Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Chánh Tri Kiến 2 - Gốc Rễ Của Thiện Lành Là Gì

2026-03-03 00:56:19
Kinh Nikāya Giảng Giải

GỐC RỄ CỦA THIỆN LÀNH LÀ GÌ

KINH CHÁNH TRI KIẾN 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tưởng tri – thức tri – tuệ tri PAGEREF _Toc112676594 \h 1

II. Thế nào là thiện? PAGEREF _Toc112676595 \h 8

I. Tưởng tri – thức tri – tuệ tri

Chúng ta đã học về chánh kiến thiện và bất thiện, hai chữ này nghe rất đơn giản nhưng không hề dễ một chút nào, khi học rồi sẽ thấy không như mình nghĩ.

"-- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Đây là cấp độ thứ nhất của chánh kiến, tất cả những gì chánh tri kiến trong đạo Phật đều được nói trong bài kinh này, mọi người cần nắm rõ để sau này khi nói đến chánh tri kiến chúng ta sẽ hiểu thấu đáo, đầy đủ các góc độ của hai từ chánh kiến hoặc là sự thấy biết chân xác về giáo pháp. Biết bằng trí tuệ là cái biết không bị mất đi, có ba loại biết khác nhau:

Tưởng tri: Biết bằng sự suy tưởng, tưởng tượng, cái biết này hoàn toàn sai sự thật.

Thức tri: Biết trên nhận thức, kiến thức, tri thức, kinh nghiệm từng trải. Cái biết này gần đúng và đỡ hơn tưởng tri.

Tuệ tri: Biết bằng trí tuệ.

Biết bằng tưởng tượng là khi nhìn thấy dáng đi, vẻ mặt một ai đó là mình tưởng ra người đó chắc xấu chứ không tốt. Đừng đánh giá con người qua hình thức hoặc vẻ bề ngoài, trong kinh Nikāya Đức Phật dạy muốn biết một người nào đó có giới đức thanh tịnh không, có thành tựu trí tuệ, có phải bậc Thánh nhân không phải trải qua rất nhiều bước chứ không thể chỉ nhìn qua bề ngoài, không thể nghe người khác nói, không thể chỉ tiếp xúc vài lần mà phải ở chung quán sát lâu dài.

"Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Không phải do sắc tướng,

Biết rõ được con người,

Không phải nhìn thoáng qua,

Đặt được lòng tin cậy.

Dưới bộ áo đạo đức,

Với hình tướng tự chế,

Những kẻ sống buông thả,

Sống phây phây đời này.

Như bông tai bằng đất,

Giả dạng bông tai thật,

Như nửa tiền bằng đồng,

Được sơn phết lớp vàng.

Một số sống che đậy,

Ẩn kín dưới bề ngoài,

Nội thân thật bất tịnh,

Mặt ngoài giả mỹ diệu.

(Tương Ưng Bộ, tập I - Thiên Có Kệ, chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, I. Bện Tóc) 

Thành ra, cái biết bằng suy tưởng không đúng nhưng chúng sanh thường xuyên rơi vào cái biết này cho nên khi mình hiểu sai vấn đề gì, nghĩ sai cái gì là mình thường nói "tôi tưởng đâu nó như vậy" thì cái này là tưởng tri. Sự tưởng tượng này làm vợ chồng ghen tuông, huynh đệ hiểu lầm, cha con hoặc mẹ con xích mích với nhau, hằng ngày chúng ta sống với cái biết này rất nhiều, mình lấy sự tưởng tượng đó cho nó là sự thật nên hiểu lầm rất nhiều, có khi người đó thương mình, muốn giúp mình bằng tâm tốt nhưng mình cứ nghĩ họ là người xấu, mình nghĩ họ ghét mình.

