cảm, rồi cũng có ngày thương thành giận, yêu thành hận, sự gần gũi sẽ trở thành sự chia ly, sự tươi thắm sẽ trở thành héo tàn, đẹp đẽ sẽ thành già xấu, sẽ bị thời gian chi phối. Trong các dục đó là thứ đổi thay, là thứ vô thường, trong đó có rất nhiều nước mắt, máu, là biết bao tâm tư, suy tính, lo âu, biết bao sự dối trá, mưu mô để có được những thứ mà mình tham muốn, trong tình cảm nam nữ cũng có biết bao tự toan tính chứ đừng nói gì đến chuyện kinh doanh, địa vị. Có rất nhiều sự lo lắng, lo toan, lo buồn để có được đối tượng tham muốn, có biết bao toan tính, suy tư, nghĩ ngợi, biết bao sự đầu tư vào đó, thậm chí phải đánh đổi nhiều thứ, danh dự, tài sản, tiếng tăm nhưng chưa chắc có được.
Các dục bị thời gian chi phối có nghĩa là vô thường, những lời nói ngọt ngào, yêu thương kia sẽ bị thời gian biến đổi. Khi chưa về chung nhà thì ngọt ngào, dễ thương, đến khi về chung nhà thì ngọt ngào trở thành đắng cay, các dục ở đây chính là năm dục trưởng dưỡng, năm dục này sẽ bị thời gian chi phối trở thành vô thường. Các dục ở đây bao gồm cả chủ thể là những suy nghĩ tham dục, tham muốn và những đối tượng tham dục, tham muốn đó. Suy nghĩ tham dục đó sẽ thay đổi theo thời gian, lúc đầu cho rằng người này đẹp nhưng sau đó lại nghĩ người kia mới đẹp, lúc đầu nghĩ rằng món đồ này đẹp nhưng sau đó lại thích món đồ khác. Cho nên các dục này bị các duyên làm cho thay đổi vì vậy sở thích sẽ thay đổi vì tham dục không bao giờ được thỏa mãn, không bao giờ thấy đủ cho nên điều đau khổ là bất toại nguyện, không vừa lòng vì thế lúc nào cũng nằm trong khổ. Chữ “khổ” trong tiếng Pāli được giải thích là bất toại nguyện, lúc nào cũng không vừa lòng, dù cho được đi nữa cũng khổ vì không thấy thỏa mãn, đây là căn nguyên sâu xa của khổ.
Lúc chưa cưới thì muốn cưới cho được, nghĩ rằng lấy được người đó là hạnh phúc nhất, nhưng ở một thời gian là chán nản, muốn tự do hoặc muốn lấy người khác, có được người này lại muốn có thêm người khác nữa, cứ như vậy hoài, xe cộ, đất đai, tiền bạc, nhà cửa cũng vậy, luôn luôn thiếu thốn, luôn luôn đòi hỏi cho nên ở trong khổ triền miên. Thế Tôn gọi đó là khát ái và đây chính là bản chất của khổ, dù cho ở trên đống vàng cũng không thấy hài lòng, dù cho có trăm ngàn cung tần mỹ nữ cũng không thấy đủ, dù cho đất đai trải dài ngàn vạn dặm cũng muốn chiếm đất nước khác, không bao giờ thấy đầy đủ là bản chất của tham dục, tham ái cho nên Thế Tôn mới dùng từ khát ái, luôn luôn đòi hỏi, thèm khát. Vì chạy theo tiếng nói dễ thương đó mà có biết bao đau khổ, vì chạy theo nụ cười khả ái mà cả đời bị xiềng xích, vì chạy theo những đồng tiền đó mà huynh đệ tương tàn, vì chạy theo tiếp xúc xác thịt mà vợ chồng phân ly, con cái khổ sở, cha mẹ buồn đau trong nước mắt.
