1 LÀM SAO TRỞ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA
Kinh Nikāya Giảng Giải
LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 1
KINH XÓM NGỰA – TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là người xuất gia chân chánh PAGEREF _Toc99051983 \h 1
II.Tu tập tàm quý PAGEREF _Toc99051984 \h 2
III.Thanh tịnh ba nghiệp và sanh mạng PAGEREF _Toc99051985 \h 5
1.Thân hành PAGEREF _Toc99051986 \h 5
2.Khẩu hành PAGEREF _Toc99051987 \h 7
3.Ý hành PAGEREF _Toc99051988 \h 9
4.Sanh mạng PAGEREF _Toc99051989 \h 10
IV.Hộ trì các căn PAGEREF _Toc99051990 \h 11
1.Vì sao phải hộ trì căn PAGEREF _Toc99051991 \h 12
2.Duyên sanh pháp trong hộ trì căn PAGEREF _Toc99051992 \h 14
3.Đoạn trừ duyên xúc PAGEREF _Toc99051993 \h 21
Thế nào là người xuất gia chân chánh
Chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh cực kì quan trọng, có nói đầy đủ định nghĩa về người tu và phương pháp tu như thế nào mới đúng. Đây là Phật pháp căn bản thật sự, là những lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh số 39, Trung Bộ kinh – tập I, tựa đề của kinh nói về địa điểm ra đời bài kinh, có tên là “Đại Kinh Xóm Ngựa”.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Mở đầu bài kinh, Đức Phật nêu ra danh xưng “Sa-môn”, sau đó Đức Phật nêu ra ý nghĩa thật sự của danh xưng ấy. Tức là tên gọi “Sa-môn” chỉ là danh từ, còn điều quan trọng Đức Phật nhắc đến là nội dung, nội hàm, cái chất bên trong người tu phải như thế nào mới trở thành người xuất gia chân chánh.
Các thầy, các cô phải tiếp nhận, giữ gìn, thực hành những pháp làm thành một người tu. Khi được mọi người gọi mình là tu sĩ thì các thầy, các cô phải làm theo lời Đức Thế Tôn đã dạy để trở thành một người tu sĩ thật thụ, trở thành một người xuất gia chân chánh. Có như vậy thì các vị mới là một người tu chân chánh và danh xưng đó mới đúng sự thật. Chúng ta nhận đồ cúng dường trong sự tu học đúng đắn thì sự thọ nhận đó mới có kết quả lớn, lợi ích lớn và sự xuất gia của chúng ta không thành vô dụng mà sẽ đạt được thành tích. Đó là ý nghĩa lời mở đầu bài kinh của Đức Phật.
Như vậy, khi đã nói mình là một người tu, một người xuất gia thì các thầy, các cô cần phải tiếp nhận, giữ gìn và thực hành những pháp tác thành một người tu, có như vậy tên gọi “người tu” mới đúng pháp, mới chân chánh. Tứ sự cúng dường mình thọ hưởng mới có kết quả lớn, lợi ích lớn và danh xưng tu sĩ mới đúng sự thật. Ngược lại, nếu chỉ tu bề ngoài, tu trên hình thức thì không phải là người chân tu. Điều cần lưu ý ở đây là nếu chúng ta nhận đồ cúng dường để tu thành tựu thì người cúng dường đó có kết quả, nếu không sự cúng dường đó sẽ trở thành tai họa. Kết quả hay tai họa đều do mình, nếu làm đúng lời dạy của Đức Phật thì có kết quả tốt, bằng không, sự thọ nhận cúng dường đó là tai họa.
Cho nên, người tu phải nỗ lực tu đúng lời Phật dạy để “chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”! Sau đây là trình tự, con đường, đạo lộ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao. Là người xuất gia chân chánh, chúng ta cần phải tu học và hành trì theo Thánh đạo này.
Tu tập tàm quý
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? "Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Điều đầu tiên người tu cần làm là tu tập hạnh tàm quý, điều này bây giờ chúng ta ít nghe nói nhưng nó lại quan trọng tuyệt đối, mọi người nghe thêm bài Từ Nhục Nhã Đưa Đến Thánh Quả trên trang linhquyphapan.vn, Minh Thành có chia sẽ rất rõ về sự tàm quý này. Trong một bài kinh, Đức Phật nói nếu thế gian này không có pháp tàm quý thì cha không ra cha, con không ra con, mẹ không ra mẹ, chồng không ra chồng:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có hai diệu pháp ủng hộ thế gian. Thế nào là hai? Nghĩa là có tàm, có quý. Này các Tỳ-kheo, nếu không có hai pháp này, thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, có vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; liền sẽ cùng lục súc heo, gà, chó, trâu, dê v.v... đồng một loại. Do thế gian có hai pháp này ủng hộ, nên thế gian ắt phân biệt có cha, có mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ, cũng không đồng với lục súc. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên tập có tàm, có quý. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm. (Kinh Tăng Nhất A-Hàm, XVIII. Phẩm Tàm quý)
Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.
Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. (Tăng Chi Bộ kinh, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt, 1-10 Hai Loại Tội)
Không có tàm quý sẽ làm rối loạn trật tự xã hội. Hơn nữa, thực trạng xã hội hiện giờ đã xuất hiện rất nhiều chuyện loạn luân, một khi bị mất pháp tàm quý thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh xuất hiện, cõi nhân thiên bị giảm thiểu, loài người cạn dần, chư Thiên không còn bao nhiêu nếu không có tàm quý.
“Tàm” là xấu hổ, “quý” là sợ hãi, “tàm quý” là xấu hổ và sợ hãi. Người tu chúng ta phải biết xấu hổ với bổn phận, trách nhiệm của mình; xấu hổ với những tham, sân, si, dục, ái; xấu hổ với những sự hơn thua, ích kỉ, đố kỉ; xấu hổ với những cái ác và bất thiện pháp trong thân tâm. Người nào thường trú trong hổ thẹn, lo lắng, sợ hãi thì khi lỡ nói câu gì không có chánh niệm, đầy bản ngã thì người này rất xấu hổ, họ liền xin lỗi người nghe và sau đó đến lạy sám hối Tam bảo. Thế nên, nhờ có pháp tàm quý mà có thể ngăn chặn tội lỗi, còn không có pháp xấu hổ, hổ thẹn thì chúng ta sẽ không biết sợ hãi đối với các ác và bất thiện pháp. Một người không biết xấu hổ, sợ hãi với những điều ác, bất thiện pháp đã gây ra thì họ không thể nào tiến bộ trong giáo pháp.
Vì thế, điều đầu tiên Đức Phật nói để tác thành một người tu hành chân chánh là phải biết xấu hổ và sợ hãi, phải thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, không phải phạm tội lỗi lớn mới sợ mà tội nhỏ cũng phải thấy sợ. Ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân Chánh Pháp, vạt y áo của ngài bị chấm đất thôi là ngài đã cảm thấy tàm quý, xấu hổ. Còn mình tội lỗi đầy đầu vẫn không thấy xấu hổ gì hết, ngược lại, khi bị nhắc nhở thì sân hận, bản ngã, cứ nhìn người ta chứ không nhìn lại mình nên tu hoài không thành công.
Những pháp tác thành Sa-môn này rất hay, học rồi sẽ thấy nhiều khi mình không được một phần nào trong lời dạy của Phật, nếu có cũng rất ít. Ví dụ người tu mà có những ham muốn bình thường của thế gian thì phải thấy "Thật là xấu hổ, nhục nhã, nếu cha mẹ biết, bậc đồng phạm hạnh biết, Đàn-na tín thí biết thì mặt mũi nào nhìn họ", "Thật không dám nhìn ai vì mình có những ý nghĩ tham dục, thấp hèn, hơn thua như vậy, như vậy là xấu hổ quá, nhục nhã quá. Những thứ này sẽ đưa mình vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu như vậy. Đến khi thành tựu pháp tàm quý này viên mãn thì vị đó sẽ đi đến Thánh trí huệ của bậc Thánh, vì lúc nào họ cũng gội rửa thân tâm.
Giống như một người lúc nào cũng quét dọn chùa, có thời gian là lau chùi, dọn dẹp chùa rất sạch sẽ, cũng vậy, người tàm quý là lúc nào cũng nhìn lại thân tâm, cảm thấy xấu hổ với những ác bất thiện pháp, những rác bẩn trong căn nhà nội tâm. Họ lo sợ với những cấu nhiễm, bất tịnh này vì nó đưa đến quả báo ác, đưa đến khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục trong tương lai. Thế nên khi lỡ có một lời nói hay hành động không đúng pháp thì họ luôn sợ hãi, bất an và lập tức điều chỉnh bản thân, nhờ vậy họ tu rất tiến bộ, mau chứng đắc. Còn một người có tội mà không biết, hoặc khi ác bất thiện pháp sanh khởi thì họ cũng mặc kệ, để cho buông trôi, rơi tự do thì đến một ngày họ sẽ lọt xuống vực sâu.
Vì vậy, pháp tàm quý rất quan trọng, nếu không có pháp tàm quý, không có xấu hổ, hổ thẹn thì người tu không ra người tu, chính từ đây làm chúng ta bị mất uy tín rất nhiều. Thậm chí, nhiều khi chính chúng ta không để ý đến oai nghi, đức hạnh, giới hạnh, buông lung phóng dật, không nhìn lại thân tâm và quên luôn bản thân là người tu nên hành vi và cử chỉ không kiểm soát, thả lỏng các căn, không hộ trì căn. Cho nên, người tu phải luôn an trú trong tàm quý.
Đức Phật dạy người tu một ngày ăn một bữa, trong giới không cho ăn chiều, vì vậy, nhiều khi buổi chiều mình ăn thì phải cảm thấy xấu hổ, ăn trong xấu hổ vẫn đỡ hơn ăn trong buông lung, từ sự xấu hổ đó mình hạn chế từ từ cho đến mức không ăn chiều là sẽ giữ được giới. Còn đằng này cứ trơ trơ, không cảm thấy gì hết, đã ăn chiều lại còn buông lung phóng dật thì người này không bao giờ thành tựu giới được, đây là chỗ quan trọng. Hơn nữa, nếu mình có những dục ái không đúng pháp, là phàm phu pháp, thế tục pháp, bất tịnh pháp mà mình lại thấy nó là bình thường thì cuộc đời tu là con số 0. Ngược lại, nếu thấy đó là xấu hổ, sợ hãi, tội lỗi, từ đó quán chiếu, tác ý để giảm thiểu cho đến khi xa rời nó thì giới hạnh được thành tựu.
Như vậy, đối với bất kì điều gì cũng phải lấy tàm quý tu học để giúp mình thành tựu giới hạnh – thiền định – trí tuệ, phải thường tác ý xấu hổ và sợ hãi trước những tội lỗi, ác, bất thiện pháp.
Thanh tịnh ba nghiệp và sanh mạng
Hơn thế nữa, Đức Phật cũng dạy rằng, một người đã thành tựu hạnh tàm quý, thường trú trong đó nhưng không được hài lòng, thỏa mãn mà phải biết rằng mục đích của người xuất gia còn cao hơn nữa, phải làm thêm nữa chứ như vậy không phải là đủ.
Thân hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Thành tựu rồi nhưng phải làm hơn nữa chứ không phải nói tu chỉ có một pháp. Thân hành là những hành động của thân phải trong sạch trong giới luật, minh chánh là quang minh và chánh trực, không có lén lút, che đậy, không có che giấu, không có tỳ vết, ở trước mặt người ta cũng vậy và ở sau lưng cũng phải vậy, chỗ này rất khó khăn. Không phải có người ta mình mới giữ kẽ, còn không có ai thì thoải mái, buông thả, trước mặt như thế nào thì sau lưng cũng phải như thế đó.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. (Trung Bộ kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Tu không phải giống như mình vẫn thường nghĩ, tu để thành tựu giống Đức Phật dạy là cả một công trình vĩ đại. Tự mình kiểm tra lại mình xem có tỳ vết không, nếu có phải sám hối, sửa đổi, phải làm mới, làm sạch thân tâm tự thân theo tinh thần của giới bổn, theo tinh thần của những học pháp. Vì thế chúng ta phải thực tập rất nhiều, cách ngồi cũng phải thực tập, cách nói chuyện, cách đi đứng cũng phải thực tập, cử chỉ hành vi cũng phải thực tập. Đừng nghĩ rằng chỗ không có người là không ai thấy rồi mình muốn làm gì thì làm, mà tất cả sự hoạt động của mình đều thu trong thọ, tưởng, hành, thức và phi nhân ở đó đều nhìn thấy; hoặc địa thần, các vị chư Thiên cũng đều nhìn thấy mọi thứ. Cho nên, chúng ta phải nhớ rằng, khi mình ở một mình, không phải là không có ai, lúc nào mình cũng phải thấy có mười cặp mắt đang nhìn mình dù cho có ở một mình trong tịnh thất và luôn tự nhắc nhở: "cô là người xuất gia, cô là người tu, cô là tu sĩ đó" , "thầy là người tu đó".