Thức tri là cái biết của tri thức, nhận thức, kiến thức hoặc là kinh nghiệm. Cái biết này cũng không đúng sự thật nhưng đỡ hơn tưởng tri chút ít. Ví dụ buổi lễ giỗ tổ làm như vậy được khen thì đến lần sau mình nghĩ cũng làm giống vậy nhưng kì này lại khác đi, có những sự việc, con người khác nhưng mình lại áp dụng như lần trước vậy là xảy ra sai xót trong buổi lễ. Cho nên thường thì đã làm việc gì rồi thì lần sau mình cũng làm giống như vậy, mình nghĩ nó như vậy nhưng nó lại biến đổi, thay đổi bất ngờ không lường được và mình bị thất bại. Chẳng hạn mình quen với ai đó, một thời gian dài không gặp đến khi gặp lại mình nghĩ họ cũng sẽ như xưa nhưng thật chất họ lại thay đổi, như vậy biết qua kinh nghiệm, biết qua kiến thức chỉ đúng ở mức độ nào đó thôi chứ không đúng sự thật. Chúng sanh bị cái biết này làm cho trở thành chướng ngại gọi là sở tri chướng, người nào học càng nhiều, biết nhiều kiến thức, có nhiều kinh nghiệm thì lại càng dễ chấp vào cái biết này, bị đóng khung trong cái biết đó gọi là định kiến, kiến chấp, cố chấp, trong kinh Nikāya dùng từ "tư kiến cá nhân", "định kiến" hoặc là "kiến trù lâm", đó là một sự rừng rậm của kiến chấp.

"Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: 'Ta có tự ngã', tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; 'Ta không có tự ngã', tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; 'Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã', tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; 'Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã', tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn. 'Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã', tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: 'Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại'. Này các Tỳ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỳ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau".

(Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

"Này Vaccha, nghĩ rằng: 'Thế giới là thường trú'... 'Thế giới là vô thường'... 'Thế giới là hữu biên'... 'Thế giới là vô biên'... 'Sinh mạng và thân thể là một'... 'Sinh mạng và thân thể là khác'... 'Như Lai có tồn tại sau khi chết'... 'Như Lai không có tồn tại sau khi chết'... 'Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết'... Này Vaccha, nghĩ rằng: 'Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết', như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn".

(Trung Bộ Kinh, 72. Kinh Dạy Vacchagotta về Lửa) 

Tùy theo nhận thức của người đó mà có ra những kiếp chấp khác nhau, ví dụ bước vào rừng thì lâm tặc chỉ thấy giá trị cây để bán, thầy thuốc nhìn cây chỉ thấy cây này trị bệnh gì, người kinh doanh du lịch lại thấy địa thế khu rừng như thế nào, thầy phong thủy nhìn lại khác nữa… tất cả những cái đó đều là thức tri vì trong sự nhận thức, thói quen, cách nhìn đã quen theo chiều hướng đó thì cái biết sẽ đi theo chiều hướng đó. Người Phật tử chân thành vào lạy sẽ rất cung kính với tất cả tấm lòng cúng dường vào thùng phước sương nhưng đối với kẻ trộm nhìn vào thùng phước sương không có lấy một sự cung kính nào mà trong đầu chỉ nghĩ cách lấy trộm tiền trong thùng.

Vì thế cái nhìn của chúng sanh là cái nhìn theo nghiệp thức, là cái biết lặp tới lặp lui theo chiều hướng đó, cũng như trên núi trời mưa có đường nước chảy lâu ngày thành lối mòn, mái nhà bị dột lâu ngày thì chỗ đó tạo thành vệt ố hoặc tạo thành lõm do nước chảy, cũng vậy tâm thức của mình có những chiều hướng cứ đi theo lối đó, cho nên người nặng về dục thì đi đâu cũng thấy dục, ái, tham, người nặng về sân thì nói một lúc là cãi nhau, người nghiêng về tri thức thì đi đâu cũng để ý học hỏi rồi ghi chép lại. Những lối mòn của tâm thức, những chiều hướng của tâm thức hình thành trong tâm người đó, gọi là thức tri, là biết bằng hiểu biết, huân tập theo thói quen cá nhân.