Thế Tôn ra đời là hướng dẫn chúng sanh sống ly dục, chỉ có viễn ly các dục vọng thì mới có sự bình an, hạnh phúc thật sự, phải thấy dục là hố than hừng, dục là tai họa, dục là mũi tên, là gai nhọn, là kẻ giết người, là thuốc độc để sợ hãi, tránh xa nó ra, hướng đến từ bỏ, xả ly thì đời sống đó mới là đời sống ngay hiện tại, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, đó chính là thực tại, thân đâu thì tâm đó, tâm an tịnh lắng dịu, ngọt ngào ngay trong giây phút hiện tại, ngay tại chỗ đang ngồi, không tìm kiếm bất cứ một cái gì trên cuộc đời này nữa, hoàn toàn chấp nhận trong giây phút hiện tại này.
Rõ biết trước mặt, tâm tỉnh sáng, mỗi hơi thở trở về cảm nhận toàn thân, tỉnh giác trong từng suy nghĩ, tư tưởng, an tịnh và lắng dịu, ngọt ngào ngay trong giây phút này.
Hiện tại không ái dục
Hiện tại không giận sân
Hiện tại không hôn ám
Hiện tại không lỗi lầm
Hiện tại không nghi vấn
Hiện tại thật bình an...
Tâm không dục, không ái
Tâm không giận, không hờn
Thân tâm không bức xúc
Tự chủ và bình an...
Tâm yên, thân an ổn
Thân tâm thật nhẹ nhàng
Thân tâm thật an lạc
Thân tâm dễ chịu thay...
Không sân, dễ chịu thật
Không dục, dễ chịu thật
Không ái, dễ chịu thật
Không mê, dễ chịu thật
Không lỗi, dễ chịu thật
Không nghi, dễ chịu thật.
Bình yên, dễ chịu thật
An tịnh, dễ chịu thật
Ngồi yên, dễ chịu thật
Tỉnh giác, dễ chịu thật
Tâm yên, dễ chịu thật
Thân yên, dễ chịu thật
Lặng yên, dễ chịu thật
Cảm giác dễ chịu thật
Không tham, dễ chịu thật
Không sân, dễ chịu thật.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta vừa thực tập hiện tại lạc trú, an trú trong giây phút hiện tại để có bình an, niềm vui, sự hỷ lạc cho nên vị Tỳ-kheo nói rằng "pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu", an lạc trong giây phút hiện tại khi tâm không có năm triền cái dục tham, sân hận, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi, không có năm thứ này che đậy nên tâm được an yên, an vui, an tịnh.
"Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi ra đi.
-- Này các Tỳ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.
Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên bài kệ:
Ai thấy rõ khổ đau,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng các dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), I. Ða Số)
Người thật sự thấy biết đau khổ và nguyên nhân sanh ra đau khổ thì người đó sẽ không có khuynh hướng chạy theo các dục, còn nói rằng đã thấy khổ nhưng vẫn chạy theo các dục thì cái thấy của mình chưa đầy đủ, chưa chín muồi, chỉ mới thấy đôi phần, nếu thấy thật sự, biết thật sự thì tâm mình sẽ không chạy theo các dục đó nữa vì đã biết "các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng nhiều hơn". Mình không muốn tìm khổ đau, mình không muốn tìm tai họa cho nên mình sẽ không có khuynh hướng chạy theo các dục.
Sau khi biết được chỗ dựa của tái sanh, chính cái đó làm mình tái sanh, làm cho mình sanh ra nên mới có già, bệnh, chết, làm cho dòng sanh tử luân hồi tiếp diễn thì mình không tìm kiếm nó nữa. Chỗ dựa của tái sanh chính là ái dục, tức là yêu thích năm dục trưởng dưỡng, yêu thích trong tứ đại năm uẩn, đó là nguyên nhân tiếp tục có mặt ở đời sau, tiếp tục có mặt trong dòng sống chết luân hồi này.
./.