Thân hành phải minh chánh, không được che giấu. Dù cho chúng ta có làm được nhưng cũng không vì vậy mà khen mình che người. Chẳng hạn mình làm được cái gì mà người ta không làm được là mình dè bỉu họ "người đó làm sao tu bằng tôi", như vậy là bản ngã sanh khởi, như vậy là sự tu hành của mình nhằm tăng bản ngã, dù cho làm thiện pháp nhưng vẫn làm tăng bản ngã. Mình không ăn chiều mà gặp những người khác ăn chiều là mình nhìn họ bằng con mắt khác, như vậy là không đúng. Bởi lẽ, không phải tu để lên mặt với người ta mà tu để diệt cái tham dục ái, không phải tu để hơn người ta. Cứ nghĩ rằng mình tu để hơn người ta là tăng trưởng cái ngã, cái tôi, mà tăng trưởng cái ngã, cái tôi thì tham sân si, sầu, bi, ưu, não sanh khởi. Cho nên, dù chúng ta có làm gì đi nữa, có đóng góp nhiều trong chùa thì đó là cơ hội để mình rèn luyện, tích lũy phước đức nhằm phụng sự Tam bảo chứ không phải làm nhiều để nói mình giỏi hơn người ta, đó là quan niệm sai lầm. Phải nhớ trong tất cả mọi công việc đều phải nhiếp phục bản ngã thì đó mới là cốt lõi của sự tu, bất cứ làm cái gì dù là tu, là học mà bản ngã tăng lên là làm sai chứ không có đúng. Lúc nào cũng nhìn lại nội tâm cũng "thấy xấu hổ, lo lắng vì còn cấu uế, hất mặt, ưỡn ngực, vênh váo để làm gì?", "có gì trong này để ta đây, hơn thua?", cho nên làm được nhưng không khen mình chê người.
Khẩu hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Lúc nào Đức Phật cũng nhắc không được khen mình chê người ở cuối mỗi lời giảng. Miệng thanh tịnh là cả một vấn đề, không phải chỉ đơn giản là nói ba nghiệp thanh tịnh nhưng đó lại là cả một công trình tu tập miên mật, khít khao, tu liên tục, giữ giới liên tục. Thật sự rất muốn lấy băng keo dáng miệng lại vì hễ mở miệng ra là thị phi, nhân ngã, hơn thua, ta đây cho nên mở miệng ra chỉ nói pháp, có công việc gì cần thì nói, xong rồi thôi vì đó là sự im lặng của bậc Thánh.
Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu).
Nếu nói một hồi là đi vào bát quái trận, chắc chắn là vậy trừ khi chánh niệm tỉnh giác cực kì kĩ lưỡng, nếu không sẽ bị cuốn vào câu chuyện gây thị phi, đúng sai, phải quấy, hơn thua, tốt xấu cho nên khẩu hành thanh tịnh là cả một vấn đề khó khăn. Khẩu hành là những lời nói của miệng cho nên càng nói ít càng tốt, chỉ trao đổi về pháp hoặc thời tụng kinh, chỉ nói khi cần để dưỡng thần, dưỡng khí, tập trung vào việc nội soi thân tâm. Đức Phật dạy phải nói đúng thời.
Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân". Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập. (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Hơn nữa, thân – miệng – ý luôn phải có sự thanh tịnh minh chánh, cởi mở. Cởi mở là nhìn mọi vấn đề theo hướng mở, nói chuyện theo hướng mở sẽ khác với cách nói cằn nhằn, cự nự, khó chịu, nói chuyện móc họng người ta mà đó là khẩu nghiệp, nói hoài sẽ thành quen mà quen là sửa không được, cứ ưa thích, muốn nói như vậy mà nó trở thành sức mạnh của thói quen, là nghiệp lực. Cho nên mình tu là giữ bốn giới: Không nói dối, không đâm thọc, không nói lời ác và không nói lời phù phiếm.
Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Có những người thích nói để người khác cãi nhau, đó là ác nghiệp, những lời đó không có thanh tịnh, minh chánh. Còn nói lời cởi mở là nói để đưa đến sự mở tâm ra, suy nghĩ theo chiều hướng tích cực. Ví dụ có người phạm lỗi thì khi họp chúng hoặc ngồi với nhau phải suy nghĩ "Chúng sanh tham sân si là chuyện bình thường, biết đâu mai mốt mình cũng bị nên khởi từ bi tâm họ", suy nghĩ như vậy là cởi mở, đằng này người ta nói rồi mình còn đổ dầu vào lửa "tôi thấy mấy lần chứ không phải mới lần này đâu", đó là ác khẩu.
Ý hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Ở Linh Quy có các sư cô hoặc các Phật tử trong đạo tràng Nikāya nếu có suy nghĩ xấu đều ra trước đại chúng để sám hối, đó là một sự tha thiết chân thành trong sự tu học. Làm sao người ta biết được suy nghĩ của mình nhưng họ lại ra trước đại chúng sám hối vì tự thấy đó là suy nghĩ xấu, bất thiện. Cái đó là một sự kiểm soát thọ, tưởng, hành rất kĩ lưỡng, nếu không kiểm soát thường xuyên thì suy nghĩ phớt qua rồi mất, hoặc là mình nhập chung với nó chứ không thấy đây là ý hành và ý hành này là ác bất thiện pháp, trong ý hành này có bản ngã, ý hành này là sân hận, thế là ra sám hối. Tu như vậy mới nhìn ra được các lậu hoặc, các sự vi tế vận hành trong thân tâm chứ còn nhìn ra bên ngoài thì làm sao nhìn thấy bên trong. Một khi không nhìn thấy nội tâm thì làm sao nhìn thấy những thứ ở những tầng lớp sâu thẳm phía dưới. Cho nên phải nhớ rằng, không phải nhìn vào trong nội tâm là có thể thấy được liền, có những cảm giác, suy nghĩ buộc mình phải lắng đọng để xem trong đó có gì.
Ví dụ, đang ngồi một mình rồi buồn nhưng không biết vì sao buồn, vậy là phải lắng xuống để tìm trong cảm giác từ đâu sanh ra cái này, đó là mình đang tìm Tập Thánh Đế, tìm nguyên nhân sanh khởi cảm thọ đó. Khi nhìn sâu xuống sẽ phát hiện dục lậu, chính cái dục nay làm cho mình buồn, điều này rất sâu sắc nên hơi khó hiểu, phải nhập thất tu hành mới thấy được nó. Tự nhiên lại có cảm giác buồn man mác nhưng không hiểu buồn vì lý do gì, đó là trạng thái những cảm giác trong dục lậu sanh khởi. Còn cái thúc giục làm cái này làm cái kia thì đó là hữu lậu, hữu lậu là sự dao động từ bên trong cho đến bên ngoài, nó thúc giục bên trong làm cho mình phải động đậy, không ngồi yên được, ngồi thiền cứ muốn bung chân ra, "ngồi mệt lắm, đau chân lắm, nóng nực lắm", nói đủ thứ trong đầu vậy là mình bung theo nó. Còn mình ngồi mà không biết thân tâm, không biết thọ; tưởng; hành mà chỉ thấy chỉ có một đống tôi và của tôi thì đó là vô minh lậu, si ám. Nghĩa là khi kông thấy rõ ràng các pháp, không thấy ngũ uẩn, không thấy tứ đại kết hợp mà chỉ thấy là tôi và tự ngã của tôi thì đó là vô minh, si ám, ngồi thiền trông rất khổ sở hoặc là ngơ ngác, si dại, trạng thái tâm không minh mẫn, sáng suốt trong ngoài các pháp, cái trí không vận hành.
Chính vì vậy, phải luôn luôn giữ gìn thân – miệng – ý cho thanh tịnh.
Sanh mạng
Và dù cho thân – miệng – ý đã tu tập thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, không che giấu nhưng không vì thế mà khen mình chê người. Đây là chỗ sâu sắc, mình cứ lo mình, lo quay lại để tẩy sạch, gội rửa, nhiếp phục và diệt tận các ác bất thiện pháp trong thân – miệng – ý, đừng nhìn người ta.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Sanh mạng là sự nuôi dưỡng mạng sống. Sanh mạng thời Đức Phật thường chú trọng vào giai cấp trong xã hội, tức là người sanh ra trong những giai cấp thấp thường bị kinh thường, giai cấp tu hoặc thương nhân, quan quyền chức tước, cao quý của giới tu hành là Bà-la-môn, người ta hay so đo với nhau giai cấp, xuất thân. Giám đốc mà đi tu sẽ khác với trước khi vào tu làm công việc rửa chén, lau nhà ngoài xã hội, cho nên dù cho mình có ở trong đẳng cấp nào, giai cấp nào, thành phần nào trong xã hội cũng không khen mình chê người. Ngoài đời chơi với nhau phải môn đăng hộ đối, vào tu cũng lựa người học cao, có trí thức trình độ mới chơi, còn người thấp thì cho qua, đó không phải là cái nhìn nhận đúng đắn của người xuất gia, Thế Tôn đã nói nước bốn biển chỉ có duy nhất một vị mặn mà thôi.
Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Tất cả vào đây để tu học pháp giải thoát chứ không phải vào đây để nhìn vào giai cấp xã hội nhằm phân biệt cao thấp, sang hèn. Sang hay hèn đều phải cạo đầu trọc, cũng chỉ có một tấm y, cũng phải đổi thành họ "Thích" vì thế không được lấy giai cấp ra để so đo với nhau.
Hộ trì các căn
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))
Những điều này là giới căn bản khi Đức Phật còn tại thế nhưng hiện giờ chúng ta lại ít được nghe thấy, nếu không học thì không thể giữ giới thành tựu, thiền định và trí huệ không sanh.
Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))
Vì sao phải hộ trì căn
Điểm quan trọng của người tu, nghề chính của người xuất gia là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần phải có sự hộ trì. Ví dụ, vừa nghe nói đóng cửa phòng học là có một số người than nóng; hoặc khi có tiếng động ở nơi khác vang vọng thì cảm thọ, suy nghĩ trong tâm liền có sự thay đổi. Cho nên, nếu không hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là không bao giờ thấy pháp mà chỉ thấy cảnh bên ngoài, dù cho suốt đời ở trong chùa cũng vẫn là hướng ngoại chứ không thể thấy pháp. Khi nghe tiếng động bên ngoài là phải xem lại trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì khởi lên, điều này rất khó nhưng rất tối thượng, chỉ có như vậy mới có thể nhiếp phục được bản thân.
Đức Thế Tôn được gọi là bậc Điều Ngự Sư, nghĩa là bậc chế phục, điều ngự thân tâm chính mình và chế phục, điều ngự những người cứng cỏi trượng phu trên thế giới này. Do Ngài có điều phục, chế ngự, chế phục thân tâm của Ngài cho nên Ngài có khả năng điều phục, chế ngự hết tất cả những chúng sanh cứng cỏi, khó độ. Còn chúng ta không điều phục được chính bản thân mình thì điều phục được ai? Chỉ cần một tiếng động thôi là mình đã rối loạn. Thế nên, hằng ngày, khi con mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với đụng chạm… đều phải được hộ trì, nếu không hộ trì tâm này sẽ rơi tự do.
Một người tu nếu gặp người đẹp là cứ nhìn hoài, nhìn không chớp mắt, tuy mình không nói ra nhưng họ biết mình đang dính mắc. Cho nên người tu phải có cái nhìn của người tu chứ không phải muốn nhìn sao là nhìn, đó là sự hộ trì mắt. Bởi vì khi nhìn vào chỗ không nên nhìn thì ái sanh khởi, dục sanh khởi, tham sanh khởi. Ngài Anan thường tiếp xúc với Ni giới để giúp Ni chúng thành tựu, cho nên Ngài Anan hỏi Đức Phật thường ngày phải tiếp xúc với phái nữ như vậy thì phải làm sao. Đức Phật nói cần phải giữ khoảng cách, đừng nhìn thẳng vào họ mà hãy nhìn xuống, cũng đừng nói chuyện nhau, hoặc nếu cần phải nói thì hãy hộ trì các căn.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm.
(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Như vậy, khi tiếp xúc với những đối tượng có thể sanh khởi tham ái thì đừng nên nhìn thẳng vào mắt họ, điều này cực kì quan trọng. Nếu không học pháp sẽ không biết rồi gặp ai cũng nhìn thẳng vào họ, nhìn cho kĩ từng chi tiết thì như vậy là đã nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Trong đó, tướng chung là tổng quát thân thể hoặc đồ vật; tướng riêng là chi tiết từng bộ phận của người đó hoặc món đồ vật đó. Đức Phật dạy “khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”, bởi lẽ, một khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng, nhìn kĩ từng chi tiết trên thân thể, gương mặt họ thì khi ngồi thiền hình bóng người đó hiện ra, sau đó cảm thọ khởi lên, ý hành sanh khởi liên tục, như vậy là một dòng tâm ý bắt đầu vận hành trong tâm khiến chúng ta không thể yên định ngồi thiền được. Sau khi đã tiếp xúc, lúc trở về ngồi thiền thì những thọ, tưởng, hành sanh khởi nên những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sẽ hiện ra, sau đó là thọ, tưởng, hành thứ hai, thứ ba, thứ tư tiếp tục sanh khởi…. Chúng cứ liên tục như vậy, vận hành không ngừng nghỉ thì gọi là tương tư.
