Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Dự Lưu 2 - Làm Sao Phá Thân Kiến 2

2026-03-03 00:56:21
Nikāya Giảng Giải

Dự Lưu 2 - Làm Sao Phá Thân Kiến 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng kinh Sáu Sáu PAGEREF _Toc201584250 \h 1

II. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc201584251 \h 1

III. Chấp ngã và phá thân kiến PAGEREF _Toc201584252 \h 8

IV. Khuyến tu PAGEREF _Toc201584253 \h 10

V. Vô minh PAGEREF _Toc201584254 \h 13

VI. Trình pháp PAGEREF _Toc201584255 \h 16

I. Tầm quan trọng kinh Sáu Sáu

Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe bài kinh sáu sáu trong Trung Bộ Kinh, tập III, kinh này là một trong những bài kinh rất là quan trọng để đưa chúng ta thể nhập vào thánh trí của Đức Phật, phá cái si mê, cái nhận thức sai lầm, cái nhận thức vô minh, nhận thức của mê muội. Bài kinh này Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta pháp hành, hồi xưa con cứ đi tìm pháp hành, không biết sao mình tu và mình thực hành làm sao trong khi cả một cái tạng kinh Nikāya đều là pháp hành hết mà mình không biết, bây giờ chúng ta mới thấy rất là quý báu.

Hôm trước một số vị cũng đã nghe là Đức Phật gỡ ra, mở ra, tháo ra, vén cái bức màn, phơi bày ra cho chúng ta thấy cái mà chúng ta cho rằng tôi và của tôi chỉ là một cái ảo tưởng, một sự mù lòa, một sự vô minh. Đầu tiên Đức Phật cho mình nhận diện rõ thân mình, kế đó Đức Phật cho mình thấy rõ cảnh vật, cái sự thật của nó, sau đó Đức Phật trình bày cho mình thấy nhận thức, tiếp theo là cái tiến trình hoạt động, vận hành của tâm, tức là cái sự tiếp xúc và có ra những cái cảm xúc, cảm giác, cảm thọ và cho chúng ta thấy được sự trói cột ở bên trong những cảm xúc của chúng ta. Đó cũng chính là nguyên nhân của khổ, chúng ta thấy bài kinh này đâu có nói chữ Tứ Thánh Đế nào đâu nhưng mà bài kinh này đang dạy giảng giải về Tứ Thánh Đế, Đức Phật nói tới sáu ái, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức, sáu thọ và sáu xúc.

II. Duyên sanh pháp

Sự tu của mình đầu tiên Đức Phật dạy mình quay trở về nhìn thân của mình, trong thân này nó có sáu chỗ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, Đức Phật nói cần phải được biết, kế đó là sáu ngoại xứ, sáu đối tượng của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Hồi xưa chúng ta chưa có học Nikāya thì sắc; thanh; hương; vị là dễ hiểu, qua cái xúc là hơi lờ mờ, xúc mình nghĩ là đụng chạm của thân thôi, vô tới cái pháp là càng khó, mình chỉ nói chung chung là pháp trần nhưng khi học Nikāya mình thấy rõ pháp là thọ; tưởng; hành, là đối tượng của ý, pháp trần, ý căn và ý thức. Đó là duyên sanh pháp của ý, khi mình để ý vào bên trong thì lúc đó những hình bóng trong tâm mình mới thấy, mình không có để ý vào bên trong thì mình đâu có thấy, cho nên mình để ý bên trong là thấy tại sao lại trong có hình bóng lúc mình mới có bảy, tám tuổi, lúc mình mới có mười tuổi thôi.

Mình gặp cái chuyện gì đó tự nhiên cho mình ngồi yên thì thấy lại hình bóng khi mình còn nhỏ, đó là do mình để ý vào bên trong, lâu lâu chúng ta nhớ lại những chuyện quá khứ, khi còn nhỏ, mà cái đó là nhờ mình ngồi thiền, nhờ mình nhìn sâu vào bên trong. Còn nếu như mình cứ nhìn ra bên ngoài, cứ hướng ngoại thì mình khó thấy bên trong lắm, cho nên mình nhìn vô thấy hình bóng còn trẻ, cái cảm xúc lúc đó, những cái suy nghĩ khi đó thì cái đó là pháp, là sự để ý của mình, đó là ý căn. Do duyên có sự để ý, có những cái hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, mình có một sự rõ biết trong tâm của mình gọi là ý thức, khi ba pháp này hội tụ, giao thoa như vậy thì khi đó là cái sự tiếp xúc của ý sanh khởi.

Khi ý tiếp xúc như vậy sanh ra cảm thọ, cái thọ này không phải là cái thọ của hồi nhỏ lúc đó, mà cái thọ này là cái thọ của bây giờ, đó là thọ; tưởng; hành thứ 2, 3, 4, 5… 10…100, nó cứ sanh diệt liên tục. Như vậy nếu mình không được học lý thuyết, mình không được thực hành, làm bài tập, không được hướng dẫn, chỉ dạy, mình không có được hành thiền định, thiền tuệ, thiền chỉ, thiền quán thì một cái đống đó trở thành một cái một cái cuộn chỉ rối rắm, một cái đống tơ vò. Mình làm gì biết được cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là xúc, cái nào là ý căn, cái nào là pháp trần, cái nào là ý thức, Đức Phật nói chúng sanh giống như là một cái đống tơ vò, một cuộn chỉ rối lắm là vì không rõ các pháp.

"Này Ananda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập pháp này mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)

Mình muốn rõ các pháp cái đầu tiên là phải học thuộc lòng, đó là lý do tại sao mà mình ở đây trả bài trùng tuyên thánh điển. Phải học thuộc lòng duyên sanh pháp, bây giờ nói định nghĩa ngũ uẩn một và hai thì ai cũng biết, bây giờ phải tới định lý duyên sanh pháp, mình thuộc lòng vẫn chưa đủ mà mình phải là làm bài tập bằng cách nhận diện tới lui và viết bài ra hoặc nói rồi ghi âm lại, gửi lên các vị lớn đã tu học lâu rồi, nhờ quý ngài xem giùm mình nhận diện có đúng không, có sai chỗ nào không thì các ngài mới chỉnh cho mình, từ từ mình nhận diện mới chính xác, mới quen. Khi mình nhận diện chính xác nhận diện, nhận diện quen, nhận diện rõ thì lúc đó một cái tôi không được thành lập, nó bị phá vỡ. Duyên sanh pháp của con mắt là do duyên có con mắt, có sắc, có sự rõ biết các sắc đó là nhãn thức, ba cái pháp này hội tụ, giao thoa tạo ra nhãn xúc, khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ, khi có cảm thọ thì sanh ra ái.

