Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 13

2026-03-03 00:52:32
Tinh Hoa Nikāya

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 13

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giảng giải về “Bốn Thánh trí” trong Tóm Tắt Năm Uẩn PAGEREF _Toc128398409 \h 1

II.Tầm quan trọng của nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc128398410 \h 6

III.Phá thân kiến PAGEREF _Toc128398411 \h 9

Giảng giải về “Bốn Thánh trí” trong Tóm Tắt Năm Uẩn

Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn:

- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.

- Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.

- Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.

- Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.

Bốn điều trên được gọi là Bốn Sự Thật về ngũ uẩn, hay bốn sự thật về khổ, hay bốn sự thật về luân hồi, hay bốn sự thật về sanh tử, hay bốn sự thật về cuộc sống, hay bốn sự thật về những thứ phiền hà, phiền phức của chúng sanh trong cuộc sống này.

Chúng ta cần học thật kỹ, nắm thật vững về Thánh Trí Năm Uẩn để hiểu được tổng cương lĩnh về Pháp học và Pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Trước đây, chúng ta nghĩ Tứ Thánh Đế đơn giản là khổ, tập, diệt đạo và chỉ hiểu trên mặt ngôn ngữ, học một cách máy móc. Nhưng khi tìm hiểu sâu vào pháp hành trong kinh tạng Nikāya, chúng ta sẽ thấy Bốn Sự Thật này vô cùng vĩ đại. Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn gồm những từ ngữ mạnh nhằm mục đích nhấn mạnh về nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ về Bốn Thánh Trí, đây là trí tuệ do bồ tát Tất Đạt Đa chứng ngộ khi thành Phật. Nếu không hiểu về Bốn Thánh Trí, không suy tư, không quán chiếu, không tu tập thì chúng ta không có được cái thấy giống các bậc Hiền thánh, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi bốn sự thật này được nhìn thấy, thì tham sân si đối với ngũ uẩn được tẩy sạch, lòng tham ái đối với ngũ uẩn, tham ái đối với luân hồi, tham ái đối với khổ, tham ái đối với sanh tử, tham ái đối với cuộc sống, tham ái đối với những thứ phiền hà, phiền phức này sẽ được chấm dứt. Khi tất cả những ngũ uẩn phiền phức này được đoạn diệt, tâm được trong sạch, an tịnh, tịch tịnh, Niết-bàn, thoát khỏi khổ và phiền não vì sanh tử. Bốn sự thật này không phải là dễ nhìn ra, không phải là dễ nhìn thấy, người phàm phu hay người thế gian không thể nhìn thấy, không thể thấy biết rõ bốn sự thật này. Người đầu tiên tự mình nhìn ra bốn sự thật này, đấy được gọi là bậc Thánh. Vì tự mình nhìn thấy chứ không phải do ai nói lại nên người như vậy được gọi là người xuất thế, người tài giỏi xuất thế, người vượt khỏi trí tuệ vô minh thông thường, đó gọi là bậc Thánh.

Do tự nhìn thấy Bốn Sự Thật này nên Đức Phật mới tuyên bố Ngài chứng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; còn những người nghe được Bốn Sự Thật và tu tập, chứng ngộ theo thì gọi là Thanh Văn. Trong đó “Thanh” là âm thanh, “Văn” là nghe, tức là người nghe được âm thanh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nương hiểu theo lời nói đó, nhìn lại thân tâm, phát giác, phát hiện ra cấu nhiễm và thực tập đúng theo lời của Đức Phật thì các vị này thành tựu giác ngộ ngang bằng với Phật. Vị này nghe theo lời dạy của Đức Phật, tu tập theo và chứng ngộ nên được gọi là “Thánh đệ tử”.

Còn từ “Thánh” là chỉ Đức Phật, tức là bậc “không thầy tự ngộ”. Khi ngồi dưới cội bồ đề, đầu tiên Ngài chứng ngộ Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn, sau đó chứng ngộ Bốn Thánh trí về Lậu Hoặc (chứ không phải là ngồi yên lặng 49 ngày dưới cội bồ đề thì Ngài bừng sáng lên, trong kinh Nikāya không có điều này, không đề cập đến số ngày cố định như vậy). Nhờ đó, Ngài diệt tận tất cả tham, sân, si ở trong ngũ uẩn, đạt lậu tận, tự mình giác ngộ, không ai chỉ dạy cho Ngài trí tuệ này, đây được gọi là bậc Thánh xuất thế gian. Sau đó, Ngài trao truyền sự chứng ngộ của mình bằng ngôn ngữ để các vị đệ tử nghe và thực hành theo, gọi là Thanh Văn đệ tử, các vị này cũng chứng ngộ tâm thanh tịnh như Phật, không khác, được gọi là Tỳ-kheo giải thoát, là bậc A-la-hán.