Cho nên, Đức Phật dạy phải chặn xúc ngay từ những bước đầu. Khi con mắt thấy sắc đã phải hộ trì, tức là chúng ta phải chặn từ cánh cửa đầu tiên, nếu không chặn thì nó sẽ tiến càng ngày càng sâu, đến khi vào tận bên trong thân tâm là mình thất bại. Sự tiếp xúc của sáu căn đối với sáu trần rất là nguy hiểm, nếu không có sự hộ trì thì khi nhìn một cái gì; nghe một tiếng gì; hoặc tiếp xúc, đụng chạm với một người nào đó… đều dễ dàng khiến mình rơi vào sân si, tham ái. Trong kinh Đức Phật có nói chung quanh chúng ta là gai, trước mặt là gai, hai bên là gai, sau lưng là gai, đi chỗ nào cũng có gai. Cho nên, người biết tu là người phải hộ trì rất cao vì không hộ trì thì sẽ đạp trúng gai.
Bình thường, chúng ta mang kính, mang giày là để bảo vệ thân thể. Đội nón bảo hiểm là để bảo vệ cái đầu. Khi hai người bị tai nạn giao thông, giữa một người có đội nón và một người không đội nón thì mức độ thương tích sẽ khác nhau rất nhiều. Hoặc khi đi nắng nhiều mà có kính mát để bảo vệ mắt thì mắt sẽ được bảo vệ tốt hơn so với người không đeo kính… Cũng vậy, chúng ta thấy rằng, một người có hộ trì căn sẽ rất khác so với người không có hộ trì căn. Vì thế, sự hộ trì căn là cực kì quan trọng, cần phải hết sức cẩn thận. Lúc nào cũng phải giữ gìn, hộ trì, bảo hộ sáu căn – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình.
Duyên sanh pháp trong hộ trì căn
Để hộ trì các căn thì chúng ta cần nắm rõ sự vận hành của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái. Vì vậy, bước đầu tiên là phải học duyên sanh pháp.
Duyên sanh pháp của mắt: Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
Do duyên có mắt và sắc, khởi lên sự rõ biết về sắc đó. Ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo thành sự tiếp xúc của con mắt (nhãn xúc), khi đó lập tức sanh khởi lên cảm giác và rơi vào một trong ba cảm giác sau đây: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu thì trong đó có sự tham, ái, thích; cảm giác khó chịu thì khiến mình mệt mỏi, sân giận; cảm giác không dễ chịu không khó chịu là đang trong trạng đơ đơ, trơ trơ của si.
Người có sự hộ trì là khi nhìn bất cứ cái gì cũng giữ gìn con mắt. Không phải muốn nhìn là nhìn, mà nhìn như thế nào để sau đó không bị nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng. Ví dụ, đối với một người thì chiều cao, dáng dấp, đen trắng là tổng thể, là tướng chung; còn tướng riêng là từng chi tiết, ví dụ như mũi, mắt, bàn tay, cánh tay. Nếu nhìn hoặc tiếp xúc mà mình bị nắm giữ tướng chung hay nắm giữ tướng riêng thì những tham ái, ưu bi, ác, bất thiện pháp sẽ khởi. Bởi vì một khi đã nắm giữ tướng chung, tướng riêng thì chúng ta sẽ có thọ, tức là sẽ có sự yêu thích hoặc ghét bỏ, như vậy là đều bị tham ái hoặc ưu bi trói buộc. Cụ thể, nếu ưa thích thì mình tham ái; còn nếu ghét bỏ, bực bội, khó chịu, ưu não thì mình ưu bi. Cho nên, trong kinh Tứ Niệm Xứ có nói phải quán thân, thọ, tâm, pháp để trừ diệt, nhiếp phục những tham, ưu ở đời.
Và để không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng thì Phật dạy chúng ta cần phải phá thân kiến. Phải biết rằng chính tấm thân này và những thọ, tưởng, hành trong tâm đều chỉ là ảo ảnh, trống rỗng, trống không, trống trơn, là do pháp duyên sanh, vô thường, vô ngã, giả dối, ảo tưởng, ảo vọng, ảo giác, không có thật. Tại sao chúng ta lại phải đau khổ với nó, giận hoài để được cái gì? Tại sao mình cứ dính mắc, chấp chước, tham ái để làm cái gì trong đống giả dối, ảo ảnh này, có ai ở đây đâu? Hỏi tâm giận của mình: “Mày muốn vào bệnh viện tâm thần hay sao mà cứ thương với giận?”. Chúng ta tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm giác, nghĩ, tưởng bất thiện ra khỏi tâm, nhờ vậy mình an tịnh, lắng dịu, chánh niệm, tỉnh giác, trở về với thực tại, hiện pháp lạc trú. Thực hành chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong sự an tịnh, lắng dịu, không chạy theo những ảo ảnh, ảo tưởng, trở về giây phút hiện tại và cảm nhận. Đó là thiền, là tu tâm, là chánh tư duy, là hộ trì. Như vậy, để không tham muốn, buồn lo và đau khổ thì khi tiếp xúc chúng ta không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Điều này khó, không phải chuyện dễ, nếu không biết dụng tâm và hộ trì tu tập thì không bao giờ thành tựu.
Duyên sanh pháp của tai: Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Như vậy, do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của tai với âm thanh gọi là nhĩ xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh thọ ngay lập tức gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác đó sanh khởi từ sự tiếp xúc của lỗ tai, sau đó sẽ có thanh tưởng, thanh tư, tức là tiếng vang của âm thanh đó sẽ vang trở lại trong tâm mình. Ví dụ, mình nói chuyện với người ta đã nói xong rồi nhưng ba ngày sau câu nói đó vẫn còn văng vẳng bên tai. Nếu mình thích âm thanh đó thì thanh tưởng hiện lên, thanh tư là suy nghĩ về câu nói đó, nếu câu nói này là ác bất thiện pháp sẽ nuôi lớn sân hận, nuôi lớn những cảm giác thù hận, bực bội và sau đó sẽ phát ra ngôn ngữ, khởi lên hành động nghịch chiều luân lý gây nên hậu quả của ác nghiệp cho hiện tại và tương lai. Thế nên, nếu không có sự hộ trì căn, tai nghe không khéo thì sẽ dính mắc vào đó, dẫn đến tham lam, sân giận, phiền não.
Duyên sanh pháp của mũi: Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.
Do duyên có lỗ mũi, có mùi, khởi lên sự rõ biết các mùi gọi là tỷ thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi gọi là tỷ xúc, khi tiếp xúc sanh ra thọ, đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra cảm thọ. Nếu đó là mùi khó chịu thì có cảm thọ sân, bực bội, sau đó là hương tưởng, hương tư, khi trở về nhớ lại mùi đó thấy sợ thì gọi là hương tưởng, suy nghĩ về mùi đó là hương tư. Ví dụ, lúc ăn bún riêu sẽ có mùi thơm của bún riêu. Khi đó có mũi, mùi của món ăn và sự rõ biết được mùi. Ba thứ trên hội tụ, giao thoa lại gọi là sự tiếp xúc của mũi. Khi tiếp xúc như vậy sanh ra cảm thọ, vì thơm ngon nên mình thích, bị thúc giục ngửi thêm, ngược lại, nếu mùi này không thơm thì mình khó chịu. Đó là do không có sự hộ trì căn từ lúc đầu nên mình thọ nhận mùi hương và dính mắc vào.
Duyên sanh pháp của lưỡi: Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do Thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.
Do duyên có lưỡi, có thức ăn, khởi lên sự rõ biết các vị. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi (thiệt xúc). Khi lưỡi tiếp xúc món ăn ngon sẽ thích là ái sanh khởi, trong tâm có sự thúc giục ăn nhiều, ăn nhanh là dục, tham. Nếu không nhiếp phục dục, tham, ái, không thấy sự vận hành của các cảm giác, cảm thọ, không có sự hộ trì căn thì chúng ta sẽ ăn trong dục, tham, ái chứ không ăn trong chánh niệm. Lúc đó, cảm thọ trong lưỡi xâm chiếm toàn bộ thân tâm, thậm chí có khi còn làm rớt đũa muỗng, tay áo dính cả vào thức ăn. Tất cả cũng bởi vì không hộ trì căn, thiếu sự chánh niệm, không có Thân Hành Niệm nên bị cảm thọ đó áp đảo, lôi kéo. Sau khi ăn xong trở về sẽ có vị tưởng, vị tư, hình bóng của mùi vị đó khởi lại trong tâm, suy nghĩ về hương vị món ăn hôm nay được ăn hiện trở lại. Nếu không tẩy sạch, chế ngự chúng thì mình sẽ bị dính mắc trong vị này.
Duyên sanh pháp của thân: Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.
Khi tiếp xúc với quần áo, tiếp xúc với cái ghế đang ngồi, tiếp xúc với bồ đoàn, hay tiếp xúc với những thứ khác và mình rõ biết sự đụng chạm với những thứ đó, như vậy gọi là thân thức. Nếu chỉ học nhưng không thực hành thì rất khó để biết thân thức là gì. Ví dụ, duyên sanh pháp mỗi khi ngồi, do duyên có thân và có sự tiếp xúc giữa thân mình với quần áo, ghế gỗ và rõ mình biết được chỗ tiếp xúc đó. Ba pháp này giao thoa với nhau gọi là thân xúc. Từ thân xúc sanh khởi ra cảm thọ. Chẳng hạn, ngồi ghế gỗ bị cấn đau thì hơi khó chịu; còn khi ngồi ghế salon đẹp, xịn, mắc tiền thì không chỉ lên ngồi mà còn nhún nhún nữa, đó là sanh ra sự dễ chịu, ưa thích, tham ái, đó chính là thọ thân. Đối với các cảm thọ đó, chúng ta cần hộ trì, xem xét, quán chiếu, không được để dính mắc vào.
Duyên sanh pháp của ý : Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Duyên sanh pháp của ý rất sâu sắc, có khi tu suốt đời mình cũng không biết thế nào là tu hộ trì ý căn. Cần phải có người hướng dẫn và có sự thiền tập thì mới biết làm thế nào để hộ trì ý căn.
Ví dụ, nhiều lúc đang ngồi, bỗng nhiên trong tâm mình có hình bóng của một ai đó xuất hiện. Khi hình bóng đó xuất hiện thì có một cảm giác tương ứng đi theo hình bóng đó. Nếu là hình bóng của một người mình ghét thì mình có cảm thọ sân si (khổ thọ) – thọ uẩn; hình bóng đó là tưởng uẩn; những lời nói lầm thầm xung quanh hình bóng đó là hành uẩn. Như vậy, dù không có người ở đó nhưng có hình bóng xuất của người đó hiện trong tâm, đồng thời có cảm giác và suy nghĩ chạy theo lòng vòng, khi ấy nếu có hộ trì ý căn thì mình biết có hình bóng, biết đang có cảm giác khó chịu và biết đang có suy nghĩ về hình bóng – đó chính là thức.
Nhờ có hộ trì, mình sẽ tự nhủ: “Giận gì mà giận, sân gì mà cứ sân hoài vậy, giận ba bốn chục năm rồi chưa đủ hay sao? Thôi đi, an tịnh đi, an dịu đi, mát mẻ đi. Cho khỏe, nhẹ nhàng. Đốt cháy hoài để làm cái gì?”. Tác ý như vậy để đánh đuổi những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ sân giận ra khỏi tâm. Mình ngăn chặn, không cho tâm đi theo những hình bóng, suy nghĩ. Đồng thời giữ gìn tâm để nó trở về cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Đó là sự hộ trì ý căn.
Ngược lại, khi không hộ trì là mình đi theo những thọ, tưởng, hành. Cứ ngồi nhớ lại tuần trước người đó nói câu gì, nhớ lại ba tháng trước người đó hành động như thế nào, nhớ thêm những chuyện của năm năm trước… Thế là mình lôi hết ra một chuỗi sân giận, kết thành một tràng đều là oán hờn, khi tức quá thì phát ra ngôn ngữ, hành động thiêu đốt cả mình lẫn người. Cho nên, ý căn này rất ghê gớm, nhiều khi chỉ ngồi một mình mà nó tự vận hành, nếu không tu tập, không nhận thức ngũ uẩn là mình không biết, cho nên thọ, tưởng, hành khởi lên là mình nhập vào theo nó.
Trường hợp khác, có lúc hình bóng của người mình ưa thích hiện ra; hình bóng những điều mình từng tiếp xúc lúc chưa đi tu và sau khi đi tu hiện ra; những hình bóng nghĩ rằng mai mốt sẽ như thế nào hiện ra… đồng thời khi đó cảm giác đi theo, có suy nghĩ nói lầm thầm, thức rõ biết những điều đó, ngay lúc ấy nếu không hộ trì, không giữ gìn thì mình sẽ đi theo những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ của quá khứ sanh khởi lên thì thọ, tưởng, hành mới lại sanh, sau đó nó diệt, rồi lại sanh ra. Từ thọ, tưởng, hành một rồi tiếp tục có thọ, tưởng, hành hai, ba, bốn,… cứ vậy chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh, mình đi theo trong đó không ra được là do không hộ trì ý căn. Chúng ta rõ biết được những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ là nhờ có sự để ý vào trong tâm. Nếu không để ý thì mình không biết lúc đó bản thân đang suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì. Cho nên người không để ý vào trong mà cứ hướng ngoại thì người đó tu không được.