KHỔ THÁNH TRÍ 10
Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 2
Thích Minh Thành
Trong thời điểm này rất thích hợp để chúng ta nghiền ngẫm, quán chiếu về sự thật của khổ trên cuộc đời này, đây là cơ hội để chúng ta thấy, nghe, nhận thức, cảm xúc, cảm thọ một cách sâu sắc về bản chất, sự đau khổ trong đời sống này. Cách đây vài hôm các cô của Minh Thành gọi lên khóc sướt mướt báo rằng xe cấp cứu đến đưa dượng Tư đi cách ly tập trung, vợ khóc, con khóc, cháu khóc mà không đi theo được, dượng chỉ ở trên lầu rất ít tiếp xúc người khác nhưng bất ngờ xét nghiệm lại nhiễm bệnh. Minh Thành có gọi hai lần để khuyến khích, nhắc nhở dượng nhớ chiêm nghiệm về pháp, nhớ tư duy, nhớ nghiền ngẫm thân thể này là già, bệnh, chết, bản chất của nó là đau khổ, thường niệm câu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", nếu nghiệp quả của mình đến, thọ mạng mình hết thì mình hãy tác ý từ bỏ, giống như chiếc xe cũ kỹ đã chạy 80 năm nên giờ đã rệu rã, mục nát thì hãy từ bỏ.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
Niệm sự an tịnh lắng dịu, niệm sự từ bỏ, buông xả. Con gái của dượng khóc nhiều vì lo lắng, sợ hãi, bất an, vợ cũng lên hàng 80, tóc bạc phơ. Đó là những ngày trước, thêm câu chuyện khác là có một cô cũng 80 tuổi, bất thình lình phải đi cách ly tập trung vì nhiễm bệnh, cô có một người cháu lo cho từ nhỏ, cách đây vài tháng hai cô cháu giận nhau không nhìn mặt rồi cuối cùng cô đi cách ly một mình không có ai lo lắng, cô này đem hết cả đời lo cho cháu vì cô không có con, giao hết gia tài, tiền của nhưng đến khi đối diện sống chết cô chỉ có một mình. Chúng ta thường nghe, thường học bản chất của đời sống này là vô tình, vô ngã, người thân trong gia đình nhiễm bệnh thì đem bỏ ngoài đường luôn, nằm ngoài mái hiên, ven đường vì người trong nhà sợ lây.
Nhìn khắp mọi nơi để thấy sự thật trước mắt mình, bên tai của mình, hôm trước có một Phật tử tâm sự với những dòng nước mắt, người này quen với một cô gái, chỉ mới quen chứ chưa thương sâu nặng gì, cô gái lấy dao cắt mạch máu tự vẫn, nếu anh không đồng ý thương thì cô sẽ chết. Anh này vì thương hại, vì tội nghiệp nên cưới cô, sau khi cưới mới thấy cô này không thương anh thật sự, xảy ra rất nhiều chuyện lăng nhăng, phá sạch tài sản tan nhà nát cửa, thiếu nợ ra đường ở. Cậu này muốn đi tu nhưng có mấy đứa con rồi, Minh Thành khuyên cậu hãy bình tĩnh và từ từ, tất cả cũng chỉ vì thương hại cô này, khi về sống chung mới biết cái đó cũng chỉ là vở tuồng của cô. Đức Phật dạy phải nhìn sâu vào bản chất của thế gian này mới thấy được cuối cùng thì đau khổ, sầu, bi, ưu, não là do chính tự thân mình phải chịu, dù có con cháu, vợ chồng, anh em nhưng khi đối diện với khổ đau, bệnh tật, chết chóc thì vẫn phải tự mình gánh chịu, nếu không có cái nhìn chính xác vào đời sống này, vào những cảm xúc, suy tư, tư tưởng thì mình sẽ đau khổ dài dài, bất an triền miên, đi trong vòng luẩn quẩn không có ngày chấm dứt.
