Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Quán TỪ MỚI TU ĐẾN A LA HÁN- khóa tu Nikaya HN lần 2

2026-03-03 00:56:21
Khóa Tu NIKĀYA Hà Nội Lần 2 - Pháp Quán TỪ MỚI TU ĐẾN A LA HÁN

Thích Minh Thành

Đệ tử chúng con cúi đầu kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Hương các loại hoa thơm

Không ngược bay chiều gió

Nhưng hương người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay

Chỉ có bậc chân nhân

Tỏa khắp mọi phương trời.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 54)

Hoa chiên đàn, già la,

Hoa sen, hoa vũ quý,

Giữa những hương hoa ấy,

Giới hương là vô thượng.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 55)

Ít giá trị hương này,
Hương già la, chiên đàn;
Chỉ hương người đức hạnh,
Tối thượng tỏa Thiên giới.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 56)

Nhưng ai có giới hạnh,
An trú không phóng dật,
Chánh trí, chơn giải thoát,
Ác ma không thấy đường.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 57)

Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ý người.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 58)

Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 59)

ĐẢNH LỄ TAM BẢO

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện:

“Thấy biết rõ ngũ uẩn,

Thấy biết rõ tự thân,

Thành tựu chánh tri kiến,

Thể nhập vào Thánh quả,

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chân chánh”.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc đoạn tận tham ái,

Bậc đoạn tận sợ hãi,

Tâm Ngài không dao động,

Tâm không nhiễm thế gian.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc Vô Thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài - vị dẫn đường con

Ngài - vị con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc Vô Thượng

Đảnh lễ bậc Chánh Giác

“Con xin quy phục Ngài,

Con xin làm đệ tử,

Làm con ngoan của Ngài”. (3 lần)

“Con xin quy phục Pháp,

Quy phục Pháp Tám Đúng,

Nguyện thành tựu Tám Đúng”. (3 lần)

“Con xin tôn kính Tăng,

Tôn kính đời Giới Đức,

Nguyện thành tựu Giới Đức”. (3 lần)

KHUYẾN TẤN ĐẠO TRÀNG

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là lắng dịu

Gặp nhau trong hòa ái

Tạm biệt trong an vui.

Đạo tràng Nikāya,

Thấy - tập Thấy biết đúng

Nghĩ - tập Suy nghĩ đúng

Nói - tập Nói lời đúng

Làm - tập Hành động đúng

Mạng - tập Nuôi mạng đúng

Siêng - tập Siêng đúng việc

Quán - tập Quán đúng chỗ

Định - tập Định đúng cách.

Đạo tràng Nikāya,

Tập Thấy biết chân chánh

Tập Suy nghĩ chân chánh

Tập Nói lời chân chánh

Tập Hành động chân chánh

Tập Nuôi mạng chân chánh

Tập Siêng năng chân chánh

Tập Quán niệm chân chánh

Tập Định tâm chân chánh.

Đạo tràng Nikāya,

Tập sống đời chân chánh

Tập sống đời Thánh thiện

Giữa thế giới hôn mê.

Đạo tràng Nikāya,

Chọn lối tu chân chánh

Chọn pháp hành thiết thực,

Để dẫn dắt thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Chọn Con đường Tám Chánh

Làm chỗ mình nương tựa

Để định hướng thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Đang bước vào Thánh đạo

Đang xa lìa phiền não

Đang thoát khỏi khổ đau.

Đạo tràng Nikāya,

Không gian tà, xảo luận

Không mập mờ, bất chánh

Không che giấu, bất minh.

Đạo tràng Nikāya,

Không lạc vào tà đạo

Không lạc vào tà kiến

Không lạc lối tà nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Không xa rời Thánh đạo,

Không xa rời Thánh trí,

Không xa pháp Thánh nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Thân tâm thường chánh niệm,

Nội tâm thường tỉnh giác,

Thường quán sát thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm từ thường tỏa rộng,

Tâm hiền thường an trú,

Giới định tuệ thực thi.