Danh từ bậc Thánh là nói về Đức Phật. Đức Phật tự nhận mình là bậc Thánh, vì Đức Phật là vị đã tự mình nhìn thấy bốn sự thật này chứ không phải do nghe người khác nói lại. Và do tự mình nhìn thấy bốn sự thật này Ngài mới dám tuyên bố rằng Ngài đã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đức là đức độ, đức hạnh. Phật là giác ngộ, là tự mình nhìn thấy rõ bốn sự thật về thân tâm của mình và các chúng sanh. Đức Phật là bậc đức độ, bậc đức hạnh đã tự mình nhìn thấy bốn sự thật của cuộc sống.

Vô thượng là không còn cao hơn nữa, không có cái cao hơn nữa. Chánh Đẳng Chánh Giác là sự giác ngộ chân chánh, đúng đắn, đầy đủ, đồng đều tất cả khía cạnh của vấn đề.

Chúng ta thường nhắc đến danh từ “Chánh Đẳng Chánh Giác” nhưng nếu không được học chính xác thì ta sẽ hiểu một cách lờ mờ. Chánh Đẳng Chánh Giác là sự thấy biết chính xác, hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh của ngũ uẩn, như vậy mới được gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta cần hiểu kỹ từ này để giải thích một cách rõ ràng, đúng pháp, vì nếu nói đây là sự giác ngộ cao tột là mới chỉ giải thích nghĩa của từ “vô thượng”; hoặc nói đây là sự giác ngộ cao nhất, không ai giác ngộ cao hơn thì là giải thích cho từ “vô thượng giác”. Còn danh từ Chánh Đẳng Chánh Giác có ý nghĩa sâu sắc hơn rất nhiều, trong đó “chánh” là chính xác; “đẳng” là đồng đều, đầy đủ, viên mãn về tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn, của khổ đau, của thân tâm, của đời sống, của thế giới. Đây là sự giác ngộ chân chánh, chính xác, đầy đủ, đồng đều về tất cả phương diện của đời sống, của thân tâm, của vũ trụ, của thế giới, của chúng sanh, của hữu tình này.

Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là sự giác ngộ, sự thấy biết cao tột, tột đỉnh mà không có sự thấy biết nào khác có thể cao hơn, siêu hơn, thâm sâu hơn sự thấy biết đó. Và sự thấy biết vô thượng, cao tột này chính là thấy biết bốn sự thật về cuộc sống, hay bốn sự thật về ngũ uẩn. Ngoài sự thấy biết bốn điều này không còn gì cần phải thấy biết hơn nữa trong cuộc sống này và trong thân tâm này. Chính vì vậy, khi tự mình chứng ngộ, tự mình thấy biết rõ bốn sự thật này, Bồ-tát Tất Đạt Đa đã tuyên bố Ngài đã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bốn sự thật này được gọi là Tứ Thánh Đế.

Nói theo nghĩa Tiếng Việt dễ hiểu nhất thì Tứ Thánh Đế là bốn sự thật về khổ được bậc Thánh chứng ngộ.

Tứ Thánh Đế là văn phong theo ngôn ngữ Hán Việt. Tứ là bốn. Thánh là bậc tự mình tu tập và thấy biết được những điều siêu xuất khó thấy đối với người thông thường. Đế là sự thật. Tứ Thánh Đế là Bốn Sự Thật được bậc Thánh thấy biết, được bậc tự mình chứng ngộ và tuyên thuyết lại.

Thánh là bậc tự mình thấy được những điều siêu xuất khó thấy; những người thông thường, người bình thường, người phàm phu, người phàm tình không thể thấy được những điều đó.

Lưu ý rằng, không phải cứ hễ ai đó cố gắng tu hành là có thể tự nhìn thấy bốn sự thật này. Không thể có người thứ hai tự mình chứng ngộ bốn sự thật này trong khi danh tiếng và những lời kinh, những lời dạy của vị đầu tiên chứng ngộ vẫn còn tồn tại. Đó là điều mà Đức Phật Thích Ca đã tuyên bố khá nhiều trong những bài kinh Nikāya. Trong một thời điểm, trong thời của một Đức Phật thì không thể có một Đức Phật thứ hai có mặt. Trong mỗi thời điểm, trong thời của một Đức Phật thì chỉ có một Đức Phật đó mà thôi, chứ không có một Đức Phật thứ hai, đó là trí biết rõ những sự kiện không thể xảy ra của bậc có chánh kiến.

Người nương theo sự chỉ dẫn của Đức Phật và nhìn thấy bốn sự thật này, đó gọi là người có chánh kiến. Người thành tựu chánh kiến, biết rõ những điều gì là những điều không thể xảy ra trong cuộc sống.

Người thành tựu chánh kiến biết rõ rằng:

- Trong một thời điểm, trong một thế giới không thể có hai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện. Trong một thời điểm, trong một thế giới chỉ có thể có một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện (bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác là bậc tự mình tu tập và tự mình chứng ngộ trí tuệ vô thượng đưa đến giải thoát sanh tử, đó là trí về Tứ Thánh Đế).