Khi tiếp xúc là sanh ái mà mình không có thấy, mình mù không thấy, mình nghĩ là tôi nhìn bình thường, đây là cái bàn, cái ghế, cái nhà, đây con tôi đây chồng tôi, đây cha mẹ tôi, anh em tôi, đây là thầy tôi, huynh đệ tôi, tỷ muội tôi nhưng mà tất cả cái đó là trong vô minh và tham ái hết. Cái đó là cái thấy của tâm mê, cái thấy của một cái tâm hôn ám và si mê, vì hôn ám và si mê cho nên nó yêu thích, nó ưa thích, nó khoái thích, đam mê. Nếu mình không được học pháp, mình không được thực tập nhận diện, mình không biết thế nào là sự thúc giục, thế nào là sự yêu thích, mình không biết thế nào là cái sự mong muốn, thêm lên, mình không phân biệt được dục, tham, ái thì làm sao mình có thể điểm mặt chỉ tên, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó được. Vì nó là nguyên nhân của khổ mà mình không biết nó ở đây hết thì làm sao mình đi đến chỗ chấm dứt khổ?

Cho nên bài kinh này Đức Phật dạy đầu tiên là mình phải nhận ra được cái bộ mặt của nó, mình phải biết tên tuổi, kế đó biết mặt mũi, sau đó mình biết tính tình của nó, cái bản chất của nó. Mình phải kêu trúng tên nó, nó là thọ thì phải kêu thọ, mình tên Cúc mà người ta gọi tên Hồng thì mình đâu có nhìn, kêu trúng tên mới có sự động chuyển. Bây giờ nó là thọ mà mình không biết nó là thọ thì làm sao có sự rung động, cảm động, chấn động? Cho nên đầu tiên là phải biết được tên của nó, xin gọi đúng tên tôi, tên Hiền Thịnh thì phải gọi là Hiền Thịnh chứ kêu Hiền Nịnh thì không đúng tên nên không có đứng lên. Cũng vậy, Đức Phật dạy cho mình phải biết được cái tên của các pháp trước, nó là cái thằng tham mà mình nói là tôi đâu có tham, cái này đâu phải tham là xong rồi cho nên có nhiều người Phật tử lại nói "Thưa thầy con hết tham, sân, si rồi" là nói trong mù, họ không biết.

Tại sao sự tu chúng ta không có đi tới cái kết quả đúng là bởi vì cái đầu tiên là cái tên mà chúng ta còn chưa biết. Đó là lý do phải biết tên, sau khi biết tên thì phải biết mặt, tên là Diệu An thì phải biết Diệu An nào, phải nhận diện được gương mặt thì đó là mình tập nhận diện các pháp. Cho nên cái tu học Nikāya tuyệt vời là vậy đó, nếu một người không biết lý thuyết thì không thể thực hành được, lý thuyết và thực hành phải đi song song với nhau. Bây giờ nhận diện thọ, nhận diện thức, nhận việc xúc như thế nào, thọ như thế nào, ái như thế nào thì phải tập nhận diện, cho nên là mặt mũi xong rồi tới tính tình. Ái là tính tình của nó, ở trong cái thọ này là cái ái tính tình, mình dễ thương, dễ thích, dễ khoái thì đó là tánh tình, là tham ái.

Nhiều khi bỏ cha, bỏ mẹ, của anh, bỏ em hết rồi vô thương con mèo, cái ái này có rất nhiều biến thể, nếu không nhìn thấy thì tu mãi cũng giống như chặt cái đầu này lại mọc ra đầu kia, chặt đầu kia lại mọc ra đầu nọ, cái ái nó dai như đỉa vậy mà mình không biết. Cái ái nó trá hình, ngày xưa mình ở nhà nhưng bây giờ vào chùa thì ái cái chùa, hồi xưa mình ái chồng, ái con, ái cha, ái mẹ, giờ vô ái đệ tử, ái huynh đệ, ái sư thúc, sư bác, sư tỷ, sư muội, sư ông, sư bà… Tu một thời gian kêu sư anh, sư em luôn, trong cái từ gọi nhau đó có ái trong đó cho nên chánh ngữ rất quan trọng, trong Nikāya chúng ta gọi nhau là "chư hiền".

Chỉ cần kêu cái tên đó thôi là tự nhiên nhắc mình phải hiền, nhớ phải hiền, hoặc là gọi nhau bằng "hiền trí" thành ra từ ngữ rất quan trọng. Đừng nghĩ rằng tu rồi không cần hình thức, ngôn ngữ gì hết là không phải, pháp của mình là ngôn ngữ mà, pháp của mình phải từ hình thức mới đi vào nội dung, đi vào tâm. Cho nên gặp nhau xưng hiền giả, chư hiền trí, chư tôn đức, khi mình kêu lên chư tôn đức, chư hiền trí là mình thấy một sự cung kính của mình đối các bậc trưởng thượng và lúc đó là cái ngã của mình xẹp xuống, nó lép xuống, cúi xuống, sập xuống, nó đổ xuống, nó bẹp xuống. Một cái từ thôi mà là pháp cho nên mình phải tập kêu nhau chư hiền, không kêu chị chị em em gì hết, bây giờ hiền giả Thịnh, hiền giả Diệu An hay là hiền giả Ấn Đức. Mình kêu như vậy là không có ái, bây giờ kêu "sư em, lại đây nói chuyện chút coi sư em" là thọ; tưởng; hành trong tâm khác liền, mình phải đi theo sự đặt để của Đức Phật, không có đi theo những người sau.

Quý vị nghĩ có người nào hơn Đức phật không? Tại sao Đức Phật làm ra mà không đi theo Đức Phật? Người không đi theo Đức Phật tức là kẻ vô minh, người ngu, chỉ cần nghe lời đi theo Đức Phật thôi là cũng đủ tiêu chuẩn Nhập Lưu nhưng lại không nghe lời Phật, nghe lời ái nên tu hoài không có kết quả. Bây giờ chỉ riêng cái từ gọi thôi, sư anh, sư em, sư chị so với gọi nhau bằng bậc hiền trí, hiền giả thì cái nào tuyệt vời? Trở lại vấn đề là biết tên rồi phải biết mặt nó, hằng ngày mình phải nhìn được cái mặt của thằng thọ nó ra như thế nào, thằng tưởng thế nào, thằng hành thế nào, nhìn thằng sắc này có hiền không. Nhiều khi ngồi như vậy nhưng ánh mắt lại không hiền, liếc ngang liếc dọc nhưng mình không thấy, người ta lại thấy.

Cho nên mình cảm giác toàn thân hay lắm, mình ngồi cảm giác cái mặt là tự thấy lúc đó mặt mình thì con mắt mình hiền, cái biểu cảm gương mặt hiền. Mình thấy được, mình cảm nhận được, mình biết được, đó là thức, mình biết được tên tuổi rồi mặt mũi, mình biết được cái tính tình, tánh ngươi hay ái lắm, hay tham lắm, hay thích lắm, hay khoái lắm, vậy là phải canh chừng tâm tham, tâm thích, tâm khoái đó. Cuối cùng là bản chất của nó, Đức Phật dạy con mắt này là trống rỗng, vô ngã, duyên sanh, vô thường, nhìn vô gương mình thấy con mắt long lanh thì phải biết con mắt này biến đổi, duyên sanh, vô thường, trống rỗng, vô ngã. Khi mình nói lên những câu pháp lệnh, pháp ngữ, tác ý như vậy, trí huệ như vậy thì lúc đó cái tâm mê mình tạm thời được nhả ra.