Đạo tràng Nikāya,

Không rộn ràng, dao động,

Nhẹ nhàng trong hành xử,

Không nuôi dưỡng hận sân.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm hiền hòa, trí tuệ

Nhìn đời bằng Thánh trí

Bậc Chánh Giác truyền trao.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm hiền hòa, lắng dịu

Tâm thật là hoan hỷ,

Trong pháp Đức Thế Tôn.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là hạnh phúc,

Theo con đường Thánh thiện,

Bậc Chánh Giác từng tu.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là dễ chịu,

Chịu học điều chân chánh,

Chịu học hạnh Thánh nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là mát dịu,

Tâm hiền ngoan, dễ chịu,

Tâm ngọt dịu, dễ thương.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là lắng dịu,

Tâm thọ vui, dễ chịu,

Tâm lắng dịu, hiền vui.

Đạo tràng Nikāya

Tự trọng và tôn trọng,

Tu tập trong hòa ái,

Tạm biệt trong an vui.

Rõ biết trước mặt, tầm nhìn chúng ta sáng tỏ trước mặt, mở mắt ra nhìn xuống trước mặt và ánh nhìn rộng mở. Cảm giác hơi thở, cảm nhận hơi thở đang vào ra, cảm nhận cảm giác ở lồng ngực, cảm nhận cảm giác ở đầu, mặt, đôi vai, cánh tay, bàn tay, cảm nhận cảm giác ở lưng, mông, chân, lồng bàn chân, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác.

Cảm nhận tiếng kèn trống đám ma đang văng vẳng bên tai chúng ta, biết rằng một sinh mạng của đời người đã kết thúc, một đời sống đã chấm dứt, thân xác nằm trong chiếc quan tài và xung quanh là những giọt nước mắt, những dòng lệ tuôn rơi, đó là kết thúc một đời sống. Sau mấy chục năm tranh đua, tìm kiếm, hơn thua, tham lam, sân hận, bản ngã thì kết quả là một thân xác nằm dài trong chiếc quan tài, biết bao nhiêu suy tư, tính toán, lo lắng, sợ hãi, bất thình lình cái chết ập đến, đột ngột xảy ra cướp mất sinh mạng, ra đi trong tiếc nuối, đau khổ và đi theo là những ác nghiệp, những bất thiện nghiệp cũng chính tự thân của họ tạo ra. Nó dẫn dắt đời sống tiếp theo tương ứng với nghiệp mà những gì người này đã gây tạo.

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Đời sống tiếp theo lại ở trong mịt mù, si mê, không biết đi về đâu vì vậy chúng ta hãy thực tập những cảm giác lắng dịu, dễ chịu, những cảm giác hiền thiện và an tịnh này để tâm chúng ta được an tịnh, lắng dịu. Những cảm thọ bình an này, những cảm giác an tịnh, lắng dịu này sẽ làm dừng lắng những bất thiện nghiệp, sẽ làm nội tâm ta được bình an, thanh tịnh. Hít vào – thở ra làm cho cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào.

Người tu tâm thật là hiền,

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, yên vui rạng ngời.

Hãy làm cho thân tâm mình được mát dịu, lắng dịu, hiền dịu, an yên và tỏa sáng trong giờ phút này, dào dạt cảm thọ ngọt ngào thấm đượm thân tâm.

Sau khi chúng ta xả thiền xong, chúng ta sẽ đứng lên lạy Phật mười lạy và sẽ đến thời Pháp thoại. Lạy Phật một cách chân thành cung kính và bằng tất cả sự chánh niệm của mình.