Chúng ta cần chiêm nghiệm sâu sắc ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì? Chúng ta sanh ra trên đời này để làm gì? Mục đích thật sự của hành trình nhân sinh này là gì? Bao trùm mọi nơi là những pháp ác, đem lại sự bất an, sự lo lắng, sợ hãi, đau khổ. Trên thế giới mở ra những cuộc họp về sự biến đổi của khí hậu toàn cầu, nếu không hành động nhanh và kịp thời thì đồng hồ tận thế sẽ điểm giờ không còn lâu nữa. Sóng thần, lũ lụt, bão tố, động đất, sạt lở, ngập mặn, dịch bệnh, thiên tai, những thảm họa kép, bên trong lòng hữu tình chúng sanh là đầy rẫy dục vọng, ác tham, sân hận, những sự vô minh, bản ngã khủng khiếp, đến ngay cả người thân trong gia đình cũng phải đề phòng nhau, cũng phải lo sợ nhau thì bây giờ tin được ai. Đạo đức suy đồi, sa sút trầm trọng, báo động trên toàn thế giới, đây quả thật là tiếng đại hồng chung của vũ trụ đang vang vọng lên to lớn khắp hành tinh này để cho những chúng sanh, nhân loại, hữu tình thấy, nghe, cảm xúc, nhận thức để có sự thức tỉnh, thức giấc kịp thời, nếu không tự mình sẽ giết hại chính mình, hại người thân, hại đồng loại.
Chính thời điểm là lúc lời dạy của Đức Phật chói sáng, bừng sáng hơn bao giờ hết, đây là con đường thoát khổ cho chúng sanh, may mắn và hạnh phúc cho những ai biết nghe, biết tiếp nhận, biết giữ gìn, tu tập, biết nỗ lực, cố gắng, tinh tấn hành trì, đó là con đường an ổn độc nhất để chúng ta bước ra, chạy ra, thoát ra khỏi biển lửa này, biển khổ này, biển đầy rẫy sự bất an, lo lắng, sợ hãi. Những sự kiện mình nghe, mình thấy làm mình bàng hoàng, thanh niên trẻ mười mấy tuổi không có tiền trả tiền phòng trọ nên rủ bạn về giết mẹ mình chết để lấy tiền trả tiền phòng trọ, thật sự là khủng khiếp về đạo đức con người trong thời đại ngày nay, nếu cứ tiếp tục như vậy thì càng ngày sẽ càng sụp đổ, đúng như những gì Đức Phật đã nói cách đây 2600 năm, con người sẽ sát hại lẫn nhau thậm chí đến cả người thân chính mình. Chúng ta lấy những điều này để chiêm nghiệm, suy tư thật nhiều, thật sâu sắc để chúng ta có sự nhàm chán, lo lắng, để chúng ta có hướng rời ra, thoát ra, người trí là người phải truy cơ, biết trước sự việc sẽ xảy ra để có sự chuẩn bị, chính điều đó mà chúng ta bỏ phố thị, thành thị để về núi rừng, quy ẩn sơn lâm, ẩn cư nơi núi rừng trong sự lắng dịu của thân tâm, trong sự yên tịnh của hoàn cảnh, trong những buổi ngồi yên với một cái tâm trong sáng để soi rọi tất cả phương diện, khía cạnh của đời sống này, của nhân sinh, kiếp người này, của trái đất, hành tinh, thế giới này. Càng đọc, càng suy tư những lời của Đức Phật thì càng tỏ sáng sự thật tối thượng, vi diệu, chúng ta hãy nghiền ngẫm để thể nhập.
"- Thành tựu với sáu pháp, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Thế nào là sáu?