Một ngày mình nhắc được mấy lần? Một ngày tự mình nói chuyện với con mắt của mình, cái lỗ mũi của mình, lỗ tai của mình, với cái gương mặt của mình, tự mình nói chuyện, tự mình dạy dỗ cái tấm thân này của mình bao nhiêu lần? Một ngày mình niệm thân bao nhiêu lần? Một lần được bao nhiêu lâu? Một ngày mình tương ưng được với thánh trí tuệ Đức Phật đã dạy ở trong quán thân bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ? Một ngày mình nhắc bao nhiêu lần hay là chỉ đợi đến tới giờ học rồi lên đọc cái bài đó thì nghe bài đó rồi xuống thôi? Hằng ngày có tác ý không? Phải tác ý con mắt này là cái thứ kết hợp, là cái thứ duyên sanh, là thứ lắp ráp, là cái thứ vay mượn, là cái thứ biến đổi, đổi thay, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, vô thường, mình càng nhắc nhiều chừng nào thì lúc đó thọ; tưởng; hành của mình càng có trí tuệ, cái tâm mê bị đánh thức, tâm mê bị phá ngay trước lúc mình nhắc, ngay lúc mình nhớ, ngay lúc mình niệm, ngay lúc mình quán, lúc đó mình tỉnh, lúc đó mình thức, lúc đó mình đang ở trong cái trí, cái tuệ, cái mình. Nếu mình không nhắc nhở mà thả trôi là lúc đó mình đang sống trong vô minh, trong phóng dật, trong hôn mê, buông lung, si ám, bản ngã, trong ham thích, khoái, ái dục, tham muốn.

Cho nên có cơ hội nhớ về con mắt, nhìn được con mắt, thấy được con mắt là lập tức tác ý liền. Bây giờ tới sắc "những gì mà mắt của con nhìn thấy được, tất cả những cái thứ này là tứ đại, là duyên sanh, là vô thường, là biến đổi, là tan nát, là hủy hoại, là hoại diệt, là trống rỗng, là vô ngã. Hỡi cái tâm mê hãy nhớ đi tâm". Chỉ vì mấy đồng bạc cắt giữ xe thôi mà có thể đâm nhau, giết nhau chết, mấy tấc đất thôi mà huynh đệ tương tàn, chết năm mạng người, một con đường đi qua đi lại mà đổ xăng đốt nhà chết mấy mạng người. Cái sắc đó khổ như vậy, nó vô thường như vậy, nó tai hại, ác độc như vậy, nó hoạn nạn, nó ách nạn, nó khổ nạn, hiểm nạn, nó nguy nan, nó giết người như vậy.

"Này tâm, tâm có nhìn thấy không tâm? Tâm hãy mở to đôi mắt mà nhìn các sắc vô thường, những cái sắc ngu si, vô giá trị này để làm cho tự thân ta và cho những người xung quanh, tất cả hữu tình chúng sanh chìm ngập trong nước mắt, trong khổ sầu, trong hận thù, trong giành giật, trong tranh đấu. Cái tâm mê hãy mở mắt lớn ra nhìn cho thấu thị, cho minh kiến, cho thấu suốt, nhìn cho xuyên thấu tất cả các sắc trên cuộc đời này là đắng cay, là ác độc, là tai họa, là hiểm họa, nó là miếng mồi trong lưỡi câu, nó là hố sâu, là vực thẳm, là hầm lửa, nó là kẻ giết người, kẻ sát nhân. Tâm hãy nhìn đi tâm, nhìn cho kĩ, nhìn cho tận tường đi tâm". Mình dạy tâm của mình đối với tất cả sắc pháp, rảnh là mình dạy tâm, nhất là những lúc nó mê muội, nó tranh đấu, nó ham thích là mình phải dạy nó liên tục, chẳng những dạy xong rồi mình ghi âm lại, mình viết thành bài luôn, mình đọc tới đọc lui, mình tụng, mình đem lên trên bàn thờ mình đọc.

Đức Phật đâu có cần nghe mấy bài kinh mình trả bài cho ngài, mà mình đọc là để cho mình tỉnh cái tâm, nhắc cái tâm mình, sáng cái tâm của mình, mở cái tâm của mình, thức cái tâm mình. "Này tâm mê có thấy không? Con khổ mấy chục năm nay vì những cái tài sản này nè, lao tâm khổ tứ, bỏ ăn mất ngủ, u đầu sứt trán, liệt giường liệt chiếu, giành giật, đấu đá, máu, nước mắt và sinh mạng đổ ra, tất cả cái tâm mê của chúng con là vì cái thứ sắc vô thường này, cái thứ sắc vô nghĩa này, cái thứ sắc vô giá trị". Con thưa với các ngài nếu mà mình ăn có tốn bao nhiêu đâu, mình mặc có tốn bao nhiêu đâu nhưng tại sao cho mình cả cái địa cầu này cũng chưa thấy đủ? Là bởi vì tâm ngu, cái tâm tham chứ mình ăn bao nhiêu? Bây giờ trong người con không có một đồng bạc nhưng mọi người về đây con nuôi miễn phí một trăm phần trăm, con không có đồng bạc nào, không có hột gạo nào hết nhưng mọi người về đây tu tới chết cũng không đói.

Thật ra tại vì cái tâm mê, cái tâm vô minh, cái tâm ngu đày đọa cái thân xác này chứ mình đâu có thiếu thốn gì đâu. Bây giờ quý vị đang ngồi trong đây, ở ngay Linh Quy hoặc ở ngay Bửu Liên cũng vậy, có những vị bây giờ ăn tới chết cũng không có hết nếu mà một ngày ăn hai, ba bữa cơm. Mình ăn tàu hủ, dưa leo mà vườn nhà có trồng rau nữa thì tốn đâu có bao nhiêu tiền nhưng tại sao cái tâm này cứ đày đọa mình, hành hạ mình, nó bắt mình làm nô lệ, làm đầy tớ, đó là do cái tâm mê chứ không phải mình thiếu. Cái sắc này đầy đọa mình, sai khiến mình, nó hành hạ mình, nó hành xác mình, nó hành tội mình, mình ở đợ cho mấy thằng sắc đó. Quý vị đừng nghĩ qua nước ngoài là sướng, đi cày ba mươi năm mới trả xong tiền mua nhà, nhìn bề ngoài thấy cái nhà to bự nhưng thật ra đang thiếu nợ, không có cái nào hạnh phúc bằng cái tu.