Có những việc chúng ta gặp hằng ngày nhưng lại không nhận thức được, đó là vô minh. Ví dụ, đi đến đâu cũng va quẹt, làm chân tay bị trầy xước nhưng không hề hay biết, sau đó cứ lo làm bài, học bài, lo thi cử, tới chừng nhìn lại thì không hiểu tại sao lại có vết trầy xướt trên chân tay. Khi để ý vào chỗ đó thì thấy hơi rát rát, đau đau, sưng sưng, tức là, khi để ý đến chỗ nào thì chỗ đó mới hiện rõ ra trong tâm của mình, sự để ý đó là ý căn. Một ví dụ khác, vào buổi tối hoặc trong phòng bị cúp điện thì mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào rõ thì mình rọi vào chỗ đó thì vật ở trong hướng đó sẽ hiện rõ ra theo ánh sáng của đèn. Cũng vậy, khi để ý chỗ nào thì chỗ đó hiện ra các pháp trong thân tâm của mình; còn nếu mình không để ý là không hiện ra.
Bây giờ mình ngồi lắng yên lại, để ý vào bên trong thì lát sau mình thấy trong tâm có một cái tưởng. Nhiều khi được hỏi thì nói mình không có hình bóng gì hết, đó là tại vì mình hướng ra ngoài, còn nếu để ý vào trong thì mình thấy có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ. Như vậy, sự để ý hướng vào tâm để nhìn là ý căn; còn sự rõ biết lúc đó có hình bóng gì, có cảm giác gì, có suy nghĩ gì là ý thức; những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, những cái mình đã nghe, đã tiếp xúc, giờ còn lưu bóng trong tâm mình và hiện khởi trở lại là pháp trần. Ba pháp căn, trần, thức này giao thoa, tạo thành là chuỗi duyên sanh pháp. Khi ba pháp này chạm nhau, gặp gỡ ở một điểm giao thoa với nhau gọi là ý xúc. Tức là khi cầm đèn pin, lia vào góc nhà, nơi đó hiện rõ ra là cái bình, cái chén hay cái tô. Cũng vậy, ý căn đưa vào trong tâm nên thọ, tưởng, hành hiện ra và thức nhận thức được những thọ, tưởng, hành đó; khi đó ba pháp này giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ.
Chính vì vậy, khi ngồi một mình cũng có thể giận, có thể buồn, có thể vui. Tuy là ngồi một mình, nhưng nghĩ về người nào đó, có hình bóng người đó, rồi tự nói: “Tôi nghĩ về người đó tôi thấy thương quá!” hay “Nghĩ về người đó tôi thấy tôi bực mình, khó chịu quá, tôi thấy tôi ghét ghê vậy đó!” hoặc “Tôi thấy gj đó bình thường, không tốt không xấu”. Lúc đó, có tham sân, ưu bi sanh khởi thì lập tức phải hộ trì, không đi theo nó, biết nó chỉ là thọ, tưởng, hành, không có thật, chỉ là duyên sanh, là vô thường. Vì con mắt của mình nhìn thấy người nên giờ hình bóng người đó hiện ra; tại vì mình nói chuyện với người đó nên giờ câu nói mới văng vẳng đâu đây nhưng tất cả đều là pháp duyên sanh, không có thật, vô thường, trống rỗng, vô ngã. Vì vậy, nên xả bỏ, từ bỏ, không vì những câu nói, những hình bóng đó làm mình đau khổ, tham ái, mệt mỏi, hãy buông xả, từ bỏ, vứt bỏ, chấm dứt.
Đó là mình hộ trì, không để tâm bị tàn phá, phá hoại, đau khổ, khổ sở; còn nếu không hộ trì thì hình bóng hiện ra, dù mình giận hay mình thương đều nguy hại. Chúng ta đừng tưởng được thương là tốt, bởi lẽ, nhiều khi được thương nhưng mình chịu không nổi, vì bị bắt phải ăn cái này, bắt phải uống cái này, chỗ này cho đi, chỗ kia không cho đi. Chúng ta cũng đừng nghĩ có cảm thọ thương thì mình không khổ, bởi vì có khi mình thương còn khổ hơn cả lúc giận, chính vì vậy, hãy nhớ rằng, mỗi cảm thọ đều có nỗi khổ riêng.
Đoạn trừ duyên xúc
Chính vì không biết hộ trì căn nên khi tiếp xúc với con người, cảnh vật, món đồ nào thì mình cũng thu nhận, thọ nhận hết tất cả những cảm thọ vào tâm. Nhìn sâu vào đó, chúng ta sẽ thấy do duyên xúc mới sanh thọ, tức là từ tiếp xúc sanh ra cảm giác và sự tiếp xúc có được chính là từ chỗ sáu căn xúc với sáu trần. Do đó, nếu có sự giữ gìn sáu căn thì cái xúc được giảm thiểu, đồng thời cái thọ cũng sẽ giảm. Còn không giữ gìn, không phòng hộ, không hộ trì, cứ tiếp xúc, thọ, thủ một cách thoải mái, làm sanh khởi tham, sân, si thì chúng ta sẽ đau khổ vô cùng và tất cả đau khổ đó xảy ra cũng từ chỗ mình không biết hộ trì. Vì vậy, chúng ta cần phải giữ gìn, chế ngự các căn, đối với những nguyên nhân dẫn đến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp mình phải diệt trừ, chế ngự những nguyên nhân ấy.
Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần cần phải hết sức cẩn thận. Ví dụ, mình biết người đó hay kiếm chuyện, nói chuyện một lúc là chắc chắn họ sẽ gây sự thì mình nên tránh gặp và nói chuyện với họ. Đức Phật ví dụ đi ra đường gặp chó điên hay gặp người điên thì nên tránh, đừng đến gần, vì đến gần lại sẽ “lãnh đủ”. Một người lúc nào cũng sân hận, sân si, kiếm chuyện, gây sự thì tốt nhất mình nên tránh xúc là thượng sách.
Đức Phật dạy một trong những phương pháp đoạn trừ phiền não là phương pháp “tránh né để đoạn trừ”. Tức là không phải lúc nào mình cũng “yếu mà ra gió”, điều này giống như bị cảm mà ra tắm mưa thì chắc chắn sẽ bị bệnh. Vậy nên, cần phải tránh né để đoạn trừ, không xúc với mầm mống của những ác, bất thiện pháp. Thế nên, điều cần lưu ý ở đây là tùy theo trường hợp, tùy theo loại phiền não mà có phương pháp đoạn trừ, trừ diệt phù hợp, chứ không phải cái nào mình cũng đối mặt để xử lý, như vậy rất nguy hiểm. Cho nên phải kết hợp tránh né và phải hộ trì đúng lúc trong sự tu tập này.
Hơn nữa, khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ thì tất cả đều phải được hộ trì, được dòm ngó, được quản lý, xem xét xem trong đó có cái gì, trong thọ đó có tham ái, có sân si thì phải nhìn thấy, chứ không phải có thọ thì để vậy, không xem xét gì hết. Phải nhìn thấy được cái nào được thọ và cái nào mình không được thọ. Bởi vì có những cảm thọ khiến mình bị trói cột suốt đời. Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Đức Phật biết thọ cái nào là nên và thọ cái nào là không nên. Đối với những cái không nên thọ mà mình lại thọ thì không thể nào tu được. Giới luật, oai nghi, phép tắc trong đạo chính là để bảo hộ sự tiếp xúc, từ đó ngăn chặn được những cảm thọ không đúng pháp.
Có khi chỉ từ một sự tiếp xúc mà sanh khởi cảm thọ rất mạnh, tức là nghe một câu nói hoặc nghe một tin gì đó thì cũng đã rụng rời tay chân, có thể bệnh luôn hoặc ngất xỉu. Ví dụ, cách đây vài ngày, báo chí có đưa tin một cậu thanh niên chở mẹ tới chỗ làm, khi người mẹ bước xuống, cậu này quay xe để về, do bị che mất tầm nhìn, cậu này không thấy chiếc xe tải đang chạy đến nên vừa quay xe thì xe tải chạy đến cán nát người, người mẹ đứng kế bên thấy vậy xỉu xuống, bất tỉnh.
Lúc đó người mẹ chỉ xúc một lần là sanh khởi cảm thọ, mà thọ này có sức mạnh rất lớn, xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn nên người mẹ té xỉu khi thấy con mình như vậy. Người con chỉ vì bất cẩn một chút là xảy ra án mạng, không ai có thể tưởng tượng nổi chỉ một cái quẹo xe lại nát bét ra hết cả cơ thể, thân xác. Lúc đó căn, trần, thức, xúc, thọ của người mẹ vận hành cùng một lúc, xâm chiếm toàn bộ thân tâm nên người này ngã quỵ, ngất xỉu. Lúc đó các căn tiếp xúc với trần gồm: mắt nhìn thấy cảnh tượng đó; tai nghe những âm thanh, lời nói kêu gào và ý xúc ở trong tâm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, duyên xúc rất nguy hại trong sự tu học nói riêng và trong cả đời sống này nói chung. Trong thời buổi hiện giờ, không nhất thiết là đi gặp trực tiếp mà chỉ cần cầm điện thoại trong phòng và “quẹt” một mình thì đã là xúc và có thọ, tưởng, hành. Nhiều trẻ nhỏ cũng vì xúc trên điện thiện nên bị nghiện game, sau đó bỏ học, bỏ ăn, bỏ ngủ và thậm chí chết trên các bàn game. Nhìn sâu vào sự việc này, chúng ta thấy được duyên sanh pháp vận hành: xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, kết quả cuối cùng là chết trên bàn game, từ “game thủ” trở thành “tử thủ”. Còn người tu chúng ta phải là xạ thủ, tức là phải bắn được giặc phiền não chứ không phải là game thủ. Trong sự tu này lúc nào cũng cần phải phòng thủ, chứ đừng để thành chấp thủ, tử thủ.
Ngoài ra, sự chấp thủ này có mặt trong vô vàn trường hợp chứ không chỉ có người chơi game. Ví dụ như tử thủ trong nhà bếp, tức là không cho người khác vào làm bếp, bởi vì chấp thủ rằng: “Nhà bếp này là của con!” nếu có người nào vào thì: “Không được! Một mình con làm thôi”, không người khác nào được vào hết, hoặc nếu có ai vào thì người ta cũng chạy hết vì sợ. Tất cả những việc đó chính là do sự chấp thủ, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, dẫn đến các ác, bất thiện pháp, sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, tu là phải xả, không phải thủ. Tâm này là một tâm chấp thủ, chấp bên trong và chấp cả bên ngoài từ vô lượng kiếp. Người tu cần phải nhìn thấy được điều đó để phòng hộ, hộ trì, bằng không, tu hoài không tiến.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay,phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ-Kheo)
Đức Phật đã tuyên bố, Tỳ-kheo phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sẽ giải thoát mọi khổ đau. Bởi lẽ, người tu nếu không biết hộ trì, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì những tên giặc của vô minh, phiền não, tham, sân, si, bản ngã sẽ tàn phá thân tâm bất cứ lúc nào và chúng ta sẽ sống trong một đời sống khổ sở, không an lạc. Dù cho thân đang được ở chùa nhưng cũng không thể nào an lạc được, vì các ác, bất thiện pháp đã chất chứa khắp tâm mình. Chính vì vậy, chúng ta phải để tâm vào sự hộ trì căn từng giờ từng phút, không để cho những rác bẩn, cấu nhiễm có cơ hội sanh khởi và hãy luôn ghi nhớ rằng hộ trì căn là pháp tu vô cùng quan trọng của người xuất gia.
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: ""Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Hơn thế nữa, Đức Phật dạy, trong sự tu này dù chúng ta luôn giữ gìn, hộ trì sáu căn kĩ lưỡng nhưng cũng không được tự mãn, không khen mình chê người. Không nên tu được một chút thì lo nhìn người ta rồi nói người ta không tu, đây là điều nhiều người dễ mắc phải. Thay vào đó, chúng ta luôn quay về hướng nội, tự tu cho mình, còn chuyện của người ta là của người ta. Nếu có trách nhiệm, bổn phận thì mình nhắc nhở người khác, còn người ta nghe hay không là quyền của người ta, đừng vì họ không nghe mà mình phiền não. Nhắc mà người ta lo tu mà người ta không nghe thì mình buồn, như vậy để làm chi, tại sao không tự lo cho mình! Chính mình còn tham, sân, si, bản ngã mà không lo diệt, cứ nhắc người ta phải diệt, nếu người ta không diệt thì mình buồn, vậy tại sao không buồn cho chính mình!