Khi nào giáo pháp của Phật Thích Ca không còn nữa, không còn từ “Phật, Pháp, Tăng” ở trên đời, không còn ai biết tên gọi Phật Thích Ca, không còn ai biết Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, không còn biết bất cứ pháp gì của Phật Thích Ca… thì có một chúng sanh khao khát, khát ngưỡng, tìm kiếm một con đường giải thoát. Người này dùng cả sinh mạng để tu tập, không thầy tự ngộ, tự chứng ngộ được Bốn Thánh Trí về Khổ… người này trở thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khi đó là Đức Phật xuất hiện.

- Trong cùng một thế giới, trong cùng một thời điểm không thể có hai vua Chuyển Luân Vương. Trong cùng một thời điểm, trong cùng một thế giới có thể có một vua Chuyển Luân Vương xuất hiện.

Chuyển luân Thánh vương là bậc dùng đức độ, dùng tâm hiền thiện, từ ái của mình để làm ổn định đất nước. Vị này không cần dùng gươm, gậy, dao, súng để dẹp loạn; mà vị này dùng đức độ, dùng tâm từ để trị quốc. Trong Kinh Trường Bộ, Đức Phật dạy rằng, Chuyển luân Thánh vương là người có bảy báu xuất hiện, tức là khi có một vị Thánh vương ra đời thì sẽ có bảy loại báu vật xuất hiện: xe báu, tướng quân báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu. Những báu vật này do phước đức, công đức của vị Thánh vương chiêu cảm mà ra.

Trong thời Đức Thế Tôn, mười hai năm đầu không có Giới luật, chỉ có Pháp. Sau đó, do hữu lậu sanh khởi, những người có tâm bất chánh đi tu làm phát sanh nhiều vấn đề, vì vậy từ từ mới chế định ra Giới. Trong những năm đầu, những vị đi tu chỉ toàn những vị có tâm thuần thiện, hiền đức, vào tu để thực hành Chánh Pháp, vì vậy các vị này rất dễ đắc Thánh quả, thậm chí có vị trước khi được xuất gia đã đắc Thánh quả. Cũng vậy, trong một đất nước có Thánh vương xuất hiện thì dân chúng ở đó rất lương thiện.

Lớp học này cũng vậy, nếu mọi người đều có tâm hiền, tâm cung kính, tâm biết ơn, tâm lễ phép thì Minh Thành không cần nhắc nhở gì, chỉ cần giảng pháp cho các bậc Hiền trí nơi đây, không bao giờ có lời gì nặng nhẹ, la rầy. Tuy nhiên, vì có nhiều vị tâm không hiền nên Minh Thành phải nhắc nhở. Ở Linh Quy Pháp Ấn, có khóa tu xuất gia gieo duyên, trong xuyên suốt khóa tu, không ai phê phán, méc nhau điều gì, vì ai tự thấy mình có lỗi với người khác là tự quỳ lạy sám hối trước người đó. Dù không sân ra miệng, không sân bằng hành động, chỉ sân trong ý nghĩ nhưng cũng lạy sám hối, phát lồ tâm bất chánh. Các vị không đợi ai kêu, Minh Thành cũng không biết trước, mà các vị tự giác ra sám hối vì điều này không ai biết, chỉ có người này quý vị tự biết: “Con xin sám hối vì có ý hành khó chịu vị hiền giả kia”. Những điều này làm cho Minh Thành rất hạnh phúc, suốt nửa tháng tu học, không ai giận hờn ai, không ai thù oán ai, mọi người đều cố gắng, nỗ lực tu học. Mỗi lần thiền quán, mỗi lần nghe pháp, ai cũng nước mắt đầy mặt, rúng động thân tâm… Theo lời Đức Phật dạy thì đó là chúng hội thâm sâu, không phải chúng hội nông nổi; chúng hội tinh ba, không phải chúng hội cặn bã; chúng hội hòa hợp, không phải chúng hội bất hòa. Làm thế nào để trở thành chúng hội thâm sâu, hòa hợp, tinh ba, Đức Phật đều định nghĩa rất rõ ràng trong kinh tạng Nikāya. Hãy dành nhiều thời gian để tìm hiểu Nikāya, nghe giảng giải và thực hành theo kinh tạng thì chúng ta thấy mình rất gần Đức Phật và các bậc Hiền Thánh Tăng ngày xưa.

Thánh Pháp là những lời dạy của Đức Phật trong Nikāya. Khi thực hành theo thì được gọi là Thánh đạo. Nếu đi đúng theo con đường đó thì sẽ sanh khởi Chánh trí. Người tu thể nhập được Thánh trí này thì sẽ đi đến Thánh quả. Đây là Minh Thành nói đơn giản, vì trong Thánh đạo còn có Thánh Giới Uẩn, Thánh Định Uẩn, Thánh Tuệ Uẩn, Thánh Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Uẩn.

Tầm quan trọng của nhận diện ngũ uẩn

Trước tiên, Đức Phật dạy phải nhận diện được ngũ uẩn thì mới phát hiện tham, sân, si, từ đó mới nhiếp phục, diệt tận chúng. Như vậy, nếu không thấy được ngũ uẩn thì sẽ không thấy được tham, sân, si.