Lúc làm cho cảm thọ phấn khởi, hân hoan để tu học thì co cảm thọ lại, lúc kêu thiền quán thì lại nhảy lung tung. Con mắt, các sắc là vô ngã, nếu cái sắc, con mắt đó có ngã thì thầy Pháp An đâu có không nhìn thấy được, quý vị đâu có mang mắt kính đâu, tới khi mình chết thì đâu có thiêu thành đống tro đâu. Nếu con mắt nó có ngã, cái mũi, cái tay, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này có tự ngã thì không có gì thiêu nó được hết, không có ngọn lửa nào thiêu nó được, không có đất nào chôn được nó. Nhưng vì nó vô ngã, vô thường, biến đổi, tan hoại, vì nó là cái thứ tiêu ma, hoại diệt, hủy hoại, tan nát cho nên nó không có tự ngã, nó không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, cần phải biết như vậy, cần phải thấy vậy, cần phải hiểu vậy, cần phải nhìn như vậy, cần phải thẩm thấu vậy, cần phải suy tư thường suy và liên tục như vậy cho nó ăn sâu vào bên trong tim, trong tủy, trong não của mình, đừng bao giờ quên để khi mà nó biến đổi, nó tan hoại mình thản nhiên, bình an và tự tại.

Sự rõ biết ở trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc này là duyên sanh. Bây giờ con ngồi đây mà phía sau có người chĩa súng bắn là ngã ra chết, có chú đó đang ngồi uống cà phê tự nhiên ngã ra chết, mọi người xung quanh không biết chuyện gì hết, điều tra ra chú đó bị bắn chết nhưng mà nó hãm âm thanh không có nghe. Chết như vậy là không có không có biết tại sao mình chết, không biết khi nào, không biết ở đâu, không biết tại sao, không biết chết rồi mình đi đâu, rồi bao nhiêu người bị tai nạn giao thông hoàn toàn không biết. Mình nghĩ mình biết lắm, cái gì mình cũng biết hết nhưng cái quan trọng nhất mình cần biết là cái chết mà mình không biết cho nên cái gì cũng không có chắc chắn, chỉ có một cái chắc chắn là mình chết, đó là cái chắc nhất.

Bình thường mình nhớ cái này thì tâm mình nhẹ lắm, tâm mình bình an lắm, cái thấy này, cái nghe này, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này là phải thực tập để mình thấy được sự trống rỗng ở trong cái nghe này. Tự nhiên đang vui vui vẻ vẻ, an an ổn ổn, lành lành thiện thiện tự nhiên nghe cái rồi làm như biến thành người khác, ầm ầm sân si lên, mặt mày đổi sắc, la hét, quơ tay múa chân lên, đó là pháp duyên sanh, là pháp vô thường, vô ngã cho nên có những cái mình tập nghe như điếc vậy đó, nghe như không nghe, từ bỏ nghĩ thức. Nghe để sân si thì nghe làm gì? Nghe để kích thích lòng tham, lòng dục ái của mình thì nghe làm gì? Thấy làm gì? Biết để hơn thua thì biết làm gì?

Cái thấy, nghe, hay, biết này là duyên sanh, là vô thường, là trống rỗng, trống không, may là cái lỗ tai mình duyên sanh cỡ vậy thôi chứ nếu mà nó nghe được hết thì làm sao tu được nữa, ai chửi ở đâu cũng nghe hết, ai nói lén cũng nghe hết thì làm sao tu được. May là đến gần mới nghe được mà còn khổ như vậy, nếu mà nó nghe được hết, ai chửi ở đâu, nói xấu bất cứ đâu, nửa vòng trái đất nghe hết là mệt người, sân si tối ngày, khác múi giờ mà bên nước ngoài chửi nghe được thì làm sao ngủ thành ra có những lúc mình phải bớt thấy, bớt nghe, bớt ngửi, bớt nếm, bớt xúc, bớt nhận thức. Đó là thâu nhiếp sáu căn.

III. Chấp ngã và phá thân kiến

Con đại kị lên nghe pháp mà ngủ, lên nghe pháp mà ngồi đơ đơ ra, thà là đi xuống ngủ đừng có lên ngồi, đang ngồi trong pháp trường mà ma ngủ nhập thành ra là thức, rồi xúc và thọ này là những cái cảm thọ. Cái xúc nhanh lắm, rất là nhanh, mình bắt không kịp đâu nếu không có thiền định sâu sắc, cái thọ là cái dễ nhất để mình tu nhiều nhất vì nó rõ nhất cho nên Đức Thế Tôn dạy con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, cảm thọ là vô ngã, ái là vô ngã tức là trống rỗng hết. Ngài chỉ cho mình từng cách cái dây này cột thế nào, mối thắt gút của nó ra sao, mở ra ở chỗ nào, tháo ở chỗ nào, nắm ở đâu, Đức Phật chỉ cho chúng ta từng lớp, thân nè, cảnh nè, tâm thức nè, cái sự giao thoa rồi sanh khởi lên cảm thọ. Đức Phật chỉ từng lớp tuần tự vậy mà bây giờ không nhìn thấy nữa thì thôi rồi, không chịu nhìn, không chịu quán nữa thì thôi.

"Này các Tỳ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'. Ai quán các sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán ái: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Người đó đang làm cho cái thấy mê lớn mạnh, đang làm cho cái vô minh tăng trưởng, người đó đang đi trên con đường hiểm nguy, tai họa, sầu, bi, ưu, não, khổ đau, người đó đang đi trên con đường sống chết tử sanh, nhiệt não, nóng bức, thiêu đốt, nổi chìm, trôi dạt. Nếu một người cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì người đó đang đi trên con đường khổ đau, đi trên con đường mù lòa, đang đi trên con đường vô minh, đang đi trên con đường bóng đêm, bóng tối, màn đen, đi trên con đường của lo lắng, của khổ sầu, của bất an, của sợ hãi, của tai họa. Nếu cho rằng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, người cho rằng những cảm giác sanh khởi lên từ sáu căn, những cái cảm giác nóng giận, hay là yêu thích, hay là những cái cảm giác thường thường, đều đều, cái nào cũng cho rằng tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì người đó đang đi trên con đường của nước mắt, khổ sầu, buồn đau, bất hạnh, người đó đang đi xuống vực thẳm, đang tiến về hố than hừng, đang đi vào trong những của khổ nạn, tai ách, hoạn nạn, đó là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến.

Cảm giác con mắt khởi lên khi nó tiếp xúc cũng nói đây là tôi "tôi thấy là tôi thấy tôi bực", cái cảm giác sanh khởi khi lỗ tai mình nghe đó là tôi "tôi nghe cái là tôi thích à", cảm giác khi ngửi sanh khởi lên cũng cho là tôi "tôi khoái vì nó thơm", những cái cảm giác khi mình nếm, mình ăn vô cái hương vị cũng cho là tôi, cái thân cũng vậy, sân si, tham lam, tất cả những cái đó là mình đang đi trên con đường khổ, con đường đầy gai góc, đầy hiểm nguy và tai họa. Đó là con đường của có thân, của tự ngã, của bản ngã, của chấp ngã.