./.
LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 1
KINH XÓM NGỰA – TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là người xuất gia chân chánh PAGEREF _Toc99051983 \h 1
II.Tu tập tàm quý PAGEREF _Toc99051984 \h 2
III.Thanh tịnh ba nghiệp và sanh mạng PAGEREF _Toc99051985 \h 5
1.Thân hành PAGEREF _Toc99051986 \h 5
2.Khẩu hành PAGEREF _Toc99051987 \h 7
3.Ý hành PAGEREF _Toc99051988 \h 9
4.Sanh mạng PAGEREF _Toc99051989 \h 10
IV.Hộ trì các căn PAGEREF _Toc99051990 \h 11
1.Vì sao phải hộ trì căn PAGEREF _Toc99051991 \h 12
2.Duyên sanh pháp trong hộ trì căn PAGEREF _Toc99051992 \h 14
3.Đoạn trừ duyên xúc PAGEREF _Toc99051993 \h 21
Thế nào là người xuất gia chân chánh
Chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh cực kì quan trọng, có nói đầy đủ định nghĩa về người tu và phương pháp tu như thế nào mới đúng. Đây là Phật pháp căn bản thật sự, là những lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh số 39, Trung Bộ kinh – tập I, tựa đề của kinh nói về địa điểm ra đời bài kinh, có tên là “Đại Kinh Xóm Ngựa”.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Mở đầu bài kinh, Đức Phật nêu ra danh xưng “Sa-môn”, sau đó Đức Phật nêu ra ý nghĩa thật sự của danh xưng ấy. Tức là tên gọi “Sa-môn” chỉ là danh từ, còn điều quan trọng Đức Phật nhắc đến là nội dung, nội hàm, cái chất bên trong người tu phải như thế nào mới trở thành người xuất gia chân chánh.
Các thầy, các cô phải tiếp nhận, giữ gìn, thực hành những pháp làm thành một người tu. Khi được mọi người gọi mình là tu sĩ thì các thầy, các cô phải làm theo lời Đức Thế Tôn đã dạy để trở thành một người tu sĩ thật thụ, trở thành một người xuất gia chân chánh. Có như vậy thì các vị mới là một người tu chân chánh và danh xưng đó mới đúng sự thật. Chúng ta nhận đồ cúng dường trong sự tu học đúng đắn thì sự thọ nhận đó mới có kết quả lớn, lợi ích lớn và sự xuất gia của chúng ta không thành vô dụng mà sẽ đạt được thành tích. Đó là ý nghĩa lời mở đầu bài kinh của Đức Phật.
Như vậy, khi đã nói mình là một người tu, một người xuất gia thì các thầy, các cô cần phải tiếp nhận, giữ gìn và thực hành những pháp tác thành một người tu, có như vậy tên gọi “người tu” mới đúng pháp, mới chân chánh. Tứ sự cúng dường mình thọ hưởng mới có kết quả lớn, lợi ích lớn và danh xưng tu sĩ mới đúng sự thật. Ngược lại, nếu chỉ tu bề ngoài, tu trên hình thức thì không phải là người chân tu. Điều cần lưu ý ở đây là nếu chúng ta nhận đồ cúng dường để tu thành tựu thì người cúng dường đó có kết quả, nếu không sự cúng dường đó sẽ trở thành tai họa. Kết quả hay tai họa đều do mình, nếu làm đúng lời dạy của Đức Phật thì có kết quả tốt, bằng không, sự thọ nhận cúng dường đó là tai họa.
Cho nên, người tu phải nỗ lực tu đúng lời Phật dạy để “chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”! Sau đây là trình tự, con đường, đạo lộ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao. Là người xuất gia chân chánh, chúng ta cần phải tu học và hành trì theo Thánh đạo này.
Tu tập tàm quý
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? "Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Điều đầu tiên người tu cần làm là tu tập hạnh tàm quý, điều này bây giờ chúng ta ít nghe nói nhưng nó lại quan trọng tuyệt đối, mọi người nghe thêm bài Từ Nhục Nhã Đưa Đến Thánh Quả trên trang linhquyphapan.vn, Minh Thành có chia sẽ rất rõ về sự tàm quý này. Trong một bài kinh, Đức Phật nói nếu thế gian này không có pháp tàm quý thì cha không ra cha, con không ra con, mẹ không ra mẹ, chồng không ra chồng:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có hai diệu pháp ủng hộ thế gian. Thế nào là hai? Nghĩa là có tàm, có quý. Này các Tỳ-kheo, nếu không có hai pháp này, thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, có vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; liền sẽ cùng lục súc heo, gà, chó, trâu, dê v.v... đồng một loại. Do thế gian có hai pháp này ủng hộ, nên thế gian ắt phân biệt có cha, có mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ, cũng không đồng với lục súc. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên tập có tàm, có quý. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm. (Kinh Tăng Nhất A-Hàm, XVIII. Phẩm Tàm quý)
Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.
Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. (Tăng Chi Bộ kinh, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt, 1-10 Hai Loại Tội)
Không có tàm quý sẽ làm rối loạn trật tự xã hội. Hơn nữa, thực trạng xã hội hiện giờ đã xuất hiện rất nhiều chuyện loạn luân, một khi bị mất pháp tàm quý thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh xuất hiện, cõi nhân thiên bị giảm thiểu, loài người cạn dần, chư Thiên không còn bao nhiêu nếu không có tàm quý.
“Tàm” là xấu hổ, “quý” là sợ hãi, “tàm quý” là xấu hổ và sợ hãi. Người tu chúng ta phải biết xấu hổ với bổn phận, trách nhiệm của mình; xấu hổ với những tham, sân, si, dục, ái; xấu hổ với những sự hơn thua, ích kỉ, đố kỉ; xấu hổ với những cái ác và bất thiện pháp trong thân tâm. Người nào thường trú trong hổ thẹn, lo lắng, sợ hãi thì khi lỡ nói câu gì không có chánh niệm, đầy bản ngã thì người này rất xấu hổ, họ liền xin lỗi người nghe và sau đó đến lạy sám hối Tam bảo. Thế nên, nhờ có pháp tàm quý mà có thể ngăn chặn tội lỗi, còn không có pháp xấu hổ, hổ thẹn thì chúng ta sẽ không biết sợ hãi đối với các ác và bất thiện pháp. Một người không biết xấu hổ, sợ hãi với những điều ác, bất thiện pháp đã gây ra thì họ không thể nào tiến bộ trong giáo pháp.
Vì thế, điều đầu tiên Đức Phật nói để tác thành một người tu hành chân chánh là phải biết xấu hổ và sợ hãi, phải thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, không phải phạm tội lỗi lớn mới sợ mà tội nhỏ cũng phải thấy sợ. Ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân Chánh Pháp, vạt y áo của ngài bị chấm đất thôi là ngài đã cảm thấy tàm quý, xấu hổ. Còn mình tội lỗi đầy đầu vẫn không thấy xấu hổ gì hết, ngược lại, khi bị nhắc nhở thì sân hận, bản ngã, cứ nhìn người ta chứ không nhìn lại mình nên tu hoài không thành công.
Những pháp tác thành Sa-môn này rất hay, học rồi sẽ thấy nhiều khi mình không được một phần nào trong lời dạy của Phật, nếu có cũng rất ít. Ví dụ người tu mà có những ham muốn bình thường của thế gian thì phải thấy "Thật là xấu hổ, nhục nhã, nếu cha mẹ biết, bậc đồng phạm hạnh biết, Đàn-na tín thí biết thì mặt mũi nào nhìn họ", "Thật không dám nhìn ai vì mình có những ý nghĩ tham dục, thấp hèn, hơn thua như vậy, như vậy là xấu hổ quá, nhục nhã quá. Những thứ này sẽ đưa mình vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu như vậy. Đến khi thành tựu pháp tàm quý này viên mãn thì vị đó sẽ đi đến Thánh trí huệ của bậc Thánh, vì lúc nào họ cũng gội rửa thân tâm.
Giống như một người lúc nào cũng quét dọn chùa, có thời gian là lau chùi, dọn dẹp chùa rất sạch sẽ, cũng vậy, người tàm quý là lúc nào cũng nhìn lại thân tâm, cảm thấy xấu hổ với những ác bất thiện pháp, những rác bẩn trong căn nhà nội tâm. Họ lo sợ với những cấu nhiễm, bất tịnh này vì nó đưa đến quả báo ác, đưa đến khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục trong tương lai. Thế nên khi lỡ có một lời nói hay hành động không đúng pháp thì họ luôn sợ hãi, bất an và lập tức điều chỉnh bản thân, nhờ vậy họ tu rất tiến bộ, mau chứng đắc. Còn một người có tội mà không biết, hoặc khi ác bất thiện pháp sanh khởi thì họ cũng mặc kệ, để cho buông trôi, rơi tự do thì đến một ngày họ sẽ lọt xuống vực sâu.
Vì vậy, pháp tàm quý rất quan trọng, nếu không có pháp tàm quý, không có xấu hổ, hổ thẹn thì người tu không ra người tu, chính từ đây làm chúng ta bị mất uy tín rất nhiều. Thậm chí, nhiều khi chính chúng ta không để ý đến oai nghi, đức hạnh, giới hạnh, buông lung phóng dật, không nhìn lại thân tâm và quên luôn bản thân là người tu nên hành vi và cử chỉ không kiểm soát, thả lỏng các căn, không hộ trì căn. Cho nên, người tu phải luôn an trú trong tàm quý.
Đức Phật dạy người tu một ngày ăn một bữa, trong giới không cho ăn chiều, vì vậy, nhiều khi buổi chiều mình ăn thì phải cảm thấy xấu hổ, ăn trong xấu hổ vẫn đỡ hơn ăn trong buông lung, từ sự xấu hổ đó mình hạn chế từ từ cho đến mức không ăn chiều là sẽ giữ được giới. Còn đằng này cứ trơ trơ, không cảm thấy gì hết, đã ăn chiều lại còn buông lung phóng dật thì người này không bao giờ thành tựu giới được, đây là chỗ quan trọng. Hơn nữa, nếu mình có những dục ái không đúng pháp, là phàm phu pháp, thế tục pháp, bất tịnh pháp mà mình lại thấy nó là bình thường thì cuộc đời tu là con số 0. Ngược lại, nếu thấy đó là xấu hổ, sợ hãi, tội lỗi, từ đó quán chiếu, tác ý để giảm thiểu cho đến khi xa rời nó thì giới hạnh được thành tựu.
Như vậy, đối với bất kì điều gì cũng phải lấy tàm quý tu học để giúp mình thành tựu giới hạnh – thiền định – trí tuệ, phải thường tác ý xấu hổ và sợ hãi trước những tội lỗi, ác, bất thiện pháp.
Thanh tịnh ba nghiệp và sanh mạng
Hơn thế nữa, Đức Phật cũng dạy rằng, một người đã thành tựu hạnh tàm quý, thường trú trong đó nhưng không được hài lòng, thỏa mãn mà phải biết rằng mục đích của người xuất gia còn cao hơn nữa, phải làm thêm nữa chứ như vậy không phải là đủ.
Thân hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Thành tựu rồi nhưng phải làm hơn nữa chứ không phải nói tu chỉ có một pháp. Thân hành là những hành động của thân phải trong sạch trong giới luật, minh chánh là quang minh và chánh trực, không có lén lút, che đậy, không có che giấu, không có tỳ vết, ở trước mặt người ta cũng vậy và ở sau lưng cũng phải vậy, chỗ này rất khó khăn. Không phải có người ta mình mới giữ kẽ, còn không có ai thì thoải mái, buông thả, trước mặt như thế nào thì sau lưng cũng phải như thế đó.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. (Trung Bộ kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Tu không phải giống như mình vẫn thường nghĩ, tu để thành tựu giống Đức Phật dạy là cả một công trình vĩ đại. Tự mình kiểm tra lại mình xem có tỳ vết không, nếu có phải sám hối, sửa đổi, phải làm mới, làm sạch thân tâm tự thân theo tinh thần của giới bổn, theo tinh thần của những học pháp. Vì thế chúng ta phải thực tập rất nhiều, cách ngồi cũng phải thực tập, cách nói chuyện, cách đi đứng cũng phải thực tập, cử chỉ hành vi cũng phải thực tập. Đừng nghĩ rằng chỗ không có người là không ai thấy rồi mình muốn làm gì thì làm, mà tất cả sự hoạt động của mình đều thu trong thọ, tưởng, hành, thức và phi nhân ở đó đều nhìn thấy; hoặc địa thần, các vị chư Thiên cũng đều nhìn thấy mọi thứ. Cho nên, chúng ta phải nhớ rằng, khi mình ở một mình, không phải là không có ai, lúc nào mình cũng phải thấy có mười cặp mắt đang nhìn mình dù cho có ở một mình trong tịnh thất và luôn tự nhắc nhở: "cô là người xuất gia, cô là người tu, cô là tu sĩ đó" , "thầy là người tu đó".
