Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

9. CÔNG NĂNG NHẬN DIỆN NGŨ UẨN

2026-03-03 00:56:21
CÔNG NĂNG NHẬN DIỆN NGŨ UẨN

-Thích Minh Thành-

Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, rõ biết trước mặt, tầm nhìn của mình rộng mở hết mức ra 2 bên.

Sư cô 1:

- Sư phụ: Cảm giác của cô bây giờ như thế nào?

- Sư cô: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch sư thầy và đại chúng, con thấy bụng phồng rồi xẹp đó là về sắc, còn khi thở như vậy thấy cơ thể hơi mệt.

- Sư phụ: Trong 3 loại cảm giác nó là cảm giác gì?

- Sư cô: Cảm giác thọ khổ.

- Sư phụ: Trong tâm có hình bóng gì?

- Sư cô: Tưởng hình bóng cái bao tử cí gì đó thấy khó chịu.

- Sư phụ: Vậy còn hành?

- Sư cô: Nãy giờ con nghĩ đến bụng cứ phồng xẹp, tưởng ra bao tử rồi cảm thấy nó khó chịu

- Sư phụ: Lúc đó mình cố rõ biết không?

- Sư cô: Dạ rõ biết.

Xin mời vị tiếp theo, hôm nay mình sẽ thực tập. Thực tập cái này quan trọng lắm, được điều này mình học vào trong kinh sẽ dễ hơn.

Sư cô 2:

- Sư phụ: Hãy nhận diện 5 uẩn?

- Sư cô: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch thầy và quý đại chúng, trong mấy phút vừa qua con ngồi con thấy cảm giác thoải mái là thọ lạc, con nhớ lại hình ảnh trời chuẩn bị mưa, con thấy trời tối con tưởng tượng trời sẽ mưa, con suy nghĩ chút nữa về mình có bị mắc mưa không và con nhận biết được những suy nghĩ đó là thức, là sự rõ biết.

- Sư phụ: Như vậy là rất tốt, nhưng nói rõ hơn cái nào là thọ, tưởng, hành?

- Sư cô: Dạ trong lúc con ngồi đại chúng im lặng con cảm giác rất thoải mái, đó là thọ. Khi cơ thể con ngồi và nhìn phía trước đó là sắc. Hình bóng trong đầu trời mưa là tưởng. Suy nghĩ mình có bị mắc mưa không là hành. Rõ biết suy nghĩ đang diễn biến trong tâm mình là thức.

Sư cô 3:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch sư thầy và đại chúng, mấy phút vừa qua con ngồi tĩnh lặng, con cảm nhận thân thể của con về thọ có một trạng thấy rất khó chịu, người con hơi nặng nề, con có cảm giác mùi dầu hôi bay lên là thức và khởi lên trong lòng con hiện tượng nôn ói là hành. Rõ biết về cảm giác và hiện tượng đó là thức.

- Sư phụ: Nãy giờ chỉ mới nói đến thọ thôi, vậy hình bóng gì trong tâm?

- Sư cô: Hình bóng nôn ói hiện lên

- Sư phụ: Vậy đó là gì?

- Sư cô: Dạ tưởng

- Sư phụ: Rồi còn suy nghĩ?

- Sư cô: Dạ thưa con suy nghĩ thấy khó chịu, là hành

- Sư phụ: Vậy có rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó không?

- Sư cô: Dạ có rõ biết, con nghĩ đó là thức.

- Sư phụ: Không còn nghĩ nữa, đó chính là thức, đó là điều Đức Phật nói”

Sư cô 4:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch giáo thọ và toàn thể đại chúng, khi con ngồi có nhìn xuống dưới bàn thì thấy 1 quyển tập và phía trước con là bóng lưng của người ngồi trên là sắc. Trong khi thở con thấy đau ở vai, cảm giác khó chịu đó là thọ. Con nghĩ đến hình ảnh chai dầu để xoa bóp đó là tưởng. Suy nghĩ khi về nhà mua thuốc uống đó là hành. Con rõ biết những điều đó là thức. Con xin hết.