"Nhưng này các Tỳ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: 'Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Ai quán sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Chúng ta gỡ ra, tháo ra, mở ra, cắt đứt những cái này, người nào nhìn được như vậy thì người đó đang đi trên con đường đoạn diệt thân kiến, đó là đi con đường Dự Lưu thánh quả, đi con đường Nhập Lưu, đi con đường của các bậc hiền thánh, đi con đường của đại quang, đại minh, đại trí, đại tuệ, là sự dập tắt một cái tự ngã, diệc tận những cái suy nghĩ về tôi, làm lắng dịu tất cả những cái cảm giác về ta, phá tan những cái hình bóng ở bên trong về một ảo tưởng của tự ngã, đập đổ cái nhận thức của vô minh, chấp thủ, thân kiến. Đó là sự tu tập của các bậc hiền thánh, đó là đó các bậc Chánh Đẳng Giác, đó là con đường có tất cả các bậc thánh Dự Lưu, Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, vô sanh. Mình phải tập, bây giờ muốn đi con đường nào? Con đường thân kiến hay là con đường đoạn diệt thân kiến? Đoạn diệt nó là đoạn diệt thân kiến, sự nhìn sai lầm về thân, đoạn diệt những cái thứ làm cho mình khổ đau gọi là Diệt Thánh Đế.

Mình không có diệt cái này thì làm sao mà mình tu? Mình không có diệc cái này thì làm sao mình hết khổ? Mình không có diệc cái này làm sao mình chấm dứt luân hồi? Mình không diệt hết cái này thì làm sao dừng hết tất cả những dòng nước mắt tận cùng thương đau? Mình không diệt cái này thì làm sao chấm dứt được khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái ở trong vòng luân hồi sinh tử này? Nhưng phải đều đều thường thường, bền chí kiên trì và liên tục dài lâu, không phải nghe năm ba bài rồi xong, hai ba tháng rồi bỏ, một hai năm rồi nghỉ mà nó phải ngấm vào, thường xuyên lắng nghe, thực tập quán chiếu, tác ý, nhắc nhở, tịnh tín bất động đối với thánh trí vô ngã này. Đây là thánh trí vô ngã, đây là sự đoạn diệt thân kiến, đây là sự phá tan chấp thủ, đây là sự làm cho cạn kiệt khát ái, đây là sự phá đổ vô minh, chặt đứt kiết sử, đây là con đường tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, đây là Tứ Thánh Đế, là Bát Chánh Đạo, đây là sự diệt tận nguyên nhân của các khổ, đây là sự nhìn thấy được thật sự về khổ đau, về căn nguyên, về nguồn cội.

IV. Khuyến tu

Không có học lơ tơ mơ, không có học sơ sơ mà phải trạch pháp rỏ ràng, trong sáng, quyết liệt, xác quyết phá hết tất cả mọi nghi ngờ thì mới diệt được năm triền cái. Không có cái gì khác ngoài cái này, đây là con đường độc nhất.

"Không bệnh, lợi tối thắng,

Niết-bàn, lạc tối thắng.

Bát chánh là độc đạo,

An ổn và bất tử" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)

Hằng ngày phải tác ý nhắc thường xuyên như vậy để cho nó xác quyết tuyệt đối, không còn xê dịch gì nữa, không còn lung lay, không còn nghi ngờ, không còn phân vân lưỡng lự gì nữa. Hễ còn có tôi, còn của tôi, còn tự ngã của tôi là còn nước mắt, còn máu, còn những tử thi, còn những đống tro tàn, còn những cái huyệt, còn những cái hòm, còn những cái thây chồng chất lên như núi cao, còn những dòng nước rất tràn đầy tứ đại hải dương, là còn yêu còn hận, là còn oán là còn thù, còn hơn còn thua, còn đấu còn đá. Chỉ cần cái này đã không còn của tôi nữa hết thì còn cái gì để mà hơn thua? Còn cái gì để mà yêu? Còn cái gì để mà hận? Còn cái gì để mà cao mà thấp, đúng mà sai trên cuộc đời này nữa? Con hay ví dụ ngôi nhà đang cháy mà hai người ở trong cứ cãi nhau giành đúng sai thì hai người đó ai đúng ai sai, ngu hết cả đám. Nói hai chữ vô minh không thọ nhưng nói chữ ngu là thọ liền, tiếng việt hay ở chữ đó, con là Hán thâm Nho trùm, con đọc đại tạng kinh bằng Hán tạng nhưng con rất ít dùng chữ Hán.

Mình đọc là để mình lấy được cái ý nghĩa trong đó rồi chuyển tải ra một cái gì dễ hiểu nhất cho mọi người chứ không phải mình học xong rồi mình thành người Hoa luôn. Thành ra mình học thế nào, quán thế nào để trong tâm mình có cảm thọ, nếu đọc mà không hiểu gì hết thì làm sao có thọ, tu là đánh vô cảm thọ mà bây giờ học không có thọ gì hết thì làm sao tu. Vô minh xâm chiếm mọi lúc mọi nơi, ma ngủ nhập vô thân tâm, hoặc là ma phóng dật, ngồi lại là gục còn buông ra là buông lung phóng dật, năm triền cái bao vậy, bao bọc, xâm chiếm, áp đảo, mình phải khéo léo và thiện xảo, mình phải có một cái nghệ thuật điêu luyện ở trong ngũ uẩn, trong thánh trí, trong tuệ giác.

"Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỉ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)

Vị này có một cái cảm giác vui, vị này thích, vị này khen ngợi, khoan khoái, thích thú thì vị này sao trú ở trong khoan khoái. dính mắt là ái trước. yêu thích và dính mắc trong đó. Vì vậy này yêu thích, khoan khoái, dính mắc ở trong cái cảm thọ vui sướng đó cho nên tham tùy miên của vị ấy tăng lên thêm. Cái này thật sự là nó sâu sắc, nó thẩm thấu, vi tế, nhỏ nhiệm, mỗi một lần mình nhìn thấy cái gì đẹp, con người, cảnh vật hay món đồ mà mình thích lên thì trong cái thọ sẽ tăng lên một chút cái tham. Giống như mình thấy một cái hình mà mình vẽ bằng viết chì, mỗi một cái đường nét mình quẹt xuống thì nó càng tô đậm lên thêm thành ra cái này hết sức vi tế trong sự tu tập. Cứ mỗi một ý hành khởi lên mà khoan khoái thích thú thì trong mình cái thọ tham ái lớn lên chút xíu, cái này rất là sâu sắc đoi hỏi phải có thiền định, thiền quán mới thấy được.