Thân hành phải minh chánh, không được che giấu. Dù cho chúng ta có làm được nhưng cũng không vì vậy mà khen mình che người. Chẳng hạn mình làm được cái gì mà người ta không làm được là mình dè bỉu họ "người đó làm sao tu bằng tôi", như vậy là bản ngã sanh khởi, như vậy là sự tu hành của mình nhằm tăng bản ngã, dù cho làm thiện pháp nhưng vẫn làm tăng bản ngã. Mình không ăn chiều mà gặp những người khác ăn chiều là mình nhìn họ bằng con mắt khác, như vậy là không đúng. Bởi lẽ, không phải tu để lên mặt với người ta mà tu để diệt cái tham dục ái, không phải tu để hơn người ta. Cứ nghĩ rằng mình tu để hơn người ta là tăng trưởng cái ngã, cái tôi, mà tăng trưởng cái ngã, cái tôi thì tham sân si, sầu, bi, ưu, não sanh khởi. Cho nên, dù chúng ta có làm gì đi nữa, có đóng góp nhiều trong chùa thì đó là cơ hội để mình rèn luyện, tích lũy phước đức nhằm phụng sự Tam bảo chứ không phải làm nhiều để nói mình giỏi hơn người ta, đó là quan niệm sai lầm. Phải nhớ trong tất cả mọi công việc đều phải nhiếp phục bản ngã thì đó mới là cốt lõi của sự tu, bất cứ làm cái gì dù là tu, là học mà bản ngã tăng lên là làm sai chứ không có đúng. Lúc nào cũng nhìn lại nội tâm cũng "thấy xấu hổ, lo lắng vì còn cấu uế, hất mặt, ưỡn ngực, vênh váo để làm gì?", "có gì trong này để ta đây, hơn thua?", cho nên làm được nhưng không khen mình chê người.
Khẩu hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Lúc nào Đức Phật cũng nhắc không được khen mình chê người ở cuối mỗi lời giảng. Miệng thanh tịnh là cả một vấn đề, không phải chỉ đơn giản là nói ba nghiệp thanh tịnh nhưng đó lại là cả một công trình tu tập miên mật, khít khao, tu liên tục, giữ giới liên tục. Thật sự rất muốn lấy băng keo dáng miệng lại vì hễ mở miệng ra là thị phi, nhân ngã, hơn thua, ta đây cho nên mở miệng ra chỉ nói pháp, có công việc gì cần thì nói, xong rồi thôi vì đó là sự im lặng của bậc Thánh.
Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu).
Nếu nói một hồi là đi vào bát quái trận, chắc chắn là vậy trừ khi chánh niệm tỉnh giác cực kì kĩ lưỡng, nếu không sẽ bị cuốn vào câu chuyện gây thị phi, đúng sai, phải quấy, hơn thua, tốt xấu cho nên khẩu hành thanh tịnh là cả một vấn đề khó khăn. Khẩu hành là những lời nói của miệng cho nên càng nói ít càng tốt, chỉ trao đổi về pháp hoặc thời tụng kinh, chỉ nói khi cần để dưỡng thần, dưỡng khí, tập trung vào việc nội soi thân tâm. Đức Phật dạy phải nói đúng thời.
Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân". Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập. (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Hơn nữa, thân – miệng – ý luôn phải có sự thanh tịnh minh chánh, cởi mở. Cởi mở là nhìn mọi vấn đề theo hướng mở, nói chuyện theo hướng mở sẽ khác với cách nói cằn nhằn, cự nự, khó chịu, nói chuyện móc họng người ta mà đó là khẩu nghiệp, nói hoài sẽ thành quen mà quen là sửa không được, cứ ưa thích, muốn nói như vậy mà nó trở thành sức mạnh của thói quen, là nghiệp lực. Cho nên mình tu là giữ bốn giới: Không nói dối, không đâm thọc, không nói lời ác và không nói lời phù phiếm.
Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Có những người thích nói để người khác cãi nhau, đó là ác nghiệp, những lời đó không có thanh tịnh, minh chánh. Còn nói lời cởi mở là nói để đưa đến sự mở tâm ra, suy nghĩ theo chiều hướng tích cực. Ví dụ có người phạm lỗi thì khi họp chúng hoặc ngồi với nhau phải suy nghĩ "Chúng sanh tham sân si là chuyện bình thường, biết đâu mai mốt mình cũng bị nên khởi từ bi tâm họ", suy nghĩ như vậy là cởi mở, đằng này người ta nói rồi mình còn đổ dầu vào lửa "tôi thấy mấy lần chứ không phải mới lần này đâu", đó là ác khẩu.
Ý hành
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Ở Linh Quy có các sư cô hoặc các Phật tử trong đạo tràng Nikāya nếu có suy nghĩ xấu đều ra trước đại chúng để sám hối, đó là một sự tha thiết chân thành trong sự tu học. Làm sao người ta biết được suy nghĩ của mình nhưng họ lại ra trước đại chúng sám hối vì tự thấy đó là suy nghĩ xấu, bất thiện. Cái đó là một sự kiểm soát thọ, tưởng, hành rất kĩ lưỡng, nếu không kiểm soát thường xuyên thì suy nghĩ phớt qua rồi mất, hoặc là mình nhập chung với nó chứ không thấy đây là ý hành và ý hành này là ác bất thiện pháp, trong ý hành này có bản ngã, ý hành này là sân hận, thế là ra sám hối. Tu như vậy mới nhìn ra được các lậu hoặc, các sự vi tế vận hành trong thân tâm chứ còn nhìn ra bên ngoài thì làm sao nhìn thấy bên trong. Một khi không nhìn thấy nội tâm thì làm sao nhìn thấy những thứ ở những tầng lớp sâu thẳm phía dưới. Cho nên phải nhớ rằng, không phải nhìn vào trong nội tâm là có thể thấy được liền, có những cảm giác, suy nghĩ buộc mình phải lắng đọng để xem trong đó có gì.
Ví dụ, đang ngồi một mình rồi buồn nhưng không biết vì sao buồn, vậy là phải lắng xuống để tìm trong cảm giác từ đâu sanh ra cái này, đó là mình đang tìm Tập Thánh Đế, tìm nguyên nhân sanh khởi cảm thọ đó. Khi nhìn sâu xuống sẽ phát hiện dục lậu, chính cái dục nay làm cho mình buồn, điều này rất sâu sắc nên hơi khó hiểu, phải nhập thất tu hành mới thấy được nó. Tự nhiên lại có cảm giác buồn man mác nhưng không hiểu buồn vì lý do gì, đó là trạng thái những cảm giác trong dục lậu sanh khởi. Còn cái thúc giục làm cái này làm cái kia thì đó là hữu lậu, hữu lậu là sự dao động từ bên trong cho đến bên ngoài, nó thúc giục bên trong làm cho mình phải động đậy, không ngồi yên được, ngồi thiền cứ muốn bung chân ra, "ngồi mệt lắm, đau chân lắm, nóng nực lắm", nói đủ thứ trong đầu vậy là mình bung theo nó. Còn mình ngồi mà không biết thân tâm, không biết thọ; tưởng; hành mà chỉ thấy chỉ có một đống tôi và của tôi thì đó là vô minh lậu, si ám. Nghĩa là khi kông thấy rõ ràng các pháp, không thấy ngũ uẩn, không thấy tứ đại kết hợp mà chỉ thấy là tôi và tự ngã của tôi thì đó là vô minh, si ám, ngồi thiền trông rất khổ sở hoặc là ngơ ngác, si dại, trạng thái tâm không minh mẫn, sáng suốt trong ngoài các pháp, cái trí không vận hành.
Chính vì vậy, phải luôn luôn giữ gìn thân – miệng – ý cho thanh tịnh.
Sanh mạng
Và dù cho thân – miệng – ý đã tu tập thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, không che giấu nhưng không vì thế mà khen mình chê người. Đây là chỗ sâu sắc, mình cứ lo mình, lo quay lại để tẩy sạch, gội rửa, nhiếp phục và diệt tận các ác bất thiện pháp trong thân – miệng – ý, đừng nhìn người ta.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))
Sanh mạng là sự nuôi dưỡng mạng sống. Sanh mạng thời Đức Phật thường chú trọng vào giai cấp trong xã hội, tức là người sanh ra trong những giai cấp thấp thường bị kinh thường, giai cấp tu hoặc thương nhân, quan quyền chức tước, cao quý của giới tu hành là Bà-la-môn, người ta hay so đo với nhau giai cấp, xuất thân. Giám đốc mà đi tu sẽ khác với trước khi vào tu làm công việc rửa chén, lau nhà ngoài xã hội, cho nên dù cho mình có ở trong đẳng cấp nào, giai cấp nào, thành phần nào trong xã hội cũng không khen mình chê người. Ngoài đời chơi với nhau phải môn đăng hộ đối, vào tu cũng lựa người học cao, có trí thức trình độ mới chơi, còn người thấp thì cho qua, đó không phải là cái nhìn nhận đúng đắn của người xuất gia, Thế Tôn đã nói nước bốn biển chỉ có duy nhất một vị mặn mà thôi.
Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Tất cả vào đây để tu học pháp giải thoát chứ không phải vào đây để nhìn vào giai cấp xã hội nhằm phân biệt cao thấp, sang hèn. Sang hay hèn đều phải cạo đầu trọc, cũng chỉ có một tấm y, cũng phải đổi thành họ "Thích" vì thế không được lấy giai cấp ra để so đo với nhau.
Hộ trì các căn
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))
Những điều này là giới căn bản khi Đức Phật còn tại thế nhưng hiện giờ chúng ta lại ít được nghe thấy, nếu không học thì không thể giữ giới thành tựu, thiền định và trí huệ không sanh.
Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))
Vì sao phải hộ trì căn
Điểm quan trọng của người tu, nghề chính của người xuất gia là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần phải có sự hộ trì. Ví dụ, vừa nghe nói đóng cửa phòng học là có một số người than nóng; hoặc khi có tiếng động ở nơi khác vang vọng thì cảm thọ, suy nghĩ trong tâm liền có sự thay đổi. Cho nên, nếu không hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là không bao giờ thấy pháp mà chỉ thấy cảnh bên ngoài, dù cho suốt đời ở trong chùa cũng vẫn là hướng ngoại chứ không thể thấy pháp. Khi nghe tiếng động bên ngoài là phải xem lại trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì khởi lên, điều này rất khó nhưng rất tối thượng, chỉ có như vậy mới có thể nhiếp phục được bản thân.
Đức Thế Tôn được gọi là bậc Điều Ngự Sư, nghĩa là bậc chế phục, điều ngự thân tâm chính mình và chế phục, điều ngự những người cứng cỏi trượng phu trên thế giới này. Do Ngài có điều phục, chế ngự, chế phục thân tâm của Ngài cho nên Ngài có khả năng điều phục, chế ngự hết tất cả những chúng sanh cứng cỏi, khó độ. Còn chúng ta không điều phục được chính bản thân mình thì điều phục được ai? Chỉ cần một tiếng động thôi là mình đã rối loạn. Thế nên, hằng ngày, khi con mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với đụng chạm… đều phải được hộ trì, nếu không hộ trì tâm này sẽ rơi tự do.
Một người tu nếu gặp người đẹp là cứ nhìn hoài, nhìn không chớp mắt, tuy mình không nói ra nhưng họ biết mình đang dính mắc. Cho nên người tu phải có cái nhìn của người tu chứ không phải muốn nhìn sao là nhìn, đó là sự hộ trì mắt. Bởi vì khi nhìn vào chỗ không nên nhìn thì ái sanh khởi, dục sanh khởi, tham sanh khởi. Ngài Anan thường tiếp xúc với Ni giới để giúp Ni chúng thành tựu, cho nên Ngài Anan hỏi Đức Phật thường ngày phải tiếp xúc với phái nữ như vậy thì phải làm sao. Đức Phật nói cần phải giữ khoảng cách, đừng nhìn thẳng vào họ mà hãy nhìn xuống, cũng đừng nói chuyện nhau, hoặc nếu cần phải nói thì hãy hộ trì các căn.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm.
(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Như vậy, khi tiếp xúc với những đối tượng có thể sanh khởi tham ái thì đừng nên nhìn thẳng vào mắt họ, điều này cực kì quan trọng. Nếu không học pháp sẽ không biết rồi gặp ai cũng nhìn thẳng vào họ, nhìn cho kĩ từng chi tiết thì như vậy là đã nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Trong đó, tướng chung là tổng quát thân thể hoặc đồ vật; tướng riêng là chi tiết từng bộ phận của người đó hoặc món đồ vật đó. Đức Phật dạy “khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”, bởi lẽ, một khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng, nhìn kĩ từng chi tiết trên thân thể, gương mặt họ thì khi ngồi thiền hình bóng người đó hiện ra, sau đó cảm thọ khởi lên, ý hành sanh khởi liên tục, như vậy là một dòng tâm ý bắt đầu vận hành trong tâm khiến chúng ta không thể yên định ngồi thiền được. Sau khi đã tiếp xúc, lúc trở về ngồi thiền thì những thọ, tưởng, hành sanh khởi nên những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sẽ hiện ra, sau đó là thọ, tưởng, hành thứ hai, thứ ba, thứ tư tiếp tục sanh khởi…. Chúng cứ liên tục như vậy, vận hành không ngừng nghỉ thì gọi là tương tư.