Ví như, có một căn phòng bị khóa kín, bị bỏ hoang, không có chìa khóa để mở cửa, chúng ta đứng ở ngoài, muốn làm sạch căn phòng đó nhưng không có chìa khóa thì không thể nào làm được. Cũng vậy, nếu không nhận diện được ngũ uẩn, đồng nghĩa với việc chúng ta không có chìa khóa để mở cửa nội tâm. Như vậy giống như chúng ta không được bước vào căn nhà, không vào được thì không thể nào làm sạch được căn nhà nội tâm đã hoang phế hàng ngàn năm, từ vô lượng vô số vô biên kiếp.

Cho nên, nhận định của chúng ta là vấn đề rất quan trọng, Đức Phật gọi đó là đặt tâm đúng hướng. Nếu đặt tâm mà sai hướng thì chúng ta không thể nào đi đến đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, không thể nào đi đến Niết-bàn – sự dập tắt ba ngọn lửa tham, sân, si. Đức Phật thường ví dụ về các loại cỏ, nếu cầm cỏ ngược sẽ xướt tay làm tay chảy máu, cầm xuôi sẽ an toàn. Đức Phật lấy hình ảnh này ví dụ cho sự đặt tâm đúng hướng và đặt tâm sai hướng. Nếu đặt tâm đúng hướng thì người tu mới có khả năng diệt tận được tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã; nếu đặt tâm sai hướng thì không thể nào diệt tận được những cấu nhiễm này, vì đến cả việc nhìn thấy, phát hiện rác bẩn mình còn không làm được thì là sao diệt được. Cũng như, nếu không mở được cánh cửa nhà thì làm sao biết được nhà dơ cỡ nào; vừa không vào được nhà, vừa không thấy rác bẩn trong nhà, vừa phải đứng bên ngoài thì làm sao quét rác, dọn dẹp được.

Chính vì vậy, Minh Thành muốn quý thầy cô phải nhận diện được ngũ uẩn, đây là vấn đề quan trọng, quyết định sự tu học này. Nếu học xong một khóa học, mà vẫn không nhận diện được ngũ uẩn thì xem như cả khóa học là uổng phí, không có lợi ích gì. Lớp chúng ta chưa có sự nhiệt tình, cộng tác trong việc phát biểu, chia sẻ. Minh Thành hy vọng năm sau còn gặp thì quý thầy cô sẽ nhiệt tâm hơn trong việc nhận diện ngũ uẩn, tập trình bày thọ, tưởng, hành, thức của bản thân. Nếu không làm được điều này, nghĩa là chúng ta vẫn đứng ngoài cửa căn nhà nội tâm của mình. Hãy cố gắng nhìn thấy rác bẩn bên trong tâm này, vì không nhìn thấy là chúng ta không thể xử lý, dọn dẹp để tâm này trở nên sạch sẽ, thanh tịnh.

Nói một cách dễ hiểu, nghe pháp là nghe về ngũ uẩn; thực hành là tập nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn thấy được mặt mũi, tên tuổi, tính tình, bản chất của ngũ uẩn. Khi thấy rõ mặt của sắc, thọ, tưởng, hành, thức; nói cách khác là nhìn được sự thật của hình hài này (sắc), nhìn ra sự thật của các cảm giác (thọ), nhìn ra sự thật của các hình bóng trong tâm (tưởng), nhìn ra sự thật của các dòng suy nghĩ (hành), nhìn ra sự thật của nhận thức (thức) một cách chính xác; chúng ta sẽ phát hiện, phát giác ra tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái trong đó. Chỉ có Thánh trí mới nhìn ra được những điều này, còn phàm trí không thể thấy được.

Nhiều vị khi được hỏi tu như thế nào thì trả lời là “con rất an lạc, thấy mình không tham, không giận ai cả”, tuy nhiên đó chỉ là phàm trí và phàm trí thì không có khả năng nhìn thấy dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Nhiều vị ngồi đây nói “thưa thầy, con đâu có bản ngã, con hiền, con ngoan, con ngồi nghe thầy giảng mà sao thầy nói con bản ngã”, tuy nhiên, đó là do không nhận diện được ngũ uẩn nên không thấy được bản ngã. Tu học Nikāya tuyệt diệu ở chỗ là không có một điều gì là bí mật, tất cả đều được trình bày một cách minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, rành rành, rõ rõ, không có điều gì khó hiểu, tất cả đều có thể trình bày ra. Thế nên, nếu không biết nhận diện ngũ uẩn là chúng ta không biết bản ngã trú ẩn trong suy nghĩ, trong cảm giác… Chẳng hạn, mình đang ngồi học trong trạng thái đơ đơ, buồn ngủ, bỗng nhiên người ngồi bên cạnh tát mình một cái thì sân si, bản ngã trong cảm giác lập tức sanh khởi, suy nghĩ bực bội “tự nhiên đánh tôi”; trong tâm có hình bóng chính mình bị tát, cho rằng thân xác đó là mình.

Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn

Bản ngã ẩn mình trong tâm mê

Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết

Trước ngũ uẩn này, bản ngã sanh.

Nhận diện ngũ uẩn tức là chúng ta phải đọc từng dòng suy nghĩ, quán chiếu từng cảm thọ, rõ biết từng hình bóng, nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết… thì chúng ta sẽ phát giác ra bản ngã trú ẩn trong năm uẩn và có sự chấp thủ vào đó. “Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau”, ở đây, chấp thủ ngũ uẩn là sự nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, bám chặt, ghì chặt, siết chặt, ghì chặt, dính chặt vào thân xác, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức. Đây là nguyên nhân của tất cả khổ đau – Thánh đế thứ nhất, chỉ một câu này nhưng đã chỉ ra khổ và nguyên nhân của khổ. Trong đó, “sự nắm chặt vào ngũ uẩn” là nguyên nhân; “phiền não và khổ đau” chính là kết quả.

Từ đâu có sự nắm chặt này? “Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái”, như vậy, từ vô minh và khát ái mà có sự nắm chặt này. Vô minh là hoàn toàn không thấy, không biết về tên tuổi, mặt mũi, tính tình, bản chất của năm uẩn nên tưởng đó là mình. Do không biết bản chất ngũ uẩn là duyên sanh, vô thường, khổ đau, bất an, tai họa, trống rỗng nên yêu thích, khao khát nó. Cũng như do không thấy, không biết thức ăn có chất độc bên trong, chỉ thấy màu sắc, mùi vị của món đó, nên người này thích thú, khoan khoái nếm vào và cuối cùng bị trúng độc, hậu quả là có thể vào bệnh viện cho đến chết. Cho nên, vì vô minh mà ta không biết, không thấy ngũ uẩn, không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ đau, là bất an, là tai họa, là vô thường, là trống rỗng, là nguồn gốc của tất cả sự lo lắng và sợ hãi.

Tại sao là nguồn gốc của lo lắng và sợ hãi? Ví dụ dễ hiểu, quý thầy quý cô giờ phút này cố gắng, ngồi đây học tập là cũng vì lo mình không bằng ai, sợ mình không có bằng cấp trong khi huynh đệ xung quanh đều có; lo mọi người đã được tiếp quản chùa, còn mình không có; lo mấy huynh đệ cũng có chức, còn mình là người thường, không có chức vụ gì… Chữ “mình” có nghĩa rất sâu sắc, tức là ngũ uẩn cho rằng thân xác này chính là nó, cho rằng những suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng lờ mờ trong tâm là tôi, là của tôi.

Phá thân kiến

Những hình bóng lờ mờ về tự thân chính là thân kiến, kiến chấp về thân ở trong tâm. Ví dụ, khi nghĩ rằng “chiều nay tôi sẽ vào bếp nấu một món ngon” hay “chiều nay tôi phải đi tụng đám” thì ngay ở chữ “tôi” sẽ có hình bóng lờ mờ của khuôn mặt chính mình. Nếu chịu khó nhận diện chúng ta mới có thể thấy được, còn chỉ hướng ngoại, nhìn ra ngoài thì sẽ không biết. Vì vậy, phải nhìn vào tâm, tất cả đều phải tự giác quay về nhận diện ngũ uẩn trong tâm mình. Người tu chúng ta phải nhận diện được những hình bóng lờ mờ về tự thân đó để phá được kiến chấp, điều này đòi hỏi phải tu tập rất nhiều, phải vận dụng rất nhiều pháp, chứ không dễ mà phá được.

Không tự nhiên mà Minh Thành xưng “con” với quý thầy cô, mỗi khi nói điều gì đó về mình, xưng “con” với mọi người, có hình bóng của tự thân trong đó, nhờ tu tâm hiền, Minh Thành sẽ thấy hình bóng mình chắp tay, cúi đầu xuống xá mọi người, hiền nha, dễ thương nha. Nói về tâm hiền, Ngài Xá Lợi Phất có dạy chín pháp an trú tâm, mỗi khi nói chuyện với mọi người, xưng tên, xưng con, xưng mình; hoặc mỗi khi tự nhớ về tự thân mình thì hãy nhớ đến cái nùi giẻ rách để an trú tâm giống như cái nùi giẻ chậm chân, từ đó dần dần phá được ảo tưởng về tự ngã, điều này đòi hỏi công phu rất nhiều. Mỗi khi nói về mình, trong tâm hiện ra bộ xương, chứ không còn hình bóng của mình nữa, điều này có được là nhờ an trú cốt tưởng lâu ngày. Chúng ta lấy hình bóng của nùi giẻ rách, hình bóng quỳ xuống lạy, hình bóng bộ xương hoặc hình bóng nắm tro tàn… để an trú, cất giữ chúng, đây là những tài liệu, là vốn luyến, là bảo bối, là báu vật giúp chúng ta phá tan hình bóng về tự ngã.