Với dục tầm, với sân tầm, với hại tầm, với dục tưởng, với sân tưởng, với hại tưởng. Thành tựu với sáu pháp này, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, hiềm hận, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VIII. Phẩm A-La-Hán, (I). Khổ)
Ai có đầy đủ sáu pháp này thì ngay trong hiện tại sống trong đau khổ, sống trong tức giận, sống trong buồn lo, nóng bức. Sau khi chết đi thì địa ngục, cô hồn, quỷ đói chờ đợi, những đời sống của thú vật, súc sanh chời đợi người đó. Đó là những suy tư, tìm kiếm về dục vọng, là những suy tư, tìm kiếm về sân hận, tức giận, là những tư tưởng, hướng tâm về việc hại người khác, gọi là dục tầm, với sân tầm, với hại tầm, với dục tưởng, với sân tưởng, với hại tưởng. Đó là những suy tư, nghĩ tưởng về tham vọng, dục vọng, tham dục, tham muốn, những sự suy tư, nghĩ tưởng về sự tức giận, thù hận, sân hận, những suy tư, nghĩ tưởng về ác ý, hại người, gây sự đau khổ cho người khác, danh từ chuyên môn gọi là dục tầm, sân tầm, hại tầm và dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, danh từ hiện tại là những suy tư, nghĩ tưởng về dục vọng, những suy tư, nghĩ tưởng về nóng giận, những suy tư, nghĩ tưởng ác ý, hại người.
Ai có đầy đủ sáu tư tưởng này thì người đó ngay trong hiện tại sẽ đau khổ, trong giận hờn, buồn lo, nóng bức vì trong tâm cứ đòi hỏi, thúc giục, khao khát, thèm thuồng, uống bao nhiêu vẫn không đủ, ăn bao nhiêu vẫn thấy thiếu, hưởng thụ bao nhiêu vẫn không thỏa mãn, lúc nào người này cũng sống trong tâm nghèo nàn, thiếu thốn, túng thiếu, sống trong tâm khát khao, thèm muốn, Đức Thế Tôn gọi là khát ái. Nội tâm người này đầy rẫy sự đau khổ, lúc nào cũng thấy thiếu, lúc nào cũng thấy muốn thêm nữa, ăn rồi cũng đói, uống rồi vẫn khát, lúc nào cũng sống trong suy tư, nghĩ tưởng về dục thì đó là nội tâm thiếu thốn, nghèo đói, khát ái.
Khi người này bị tham dục quấy rối thì họ rất bức xúc, khó chịu, dù cho làm bất cứ cái gì cũng thấy bứt rứt, khao khát cho nên người này sống trong đau khổ, sống trong sự nghèo đói của tinh thần.
Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết:
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham,
Bình yên, an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền
Thân bức xúc không yên ổn được,
Đứng, đi, ngồi, nằm rất bất an
Giờ đây xả dục, ly tham
Nên thân tâm được bình an, yên lành.
Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui, thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Trong sự tu tập của chúng ta thì tác ý hỷ lạc để trú trong sơ thiền rất quan trọng vì cái lạc này phàm phu không có, chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử tu tập đúng chánh pháp biết tác ý thì hỷ lạc mới sanh khởi. Còn tu không đúng chánh pháp, không có người hướng dẫn thì tu đến chết cũng không biết được sơ thiền. Thậm chí ngay đó là sơ thiền cũng không biết, chỉ biết có trạng thái dễ chịu, nhẹ nhàng chứ không biết đó là trạng thái của sơ thiền, chính là ly dục sanh hỷ lạc. Đó là tâm không khao khát, thèm muốn, tâm xả ly tham dục, tâm không tìm kiếm những sắc; thanh; hương; vị; xúc, tâm này thoát ra, rời xa năm dục trưởng dưỡng nên vui. Còn chúng sanh chỉ biết vui sướng trong năm dục trưởng dưỡng, giống như người bị cùi hơ vào hố than hừng nhưng lại thấy vui thích trong đó vì sướng, đã ngứa. Thế Tôn nói chúng sanh sống trong dục thì họ chỉ thỏa mãn, thích thú trong năm dục trưởng dưỡng đó, tức là sắc đẹp, mùi vị, tiếng hay, xúc chạm.