Một ngày nó bao nhiêu lần cái đó? Hoặc mình thấy hoặc là không thấy, mà đa số là không thấy, hoặc mình biết hoặc là không biết, có khi biết nhưng mà cũng vẫn để đó, mình không có xử lý nó. Người chân tu sâu sắc, miên mật, khít khao thì mỗi một lần khởi lên cái yêu cái thích đó là mình phải diệt ngay trong cái ý nghĩ đó, tác ý đẩy cái đó ra, đẩy cái cảm thọ đó ra khỏi liền "có cái gì trong này mà người yêu thích hỡi cái tâm mê? Có cái gì trong này mà ngươi khoan khoái hỡi cái tâm mê? Có cái gì trong này thật đâu mà người lưu luyến hỡi cái tâm hôn mê, si ám? Ngươi tham luyến những cái này, ngươi ham thích những cái này, ngươi chảy bao nhiêu dòng nước mắt rồi? Người đã đau khổ bao nhiêu ngàn lần rồi? Ngươi đã tìm kiếm nhọc nhằn, ngươi đã truy cầu đuổi bắt, ngươi đã đam mê, ngươi đã lún chìm, ngươi đã đau khổ trong đây vô lượng lần rồi. Tại sao giờ này còn chưa tỉnh ngộ nữa? Ngươi làm hang, làm ổ, làm tổ ở trong cái tử thi này, ngươi làm sào làm huyệt ở trong một cái đống xương da, máu mủ rồi, ngươi bám chấp vào trong đây để rồi người lo lắng, sợ hãi, ngươi khổ đau. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi hãy diệt tận thành mây, thành khói, thành hư không đi, ngươi không có chỗ trong tâm ta, ngươi đi ra khỏi tâm ta đi. Ta không dung chứa những cái ham thích, khoan khoái này, ta không chấp chứa những nguyên nhân đau khổ trong cuộc đời này nữa".

Mỗi lần sanh khởi lên mà mình có sự tác ý đánh nó ra thì mình sẽ thấy phép màu xuất hiện, trí huệ mình sẽ bừng sáng, minh kiến của mình sẽ được tăng trưởng. Mỗi lần sân cũng vậy, mỗi lần cảm thọ bực bội khởi lên mà mình để cho nó tự tung tự tác, mình để cho nó muốn làm gì thì làm, thì mỗi một lần như vậy là nó tô đậm lên cái bức tranh tâm về cái sân, cái giận của mình. Khi sanh khởi lên cái khó chịu là mình phải diệt liền "thôi vừa rồi, tao mệt rồi, tao mỏi mệt với ngươi rồi. Cứ bực bội, cứ cáo gắt, cộc cằn, hơn thua rồi thiêu đốt, nhiệt não như vậy để được cái gì hỡi cái tâm mê? Được cái gì trên cuộc đời này? Ngươi đốt cho lẹ để vào lò thiêu hay sao? Ngươi chỉ làm cho bản thân ngươi khổ và những thân thương nhất của ngươi sầu đau thôi. Người đang làm cái trò gì vậy hỡi này cái tâm mê dại, cái tâm nhiệt não, cái tâm nóng bức. Ngươi hãy dập tắt một cách hoàn toàn đi, thanh lương, mát mẻ hoàn toàn đi, ở đây không có chỗ chứa cho ngươi, ngươi tan biến đi, ngươi diệt tận đi, ta sẽ tẩy sạch ngươi một cách hoàn toàn".

Mình đuổi ra những cái cảm thọ đó ra, nếu mình để những cảm thọ sân hận, bực dọc, khó chịu, bức xúc, gắt gỏng, cộc cằn, cau có khởi lên như vậy là cái sân ở trong cái thọ của mình lớn lên chút, nó mạnh lên một chút, nó thêm lên một chút, cứ như vậy mà chúng ta vô thỉ kiếp tới nay là nó to lớn và sâu dày cỡ nào. Chính vì vậy mà bình thường thấy hiền, dễ thương nhưng mà đụng chuyện là lửa sân giận nổi lên, vì nó ở bên trong vô lượng vô biên kiếp, nó thâm căn cố đế, mình nuôi dưỡng cái tham sân, cái vô minh, mình nuôi dưỡng nó từng cái cảm thọ, từng cái suy nghĩ, từng cái nhận thức, từng hình bóng tâm là mình nuôi nó vô lượng vô biên kiếp. Từ nay về sau còn nuôi nữa không?

Đó là mình chất chứa và nuôi dưỡng phiền não, nhận tham sân làm bạn, nói làm bạn cho dễ nghe chứ thật ra nó làm ông, làm bà của mình, mình nghe lời nó lắm, nó ra lệnh là mình chạy theo cho nên bây giờ mình lấy lại quyền làm chủ, kiểm soát từng cái thọ, tưởng; hành, kiểm soát từng chút một.

"Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Mỗi lần cảm giác khó chịu khởi lên mà mình để cho nó tự tung tự tác, mình chấp nhận nó "Tôi đang giận, tôi thật sự chịu hết nổi rồi, giận quá rồi" thì như vậy là cái sân ở trong cảm thọ mình lớn mạnh lên, hiện tại nó là bộ chỉ huy, có chân đứng trong thân tâm của mình, tham, sân, si, dục ái, bản ngã có một cái một cái thế lực rất lớn trong tâm mình. Bây giờ mình muốn đẩy cái thế lực này ra để mình đưa cái thế lực thánh trí hiền thiện vô thì phải là một công cuộc chiến đấu khốc liệt, gian khổ ngày đêm chứ đâu phải chuyện đơn giản ngồi đó tự sanh diệt, không có đâu. Đừng nghĩ rằng nó tự sanh thì nó tự diệt, ngày đêm mình đánh đuổi gần chết còn chưa có thấy cái gì nữa, chưa có thấm thía gì nữa chứ đừng nói gì ngồi im cho nó khởi lên rồi tự diệt. Đức Phật không có dạy như vậy, nếu dạy vậy đâu có chánh tinh tấn, nếu dạy như vậy thì đâu có như lý tác ý, đâu có chánh tư duy, nếu dạy vậy thì không có dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, tinh tấn lực vì thế sự tu học không đúng thì nó không đưa đến kết quả trọn vẹn

Thành ra sự dũng mãnh, tinh tấn của mình như một con mèo rình chuột, như sư tử đớp mồi, nó sắc bén, mạnh mẽ, kịp thời và xử lý, tác chiến ngày đêm, ngay cả trong giấc chiêm bao cũng đánh giặc chứ đừng nói chi mở mắt. Vào ngồi thiền ngồi nhắm mắt thở ra thở vô là ngủ luôn, kêu trình pháp không biết gì để trình.

V. Vô minh

"Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Cái này rất thâm sâu, kẻ vô văn phàm phu không thể nào biết được, ngày xưa chưa vô dòng pháp này mình nghĩ sáng tới giờ công phu, ăn cơm xong thì đi làm công quả, trưa thì ở quả đường rồi về nghỉ, chiều học bài vậy, mình tu vậy là an lành rồi "con đâu có tham, sân, si gì đâu". Mình cứ nghĩ tu vậy là ngon rồi nhưng trật lất hết, đó là mình đang nuôi lớn vô minh vì khi một cảm giác không khổ không vui, không khó chịu không dễ chịu mà vị này không như thật biết năm loại trí tuệ hay là bảy trí về thọ, tức là mình phải biết được sự tập khởi và sự đoạn diệt, tại sao có cái cảm thọ này, làm sao để cảm thọ chấm dứt, vị ngọt sự, nguy hiểm và tác hại của nó và sự thoát ra, nói vắn tắt năm trí, nói đầy đủ là bảy trí. Mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ này, tức là mình nghĩ rằng hôm nay vầy thì ngày mai là vậy, tuần này là vầy thì tuần là vậy, tháng này là vầy thì tháng sau là vậy, năm nay là vầy thì năm sau cũng vậy, đó là vô minh, sự ngu si càng ngày càng thêm lớn lên.