Muốn được như vậy, cần phải để tâm công phu rất nhiều, đến khi nào, chúng ta nhắc về mình nhưng bên trong không có hình bóng của tự thân nữa, mà chỉ là một đống thịt bầy nhầy, phèo, phổi, gan ruột, phân, nước tiểu… nếu an trú trong định tướng này lâu ngày thì khi nhắc về tự thân, chúng ta sẽ thấy Ba mươi hai thể trược hiện ra trong tâm. Thân này chỉ là một đống ruột, gan, phèo, phổi; một bộ xương; một đống tro tàn, một ngôi huyệt mộ, một nấm mồ…

Nếu bắt đầu tu tập đã phá ngã liền thì chúng ta chưa làm được. Vì vậy đầu tiên chúng ta hãy tu tâm hiền. Khi nói về mình thì có hình bóng mình quỳ lạy, chắp tay, cúi đầu xuống; xưng “con” với mọi người, ngay cả đối với những người nhỏ hơn, khi đó trong tâm vẫn ngọt như đường cát, mát như đường phèn, dễ chịu, dễ thương môt cách tự nhiên, chứ không phải gắng gượng. Lúc đầu, gặp một người trẻ nhỏ hơn mà phải xưng “con” thì ít nhiều sẽ có sự gượng ép, vì mình là sư phụ, là sư cô, là quý thầy, lúc đó có một bản ngã chình ình sanh khởi. Cho nên, danh tướng và vọng tưởng thường đi chung với nhau, trong đó, “danh” là danh từ, “tướng” là hình tướng, “ vọng tưởng” ở đây là hình bóng về tự ngã sẽ đi theo mỗi khi tự xưng là sư phụ, là thầy, là cô, là tôi. Lúc này, bên trong mình có một cái ta, ngực ưỡn ra, mặt hất lên, vênh váo, hống hách, trong kinh Nikāya dùng từ “kiêu mạn”. Chính vì vậy, người tu chúng ta phải tập một đời sống với những suy nghĩ, cảm thọ, lời nói, hành động lúc nào cũng khiêm cung cho đến mức tỏa ra bên ngoài, làm cho ai nhìn vào cũng thấy ngọt ngào.

Minh Thành luôn nhớ hình ảnh của những Hòa Thượng mình từng gặp, ví dụ như Hòa Thượng trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Long An, Minh Thành được gặp Ngài vài lần từ khi còn nhỏ, lúc mới đi tu, cho đến sau này. Điều làm Minh Thành nhớ nhất là Ngài luôn xưng “mình”, chứ không xưng là Hòa Thượng hay sư phụ. Ngài nói chuyện rất nhẹ nhàng, có khi cũng xưng pháp danh, sau mấy chục năm gặp lại, Minh Thành thấy Ngài vẫn như lúc ban đầu. Còn chúng ta, lúc mới đi tu thì xưng tên, xưng con, rất hiền lành, rất dễ thương; sau một thời gian thì nhiều người không còn được như vậy nữa. Trong khi, sau biết bao năm, Hòa Thượng vẫn như xưa, vẫn hiền từ, vẫn ngọt ngào với mọi người.

Hoặc khi Minh Thành gặp bậc Đạo sư, người đã dạy cho Minh Thành Thánh Pháp Nikāya, Minh Thành thật sự không thể tưởng tượng nổi. Sau khi dạy xong, sau mỗi khóa tu là vị ấy quỳ xuống lạy tất cả mọi người. Minh Thành bây giờ cũng học tập theo, sau mỗi khóa tu, Minh Thành đều quỳ lạy mọi người, lay luôn cả cư sĩ, lay khắp bốn chúng để diệt trừ bản ngã. Chúng ta không thể chỉ nói mà không làm, mà phải làm để chứng minh những gì được học. Cho nên, Minh Thành xưng “con” là để thực hành sự khiêm cung, diệt ngã. Sau một thời gian đã quen, tâm chúng ta sẽ rất ngọt ngào, dễ thương, một cách tự nhiên, không còn gắng gượng. Lúc bắt đầu sẽ hơi khó nhưng dần dần sẽ quen. Tu tập được những điều này, chúng ta sẽ thấy đời sống rất nhẹ nhàng, từ ái, dễ thương, dễ mến, dễ sống, dễ nuôi, dễ dạy, dễ bảo, dễ học, dễ tu, dễ nghe lời.

Ngược lại, nếu chúng ta không nhận diện được ngũ uẩn, không biết huấn luyện cảm thọ, không phá vỡ được thân kiến, không được tu tập tâm hiền, không thành tựu được tâm từ thì bên trong chúng ta là một bản ngã kiêu căng, ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người mà mình không biết. Cứ nghĩ là mình hiền lành nhưng thật ra là mình không thấy được bản ngã kinh khủng ở bên trong. Chính vì vậy, nếu không nhận diện ngũ uẩn, không nghe theo Chánh Pháp thì không thể nào biết được bản ngã trong tâm này.