- Sư phụ: Đã được tương đối, nhưng nên nhớ, sắc ở đây là nhìn sắc thân của mình, chứ không phải nhìn người khác, nhìn lưng của người phía trước hay chai dầu để đó thì không phải sắc, phải nhìn chính mình trước.

***

Mình phải thực tập và nhìn lại thân tâm mình, vì chúng ta đã quen với cái tâm thuần thục và điêu luyện một đời sống hướng ngoại. Sáng mở mắt dậy là mình nghĩ đến điều gì? “Sáng nay ăn gì?”, “mình phải làm gì?”, “trưa ăn gì?”,“ chiều đi học, tối ăn gì?, tối nay làm gì?”. Tức là suy nghĩ, cái tâm của mình đã quen theo chiều hướng nhìn bên ngoài, con mắt mình luôn luôn đi tìm sắc đẹp để nhìn, sắc xấu mình sẽ bực. Tai nghe tiếng gì đó khó chịu sẽ bực, muốn dẹp tiếng đó mà tìm âm thanh dễ chịu. Mùi cũng vậy, mùi mình thích thì mình khoái, có mùi thì làm mình bực mình, khó chịu. Vừa nghe âm thanh của điện thoại là mình rung rinh, nhút nhích liền không kiểm soát được. Chỉ cần một tiếng động thôi là sắc mình động chuyển, không tự chủ, kiểm soát được. Tâm hướng ngoại của mình bén nhạy, điêu luyện, thành thục lắm. Đời sống chúng ta là đời sống trôi lăn trong vô minh, tham ái, hướng ngoại. Thậm chí khi nghe tiếng điện thoại thì hình bóng điện thoại hiện lên trong tâm mình liền, và cái hành không biết nó là Iphone, Samsung hay loại nào, nhanh lắm. Rồi lỗ tai mình nghe xem nó phát từ hướng nào, ở giữa, ở cuối hay ở trên đầu, nó bén nhạy lắm, đó là tâm hướng ngoại điêu luyện của mình. Chính vì vậy đời sống của mình không biết mình, và mình đi tìm cái khổ, nhìn một người thì xem “đẹp hay xấu vậy?”, tìm hiểu một người xem “dễ thương hay khó thương”, người mới vào chùa thì xem “tập sự xuất gia hay công quả vậy, người đó sao thấy khó ưa quá, không hợp với tôi”. Thương cho cái tâm mình, tâm hướng ngoại. Chính vì vậy mình phiền não, khổ đau. Cái gì cũng có thể làm cho mình bực, khó chịu, phiền lòng, đi đến đâu cũng thấy phiền não, tại sao vậy? Tại vì mình không hướng nội.