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Con mời tất cả đại chúng lắng nghe tiếng trống kèn của đám tang, lắng nghe thật kĩ, lắng nghe thật sâu sắc, lắng nghe thật trọn vẹn, lắng nghe bằng tất cả trái tim của mình. Năm thủ uẩn này là vô thường, sắc thân này, những cảm giác, nghĩ tưởng này là khổ đau, thể xác này và tâm thức này là bệnh tật, ung nhọt. Một khối ung nhọt lớn chuẩn bị trương phình, xì ra, sẽ mau chóng được mọi người đưa ra nghĩa địa, nghĩa trang, đưa đến lò thiêu. Năm uẩn này là mũi tên, là sự bất hạnh, chúng ta bị trúng tên của sắc, tài sản, vật chất, chúng ta bị găm mũi tên đó vào tim làm rỉ máu. Thân xác này là mũi tên, cảm giác hơn thua, sân hận, thị phi, bản ngã, tranh giành… là mũi tên. Năm uẩn này là cái bị sanh, phải sanh, con mắt này là cái bị sanh, lỗ tai là cái bị sanh, lỗ mũi này là cái bị sanh, gương mặt này là cái bị sanh. Bị sanh ra từ nghiệp, từ vô minh và khát ái, từ sự si mê, tham muốn, khao khát, bị sanh ra rồi bị những chứng bệnh ung thư ruột, gan, đại tràng… Ngũ uẩn này phải quán nó là ốm đau, tật bệnh, bất hạnh. Nó bị sanh, bị bệnh, bị già, nó bị chi phối khốc liệt bởi phiền não, lòng dục tham, dục vọng, dục ái…đó là sự bất hạnh cho chúng ta. Phải nhìn sâu sắc nó là bất hạnh, là ốm đau, là ung nhọt, nó bắn vào chúng ta những mũi tên của cảm giác yêu thương và thù hận, những cảm thọ của vui sướng và khổ đau, nó bắn những mũi tên tẩm đầy những chất cực độc và chúng ta không đi ra được, chất độc này đeo bám vô lượng năm vô biên kiếp. Chất độc của tham dục, của khát ái, chất độc của lòng sân hận, bực bội, thiêu đốt thân tâm chúng ta, chất độc của sự si mê, si ám, điên cuồng để suy nghĩ, nói năng, hành động rồi tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp, sau đó phải nhận lấy quả báo khổ đau, bất hạnh. Năm thủ uẩn này là thứ bất hạnh, chúng ta phải mang vác một tấm thân như vầy với bao nhiêu sự lo lắng, sợ hãi, phải mang vác một tấm thân đầy máu me, phân, nước tiểu… bao nhiêu thứ bất tịnh trong đó, chúng ta phải mang vác một tấm thân đầy tật bệnh, là ổ dịch virus, vi trùng… đó là sự bất hạnh.

Đáng lo lắng và sợ hãi là thân xác này,

Nhiều tật bệnh, tai nạn, âu lo là thân năm uẩn này.

Bất hạnh là vô thường, là mũi tên, ốm đau.

Quý vị hãy nghe thật sâu sắc tiếng trống kèn đám ma đó, hãy nghe bằng tất cả trái tim của mình, hãy cảm nhận bằng tất cả khối óc của mình, hãy tập trung tất cả tâm ý nạp thọ tiếng kèn trống hôm nay, đó là thành tích sau sáu bảy chục năm tham sân si, đó là thành quả của sự tham lam, sân hận. Thành công rồi, đó là một nấm mồ xanh cỏ, một hũ tro tàn. Ăn thua nhau, sân hận nhau, làm khổ, hành hạ nhau, bày ra đủ thứ chuyện để hành xác nhau rồi kết quả chung cuộc của kiếp người là cái chết. Hãy quán năm uẩn này là người lạ, là hủy hoại, là trống không, vô ngã.

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Chúng ta hãy quán người thân thương nhất của chúng ta đang nằm trong chiếc quan tài đó, nếu người nằm trong đó là vợ mình, là chồng mình, là cha mẹ mình thì sao? Nếu người nằm đó chính là bản thân mình thì sao? Thật là thương xót cho chúng ta vì sống trong vô minh và si ám, chúng ta phải sống một đời sống đầy khổ đau, tai họa và tật bệnh. Thật là đau khổ cho chúng ta! Phải xót xa cho chúng sanh, xót xa cho những đời sống bọt bèo, phù du này, những đời sống mong manh, nhỏ bé, bất hạnh này. Vậy mà bên trong nội tâm lại chất chứa đầy cảm giác của hơn thua, tranh đấu, hành hạ những người thân thương nhất trong gia đình của mình, chúng ta nhìn xem vô minh và si ám đáng sợ biết dường nào. Đau khổ là một đời sống trong bóng đêm, đau khổ là một đời sống âm u, si ám. Không biết từ đâu mình sanh ra đây, bất thình lình chết đi cũng không biết đi về đâu, vậy mà không biết lo sợ.

Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)

Phải quán chiếu thân xác này là thứ hủy hoại, hoại diệt, tan nát, không có gì kiên cố, cứng chắc, bền vững trong này. Hãy nhìn những đời sống xung quanh chúng ta, hằng ngày có biết bao người nhiễm dịch bệnh, gần hai triệu người chết, hằng ngày có biết bao sinh mạng kết thúc trên đường vì tai nạn giao thông, hằng ngày có biết bao vụ án đâm chém, hằng ngày có biết bao cơn giận phựt cháy trên khắp hành tinh này, bao nhiêu nỗi đau khổ vì tham dục, vì sân hận, bản ngã diễn ra. Cần phải Như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, là khổ đau, là bệnh hoạn, ung nhọt, cần Như lý tác ý năm thủ uẩn này là mũi tên, là bất hạnh, bệnh nặng nhất của nó là bệnh đói, hằng ngày phải ăn ba bốn lần, những chất độc đầy rẫy trong thức ăn, uống vào những chất độc, hít hơi thở vào là những chất độc. Không khí ô nhiễm, môi trường ô nhiễm, thức ăn ô nhiễm, tâm thức ô nhiễm, thân xác ô nhiễm, trong ngoài đều ô nhiễm. Ô nhiễm là đời sống này, tâm thức này, thân xác này, hoàn cảnh này, đầy rẫy sự bất an, bất thường. Thân xác này trống rỗng như món đồ gốm, "rầm" là sinh mạng này chấm dứt, thân này là vô ngã, hủy hoại, rỗng không. Trong đống ruột, gan, phèo, phổi, xương da này làm gì có cái tôi, nó là vô ngã, là trống rỗng.

Đừng nghĩ rằng đây là sắc thân ái đáng yêu, nó là người lạ. Chỉ cần mắc một chứng bệnh là quên mọi thứ, người thân nhìn không ra, cha mẹ cũng không biết, té đập đầu có thể sống thực vật mấy chục năm. Chỉ cần thở một cái khì có thể kiếp sau phải mang thân lông lá, đầu đội sừng. Thân nào là thân mình nên Đức Phật dạy phải quán ngũ uẩn này là người lạ, tích tắc thì ngày mai cũng có thể là kiếp sau của chúng ta, khi đó chúng ta phải mang một ngũ uẩn gì cũng không biết nên nó là người lạ. Quý vị trả lời xem người nằm đó hiện tại bây giờ đang ở đâu, đời sau của họ là gì, chính họ còn không biết nên ngũ uẩn là người lạ, vì thế đừng chấp thủ vào gương mặt này, đừng chấp thủ vào tai, chân, thân xác này. Món đồ gốm này bất cứ lúc nào cũng có thể hủy hoại, tan nát, trượt tay là vỡ nát, một cụ già sống một mình, vào một ngày hàng xóm nghe mùi hôi thối bốc lên từ nhà bà cụ già nên đập cửa vào thì thấy xác bà cụ đang phân hủy vì bà bị té cầu thang không ai hay biết.

Đệ tử Gotama

Luôn luôn tự tỉnh giác

Vô luận ngày hay đêm,

Tưởng sắc thân thường niệm

(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 299)