Hơn nữa, đừng nghĩ tự tôn, tự đại, tự cao mới là bản ngã; còn tự ti, tự cho mình là thấp, kém, dở mới là đúng. Nghĩ như vậy là sai, vì tự ti đó cũng là bản ngã, cho nên, tự cao hay tự ti cũng đều là bản ngã. Trong kinh Nikāya nói rằng, khi nghĩ rằng mình hơn, mình bằng hoặc mình thua thì đó đều là kiêu mạn, ngạo mạn, bản ngã. Bởi lẽ, tự cho là có “mình” thì mới có bằng, có hơn, có thua. Nhiều vị nói rằng “tôi dở lắm, tôi kém lắm, tôi nghiệp nặng lắm, tôi không bằng ai”, lúc nào cũng nói vậy, tưởng đâu là hay nhưng thật ra đó cũng là bản ngã. Cho nên, không phải tự đại, tự cao mới là bản ngã; mà khi thấy thật sự “có mình”, cho rằng ngũ uẩn này là mình là chúng ta đã không nghe Thánh Pháp, không đi theo Thánh Đạo, không nghe lời dạy của Đức Phật.

Đức Thế Tôn đã dạy, sắc không phải ta; thọ, tưởng, hành, thức cũng không phải ta, không có cái nào là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Điều này Ngài đã dạy vô số lần trong tạng kinh Nikāya nhưng chúng ta cứ cho rằng có tôi, có của tôi thì tâm này là cái tâm không nghe lời, đây kiến chấp và vì vậy, chúng ta luôn sống với một cái tâm phàm phu. Vì bản ngã, chúng ta không nghe theo lời dạy của Đức Phật, nhưng sau đó lại khóc than với Ngài rằng “con khổ quá, Ngài cứu con”. Nhưng không ai có thể cứu mình, vì mình không chịu tu theo Thánh trí của Đức Phật, Ngài dạy thì dạy, còn mình cứ nắm giữ cái tôi, như vậy thì tu sao thành tựu, làm sao có thể hết khổ! Điều này trong kinh gọi là “không chấp nhận học pháp”.

Minh Thành thường chia sẻ, muốn thành Thánh quả rất dễ, chỉ cần hai chữ “nghe lời”, tức là nghe lời Đức Thế Tôn một cách tuyệt đối, như vậy tối thiểu sẽ chứng Tu-đà-hoàn, cao hơn là đến quả thứ tư. Trong bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất, dạy về tu tập tâm hiền, có câu:“Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền”, bởi vì, tâm chúng ta là một cái tâm chống đối, ở ngoài dù hiền ngoan, luôn y giáo phụng hành nhưng bên trong không thật sự như vậy, chỉ khi biết nhận diện ngũ uẩn thì mới thấy được sự thật.

Có những sự chống đối thể hiện bằng lời nói, bằng hành động, thể hiện ra bên ngoài, sự chống đối này rất thô, ai cũng có thể thấy. Bên cạnh đó, có những sự chống đối tuy không thể hiện ngoài mặt, không phát ra ngôn ngữ, không phát ra hành động, nhưng lại nằm trong ý hành, tức là người này chống đối trong suy nghĩ. Thâm sâu hơn, sự chống đống không nằm trong suy nghĩ, mà chỉ là một cảm giác không hài lòng nhè nhẹ. Người tu chúng ta phải nhìn ra được tất cả những điều này thì mới có thể nhu nhuyến, chấp nhận học pháp.

Thánh trí Ngũ Uẩn sâu sắc như vậy, có thể nói là siêu thiền định, siêu thiền tuệ. Chứ không phải ngồi thiền là ngồi yên, muốn nghĩ gì cũng được; mà chúng ta phải đọc được tất cả thọ, tưởng, hành đang có mặt, xem chúng như thế nào, ra làm sao, hoạt động như thế nào, có dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã hay không? Nếu có thì ngay lập tức tác ý, đánh đuổi, trừ diệt. Đó là quét rác, là lau nhà, là vệ sinh căn nhà nội tâm.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, sự tu này vô cùng nghiêm túc, sâu sắc, tế nhị, miên mật, khít khao, sát sao, vì vậy, “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu”. Đức Phật định nghĩa giáo pháp của Ngài như vậy, không cần một ai khác giải thích. Do đó, Minh Thành chân thành khuyên tất cả huynh đệ hãy học thẳng vào tạng kinh Nikāya để đi đúng Thánh Pháp, vào đúng con đường Thánh đạo để thể nhập Thánh trí và thành tựu Thánh quả. Thánh đạo chính là Thánh Giới Uẩn, Thánh Định Uẩn, Thánh Tuệ Uẩn – tức là các giới của bậc Thánh (Thánh Giới Uẩn); sự tập trung tâm ý của bậc Thánh, bốn tầng thiền của bậc Thánh, gọi là Thánh thiền định, Thánh chánh định (Thánh Định Uẩn); bốn Thánh trí Ngũ uẩn (Thánh Tuệ Uẩn).

- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.

- Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.

- Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.

- Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.

Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn nói về sự sanh-diệt của ngũ uẩn, làm sao ngũ uẩn sanh khởi và làm sao ngũ uẩn chấm dứt. Chính vì không thấy, không biết bản chất thật sự của ngũ uẩn là phiền nào và khổ đau nên ta yêu thích, ham muốn, cho ngũ uẩn là mình. Sự không thấy, không biết này là do vô minh, khát ái và bản ngã và chính vì chúng mà ta không thấy được từng uẩn. Trong đó, nhóm đầu tiên là tứ đại, vật chất (sắc uẩn); nhóm thứ hai là cảm giác (thọ uẩn); nhóm thứ ba là những hình bóng trong tâm (tưởng uẩn); nhóm thứ tư là những suy nghĩ, nói thầm trong tâm (hành uẩn); nhóm thứ năm là những nhận thức, rõ biết (thức uẩn). Năm nhóm này chúng ta không nhận diện được là do vô minh, không được truyền trao Thánh trí huệ, do đó, ngũ uẩn dính chùm lại với nhau.

Minh Thành thường ví dụ ngũ uẩn như một bàn tay, nắm tay này do năm ngón tạo thành, nhưng chúng ta không thấy được từng ngón riêng lẻ, mà chỉ thấy đó là một bàn tay. Có một ví dụ dễ hiểu, chúng ta thường thấy bàn tay của Đức Phật thường buông lỏng, không nắm lại, qua đó, mình thấy rất nhẹ nhàng, dễ chịu vì đây là sự buông bỏ, không còn chấp thủ; ngược lại, một bàn tay nắm chặt, nhìn rất nguy hiểm, đại diện cho sự chấp thủ, bản ngã, nắm chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức, một cái tôi, cái ta to lớn. Nắm tay chấp thủ này chỉ mang đến khổ đau cho chính mình và mọi người, sau nắm chấp thủ này là máu, là nước mắt, là phiền não, là tù tội, là chết chóc, là sanh tử, là khổ đau. Khi chịu buông xả, buông bỏ, không còn chấp chặt thì chúng ta sẽ được nhẹ nhàng, an lành và bình an.

Như vậy, sự tu học này từ lúc bắt đầu cho đến cuối cùng không đi ra ngoài ngũ uẩn. Vì vậy, nếu không thấy được ngũ uẩn thì chúng ta không bao giờ vệ sinh được căn nhà nội tâm. Năm uẩn này sẽ mãi dính chùm với nhau, lúc nào cũng “tôi đang vui”, “món này ngon quá”, “hôm nay tôi bực bội, khó chịu, sân si quá”, “sao ai cũng hiếp đáp, kiếm chuyện với tôi hoài”… Suốt đời cứ sống trong vô minh, bản ngã, sống với tham, sân, si như thế thì tu được cái gì? Thay vào đó, nếu có tu tập, mỗi khi khó chịu, chúng ta sẽ phát hiện ra một cảm thọ về sân, chứ không phải đó là một cái tôi đang giận. Do đó, nếu dùng từ sai thì tất cả thọ, tưởng, hành sẽ đi theo từ sai đó.

Mỗi tối, sau khi công phu cùng đại chúng, hãy quỳ trước mọi người, tác bạch: “Kính thưa các bậc Tôn đức, kính thưa các bậc Hiền trí, ngày hôm nay con thấy cảm thọ sân trong con rất nhiều. Con có nhiều cảm xúc của bản ngã. Vì vậy, con xin được dập đầu cúi lạy để xả bỏ bản ngã xấu xa này”. Nhất là đối với người khiến mình sanh khởi bản ngã, hãy quỳ lạy ngay chân họ để mình được tẩy sạch tâm cấu nhiễm. Đồng thời người đó có thể cảm thấy xấu hổ vì hành động của họ vô tình khiến mình sanh khởi bản ngã, họ quỳ xuống lạy cùng mình, có khi cả hai cùng ôm nhau khóc và quỳ lạy. Đây là cách chuyển hóa tâm, là phương pháp phát lồ tâm bất chánh thường xuyên được thực hành ở Linh Quy Pháp Ấn. Một sư cô quỳ lạy một nữ cư sĩ cũng là chuyện bình thường. Khi tu đúng theo Chánh Pháp, chúng ta không còn sợ xấu hổ, hay giữ gìn sĩ diện ảo, chính lí do này mà ta không tu được theo Chánh Pháp. Cũng vì chấp vào danh, vào hình, vào tướng, mà ta bám chặt vào cái tôi, cái mình, cái bản ngã. Trong khi, chúng ta phải xem Pháp là tối thương, hơn hết mọi thứ trên đời. Hình tướng này không là gì cả, quan trọng là tu tập để đạt được tâm khiêm cung, khiêm hạ, diệt ngã thì đây mới là điều cứu cánh. Nếu tu học được như vậy thì sự tu tập này sẽ được tăng thương, vi diệu, thần diệu và chúng ta sẽ được “đổi đời” trong nay mai.

./.