Hướng nội là gì? Là nhận diện ngũ uẩn, nhìn nhận lại thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng của chính mình đang như thế nào. Bây giờ bắt hướng nội thì mình thấy khó chịu tại đã quen hướng ngoại rồi, ngồi thiền chút cũng thấy khó chịu lắm, mong nhanh nhanh, ngồi lâu quá, nhìn đồng hồ tự nghĩ “Không biết ông, cô đánh chuông này có ngủ gục không, giờ đến rồi mà chưa thấy đánh xả thiền”. Cho nên sự tu là sự nội quán, nội soi, nhận diện ngủ uẩn, đọc lại những suy nghĩ, nhìn lại những hình ảnh bên trong, cảm nhận lại cảm giác của chính mình đang như thế nào, đó là sự tu, tu gốc của Đức Phật. Ví dụ sanh ra chuyện 2 huynh đệ phiền não nhau, thường thì nghĩ người kia làm lỗi thôi chứ mình không có lỗi, tâm thức của mình bào chữa đủ thứ kiểu, ý hành suy nghĩ đủ cách để khi sư phụ hay trị sự chỉ ra lỗi thì mình nói “tại cái này, tại cái kia, vậy làm sao con chịu được” đủ thứ lý do ở trong ý hành của mình hết sức xảo trá, gian xảo, nó biện minh, biện bạch, trườn uốn như con lươn, che dấu lỗi lầm bản ngã, suy nghĩ của mình. Ít khi nào người ta chỉ lỗi của mình mà bản thân sụp xuống liền “Dạ con thành tâm con xám hối, con thấy đó đúng là lỗi của con”. Ngay cả sư phụ chỉ lỗi cũng vậy “Dạ đâu có đâu sư phụ, đó là do sư tỷ làm không phải con”. Mình không chịu quay lại để nhìn sự việc thế nào, ra sao, cứ nhìn thấy người ta, không nhìn thấy lúc đó cảm giác sân của mình như thế nào, bản ngã của mình ra làm sao. Bởi vậy khi người ta nói đúng lỗi của mình là mình sân si, giận hờn, không chơi nữa. Dù cho người ta bằng tình thương mà chỉ cho mình, muốn mình hoàn thiện nhưng mà mình giận. Thậm chí tới mức độ biết mình đúng như vậy, biết là bản thân sai nhưng mình vẫn giận “Tôi giúp đỡ đủ thứ, tôi bao bọc từ lúc về tới giờ mà giờ chỉ lỗi tôi” Có không quý vị? Thiếu sự nhìn nhận lại thân tâm là mình không có tu được, hình thức mình thì là tu, miệng mình nói tu, nhưng đó không phải chân tu, không có chân thành, không có sự tu. Tại sao vậy? Mình không thấy được thân tâm mình thì làm sao tu. Cho nên việc nhận diện ngũ uẩn hết sức quan trọng, thấy được thân tâm của mình, bây giờ mình đọc lại mà mình không thấy được những cảm giác nghĩ tưởng trong mình hay thấy không chính xác, không đầy đủ thì làm sao? Do đó cần sự thực tập nhận diện ngũ uẩn, nó tuyệt đối quan trọng trong sự đọc lại những cảm giác nghĩ tưởng của mình. Nhận diện 5 uẩn giống như một cánh cửa để mình bước vào pháp hành, mình thường trực kiểm tra, kiểm soát cảm giác của mình xem nó có sân không. Ví dụ mùi dầu mình nghe khó chịu, mình không thích mà ở đây nó có mùi đó, thì đầu tiên mình không trách hay tìm kiếm người nào sử dụng dầu đó mà mình quay lại nhiếp phục cảm giác của mình, đó mới là người tu. Còn thường thường nghe mùi hay có gì khó chịu là mình hỏi “Tại sao lại sứt dầu như vậy? Sứt như vậy tôi khó chịu, tôi muốn ói, tôi không quen” Phải vậy không quý vị? Đó là vô văn phàm phu, không biết tu. Còn người tu là không chỉ trích người sứt dầu đó mà quay lại nhiếp phục cảm thọ khó chịu của mình. Dùng Như lý tác ý "Chỉ có một chút mà mình chịu không nổi, người ta đi hút hầm cầu ngày đêm phải ngửi mùi đó, chui xuống hầm cầu hôi thối, dơ bẩn mà vì miếng cơm manh áo sao người ta vẫn làm được, còn mình có 1 chút mùi như vậy chịu không được thì sân hận là sân hận cái gì? Mình tu cái gì?" Đó là mình Như lý tác ý. Mình quán có biết bao nhiêu người phải chịu đựng cả trăm cả ngàn cái khổ này, gấp ngàn, gấp vạn lần cái này, tại sao có chút mà mình không chịu khó, không nhiếp phục được cảm thọ. Huynh đệ của mình bị bệnh mà sân, tại sao mình không có tình thương, không có sự cảm thông. Vậy mình bệnh thì sao? Tác ý như vậy thì đó mới là người tu, là luôn luôn quay lại để nhiếp phục thọ, tưởng, hành của mình, chứ không phải nhìn người ta, dù có chuyện gì xảy ra mà chỉ trích mình là đúng hay sai mà mình sân hận lên thì mình cũng sai, hễ có sân là sai. Bất cứ trường hợp nào người tu sân hận lên là sai. Chỉ trích mình nhìn quay lại nhiếp phục, cảm thọ cảm giác.