Niệm là thường nhớ. Thường nhờ như vậy để xả ra lòng dục, lòng tham, lòng ái. Thường nhớ như vậy để lắng dịu những sự bức xúc, bực bội, thiêu đốt. Thường quán như vậy, thường nghĩ như vậy, thường nhớ như vậy để dẹp đi lòng ngã mạn, lòng kiêu căng, cái tôi, cái ta. Thường nhớ như vậy để phá tan bóng tối trong nội tâm, phá hoàn toàn sự si ám ở bên trong nội tâm. Thường soi rọi như vậy, thường chiêm nghiệm, suy tư và nghiền ngẫm sâu sắc thì đó là con đường vào Dự Lưu Thánh quả, đó là con đường thể nhập Thánh trí, Thánh đạo, tất cả các bậc hiền Thánh từ phàm phu cho đến A-la-hán đều quán chiếu như vậy. Sự quán chiếu này không ngại bất kì đối tượng nào, bất kì thời gian nào, bất kì nơi nào. Sự đoạn tận kiết sử, dứt sạch khát ái, diệt tận sanh y, chứng nhập Thánh trí là đạo lộ bậc Thánh, khi chúng ta quán chiếu sâu sắc như vậy thì lòng tham dục được lắng dịu, lòng sân hận được an tịnh, cội gốc vô minh và si ám bị rung chuyển, chấn động, Thánh trí sẽ bừng sáng trong thân tâm chúng ta. Đây là bài kinh tuyệt đối quan trọng, đó là Tương Ưng Bộ kinh, tập III. Khi ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Kotthika là một vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải suy nghĩ, tác động tâm ý như thế nào. Ngài Xá-lợi-phất là bậc tối thượng về trí tuệ, có thể thay thế Đức Phật lãnh đạo Tăng đoàn. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là bậc chí thượng thanh văn đứng đầu hàng Thánh chúng.

Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Tức là quán tổ hợp sắc thân này, nhìn sâu vào bản chất của thể xác này, nhìn sâu vào bản chất của những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.

-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.

-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?

-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.

-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.

-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?

-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Một vị Thánh Tăng đạt đến Thánh quả cao nhất nhưng tu những Pháp này thì hiện tại lạc trú, nghĩa là các ngài được an lạc, an vui trong giây phút hiện tại. Tại sao tất cả Thánh phàm đều phải tu như vậy? Tại sao chúng ta lạy lục, cầu xin hoài mà vẫn khổ? Đó là chúng ta lạy trong mê tín, cầu xin trong mê tín, chúng ta cầu xin được bình an, khỏe mạnh, giàu có, thành công nhưng chúng ta không biết rằng chúng ta mới nhìn rất gần trước mắt, chúng ta không nhìn hết được mà phải nhờ bậc Chánh Đẳng Giác chỉ cho chúng ta cái nhìn trọn vẹn. Trong sự tu học của chúng ta có nghiệp đen, có nghiệp trắng, có nghiệp vừa đen vừa trắng, có nghiệp không đen không trắng là đoạn tận tất cả các nghiệp.

Này Punna có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Punna, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Punna, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Punna, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Punna, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó).

Nghiệp đen là sát sanh, lấy của không cho, trộm cắp, tà dâm, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, uống rượu, sử dụng các chất say sưa, nghiện ngập, tham, sân và tà kiến… đó là nghiệp đen. Những người làm nghiệp đen sẽ có quả báo thuần đen, tùy theo mức độ nếu nặng sẽ rơi vào địa ngục hoặc ở trong ngạ quỷ, hoặc là đời sống bàng sanh, thú vật, súc sanh. Còn nhẹ nhất là sanh ra bị đui điếc, câm ngọng, què, mù lòa, tàn tật, cùi hủi, làm thuê làm mướn, làm đầy tớ, mắc những chứng bệnh bẩm sinh hoặc sanh ra không giống ai, mắc bệnh Down, ung thư, chất độc màu da Cam, hoặc sanh ra dính 2 đầu trên một thân thể hoặc sáu tay bốn chân, mắc bệnh thần kinh, chịu những án oan mấy chục năm, chịu những cái chết bất đắc kì tử… tất cả những cái đó là nghiệp đen phải chịu quả báo đen.

Và này Punna, thế nào là nghiệp đen đưa đến quả báo đen? Ở đây, này Punna có người tạo ra thân hành có tổn hại, tạo ra khẩu hành có tổn hại, tạo ra ý hành có tổn hại. Sau khi tạo ra thân hành có tổn hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ thọ, như các chúng sanh trong địa ngục. Như vậy, này Punna, là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó).