Mình đang ngồi đây cũng không phải là như mình thấy đâu, lúc trước có một sư cô đang ngồi đây rồi ngã xuống xỉu tại chỗ vì bệnh nan y ung thư, đang ngồi nghe pháp mà ngã xuống, phải nằm xuống. Đâu phải thấy vậy là vậy mà ở bên trong này là một sự biến hoại, một sự biến diệt, biến đổi để đi đến tiêu ma, hoại diệt mà không nhìn thấy cái này là vô minh, còn chấp nhận cái nhìn đó, cho cái đó lớn mạnh trong tâm thì vô minh tùy tăng. Ví dụ mọi người cứ để chậu tùng này ở đây như vậy thì vài bữa nó sẽ hư, nó héo mòn, nó chết, nếu mình biết nó cần phải có không khí, có mưa, sương móc thì lâu lâu mình đem ra ngoài trời hoặc cho thêm đất vào thì cây tùng này sống lâu hơn. Nếu cứ nghĩ cây tùng nó sẽ như vậy nên cứ để vậy, chừng nào chết rồi tính nhưng chết rồi tính được không? Không có gì cái gì như vậy mãi được vì các hành là vô thường, tức là nó luôn luôn dịch chuyển, thiên lưu, biến diệt, biến dịch, dời đổi, tiêu ma, họa diệt, phải thấy được cái chữ hành là vô thường, hãy tinh tấn lên để giải thoát.

Chữ hành đó có nghĩa chữ Hán là đi mà cũng là sự vận hành, tức là nó không có đứng một chỗ mà nó phải luôn luôn di chuyển, động chuyển, vận chuyển, dịch chuyển, chuyển đổi, biến chuyển, vận hành đang đi đến chỗ diệt tận. Đó là ý nghĩa chữ hành, sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành, ngũ uẩn này là một sự vận hành để đi đến chỗ diệt tận nhưng mà mình vô minh, mình cứ nghĩ nó vậy là nó vậy thôi, khi nó không vậy nữa thì mình đau khổ, sầu bi, Đức Phật gọi là bứt tóc than vãn, khóc lóc, đấm ngực, rơi vào bất tỉnh. Khi nó xảy ra những chuyện đó là mình kêu trời không thấu, kêu đất không nghe, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, gần như là chết rồi hoảng loạn, có người nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông, có người uống thuốc kết liễu cuộc đời mình tại vì họ không chấp nhận cái biến đổi đó.

Mình nhớ rằng trong cái bình thường này không có cái gì là bình thường hết, phải nhớ như vậy, không có một cái gì bình thường hết, tất cả nó đều là bất thường, bất trắc, bất an, bất định, bất ổn. Phải thấy được cái tính chất đó thì mình mới ra khỏi được cái vô minh tùy miên ngu ngốc, suy ám, hôn muội này, mình phải thấy được cái đó, trong cái an phải thấy cái nguy, trong cái định phải thấy cái loạn, trong cái sống phải thấy cái chết, trong cái khỏe phải thấy cái bệnh, trong cái trẻ phải thấy cái già, trong cái sanh phải thấy cái diệt.

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Được hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Người luôn luôn chánh niệm quan sát sự sanh diệt của các uẩn thì người đó được hoan hỉ, được hân hoan, được hạnh phúc, chỉ có bậc bất tử mới biết được hạnh phúc đó. Lúc nào cũng thấy cái đồ sanh diệt này, cái đồ hư dối này, cái đồ vô nghĩa, vô tình, vô thường, vô ngã này, cái thứ tàn hoại này, cái đống tro này, cái nùi giẻ này. "Ngươi đừng có gạt tao nữa, tao không có ngu nữa đâu, ngươi đừng có mong gạt tao nữa, tao đi theo bậc đại trí tuệ rồi". Như vậy mà không chịu học, không chịu tu thì làm cái gì nữa? Trong cuộc đời này không có gì đáng nghe rồi nghe cái này, đây là cái nghe vô thượng, không có gì đáng học hết, chỉ có học tối thượng này đó là chánh pháp Nikāya tối thượng. Bà cụ già hơn bảy mươi tuổi ngồi từ đầu tới cuối nghe pháp mà mặt rạng rỡ như mùa xuân, bà bị điếc nhưng vẫn gắn máy trợ thính vào để nghe pháp, con thưa thiệt với bà là bảy mươi mốt năm trước của bà đó vô giá trị, mấy tháng ở đây là tối thượng, bảy mươi mốt năm trước không kể là mình sống, từ ngày vào dòng pháp Nikāya mới kể là mình sống.

"Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt"

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)

Con thưa với các vị là con không muốn nói lớn, càng không muốn vỗ tay vì như thế sẽ bị động nhưng nếu không vậy thì không giúp được cho mấy người mới cho nên vì tình thương có khi là phải linh động, linh hoạt. Thấy thì hai con mắt sáng rực nhưng vào nghe pháp thì ngủ gục cho nên đau lòng, xót thương lắm, lúc ăn thì mắt sáng rực nhưng kêu trình pháp thì cả người co quắp lại hết giống như bị bệnh. Nhiều khi con thấy thương lắm mà không biết nói sao hết, tạo đủ mọi điều kiện cho tu học, suy nghĩ nát óc tìm đủ cách để không chán cho nên người có tâm sẽ hiểu cho ta.

"Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Một người không có đoạn tận cái tham ở trong cái cảm thọ ham thích, một người không có tẩy trừ cái sân ở trong một cái cảm thọ khó chịu, một người không có nhổ lên cái vô minh ở trong cái cảm thọ đều đều, không khổ không vui, không làm cho minh sanh khỏi mà có thể ngay ở trong cái đời sống này, ngay trong hiện tại này mà chấm dứt được đau khổ thì sự kiện này không có xảy ra. Không đoạn tham, không đoạn vô minh, không đoạn si, không làm cho minh sanh khởi mà có thể chấm dứt khổ là điều đó không thể xảy ra, không bao giờ có.

VI. Trình pháp

Sáng nay chúng ta chia sẻ tới đây thì trong đạo tràng Bửu Liên có ai chia sẻ gì không ạ? Chúng ta trình pháp một chút đi.

Phật tử 1: Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con đem hết lòng thành kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính cùng chư tôn thiền đức tăng ni và toàn thể đại chúng hiền trí. Dạ con kính bạch sư phụ hôm nay con được duyên lành về chùa Bửu Liên tu tập cùng đại chúng, cảm thọ con rất là phấn khởi hân hoan và vui sướng. Khi được nghe sư phụ giảng bài pháp con rất là tâm đắc vì ngũ uẩn con thường bị năm triền cái xâm chiếm, nó làm hôn mê, suy ám cho nên mỗi lần con nghe pháp thì con cũng thường bị như vậy. Khi nãy lúc con ngủ gục được sư phụ tác ý con ma nhập thì con vừa tỉnh thức liền chấn động và con rất là hạnh phúc là được sư phụ chỉ những cái lỗi mà chúng con mắc phải và con cũng đang tu tập.