Cho nên các thầy học kinh sư ngồi một lúc là múa may do thói quen, còn ông thầy trì trú ngồi đâu cũng lẩm bẩm mấy câu chú, ông thầy niệm Phật thì ngồi đâu cũng "A-di-đà Phật", còn ông thầy thiền định ngồi một lúc là lim dim nhưng huân tập những cái này vẫn còn đỡ vì nó là thiện nghiệp, thiện pháp. Nhưng một khi cái tâm đi vào chiều hướng nào là bị đóng khung trong đó, không đi ra khỏi đó được, đây là kiến chấp, "tôi niệm Phật là chỉ có niệm Phật thôi, không có trì chú gì hết", còn người kia thiền là chỉ ngồi thiền thôi, ngoài thiền ra đừng nói những cái khác vì đã quen theo chiều hướng của tâm.

Tuệ tri không có phạm vi, giới hạn, tâm rộng mở nhìn thấy bản chất của sự vật, chỗ này cần sự tu tập sâu sắc, tuệ tri là biết một cách thấu đáo bản chất, bản tánh.

"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy".

(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Mình gặp một người minh tinh điện ảnh nổi tiếng thành công, đẹp đẽ. Khi thấy trên màn ảnh, sân khấu thì suy nghĩ "người này thành đạt sướng quá, hạnh phúc quá", suy nghĩ đó là tưởng tri không đúng sự thật. Sau này minh tinh đó đến chùa tâm sự với thầy "Con đang bị thất tình, không muốn sống nữa. Gia đình con bất hòa, tình cảm của con bị phụ bạc", lúc này mình thức tri biết rằng người này cũng khổ chứ không có sướng, tức là mình tiếp xúc rồi nhận thức được hoàn cảnh, nội tâm của họ, biết được cuộc sống thật sự của họ khi họ tâm sự cho mình nghe.

Còn tuệ tri chính là ba mươi hai thể trược, dù có đẹp giàu, sang hèn, xấu xí, nghèo khổ thì cũng chỉ là đất, nước, gió, lửa, ruột, gian, phèo, phổi, dạ dày, phân và nước tiểu, cũng kết thúc trong già nua, bệnh tật và tử vong, đây là cái biết của trí tuệ không bao giờ thay đổi, đúng vĩnh viễn với thời gian, dù cho người đó đẹp xấu, màu da nào, cao thấp, mập ốm, sang hèn thế nào thì cũng chỉ là sắc, mà đã là sắc thì dù thắng liệt, thô tế, xa hay gần cũng đều quán tất cả sắc là vô thường, là khổ não, là trống không.

"-- Này Tỳ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'".

(Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)

Hai người mới gặp nhau lần đầu thì lúc này thuần túy là tưởng tri, tưởng tri về đối tượng, về con người đó, ước mơ, hi vọng, sống trong tưởng rất nhiều nên thời gian này rất đẹp. Đến khi quen nhau thời gian dài hoặc về ở chung nhà thì mới lộ ra tánh nết thật sự của mỗi người, đó là thức tri. Tuệ tri là nhìn sâu thẳm vào bản chất của tâm là tham, sân, si, bản ngã, người nào cũng vì cái tôi, cũng tham muốn, sân si, nhìn thấu vào trong đó thì đó là tuệ tri. Lần đầu tiên ở quê lên gặp thầy, gặp sư huynh thì chào hỏi với vẻ mặt hiền hậu, dễ thương nên ai nghĩ người này cũng tốt quá, đó là tưởng tri. Ở chung ba tháng, sáu tháng là lộ ra tánh xấu, đó là thức tri. Tuệ tri là tất cả chúng sanh đều là tham uẩn, sân uẩn, si uẩn, vô minh uẩn, tức là trong nội tâm của chúng ta là những đống tham dục, sân hận, si mê, vô minh chất chứa bên trong, thấy được cái đó rồi nhàm chán, muốn xa lìa, giải thoát thì đó là tuệ tri.