Trong bài kinh Ví dụ cái cưa, Đức Phật chỉ ra “Người nào bị người khác mắng nhiếc, chửi rủa, đánh đập, thậm chí đem cây cưa mà cưa cơ thể ra từng thân mà sân hận nổi lên thì cũng chưa phải là đệ tử chân chánh nghe theo lời dạy của Như Lai”(Kinh Trung Bộ 21). Tất cả những trường hợp điều quy lại nhiếp phục thân tâm của mình mà không đổ lỗi, đổ thừa cho ngoại cảnh thì đó mới là người tu. Bất cứ chuyện gì xảy ra làm mình phiền lòng, mình điều quay trở lại xem cảm giác của mình, chứ không nhìn người làm mình giận, mà mình nhìn cơn giận của mình để mình nhiếp phục, đó mới là người tu. Còn người phân bua, tranh giành đúng sai, phải quấy thì người ta không tu hành gì hết. Tu mà được như vậy là tuyệt vời, mình phải biết ngũ uẩn mình mới tu được, còn không biết ngũ uẩn thì bản thân kiềm được lần 1, lần 2 chứ đến lần thứ 3 sẽ không kiềm được nữa. Vì mình tu trên ý hành, suy nghĩ, mà cái thọ dâng lên mình kiềm không được là lại bung lên cái miệng. Ý hành bên trong dâng lên, khẩu hành bung ra rồi đến thân hành quơ tay múa chân, mình tu là tu trên suy tưởng thì nó không có chân thật, mình nên tu trên thọ, nhiếp phục cảm thọ. Ví dụ cơn giận mình bốc lên, sôi sùng sụt, nóng ran bụng, lúc đó phải dùng phương pháp Như lý tác ý là mình tác ý làm cho nó lắng dịu, dễ chịu, an tịnh, tự hỏi bản thân “Mày thiêu đốt hả? Dốt cháy mấy ngàn năm, vô số kiếp rồi giờ còn đốt nữa hả? ngươi thích đốt, thích cháy, thích tàn phá lắm phải không? Ngươi có phải người tu không? Nhìn đi, vô gương nhìn cái mặt, cái đầu trọc đi? Tại sao ưa thích đốt, thích thiêu cháy quá vậy? Được cái gì trong sự sân hận, thiêu đốt, phải quấy, đúng sai này?” Mình tác ý như vậy đó, hỏi nó, huấn luyện cái tâm, làm cho cảm giác sôi sùng sụt đó lắng dịu xuống, như trong cái lò nước đang sôi mình rút củi ra cho nước dịu xuống. Mình hóa giải cảm thọ cho tan, lắng dịu, an tịnh hoàn toàn sau đó mới nói chuyện, lúc giận mình không nên làm gì hay nói gì, nên giải tỏa, giải phá, giải phóng cảm giác sân đó sau đó mới tính. Nếu vẫn còn cảm giác đó ở trong người mà mình nói ra là hư chuyện hết. Đó là sự tu, nhiếp phục, quán chiếu, giải phá cảm thọ, giải tỏa cảm xúc, huấn luyện cảm giác và làm chủ thân tâm của mình. Cho nên mình phải nhận diện được ngũ uẩn, thường trực an trú trong cảm giác toàn thân, không ngưng được cái toàn thân thì tâm mình lang bạt giống như người không nhà, cứ lang thang hết hơi này đến nơi kia vì nó là tâm hướng ngoại. Còn mình an trú cảm giác toàn thân thì luôn luôn định tâm trên thân, có biến động mình sẽ biết liền, thấy nóng trong người là biết cái sân sắp tới, giặt sắp tới phải hóa giải nó ngay. Thúc giục cảm giác bên trong cho nó khởi lên, mình tác ý nữa “Nhục, mày là người tu mày có biết nhục không? Tại sao còn tham muốn những thứ nhục nhã, xấu hổ, đồi bại, hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu cho những cảm giác nhục này. Xấu xa, thối tha, ác ma về những cảm giác thúc giục trong tâm này. Tại sao mình là người xuất gia mà có những ham muốn như vầy?” Mình tác ý mạnh vào lúc sân khởi những dục niệm, dục tưởng, dục hành, dục thọ. Tác ý mãnh liệt để giải phá cảm giác thúc giục bên trong nó đang đòi hỏi, khao khát. Thậm chí dùng những từ thật mạnh, đanh thép, nặng nhất làm nó phải gục đầu để giải phá những cảm giác đó. Đó là như lý tác ý, ham muốn những thứ không đúng pháp, không đúng giới luật thì mình nói là “Súc sanh, mày đi theo những ham muốn này thì đời sống của mày là thú vật”. Huấn luyện nội tâm, giải phá, đánh đuổi cảm thọ, cảm giác ở trong thân tâm của mình. Cảm giác nó tan ra ví như mình uống viên thuốc sủi bọt khi bỏ vào ly nước nó sẽ sôi lên rồi tan hết, thân tâm mình lắng dịu, an tịnh, đó là mình chiến thắng. Nếu mình không tác ý mạnh mẽ, hùng lực vào, thì mình sẽ không làm lại vì nó ghê gớm lắm “Này các Tỷ-kheo, tất cả chúng sanh bị các dục nhai nghiến. Tất cả chúng sanh bị dục ái nhai nghiến. Tất cả chúng sanh bị dục nhiệt não thiêu đốt thân tâm”. Bên trong cứ nung nấu, khao khát, đòi hỏi, tìm kiếm, không bao giờ thỏa mãn.