Mỗi ngày con cũng được nuôi dưỡng, con được huấn luyện, con được huân tập, con được chỉ dạy, giáo dục, được nghe sư phụ thuyết giảng, được sư phụ khuyến khích, hướng dẫn chúng con tu tập để đánh gục những cái ác bất thiện pháp, nó không còn xâm chiếm, nó bớt xâm chiếm trong cái ngũ uẩn này thì mỗi ngày con cũng được nghe lời sư phụ giảng dạy, con thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, con thực hành theo lời dạy của sư phụ. Mỗi ngày con được tẩy sạch những cái cấu uế trong tâm con và con rất là hạnh phúc, con rất là biết ơn Đức Thế Tôn, con rất biết ơn sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng hiền trí. Hôm nay con được tu tập con rất là hạnh phúc, rất là biết ơn, con xin hết, con xin cảm ơn sư phụ và đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nam mô bậc Tỳ-khưu, nam mô pháp hội đạo tràng, con là Phật tử tại gia thì trong buổi nghe pháp này con cũng mới tới, do dương lành chưa đủ nghiệp chướng nặng nề nhưng mà cho con xin hỏi bậc Tỳ-khưu một điều. Con chuyên về kinh Pháp Hoa, học các giáo lý Đại Thừa và kinh tạng Nikāya thì trong cái kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì phương tiện thứ ba Phật có dạy cách vị Tỳ-khưu và chư đại bồ tát thì có một pháp duy nhất tất cả các pháp của Như Lai chỉ gom lại một pháp duy nhất, con chưa hiểu rõ không vô tác, vô tướng, các bộ kinh tùy căn cơ, tùy duyên khởi của từng chúng sanh mà tu tập.

Sư Phụ: Từ nãy giờ là Minh Thành cũng đang giải thích về không vô tướng đó, tức là Đức Phật đang dạy cho mình thấy sự trống rỗng của thân này, của thức, của các cảm thọ. Chúng ta tiếp tục trình pháp, các vị mới vào thì mình nói cho quý vị biết tinh thần tu học của mình chỉ là nghiên cứu tìm hiểu và học về kinh Nikāya thôi, ngoài ra mình không có bàn luận mấy cái vấn đề khác.

Phật tử 3: Con kính bạch trên sư phụ, con kính quý thầy, quý sư cô, quý Ni sư và tất cả các hiền trí. Kính thưa sư phụ bài pháp sáng hôm nay của người giảng trong cảm thọ của con có một điều gì đó cứ phát lên mạnh mẽ về vấn đề thân kiến, trong thân kiến cảm thọ con luôn thấy bản ngã của mình chưa được nhiếp phục, nó luôn làm cho con phải song hành tác ý để diệt bớt ác bất thiện pháp trong tâm con khi nó phát khởi lên những hình bóng, những suy nghĩ. Lúc nào con cũng phải tác ý song hành với nó để đánh đuổi nó nhưng mà con vẫn thấy rằng với thân kiến nó là một điều mạnh mẽ trong tứ đại con, con cảm thấy mình rất là khó để đánh đuổi nó mặc dù khi học pháp Nikāya cảm thọ con luôn tác ý rằng các sắc xung quanh ta và cả ta đều như làm bằng thủy tinh, bất cứ lúc nào tứ đại này cũng có thể bị hủy diệt.

Con thường tác ý như thế, khi con nhìn xung quanh và cả về bản thân mình con luôn tác ý chúng ta chỉ là mảnh thủy tinh có thể bị vỡ vụn bất cứ lúc nào, nhưng không hiểu sao khi có những nhãn xúc, nhĩ xúc, thân xúc thì con vẫn thấy thân kiến của con, bản ngã luôn trồi lên con phải đi theo, con phải đi theo sau nó và tìm cách nhiếp phục nó. Kính thưa sư phụ với một cư sĩ tại gia như con tu học chánh kiến thật sự không phải dễ dàng để hiểu, nhưng khi con hiểu được một chút nào đó con luôn muốn tác ý nhưng mà thân kiến vẫn luôn điều khiển con. Con kính trình lên sư phụ xin người cho con vài bài học thêm nữa ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Mình đừng nghĩ là khó. Ăn cơm có khó không? Uống nước có khó không? Thở có khó không? Đừng nghĩ là khó, mình là người có được cái pháp khó được, biết bao nhiêu tu học không gặp được chánh pháp, biết bao nhiêu người tu học không có thấy ngũ uẩn, biết bao nhiêu người tu học không có thấy được cảm thọ, không có thấy được cái sự chấp ngã. Thành ra mình thấy rằng mình học được cái pháp khó được chứ đừng có thấy cái pháp khó, ăn cơm khó không cho ngày nào cũng ăn hết, mình làm riết rồi nó sẽ quen.

Như nãy con đã nói chúng ta phải kiên trì, phải bền trí, mình phải vững niềm tin, mình phải là ý thức được cái việc mình đang làm là lợi ích như thế nào, nó giá trị như thế nào, nó cao quý như thế nào, nó cao thượng như thế nào, nó thánh thiện như thế nào. Mình phải ý thức được điều đó thì tự động mình thấy trân quý, thấy cung kính, mình thấy hoan hỉ, mình thấy hạnh phúc khi mình được đập phá cái ngã này. Vì còn cái ngã cho nên mình mới tu, hết ngã rồi sao mà tu? Tu là một sự chiến đấu, chiến đấu mới là tu, thành ra khi nào mình không chiến đấu nữa thì lúc đó mới là đáng trách, hễ mình còn chiến đấu là còn vinh quang, là còn hạnh phúc, là còn sung sướng vì mình được chiến đấu với bản ngã. Trước kia mình đâu có chiến với nó, trước kia mình bị nó đè bẹp cho nên mình tác ý như vậy để cho mình có một cái sự hân hoan, có sự phấn khởi, có sự mạnh mẽ, có sự vui sướng, có sự tiến bộ, hướng thượng, và chỉ cần mình siêng năng, tất cả các pháp là đã có hết rồi, không có thiếu nữa, đạp cái chân vô cửa giảng đường dưới chân là tấm chùi chân, đó là tu, nhìn vào đôi dép cũng quán luôn.

Hôm qua con ngồi chung với thầy Thiện Huệ con có nói mấy câu cho thầy Thiện Huệ, thầy mở lên đọc cho đại chúng nghe.

Thầy Thiện Huệ: Dạ mô Phật, con xin phép trên sư phụ cùng đại chúng con xin đọc. Sư phụ lên xe có dạy con rằng:

Càng lớn thì càng nhỏ,

Càng cao thì càng thấp,

Càng nhỏ thì càng lớn,

Càng thấp thì càng cao,

Càng giữ thì càng mất,

Càng buông thì càng được,

Càng muốn thì càng thiếu,

Càng bỏ thì càng đầy.

Dạ Mô Phật.

Sư Phụ: Càng nhỏ là càng lớn, bản ngã càng nhỏ thì công đức mình càng lớn.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.