Biết bằng trí tuệ là mình biết hễ sát sanh là tội ác, hễ trộm cướp, tà dâm là tội ác, nói láo, nói hai lưỡi, ác khẩu là bất thiện, tham dục, sân hận, tà kiến là bất thiện. Mình biết thật sự thấu đáo như vậy ở trong tâm rồi mình tránh xa, không làm những việc đó giống như biết lại gần lửa sẽ bị phỏng nên không lại gần đó thì mới gọi là tuệ tri. Cái thấy biết thập ác này là gốc rễ của tội ác, là bất thiện pháp và cái thấy biết này không thay đổi thì người này thành tựu chánh kiến.

Chánh kiến về mặt hữu vi, căn bản của thiện pháp và người này sẽ sanh cõi người, cõi trời, ở đây chúng ta đang nói chánh kiến của hữu vi chứ chưa phải chánh kiến của vô vi, tức là cái thấy đúng mặt đạo đức, cao thượng, tốt đẹp ở thế gian. Cho nên mười điều thiện này thiết lập nên trật tự, sự ổn định, an ninh, hòa bình, hạnh phúc cho thế giới, người nào thường chiêm nghiệm, suy tư, để ý thân, khẩu, ý để tránh xa, từ bỏ, chấm dứt mười điều ác này thì họ sẽ có cuộc sống an lành, bình ổn, hạnh phúc trong đời này và đời sau, thành ra mười giới này không phải chỉ đọc trên miệng hoặc viết trong sách mà cần tác động tâm ý thường xuyên, liên tục tụng giới trước khi đi ngủ hoặc khi thức dậy. Tụng giới không phải để Phật nghe mà tụng để nhắc nhở bản thân cái nào là thiện, cái nào là bất thiện để mình giữ giới, cho nên không phải không tụng giới là có tội mà sự tụng đọc này nhằm nhắc nhở, ôn tập, cảnh tỉnh để mình viễn ly, tránh xa, sợ hãi nó để mình đi trên thiện pháp, thiện đạo, con đường an lạc, đó là căn bản của bất thiện là tham, sân, si, là gốc rễ của tội ác.

II. Thế nào là thiện?

"Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện.

Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Khi đọc lên thì thấy đơn giản nhưng thật chất rất sâu xa. Đối với việc từ bỏ sát sanh thì không phải chỉ ăn chay là đủ mà cần tác động tâm ý thường xuyên, trong suy nghĩ lúc nào cũng nhắc nhở từ bỏ việc giết hại sinh mạng, tránh xa những việc làm tổn hại đến sinh mạng chúng sanh, dù cho đó có là cây cỏ đi nữa. Khi thọ giới Bồ-tát có giới không đạp, không đi trên cỏ xanh, đó là tôn trọng sự sống, bảo tồn màu xanh của Trái Đất, những gì có sự sống không được sát hại, giết hại, hủy hoại sự sống đó. Từ bỏ nói láo, nói ác khẩu, nói lời hai lưỡi, nói lời phù phiếm không phải là chuyện đơn giản, nói giỡn chơi cũng là phạm giới, cũng là bất thiện.

Đức Phật đã có bài giáo giới ngài La-hầu-la rất nổi tiếng, khi Thế Tôn rửa chân xong thì nước trong chậu còn xót lại chút ít, Thế Tôn nói đời sống phạm hạnh của người nói láo cũng ít giống như nước còn lại trong chậu. Ngài La-hầu-la úp cái chậu xuống thì Thế Tôn nói người nói láo như chậu bị úp xuống, không còn nước gì cả, đời sống tu hành trống không. Thế Tôn bảo lật cái chậu lên thì đời sống tu hành của người dối lừa, lừa gạt, không chân thật thì cả đời tu vô tích sự, không được gì hết, trống rỗng như chậu không có nước.

"-- Này Rahula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rahula:

-- Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.

-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:

-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, 'Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi', này Rahula, Ông phải học tập như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Đức Phật hỏi La-hầu-la:

- Này La-hầu-la, cái gương dùng để làm gì?

- Bạch Đức Thế Tôn, để phản tỉnh lại hình ảnh.