Thế Tôn nói Ngài có cái vui cao thượng, thánh thiện hơn, cái vui trong sạch hơn, Ngài không ưa thích cái vui thấp hèn, hạ liệt đó cho nên người tu muốn tiến sâu thì phải thường tác ý và an trú trong thiền thứ nhất, nếu có được điều này thì nhìn dung sắc sẽ biết được ngay, nếu không có thì nhìn sẽ tiều tụy, thiếu thốn. Vua Ba- tư-nặc nói người ở trong hoàng cung thưởng thức biết bao sơn hài hải vị nhưng khi nhìn vị Tỳ-kheo và Đức Phật có dung sắc thù diệu dù các Ngài ăn một ngày chỉ có một bữa, ở dưới gốc cây, lại còn đi khất thực nhưng thần thái lại dung dung, thư thái. Các vị Tỳ-kheo trả lời rằng quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, các Ngài an trú trong giây phút hiện tại.
"Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây".
(Trung Bộ Kinh, 133. Kinh Ðại Ca-chiên-diên Nhất dạ hiền giả)
Phàm phu thường tiếc nuối quá khứ và mong ngóng tương lai, giống như cây lao héo úa, cứ tiếc nuối dĩ vãng, kí ức, kỉ niệm của quá khứ hoặc là tưởng mơ, ao ước, mong chờ, hi vọng trong tương lai, còn giây phút hiện tại thì lãng quên, không thấy không biết thực tại, không cảm nhận được sự thật trong giây phút hiện tại rồi sống trong khổ não, bất an. Nhưng trong tâm này ngoài dục ra còn có sân hận, bức xúc, hận thù, ganh tỵ, giận rồi phải nghĩ cách làm hại, làm khổ người ta, như vậy là hiện tại sống trong đau khổ, nóng bức, buồn lo, nóng bức là do sân, buồn lo là tham mà không được, trong nội tâm là cả một bãi chiến trường, nhắm mắt là địa ngục chờ đợi, những đời sống của ngạ quỷ, cô hồn, súc sanh, thú vật chờ đợi, ngoài đời hở chút là đâm chém, giết hại nhau thì đều là tam đồ ác đạo chờ đợi, ngay trong hiện tại chịu án tử hình hoặc chung thân thì đó cũng đã là địa ngục, nhắm mắt thì đi xuống cảnh giới thật sự của địa ngục vì chỉ có nơi đó mới tương ứng với tâm ác, tâm sân hận đó. Đó là sáu pháp đưa đến khổ ngay trong hiện tại và sau khi chết.
"Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú.
Với xuất ly tầm, với vô sân tầm, với bất hại tầm, với xuất ly tưởng, với vô sân tưởng, với bất hại tưởng. Thành tựu với sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VIII. Phẩm A-La-Hán, (I). Khổ)
Thành tựu sáu pháp này ngay trong hiện tại được an vui, hòa đồng, sống được bình an, an yên, sống được mát mẻ, được thanh lương, nhẹ nhàng, an lành, sau khi chết thì đỉnh cao của loài người và phước báo chờ đợi, thiên giới chờ đợi. Sáu pháp đó là một tâm hướng về sự thoát ra, cái tâm hướng đến không giận, hướng đến sự bất hại, tức là sự suy tư, suy nghĩ về sự thoát ra, không giận bất kì ai cũng không hại bất kì ai, sống với tâm từ, tâm tha thứ, bao dung, độ lượng, tâm thương yêu, không làm hại bất kì chúng sanh hữu tình nào. Thành tựu sáu pháp này sẽ sống không nóng bức, ưu não mà sống với sự thanh lương, hiền hòa, hạnh phúc, sau khi chết thì chờ đợi là đỉnh cao phước báo của loài người, chờ đợi là đỉnh cao phước báo của cõi trời, chờ đợi là con đường lành, con đường thiện, con đường an vui.
II.
Biết rõ cuộc đời này là khổ, biết rõ nguyên nhân của khổ để làm gì?