Cho nên chữ “ khổ” trong đạo Phật giải thích nghĩa là “bất toại nguyện”, không bao giờ thỏa mãn cảm giác dục. “Tất cả chúng sanh nô lệ cho tham ái, tham dục. Thân này là thiếu thốn, thân này là vô sở hữu, vô chủ” Đức Phật gọi là “khát ái”, giống như mình khát nước mình đi tìm nước uống, ở đây mình đi tìm ái. Nó luôn luôn ở trong trạng thái khao khát, tìm kiếm, đòi hỏi, không bao giờ thấy thỏa mãn. Mình tu thì phải nhiếp phục được những cảm giác đó, đánh gục được nó, giải phóng, giải phá, giải tỏa, giải thoát khỏi cảm giác đó, đó là sức mạnh của người tu. Không chỉ dục về nam nữ mà còn dục ăn, dục nói, dục chơi, dục quần áo, xe cộ, tiền bạc, đất đai, chùa chiền…đủ thứ dục trên cuộc đời này. Mình phải thấy được hết tất cả những thứ đó, chỉ có con đường nhận diện được 5 uẩn mới có thể nhìn thấy được tất cả mọi cảm giác, nghĩ tưởng nó sân khởi lên mình phải kiểm tra, kiểm soát rồi mới nhiếp phục được còn bằng không thì không thể nào, khi mình hay thì đã muộn, mất trâu mới đi làm chuồng thì nó sổng chuồng hết rồi. Cho nên phải nhận diện được 5 uẩn, ngày nào mình cũng thực tập cho đến khi nhận diện được rõ ràng, không nhận diện được 5 uẩn thì không tu hành gì được, nếu gọi là tu thì chỉ là tu trên hình thức, dáng vẻ bên ngoài, chứ cái tâm, cái tầm, tham, sân, si không biết ở đâu thì lấy gì tu, nó cư trú trong cảm giác của mình không biết thì làm sao tu. Khi nhận diện 5 uẩn không được lẫn lộn hành qua thức, tưởng qua thọ…cái nào cũng phải rõ ràng.