Phản tỉnh là soi chiếu lại chính mình. Cũng vậy, này La-hầu-la, trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ, sau khi suy nghĩ hãy xem suy nghĩ đó có hại mình hại người không, nếu có hại mình hại người phải chấm dứt suy nghĩ. Trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải xem lại lời nói đó có hại mình hại người không, nếu hại mình hại người phải diệt tận, xóa sạch lời nói đó. Trước khi làm, trong khi làm, sau khi làm phải soi xét, phản tỉnh tới lui nhiều lần, xem lại việc làm đó hại mình hại người hay lợi mình lợi người, nếu hại mình hại người thì cần chấm dứt việc làm đó lập tức.

"Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.

-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp".

(Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Chỉ bao nhiêu đây thôi thì chúng ta tu cũng cả một công trình: Trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói; trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ, sau khi suy nghĩ; trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm rồi vẫn phải suy xét việc làm đó có hại không, có tội không, đem lại lợi ích hay tổn hại. Đó là phương pháp soi gương, phản tỉnh mà Đức Phật dạy cho con cưng La-hầu-la của ngài, còn mình muốn nói là cứ nói chứ không có chánh niệm tỉnh giác, không soi xét trong lời nói. Trong bốn giới này thì Phật giáo phát triển ít nói đến từ bỏ nói lời phù phiếm mà chỉ nói về không nói láo, không nói lời hung ác, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời thiêu dệt nhưng không nói lời phù phiếm rất quan trọng. Nói phù phiếm là nói những lời vô nghĩa, vô ích, nói luyên thuyên nhưng đó là những lời không liên hệ đến mục đích, Đức Phật đưa ra mười đề tài để khuyến khích các vị Tỳ-kheo, các vị xuất gia nói về chủ đề này.

Khi Đức Thế Tôn ở vườn của ông Cấp-cô-độc, lúc đó có rất nhiều Tỳ-kheo sau khi đi khất thực về sau buổi ăn thì tụ họp trong hội trường để nói về "vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu".

(Tăng Chi Bộ, chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (XI). Những Ðề Tài Câu Chuyện (1))

Lúc đó Thế Tôn từ thiền tịnh đứng dậy, nhưng chữ "thiền tịnh" trong kinh Nikāya không phải để chỉ thiền tông và tịnh độ tông như bây giờ, phải cẩn thận nếu không sẽ bị rơi vào tưởng tri vì cả ngàn năm sau mới có thiền tông và tịnh độ tông, còn thiền tịnh ở đây là sự thanh tịnh của thiền định. Nghĩa là vào buổi chiều sau khi dùng bữa thì Thế Tôn sẽ ngồi thiền, đó thường là thời khóa của ngài, cho nên sau khi ngồi thiền xong thì ngài đến hội trường, các vị Tỳ-kheo mời Thế Tôn ngồi thì ngài hỏi các vị Tỳ-kheo đang bàn chuyện gì thì các vị này đều nói lại hết chứ không có giấu giếm cho nên trong kinh ghi lại:

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".

(Tương Ưng Bộ, tập V- Thiên Đại Phẩm, chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) 

Chính vì nói thật nên các ngài tu rất mau chóng đắc quả, ngược lại hỏi mình là im lặng hết hoặc là chối "Tụi con đâu có nói gì đâu". Nhưng ở đây các ngài đều trình bày sự thật, sau khi nghe Thế Tôn đã quở trách:

 "Này các Tỳ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu".

(Tăng Chi Bộ, chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (XI). Những Ðề Tài Câu Chuyện (1))

Những người đàn ông tốt lành từ bỏ gia đình, từ bỏ cha mẹ, bỏ anh em, bỏ dòng họ trong sự yêu thương tiếc nuối, bỏ hết sự nghiệp, tài sản, bỏ hết những niềm vui ở thế gian, năm lần bảy lượt mới được cạo bỏ râu tóc, với lòng tin tưởng nơi Thế Tôn, nơi giáo pháp, nơi chúng Tăng, Tam bảo để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình vậy mà các thầy lại nói những chuyện như vậy thì thật không xứng đáng.