Mọi người nghe có sợ không? Có sợ những điều thập ác đó không? Nếu sợ những cái này phải biết cố gắng giữ giới, nếu chỉ sợ cái quả thì không đủ mà phải biết sợ nguyên nhân đưa đến tai họa đó, đó là nghiệp đen đưa đến quả báo đen. Nghiệp đen trắng sẽ đưa đến quả báo đen trắng, vừa làm thiện nhưng có lẫn ác trong đó, quả báo là được sanh làm người có mặt mũi dễ nhìn, có gia đình tương đối êm ấm, chúng ta được ngồi đây nghe Pháp là nghiệp trắng nhiều hơn đen và gặp được Chánh Pháp là điều tối thượng. Thứ ba là nghiệp trắng thuần thiện của chư Thiên, đó là tu trọn vẹn thập thiện, bốn tâm vô lượng: Từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng tâm. Ly dục hoàn toàn, thuần trắng. Sanh ra vào thế giới nghe cái gì, thấy cái gì, cảm thọ cái gì đều thuần lạc, toàn là vui đó là cảnh giới của chư Thiên nhưng cái vui đó cũng sanh, già, bệnh, chết, khi hết phước của chư Thiên sẽ lọt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều, rất ít chư Thiên vào được loài người. Cái sau cùng là nghiệp không đen không trắng, đoạn tận tất cả nghiệp để hướng đến Niết-bàn, ra khỏi tất cả nghiệp. Một người thật giàu có, địa vị cao lớn, đẹp đẽ thì họ có đau khổ không? Người giàu nhất hành tinh có muốn giàu thêm không? Có bị lòng tham thiêu đốt không? Có bị lòng sân hận bừng cháy không? Cho nên trí tuệ cứu cánh của Đức Phật là tất cả ngũ uẩn, dù cho ngũ uẩn gì đều là vô thường, khổ đau, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên và bất hạnh. Ngài hướng chúng ta đến sự nhàm chán, xa lìa, thoát ra những đời sống đầy rẫy những sanh, già, bệnh, chết, tham sân si, vô minh, bản ngã, sầu bi khổ ưu não. Phải nuôi dưỡng tâm xuất ly, vượt ra thì hướng đến Niết-bàn, hướng đến sự từ bỏ, hướng đến giải thoát, tức là ra khỏi ngũ uẩn, đây là chỗ thâm sâu của Phật Giáo, cái lõi của đại tạng kinh Nikāya.