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii
Lúc bấy giờ, nhiều Tỳ-kheo sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến các Tỳ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo:
-- Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
-- Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), I. Ða Số)
Thế Tôn đã nói các dục vọng, sắc đẹp, tiếng hay, mùi vị, những sự tiếp xúc đụng chạm nam nữ, ái dục là những thứ bị thời gian chi phối. Sắc đẹp đó cũng sẽ bị tàn phai theo năm tháng, sắc đẹp đó rồi cũng đổi thay tình cảm, rồi cũng có ngày thương thành giận, yêu thành hận, sự gần gũi sẽ trở thành sự chia ly, sự tươi thắm sẽ trở thành héo tàn, đẹp đẽ sẽ thành già xấu, sẽ bị thời gian chi phối. Trong các dục đó là thứ đổi thay, là thứ vô thường, trong đó có rất nhiều nước mắt, máu, là biết bao tâm tư, suy tính, lo âu, biết bao sự dối trá, mưu mô để có được những thứ mà mình tham muốn, trong tình cảm nam nữ cũng có biết bao tự toan tính chứ đừng nói gì đến chuyện kinh doanh, địa vị. Có rất nhiều sự lo lắng, lo toan, lo buồn để có được đối tượng tham muốn, có biết bao toan tính, suy tư, nghĩ ngợi, biết bao sự đầu tư vào đó, thậm chí phải đánh đổi nhiều thứ, danh dự, tài sản, tiếng tăm nhưng chưa chắc có được.
Các dục bị thời gian chi phối có nghĩa là vô thường, những lời nói ngọt ngào, yêu thương kia sẽ bị thời gian biến đổi. Khi chưa về chung nhà thì ngọt ngào, dễ thương, đến khi về chung nhà thì ngọt ngào trở thành đắng cay, các dục ở đây chính là năm dục trưởng dưỡng, năm dục này sẽ bị thời gian chi phối trở thành vô thường. Các dục ở đây bao gồm cả chủ thể là những suy nghĩ tham dục, tham muốn và những đối tượng tham dục, tham muốn đó. Suy nghĩ tham dục đó sẽ thay đổi theo thời gian, lúc đầu cho rằng người này đẹp nhưng sau đó lại nghĩ người kia mới đẹp, lúc đầu nghĩ rằng món đồ này đẹp nhưng sau đó lại thích món đồ khác. Cho nên các dục này bị các duyên làm cho thay đổi vì vậy sở thích sẽ thay đổi vì tham dục không bao giờ được thỏa mãn, không bao giờ thấy đủ cho nên điều đau khổ là bất toại nguyện, không vừa lòng vì thế lúc nào cũng nằm trong khổ. Chữ “khổ” trong tiếng Pāli được giải thích là bất toại nguyện, lúc nào cũng không vừa lòng, dù cho được đi nữa cũng khổ vì không thấy thỏa mãn, đây là căn nguyên sâu xa của khổ.
Lúc chưa cưới thì muốn cưới cho được, nghĩ rằng lấy được người đó là hạnh phúc nhất, nhưng ở một thời gian là chán nản, muốn tự do hoặc muốn lấy người khác, có được người này lại muốn có thêm người khác nữa, cứ như vậy hoài, xe cộ, đất đai, tiền bạc, nhà cửa cũng vậy, luôn luôn thiếu thốn, luôn luôn đòi hỏi cho nên ở trong khổ triền miên. Thế Tôn gọi đó là khát ái và đây chính là bản chất của khổ, dù cho ở trên đống vàng cũng không thấy hài lòng, dù cho có trăm ngàn cung tần mỹ nữ cũng không thấy đủ, dù cho đất đai trải dài ngàn vạn dặm cũng muốn chiếm đất nước khác, không bao giờ thấy đầy đủ là bản chất của tham dục, tham ái cho nên Thế Tôn mới dùng từ khát ái, luôn luôn đòi hỏi, thèm khát. Vì chạy theo tiếng nói dễ thương đó mà có biết bao đau khổ, vì chạy theo nụ cười khả ái mà cả đời bị xiềng xích, vì chạy theo những đồng tiền đó mà huynh đệ tương tàn, vì chạy theo tiếp xúc xác thịt mà vợ chồng phân ly, con cái khổ sở, cha mẹ buồn đau trong nước mắt.