Cho nên, Đức Phật dạy phải chặn xúc ngay từ những bước đầu. Khi con mắt thấy sắc đã phải hộ trì, tức là chúng ta phải chặn từ cánh cửa đầu tiên, nếu không chặn thì nó sẽ tiến càng ngày càng sâu, đến khi vào tận bên trong thân tâm là mình thất bại. Sự tiếp xúc của sáu căn đối với sáu trần rất là nguy hiểm, nếu không có sự hộ trì thì khi nhìn một cái gì; nghe một tiếng gì; hoặc tiếp xúc, đụng chạm với một người nào đó… đều dễ dàng khiến mình rơi vào sân si, tham ái. Trong kinh Đức Phật có nói chung quanh chúng ta là gai, trước mặt là gai, hai bên là gai, sau lưng là gai, đi chỗ nào cũng có gai. Cho nên, người biết tu là người phải hộ trì rất cao vì không hộ trì thì sẽ đạp trúng gai.
Bình thường, chúng ta mang kính, mang giày là để bảo vệ thân thể. Đội nón bảo hiểm là để bảo vệ cái đầu. Khi hai người bị tai nạn giao thông, giữa một người có đội nón và một người không đội nón thì mức độ thương tích sẽ khác nhau rất nhiều. Hoặc khi đi nắng nhiều mà có kính mát để bảo vệ mắt thì mắt sẽ được bảo vệ tốt hơn so với người không đeo kính… Cũng vậy, chúng ta thấy rằng, một người có hộ trì căn sẽ rất khác so với người không có hộ trì căn. Vì thế, sự hộ trì căn là cực kì quan trọng, cần phải hết sức cẩn thận. Lúc nào cũng phải giữ gìn, hộ trì, bảo hộ sáu căn – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình.
Duyên sanh pháp trong hộ trì căn
Để hộ trì các căn thì chúng ta cần nắm rõ sự vận hành của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái. Vì vậy, bước đầu tiên là phải học duyên sanh pháp.
Duyên sanh pháp của mắt: Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
Do duyên có mắt và sắc, khởi lên sự rõ biết về sắc đó. Ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo thành sự tiếp xúc của con mắt (nhãn xúc), khi đó lập tức sanh khởi lên cảm giác và rơi vào một trong ba cảm giác sau đây: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu thì trong đó có sự tham, ái, thích; cảm giác khó chịu thì khiến mình mệt mỏi, sân giận; cảm giác không dễ chịu không khó chịu là đang trong trạng đơ đơ, trơ trơ của si.
Người có sự hộ trì là khi nhìn bất cứ cái gì cũng giữ gìn con mắt. Không phải muốn nhìn là nhìn, mà nhìn như thế nào để sau đó không bị nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng. Ví dụ, đối với một người thì chiều cao, dáng dấp, đen trắng là tổng thể, là tướng chung; còn tướng riêng là từng chi tiết, ví dụ như mũi, mắt, bàn tay, cánh tay. Nếu nhìn hoặc tiếp xúc mà mình bị nắm giữ tướng chung hay nắm giữ tướng riêng thì những tham ái, ưu bi, ác, bất thiện pháp sẽ khởi. Bởi vì một khi đã nắm giữ tướng chung, tướng riêng thì chúng ta sẽ có thọ, tức là sẽ có sự yêu thích hoặc ghét bỏ, như vậy là đều bị tham ái hoặc ưu bi trói buộc. Cụ thể, nếu ưa thích thì mình tham ái; còn nếu ghét bỏ, bực bội, khó chịu, ưu não thì mình ưu bi. Cho nên, trong kinh Tứ Niệm Xứ có nói phải quán thân, thọ, tâm, pháp để trừ diệt, nhiếp phục những tham, ưu ở đời.
Và để không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng thì Phật dạy chúng ta cần phải phá thân kiến. Phải biết rằng chính tấm thân này và những thọ, tưởng, hành trong tâm đều chỉ là ảo ảnh, trống rỗng, trống không, trống trơn, là do pháp duyên sanh, vô thường, vô ngã, giả dối, ảo tưởng, ảo vọng, ảo giác, không có thật. Tại sao chúng ta lại phải đau khổ với nó, giận hoài để được cái gì? Tại sao mình cứ dính mắc, chấp chước, tham ái để làm cái gì trong đống giả dối, ảo ảnh này, có ai ở đây đâu? Hỏi tâm giận của mình: “Mày muốn vào bệnh viện tâm thần hay sao mà cứ thương với giận?”. Chúng ta tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm giác, nghĩ, tưởng bất thiện ra khỏi tâm, nhờ vậy mình an tịnh, lắng dịu, chánh niệm, tỉnh giác, trở về với thực tại, hiện pháp lạc trú. Thực hành chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong sự an tịnh, lắng dịu, không chạy theo những ảo ảnh, ảo tưởng, trở về giây phút hiện tại và cảm nhận. Đó là thiền, là tu tâm, là chánh tư duy, là hộ trì. Như vậy, để không tham muốn, buồn lo và đau khổ thì khi tiếp xúc chúng ta không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Điều này khó, không phải chuyện dễ, nếu không biết dụng tâm và hộ trì tu tập thì không bao giờ thành tựu.
Duyên sanh pháp của tai: Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Như vậy, do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của tai với âm thanh gọi là nhĩ xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh thọ ngay lập tức gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác đó sanh khởi từ sự tiếp xúc của lỗ tai, sau đó sẽ có thanh tưởng, thanh tư, tức là tiếng vang của âm thanh đó sẽ vang trở lại trong tâm mình. Ví dụ, mình nói chuyện với người ta đã nói xong rồi nhưng ba ngày sau câu nói đó vẫn còn văng vẳng bên tai. Nếu mình thích âm thanh đó thì thanh tưởng hiện lên, thanh tư là suy nghĩ về câu nói đó, nếu câu nói này là ác bất thiện pháp sẽ nuôi lớn sân hận, nuôi lớn những cảm giác thù hận, bực bội và sau đó sẽ phát ra ngôn ngữ, khởi lên hành động nghịch chiều luân lý gây nên hậu quả của ác nghiệp cho hiện tại và tương lai. Thế nên, nếu không có sự hộ trì căn, tai nghe không khéo thì sẽ dính mắc vào đó, dẫn đến tham lam, sân giận, phiền não.
Duyên sanh pháp của mũi: Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.
Do duyên có lỗ mũi, có mùi, khởi lên sự rõ biết các mùi gọi là tỷ thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi gọi là tỷ xúc, khi tiếp xúc sanh ra thọ, đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra cảm thọ. Nếu đó là mùi khó chịu thì có cảm thọ sân, bực bội, sau đó là hương tưởng, hương tư, khi trở về nhớ lại mùi đó thấy sợ thì gọi là hương tưởng, suy nghĩ về mùi đó là hương tư. Ví dụ, lúc ăn bún riêu sẽ có mùi thơm của bún riêu. Khi đó có mũi, mùi của món ăn và sự rõ biết được mùi. Ba thứ trên hội tụ, giao thoa lại gọi là sự tiếp xúc của mũi. Khi tiếp xúc như vậy sanh ra cảm thọ, vì thơm ngon nên mình thích, bị thúc giục ngửi thêm, ngược lại, nếu mùi này không thơm thì mình khó chịu. Đó là do không có sự hộ trì căn từ lúc đầu nên mình thọ nhận mùi hương và dính mắc vào.
Duyên sanh pháp của lưỡi: Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do Thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.
Do duyên có lưỡi, có thức ăn, khởi lên sự rõ biết các vị. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi (thiệt xúc). Khi lưỡi tiếp xúc món ăn ngon sẽ thích là ái sanh khởi, trong tâm có sự thúc giục ăn nhiều, ăn nhanh là dục, tham. Nếu không nhiếp phục dục, tham, ái, không thấy sự vận hành của các cảm giác, cảm thọ, không có sự hộ trì căn thì chúng ta sẽ ăn trong dục, tham, ái chứ không ăn trong chánh niệm. Lúc đó, cảm thọ trong lưỡi xâm chiếm toàn bộ thân tâm, thậm chí có khi còn làm rớt đũa muỗng, tay áo dính cả vào thức ăn. Tất cả cũng bởi vì không hộ trì căn, thiếu sự chánh niệm, không có Thân Hành Niệm nên bị cảm thọ đó áp đảo, lôi kéo. Sau khi ăn xong trở về sẽ có vị tưởng, vị tư, hình bóng của mùi vị đó khởi lại trong tâm, suy nghĩ về hương vị món ăn hôm nay được ăn hiện trở lại. Nếu không tẩy sạch, chế ngự chúng thì mình sẽ bị dính mắc trong vị này.
Duyên sanh pháp của thân: Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.
Khi tiếp xúc với quần áo, tiếp xúc với cái ghế đang ngồi, tiếp xúc với bồ đoàn, hay tiếp xúc với những thứ khác và mình rõ biết sự đụng chạm với những thứ đó, như vậy gọi là thân thức. Nếu chỉ học nhưng không thực hành thì rất khó để biết thân thức là gì. Ví dụ, duyên sanh pháp mỗi khi ngồi, do duyên có thân và có sự tiếp xúc giữa thân mình với quần áo, ghế gỗ và rõ mình biết được chỗ tiếp xúc đó. Ba pháp này giao thoa với nhau gọi là thân xúc. Từ thân xúc sanh khởi ra cảm thọ. Chẳng hạn, ngồi ghế gỗ bị cấn đau thì hơi khó chịu; còn khi ngồi ghế salon đẹp, xịn, mắc tiền thì không chỉ lên ngồi mà còn nhún nhún nữa, đó là sanh ra sự dễ chịu, ưa thích, tham ái, đó chính là thọ thân. Đối với các cảm thọ đó, chúng ta cần hộ trì, xem xét, quán chiếu, không được để dính mắc vào.
Duyên sanh pháp của ý : Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Duyên sanh pháp của ý rất sâu sắc, có khi tu suốt đời mình cũng không biết thế nào là tu hộ trì ý căn. Cần phải có người hướng dẫn và có sự thiền tập thì mới biết làm thế nào để hộ trì ý căn.
Ví dụ, nhiều lúc đang ngồi, bỗng nhiên trong tâm mình có hình bóng của một ai đó xuất hiện. Khi hình bóng đó xuất hiện thì có một cảm giác tương ứng đi theo hình bóng đó. Nếu là hình bóng của một người mình ghét thì mình có cảm thọ sân si (khổ thọ) – thọ uẩn; hình bóng đó là tưởng uẩn; những lời nói lầm thầm xung quanh hình bóng đó là hành uẩn. Như vậy, dù không có người ở đó nhưng có hình bóng xuất của người đó hiện trong tâm, đồng thời có cảm giác và suy nghĩ chạy theo lòng vòng, khi ấy nếu có hộ trì ý căn thì mình biết có hình bóng, biết đang có cảm giác khó chịu và biết đang có suy nghĩ về hình bóng – đó chính là thức.
Nhờ có hộ trì, mình sẽ tự nhủ: “Giận gì mà giận, sân gì mà cứ sân hoài vậy, giận ba bốn chục năm rồi chưa đủ hay sao? Thôi đi, an tịnh đi, an dịu đi, mát mẻ đi. Cho khỏe, nhẹ nhàng. Đốt cháy hoài để làm cái gì?”. Tác ý như vậy để đánh đuổi những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ sân giận ra khỏi tâm. Mình ngăn chặn, không cho tâm đi theo những hình bóng, suy nghĩ. Đồng thời giữ gìn tâm để nó trở về cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Đó là sự hộ trì ý căn.
Ngược lại, khi không hộ trì là mình đi theo những thọ, tưởng, hành. Cứ ngồi nhớ lại tuần trước người đó nói câu gì, nhớ lại ba tháng trước người đó hành động như thế nào, nhớ thêm những chuyện của năm năm trước… Thế là mình lôi hết ra một chuỗi sân giận, kết thành một tràng đều là oán hờn, khi tức quá thì phát ra ngôn ngữ, hành động thiêu đốt cả mình lẫn người. Cho nên, ý căn này rất ghê gớm, nhiều khi chỉ ngồi một mình mà nó tự vận hành, nếu không tu tập, không nhận thức ngũ uẩn là mình không biết, cho nên thọ, tưởng, hành khởi lên là mình nhập vào theo nó.
Trường hợp khác, có lúc hình bóng của người mình ưa thích hiện ra; hình bóng những điều mình từng tiếp xúc lúc chưa đi tu và sau khi đi tu hiện ra; những hình bóng nghĩ rằng mai mốt sẽ như thế nào hiện ra… đồng thời khi đó cảm giác đi theo, có suy nghĩ nói lầm thầm, thức rõ biết những điều đó, ngay lúc ấy nếu không hộ trì, không giữ gìn thì mình sẽ đi theo những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ của quá khứ sanh khởi lên thì thọ, tưởng, hành mới lại sanh, sau đó nó diệt, rồi lại sanh ra. Từ thọ, tưởng, hành một rồi tiếp tục có thọ, tưởng, hành hai, ba, bốn,… cứ vậy chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh, mình đi theo trong đó không ra được là do không hộ trì ý căn. Chúng ta rõ biết được những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ là nhờ có sự để ý vào trong tâm. Nếu không để ý thì mình không biết lúc đó bản thân đang suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì. Cho nên người không để ý vào trong mà cứ hướng ngoại thì người đó tu không được.