Con xin thưa đại chúng là con không biết mình còn chia sẻ được bao lâu nữa, cho nên nắm bắt những pháp hành quan trọng này. Pháp hành của mình hiệm không đúng, không chơn chánh, không có khả năng đoạt tận, nhiếp phục tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Những sự tu học chỉ trên hình thức, trên bền ngoài, hướng ngoại làm sao có khả năng nhiếp phục thân tâm. Mình ngồi mình tính xem đã niệm được bao nhiêu, ngồi được bao lâu, lạy được bao nhiêu lạy, chứ mình không tự hỏi rằng “Mình đã nhiếp phục được dục, hạ gục sân được ở mức độ nào? Bản ngã mình đã hạ thấp tới mức độ nào?” Không ai hướng dẫn mình nhiều hết. Mình lấy hình thức, bề ngoài làm công phu. Mình xem lại nội tâm của mình từ khi xuất gia tới giờ 5, 7 năm nhiếp phục được dục chưa? Cảm giác sân hận mình có nhìn thấy, phát hiện và có cách giải tỏa được nó chưa? Trí tuệ vô ngã mình có thâm nhập được không hay cái tôi nó to đùng đụng chuyện vào là nó trương phình, hất mặt, ưỡn ngực, vênh váo lên, ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc. Đó là sự tu của mình không đặt tâm đúng hướng, không nhắm thẳng được mục tiêu, không có kết quả thật sự trong pháp và luật. Tu nhiều có khi còn điệu hơn người đời, tối ngày trau chuốt tấm thân, ái còn nặng hơn người thế gian, đầy dẫy dục, tham, ái, suốt đời tu chưa từng ngồi quán bất tịnh lần nào, tu vậy là nhục lắm.

Mình nhìn Đức Phật, thái tử của mình, Đức Bồ Tát, có tất cả, đang ở đỉnh cao mà bỏ xuống, còn mình không khéo từ đi tu mà lại đi tìm dục ái, phát huy ngã sỡ của ta, lạc đường, lầm lạc. Đầu tiên trong sự tu này chúng ta học là phá sắc uẩn, tham ái chấp thủ đối với sắc uẩn, thân xác này. Chúng ta nhớ thái tử Tất-đạt-đa gỡ vương miệng, lột hoàng bào xuống, lấy tấm vải trên xác chết khoác lên mình, đó là bước đầu tiên khi xuất gia đó. Tại sao tu chúng ta phải cạo tóc? Để hủy hình, huỷ xả ái đối với mái tóc, vóc hình, dáng vẻ, thân xác này. Hằng ngày chúng ta phải nghe pháp, quán chiếu thâm sâu để giải phá những dục ái đối với thân xác này, đó là sự hành trì chơn chánh của Đức Phật dạy. Mình nghĩ xem, Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ở dưới gốc cây, ăn 1 ngày 1 bữa, đi xin ăn, sống đời sống viễn ly nơi núi rừng xa vắng, mình phải lấy đó làm chuẩn mực. Đó là gì? Là phá sắc uẩn, giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh, hạnh cao thượng của 1 người xuất gia. Mỗi ngày mình phải nhận diện cảm giác, nghĩ tưởng nếu nó dục, tham, ái mình phải Như lý tác ý đánh đuổi và diệt tận nó, diệt mòn từ từ. Chứ còn không vô minh, tham ái, bản ngã, dục tăng trưởng dù trên hình thức của người tu, chứ không phải cạo đầu, đắp y lên là xong, nó còn dài ở về sau lắm, cả 1 sự chiến đấu, người tu là chiến sĩ chiến đấu dục, tham, ái đối với 5 uẩn.

Có 1 nhóm Tỷ-kheo lên xin với Đức Thế Tôn:

- Tụi con muốn đi du hành ở chỗ xa

- Đức Thế Tôn hỏi: Các thầy có đi trình thưa với Xá-lợi-phất chưa?