Thế Tôn ra đời là hướng dẫn chúng sanh sống ly dục, chỉ có viễn ly các dục vọng thì mới có sự bình an, hạnh phúc thật sự, phải thấy dục là hố than hừng, dục là tai họa, dục là mũi tên, là gai nhọn, là kẻ giết người, là thuốc độc để sợ hãi, tránh xa nó ra, hướng đến từ bỏ, xả ly thì đời sống đó mới là đời sống ngay hiện tại, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, đó chính là thực tại, thân đâu thì tâm đó, tâm an tịnh lắng dịu, ngọt ngào ngay trong giây phút hiện tại, ngay tại chỗ đang ngồi, không tìm kiếm bất cứ một cái gì trên cuộc đời này nữa, hoàn toàn chấp nhận trong giây phút hiện tại này.
Rõ biết trước mặt, tâm tỉnh sáng, mỗi hơi thở trở về cảm nhận toàn thân, tỉnh giác trong từng suy nghĩ, tư tưởng, an tịnh và lắng dịu, ngọt ngào ngay trong giây phút này.
Hiện tại không ái dục
Hiện tại không giận sân
Hiện tại không hôn ám
Hiện tại không lỗi lầm
Hiện tại không nghi vấn
Hiện tại thật bình an...
Tâm không dục, không ái
Tâm không giận, không hờn
Thân tâm không bức xúc
Tự chủ và bình an...
Tâm yên, thân an ổn
Thân tâm thật nhẹ nhàng
Thân tâm thật an lạc
Thân tâm dễ chịu thay...
Không sân, dễ chịu thật
Không dục, dễ chịu thật
Không ái, dễ chịu thật
Không mê, dễ chịu thật
Không lỗi, dễ chịu thật
Không nghi, dễ chịu thật.
Bình yên, dễ chịu thật
An tịnh, dễ chịu thật
Ngồi yên, dễ chịu thật
Tỉnh giác, dễ chịu thật
Tâm yên, dễ chịu thật
Thân yên, dễ chịu thật
Lặng yên, dễ chịu thật
Cảm giác dễ chịu thật
Không tham, dễ chịu thật
Không sân, dễ chịu thật.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta vừa thực tập hiện tại lạc trú, an trú trong giây phút hiện tại để có bình an, niềm vui, sự hỷ lạc cho nên vị Tỳ-kheo nói rằng "pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu", an lạc trong giây phút hiện tại khi tâm không có năm triền cái dục tham, sân hận, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi, không có năm thứ này che đậy nên tâm được an yên, an vui, an tịnh.
"Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi ra đi.
-- Này các Tỳ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.
Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên bài kệ:
Ai thấy rõ khổ đau,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng các dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), I. Ða Số)
Người thật sự thấy biết đau khổ và nguyên nhân sanh ra đau khổ thì người đó sẽ không có khuynh hướng chạy theo các dục, còn nói rằng đã thấy khổ nhưng vẫn chạy theo các dục thì cái thấy của mình chưa đầy đủ, chưa chín muồi, chỉ mới thấy đôi phần, nếu thấy thật sự, biết thật sự thì tâm mình sẽ không chạy theo các dục đó nữa vì đã biết "các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng nhiều hơn". Mình không muốn tìm khổ đau, mình không muốn tìm tai họa cho nên mình sẽ không có khuynh hướng chạy theo các dục.
Sau khi biết được chỗ dựa của tái sanh, chính cái đó làm mình tái sanh, làm cho mình sanh ra nên mới có già, bệnh, chết, làm cho dòng sanh tử luân hồi tiếp diễn thì mình không tìm kiếm nó nữa. Chỗ dựa của tái sanh chính là ái dục, tức là yêu thích năm dục trưởng dưỡng, yêu thích trong tứ đại năm uẩn, đó là nguyên nhân tiếp tục có mặt ở đời sau, tiếp tục có mặt trong dòng sống chết luân hồi này.
./.