"Này các Tỳ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Thế nào là mười?

Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.

Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo".

(Tăng Chi Bộ, chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (XI). Những Đề Tài Câu Chuyện (1))

Nếu có nói thì hãy nói trong các chủ đề này với ánh sáng trí tuệ của một bậc Sa-môn, một bậc Đa văn Thánh đệ tử có thể "đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo". Minh Thành khuyến khích các huynh đệ nếu có ngồi nói chuyện với nhau thì hãy bàn luận, pháp đàm về mười chủ đề, lấy mười chủ đề này đề mục, đề tài nghiên cứu. Trên trang linhquyphapan.vn có mục phân loại kinh Nikāya, toàn bộ đại tạng kinh được phân ra 500 chủ đề, mỗi chủ đề đều được trình bày tất cả lời dạy của Đức Phật về chủ đề đó, ví dụ nói về dục thì tất cả những lời Đức Phật dạy về dục đều có trong đó, rất dễ sử dụng. Chúng ta rất dễ bị rơi vào nói phù phiếm, đó là ác pháp, bất thiện pháp vì nó không liên hệ đến mười đề tài Đức Phật đã đưa ra.

Không tham, không sân, không si là gốc rễ của thiện, nghe thì đơn giản nhưng đây là Thánh quả tối cao của Phật giáo. Chúng ta nghĩ tu rồi không thấy tham, sân, si nữa là đang lầm tưởng, chúng ta học vào kinh Nikāya rồi sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Người thấy được tham, sân, si đầy đủ là Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, phải nhận diện được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì chúng ta mới bắt đầu nhận diện được chút ít tham, sân si, còn không thì chúng ta hoàn toàn không thấy gì. Lúc đầu cứ nghĩ mình tu cũng tốt lắm nhưng đi vào tu học trong Nikāya mới thấy nhục nhã, xấu hổ, tàm quý, thấy được dục, sân, bản ngã của mình thì xấu hổ vô cùng vậy mà trước đây cứ nghĩ mình tu cũng giỏi lắm, thành ra không tham, không sân, không si đã lên tới mức độ của vô vi rồi, là sự thâm sâu trong sự tu, còn khi nãy là chánh kiến hữu vi ở mức chung chung để giữ thập thiện.

Chúng ta còn nhiều tham, nhiều ái và rất nhiều dục mà chúng ta không thấy, chỉ có nhận diện năm uẩn mới thấy tức là thường nhìn lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm mới thấy được, bình thường mình cứ nhìn bên ngoài, lo nhìn người ta chứ không thấy được tâm mình. Nếu không nhận diện được năm uẩn thì mãi mãi đứng ngoài cửa, không vào được căn nhà của Chánh pháp.

Định nghĩa ngũ uẩn 1:

Thân người là sắc.

Cảm giác là thọ.

Hình bóng là tưởng.

Suy nghĩ là hành.

Rõ biết là thức (rõ biết thọ; tưởng; hành).

Định nghĩa ngũ uẩn 2:

Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng.

Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành.

Rõ biết trong ngoài sáu trần là thức.

Nếu không nắm vững những điều này thì đi vào kinh sẽ không thể hiểu được. Mọi người nhắm mắt nhớ về hình bóng mẹ mình, hình bóng mẹ mình hiện ra đang thương nhớ, lo lắng cho chúng ta, đặt niềm tin, hi vọng vào chúng ta, hình bóng đó là tưởng, có cảm giác dễ chịu là thọ, có suy nghĩ về mẹ là hành, mình rõ biết hình bóng, cảm giác ấm áp, có suy nghĩ về điều đó là thức (ý thức). Mình nhớ lại người làm mình khổ, người hay gây sự với mình, hình bóng người đó hiện ra là tưởng, cảm giác khó chịu là thọ, suy nghĩ về người đó là hành, rõ biết ba cái này là thức.