Có những việc chúng ta gặp hằng ngày nhưng lại không nhận thức được, đó là vô minh. Ví dụ, đi đến đâu cũng va quẹt, làm chân tay bị trầy xước nhưng không hề hay biết, sau đó cứ lo làm bài, học bài, lo thi cử, tới chừng nhìn lại thì không hiểu tại sao lại có vết trầy xướt trên chân tay. Khi để ý vào chỗ đó thì thấy hơi rát rát, đau đau, sưng sưng, tức là, khi để ý đến chỗ nào thì chỗ đó mới hiện rõ ra trong tâm của mình, sự để ý đó là ý căn. Một ví dụ khác, vào buổi tối hoặc trong phòng bị cúp điện thì mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào rõ thì mình rọi vào chỗ đó thì vật ở trong hướng đó sẽ hiện rõ ra theo ánh sáng của đèn. Cũng vậy, khi để ý chỗ nào thì chỗ đó hiện ra các pháp trong thân tâm của mình; còn nếu mình không để ý là không hiện ra.
Bây giờ mình ngồi lắng yên lại, để ý vào bên trong thì lát sau mình thấy trong tâm có một cái tưởng. Nhiều khi được hỏi thì nói mình không có hình bóng gì hết, đó là tại vì mình hướng ra ngoài, còn nếu để ý vào trong thì mình thấy có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ. Như vậy, sự để ý hướng vào tâm để nhìn là ý căn; còn sự rõ biết lúc đó có hình bóng gì, có cảm giác gì, có suy nghĩ gì là ý thức; những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, những cái mình đã nghe, đã tiếp xúc, giờ còn lưu bóng trong tâm mình và hiện khởi trở lại là pháp trần. Ba pháp căn, trần, thức này giao thoa, tạo thành là chuỗi duyên sanh pháp. Khi ba pháp này chạm nhau, gặp gỡ ở một điểm giao thoa với nhau gọi là ý xúc. Tức là khi cầm đèn pin, lia vào góc nhà, nơi đó hiện rõ ra là cái bình, cái chén hay cái tô. Cũng vậy, ý căn đưa vào trong tâm nên thọ, tưởng, hành hiện ra và thức nhận thức được những thọ, tưởng, hành đó; khi đó ba pháp này giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ.
Chính vì vậy, khi ngồi một mình cũng có thể giận, có thể buồn, có thể vui. Tuy là ngồi một mình, nhưng nghĩ về người nào đó, có hình bóng người đó, rồi tự nói: “Tôi nghĩ về người đó tôi thấy thương quá!” hay “Nghĩ về người đó tôi thấy tôi bực mình, khó chịu quá, tôi thấy tôi ghét ghê vậy đó!” hoặc “Tôi thấy gj đó bình thường, không tốt không xấu”. Lúc đó, có tham sân, ưu bi sanh khởi thì lập tức phải hộ trì, không đi theo nó, biết nó chỉ là thọ, tưởng, hành, không có thật, chỉ là duyên sanh, là vô thường. Vì con mắt của mình nhìn thấy người nên giờ hình bóng người đó hiện ra; tại vì mình nói chuyện với người đó nên giờ câu nói mới văng vẳng đâu đây nhưng tất cả đều là pháp duyên sanh, không có thật, vô thường, trống rỗng, vô ngã. Vì vậy, nên xả bỏ, từ bỏ, không vì những câu nói, những hình bóng đó làm mình đau khổ, tham ái, mệt mỏi, hãy buông xả, từ bỏ, vứt bỏ, chấm dứt.
Đó là mình hộ trì, không để tâm bị tàn phá, phá hoại, đau khổ, khổ sở; còn nếu không hộ trì thì hình bóng hiện ra, dù mình giận hay mình thương đều nguy hại. Chúng ta đừng tưởng được thương là tốt, bởi lẽ, nhiều khi được thương nhưng mình chịu không nổi, vì bị bắt phải ăn cái này, bắt phải uống cái này, chỗ này cho đi, chỗ kia không cho đi. Chúng ta cũng đừng nghĩ có cảm thọ thương thì mình không khổ, bởi vì có khi mình thương còn khổ hơn cả lúc giận, chính vì vậy, hãy nhớ rằng, mỗi cảm thọ đều có nỗi khổ riêng.
Đoạn trừ duyên xúc
Chính vì không biết hộ trì căn nên khi tiếp xúc với con người, cảnh vật, món đồ nào thì mình cũng thu nhận, thọ nhận hết tất cả những cảm thọ vào tâm. Nhìn sâu vào đó, chúng ta sẽ thấy do duyên xúc mới sanh thọ, tức là từ tiếp xúc sanh ra cảm giác và sự tiếp xúc có được chính là từ chỗ sáu căn xúc với sáu trần. Do đó, nếu có sự giữ gìn sáu căn thì cái xúc được giảm thiểu, đồng thời cái thọ cũng sẽ giảm. Còn không giữ gìn, không phòng hộ, không hộ trì, cứ tiếp xúc, thọ, thủ một cách thoải mái, làm sanh khởi tham, sân, si thì chúng ta sẽ đau khổ vô cùng và tất cả đau khổ đó xảy ra cũng từ chỗ mình không biết hộ trì. Vì vậy, chúng ta cần phải giữ gìn, chế ngự các căn, đối với những nguyên nhân dẫn đến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp mình phải diệt trừ, chế ngự những nguyên nhân ấy.
Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần cần phải hết sức cẩn thận. Ví dụ, mình biết người đó hay kiếm chuyện, nói chuyện một lúc là chắc chắn họ sẽ gây sự thì mình nên tránh gặp và nói chuyện với họ. Đức Phật ví dụ đi ra đường gặp chó điên hay gặp người điên thì nên tránh, đừng đến gần, vì đến gần lại sẽ “lãnh đủ”. Một người lúc nào cũng sân hận, sân si, kiếm chuyện, gây sự thì tốt nhất mình nên tránh xúc là thượng sách.
Đức Phật dạy một trong những phương pháp đoạn trừ phiền não là phương pháp “tránh né để đoạn trừ”. Tức là không phải lúc nào mình cũng “yếu mà ra gió”, điều này giống như bị cảm mà ra tắm mưa thì chắc chắn sẽ bị bệnh. Vậy nên, cần phải tránh né để đoạn trừ, không xúc với mầm mống của những ác, bất thiện pháp. Thế nên, điều cần lưu ý ở đây là tùy theo trường hợp, tùy theo loại phiền não mà có phương pháp đoạn trừ, trừ diệt phù hợp, chứ không phải cái nào mình cũng đối mặt để xử lý, như vậy rất nguy hiểm. Cho nên phải kết hợp tránh né và phải hộ trì đúng lúc trong sự tu tập này.
Hơn nữa, khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ thì tất cả đều phải được hộ trì, được dòm ngó, được quản lý, xem xét xem trong đó có cái gì, trong thọ đó có tham ái, có sân si thì phải nhìn thấy, chứ không phải có thọ thì để vậy, không xem xét gì hết. Phải nhìn thấy được cái nào được thọ và cái nào mình không được thọ. Bởi vì có những cảm thọ khiến mình bị trói cột suốt đời. Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Đức Phật biết thọ cái nào là nên và thọ cái nào là không nên. Đối với những cái không nên thọ mà mình lại thọ thì không thể nào tu được. Giới luật, oai nghi, phép tắc trong đạo chính là để bảo hộ sự tiếp xúc, từ đó ngăn chặn được những cảm thọ không đúng pháp.
Có khi chỉ từ một sự tiếp xúc mà sanh khởi cảm thọ rất mạnh, tức là nghe một câu nói hoặc nghe một tin gì đó thì cũng đã rụng rời tay chân, có thể bệnh luôn hoặc ngất xỉu. Ví dụ, cách đây vài ngày, báo chí có đưa tin một cậu thanh niên chở mẹ tới chỗ làm, khi người mẹ bước xuống, cậu này quay xe để về, do bị che mất tầm nhìn, cậu này không thấy chiếc xe tải đang chạy đến nên vừa quay xe thì xe tải chạy đến cán nát người, người mẹ đứng kế bên thấy vậy xỉu xuống, bất tỉnh.
Lúc đó người mẹ chỉ xúc một lần là sanh khởi cảm thọ, mà thọ này có sức mạnh rất lớn, xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn nên người mẹ té xỉu khi thấy con mình như vậy. Người con chỉ vì bất cẩn một chút là xảy ra án mạng, không ai có thể tưởng tượng nổi chỉ một cái quẹo xe lại nát bét ra hết cả cơ thể, thân xác. Lúc đó căn, trần, thức, xúc, thọ của người mẹ vận hành cùng một lúc, xâm chiếm toàn bộ thân tâm nên người này ngã quỵ, ngất xỉu. Lúc đó các căn tiếp xúc với trần gồm: mắt nhìn thấy cảnh tượng đó; tai nghe những âm thanh, lời nói kêu gào và ý xúc ở trong tâm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, duyên xúc rất nguy hại trong sự tu học nói riêng và trong cả đời sống này nói chung. Trong thời buổi hiện giờ, không nhất thiết là đi gặp trực tiếp mà chỉ cần cầm điện thoại trong phòng và “quẹt” một mình thì đã là xúc và có thọ, tưởng, hành. Nhiều trẻ nhỏ cũng vì xúc trên điện thiện nên bị nghiện game, sau đó bỏ học, bỏ ăn, bỏ ngủ và thậm chí chết trên các bàn game. Nhìn sâu vào sự việc này, chúng ta thấy được duyên sanh pháp vận hành: xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, kết quả cuối cùng là chết trên bàn game, từ “game thủ” trở thành “tử thủ”. Còn người tu chúng ta phải là xạ thủ, tức là phải bắn được giặc phiền não chứ không phải là game thủ. Trong sự tu này lúc nào cũng cần phải phòng thủ, chứ đừng để thành chấp thủ, tử thủ.
Ngoài ra, sự chấp thủ này có mặt trong vô vàn trường hợp chứ không chỉ có người chơi game. Ví dụ như tử thủ trong nhà bếp, tức là không cho người khác vào làm bếp, bởi vì chấp thủ rằng: “Nhà bếp này là của con!” nếu có người nào vào thì: “Không được! Một mình con làm thôi”, không người khác nào được vào hết, hoặc nếu có ai vào thì người ta cũng chạy hết vì sợ. Tất cả những việc đó chính là do sự chấp thủ, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, dẫn đến các ác, bất thiện pháp, sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, tu là phải xả, không phải thủ. Tâm này là một tâm chấp thủ, chấp bên trong và chấp cả bên ngoài từ vô lượng kiếp. Người tu cần phải nhìn thấy được điều đó để phòng hộ, hộ trì, bằng không, tu hoài không tiến.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay,phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ-Kheo)
Đức Phật đã tuyên bố, Tỳ-kheo phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sẽ giải thoát mọi khổ đau. Bởi lẽ, người tu nếu không biết hộ trì, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì những tên giặc của vô minh, phiền não, tham, sân, si, bản ngã sẽ tàn phá thân tâm bất cứ lúc nào và chúng ta sẽ sống trong một đời sống khổ sở, không an lạc. Dù cho thân đang được ở chùa nhưng cũng không thể nào an lạc được, vì các ác, bất thiện pháp đã chất chứa khắp tâm mình. Chính vì vậy, chúng ta phải để tâm vào sự hộ trì căn từng giờ từng phút, không để cho những rác bẩn, cấu nhiễm có cơ hội sanh khởi và hãy luôn ghi nhớ rằng hộ trì căn là pháp tu vô cùng quan trọng của người xuất gia.
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: ""Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Hơn thế nữa, Đức Phật dạy, trong sự tu này dù chúng ta luôn giữ gìn, hộ trì sáu căn kĩ lưỡng nhưng cũng không được tự mãn, không khen mình chê người. Không nên tu được một chút thì lo nhìn người ta rồi nói người ta không tu, đây là điều nhiều người dễ mắc phải. Thay vào đó, chúng ta luôn quay về hướng nội, tự tu cho mình, còn chuyện của người ta là của người ta. Nếu có trách nhiệm, bổn phận thì mình nhắc nhở người khác, còn người ta nghe hay không là quyền của người ta, đừng vì họ không nghe mà mình phiền não. Nhắc mà người ta lo tu mà người ta không nghe thì mình buồn, như vậy để làm chi, tại sao không tự lo cho mình! Chính mình còn tham, sân, si, bản ngã mà không lo diệt, cứ nhắc người ta phải diệt, nếu người ta không diệt thì mình buồn, vậy tại sao không buồn cho chính mình!
./.