Không ai thích cảm giác khổ nhưng tại sao lại có tiếng kèn đám ma khổ đó? Vì có sanh, đây là chỗ thâm sâu của đạo Phật tức là có sanh nên có tử, vào ngày sinh nhật vui vẻ, chúc mừng nhưng vào ngày tử là ngày khóc lóc, đau khổ, bi thương. Tại sao có tử, có khổ này? Vì có sanh. Khi mới lập gia đình rất hạnh phúc, vui vẻ nhưng tại sao sau đó chỉ có khổ? Cái khổ này chính là từ cái vui lúc trước, vui khổ đi chung với nhau nhưng mình chỉ muốn vui chứ không muốn khổ, mình không biết rằng cái khổ này từ vui mà có. Trong ba loại cảm giác thì mình ghét nhất cảm giác khổ, muốn cảm giác vui nhưng mình không biết cảm giác khổ này là từ cảm giác vui, mình muốn vui thì phải có khổ trong đó. Tại sao nghe khen ngợi thì thích thú, hoan hỉ? Cũng chính người khen lúc trước lại chê mình thì mình đau khổ, bậc Đa văn Thánh đệ tử không thích cảm giác vui này mà nhàm chán nó vì biết cảm giác này sanh ra rồi sẽ diệt, niềm vui này sẽ mang lại khổ nên không thích cảm giác vui với ý niệm thoát ra, đang vui nhưng không hoan nghênh, không an trú, không đắm trước, không đặt mình trong cảm giác đó mà biết cảm thọ vui này là khổ. Tất cả cảm thọ vui nào không có khổ trong đó không? Mình có con thì vui không? Quá vui nhưng sau đó là biết bao trách nhiệm, nỗi cực khổ, sau đó có cháu còn vui hơn nữa nhưng lại làm mất cuộc đời tu vì tham ái, hệ lụy, ràng buộc vào những đứa cháu, chính những cái vui đó đưa đến khổ, đưa đến sự trói buộc. Sống một mình thoải mái không chịu mà muốn cưới thêm một người nữa cho vui nhưng giờ có người lại nói là vì lấy chồng nên giờ mới chết dở, đã thấy khổ thì mới thể nhập Thánh trí, còn thấy vui thì không thể thoát ra, mình bị cái vui đó trói chân không ra được. Cho nên điều đầu tiên Đức Phật chứng ngộ là Khổ Thánh Đế nhưng cái khổ Phật nói không phải là đám ma là khổ còn đám cưới là vui mà Phật thấy trong đám cưới vui là khổ, là sự ràng buộc và những hệ lụy theo sau đó. Ngày xưa chưa biết tu thấy đám ma là buồn, là khổ, đi ngang đám cưới thấy vui nhưng giờ đã tu thì đi ngang đám cưới cũng thấy khổ, phải nhìn sâu như vậy, hai người trẻ cưới nhau chỉ thấy vui nhưng người lớn chỉ thấy khổ tới nơi vì họ đã trải qua rồi. Vì thế không nên ưa thích dù cho đó là cảm thọ vui, không hoan hỉ, không hoan nghênh, không an trú, không đắm trước vì cái nào vui nhất thì cái đó làm cho mình khổ nhất, mình bị cảm giác vui đó trói cột. Đức Phật dạy mình quán chiếu năm thủ uẩn và tránh né tâm mình khỏi những sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không làm cho thọ; tưởng; hành; thức tăng trưởng, mình càng hào hứng trong thọ chừng nào thì chính cái thọ đó nhận chìm mình, làm cho mình say đắm. Tập cho mình cái tâm an tịnh, lắng dịu, thường trú trong sự tịch tịnh, lắng dịu nhưng thọ Pháp hoan hỉ thì cho hỷ còn những thọ ở ngoài của năm dục trưởng dưỡng thì hạn chế và tránh né nó vì những sợi dây đó sẽ buộc chặt không cho mình ra. Năm dục trưởng dưỡng là sắc, âm thanh, mùi vị và sự tiếp xúc, dịch bệnh không thể khống chế được vì xúc thực, người ta muốn được tiếp xúc còn không được tiếp xúc là chịu không được, chính vì dục ái đó thôi mà không khống chế được dịch bệnh. Người ta muốn tiếp xúc, muốn gặp gỡ, muốn được thoải mái thì người ta mắc dịch rồi chết, cho nên khi tiếp xúc thì hãy tiếp xúc với Pháp, với người hiền thiện, với trí tuệ, tiếp xúc với sự nhất hướng nhàm chán, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Tiếp xúc với Pháp để thấy khổ mới có thể nhàm chán, đừng nghĩ người bệnh mới khổ còn người khỏe không khổ, họ đỡ khổ về phần bệnh nhưng lại khổ cái khác. Đừng nghĩ người xấu mới khổ còn người đẹp không khổ, thành ra nhiều khi mình cứ ảo tưởng, đó là điên đảo tưởng, là cái tưởng sai lầm. Trong ngũ uẩn này không có cái nào là vui, vị ngọt của vui chỉ là tạm bợ, chóng vánh nhưng sự nguy hiểm và tai hại thì vô số, những đứa trẻ ở phương Tây nói những lời xin lỗi muộn màng với cha mẹ, ông bà vì đi chơi ở ngoài lại đem dịch bệnh về nhà làm ông bà lớn tuổi mắc bệnh rồi chết. Chưa bao giờ trong đời mình sanh ra từ nhỏ đến lớn lại chứng kiến đại thảm họa toàn cầu như thế này cho nên trí khổ của Đức Phật bao trùm hết vũ trụ chứ không phải cái khổ là nghèo, bệnh… mà trong cảm giác cũng làm cho mình khổ. Sự thúc giục, đòi hỏi trong tâm cũng làm mình khổ, những hình bóng xâm chiếm, ám ảnh trong tâm cũng làm mình khổ vì kẻ vô văn phàm phu không hiểu trí tuệ của Phật nên nghĩ đó là vui, họ không biết rằng ham vui lại khổ vô cùng, hãy nuôi dưỡng tâm giải thoát, tâm thoát ly, tâm vượt ra.

./.