Tham, sân, si rất vi tế trong tâm mình. Một hình bóng người xưa mình thích, có tình cảm hiện ra trong tâm lúc mình ngồi yên tĩnh lặng, cảm giác dễ chịu sanh khởi, có suy nghĩ xung quanh người đó thì đó vẫn là tham ái. Tham, sân, si trong kinh Nikāya nói rất thâm sâu, trong hình bóng, cảm giác, suy nghĩ có tham ái, tham dục. Hình bóng người mình tức giận hiện ra làm mình bực bội, sân hận thì đó là sân, tức là không tiếp xúc mà chỉ thuần túy là pháp trần trong tâm mà tham, sân, si vận hành đến mức vi tế như vậy.

Mình nghĩ chiều nay mình làm gì đó thì hình bóng của mình trong tâm hiện ra và mình cho hình bóng đó là tôi, là của tôi thì đó là si. Chấp nhận hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà không thấy rằng hình bóng đó là vô thường, chỉ là sắc tưởng thôi, không thấy được duyên sanh pháp của tứ đại sanh diệt, vô ngã thì sự chấp nhận đó, suy nghĩ, cảm giác đi theo thuần túy ở trong vô minh, si mê, chính chỗ này mới là Thánh đạo – con đường của bậc Thánh mới đi đến Thánh quả, tức là chấm dứt, diệt tận hoàn toàn tham, sân, si để đi đến chỗ bất tử, nhưng đầu tiên phải nhận diện được năm uẩn trước.

"Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên 'Tôi là', đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Thế nào gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, kiến mạn tùy miên? Tùy là đi theo, miên là miên man, tùy miên là đi theo miên man, khi mình sanh ra thì cái tham đã đi chung với mình gọi là câu sanh phiền não, tức là khi sanh ra thì tham, dục, ái đã đi theo. Cho nên đứa con nít ngậm ti giả không nhả ra hoặc không theo ý nó là nó khóc lên, tiếng khóc đó là sức mạnh của trẻ thơ, nó biểu hiện cái tôi của nó bằng tiếng khóc.

Kiến mạn là kiến chấp, ngã mạn, thân kiến kiêu mạn, lúc nào cũng là tôi và của tôi, nó đi theo mình triền miên bất tận, thậm chí những bậc Thánh chứng đến Tam quả nhưng mạn vẫn còn, khủng khiếp đến vậy, cho đến Thánh quả tột cùng mới hết vô minh, hết mạn. Sự tu hành của chúng ta rất sâu sắc chứ không phải đơn giản, ăn trong khi đói lại có nhiều món ngon thì trong tâm sẽ có cảm giác thúc giục ăn nhanh, gắp lẹ, đó là tham dục trong cảm giác. Khi chạy xe sẽ có cảm giác thúc giục tăng ga chạy nhanh và có những cái thúc giục đi vào lòng đất, phóng nhanh vượt ẩu gây tai nạn chết người, vì thế chỉ vì một cảm giác thúc giục thôi là giết chết người.

Đi xuống cầu thang mà giành nhau, chen lấn đi cho nhanh không khéo trượt chân vấp ngã là sứt đầu mẻ trán, đó là tham tùy miên, dục tùy miên. Vì thế tham, sân, si rất vi tế, nhỏ nhiệm trong đời sống, chúng ta cần sự tĩnh tâm quán chiếu, chánh niệm tỉnh giác mới nhìn thấy nó, còn không có sự định tĩnh sâu sắc thì không thấy được, trong từng hành động đi, đứng, ăn, nói, suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đều có tham, sân, si, chấp thủ, chấp ngã và sự tu tập này để nhìn thấy, nhiếp phục tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si. Khi thường xuyên nhìn vào những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm sẽ phát giác ra tham, sân, si rõ ràng, gọi là đắc pháp nhãn tịnh, là con mắt trí huệ, sau đó bằng sự nỗ lực, tinh cần, tinh tấn nhiếp phục các cảm thọ tham, sân, si sẽ có ra các cấp độ hiền Thánh Nhị quả, Tam quả, đến khi tham, sân, si hoàn toàn diệt tận thì lậu tận A-la-hán. Đó là quy trình tu học của chúng ta.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.