- Nhóm Tỷ-kheo trả lời: Dạ chưa.

- Đức Thế Tôn bảo: Các thầy lại thưa với Tôn giả Xá-lợi-phất đi, các thầy sẽ được lợi ích, lợi lạc.

Nhóm Tỷ-kheo lại gặp Xá-lợi-phất đảnh lễ và thưa lại mong muốn như trên.

- Thầy Xá-lợi-phất hỏi: Các ông đi đến vùng có những người trí thức, thất trí thức, ngoại đạo, những người có tâm nghiên cứu, tầm cầu giáo pháp người ta hỏi Thế Tôn, bậc Đạo sư của ông dạy ông những gì thì các ông sẽ nói như thế nào?

- Các Tỷ-kheo: Bạch Tôn Giả, xin Tôn Giả chỉ dạy cho chúng con

- Xá-lợi-phất nói: Đức Đạo Sư hướng dẫn nhiếp phục dục, tham, đoạn tận dục, tham đối với năm uẩn.

Đó là câu tóm thâu hết tất cả giáo nghĩa của Đức Thế Tôn. Là trái tim của giáo pháp, Thánh pháp “Nhiếp phục dục, tham, đoạn tận dục và tham đối với năm uẩn”

Năm uẩn là gì mình đã biết, nếu mình chưa học 5 uẩn, mình nghĩ tu là chỉ có đừng tham muốn đối với sắc uẩn thôi. Mình còn chưa biết 4 uẩn khác bên trong khủng khiếp. Những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ ngọt ngào, êm ái mình từng trải qua hiện về thì mình có thích thú trong đó không? Rồi cái nhận biết, tri thức, kiến thức của mình thì mình có yêu thích không? Mình nói ra điều gì, mà người ta nói “Sai rồi, trật rồi” mình có sân không? Bản ngã khởi lên liền vì cái biết của mình thì mình nghĩ nó là đúng, nhưng cái biết của mình là vô minh, tham ái, là cái biết theo nghiệp chứ không phải biết bằng Thánh trí. Những điều mình nghe, thấy, cảm nhận và hay biết toàn là vô minh hết, cái biết đó đối với bậc Thánh không sử dụng được. Cái biết của mình chỉ để sanh ra sân, tham, dục, bản ngã. Biết đó chỉ làm cho mình thêm sầu, bi, khổ, ưu, não thôi.

Có một cô hỏi con 1 câu hỏi như thế này: “Thầy cho con hỏi ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thầy dạy con thức là sự rõ biết, rõ biết 5 uẩn trước. Nhưng nếu khi ta thả tâm không rõ biết thì trường hợp đó không gọi là thức đúng không thầy? Nếu không gọi là thức thì nó là gì trong khi vẫn nằm trong tâm thức ta? Thầy hoan hỷ cho con biết ạ”

Trong trường hợp thả tâm, phóng tâm, vọng tưởng, nó vô minh, có nhưng không biết, cái thức lúc đó bị che, ví như đêm rằm không thấy mặt trăng do mây đen che hết. Chúng ta từ từ sẽ học nhận diện 6 thức, hiện tại chúng ta chỉ học nhận diện ý thức thôi. Mình đừng tưởng 6 thức đã biết là ý thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức. Nhưng không phải, cái đó mình chỉ biết trên chữ nghĩa chứ đến hôm tập nhận biết rồi mới thấy bất ngờ, thật sự mình chưa biết gì.

Sẵn tiện Minh Thành chỉ luôn, ở đây nhãn thức là cái gì? Trả lời là sự rõ biết của mắt, chắc chưa? Nếu là sự rõ biết của mắt thì lúc nào mắt cũng phải có sự rõ biết, vậy lúc chết mà mở mắt, hoặc lúc ngủ say, lúc xỉu thì tại sao con mắt có ở đó mà không có sự rõ biết. Vì vậy mình học lí thuyết là vậy, nhưng vào thực tế thì nó khó, chứ không phải dễ. Cho nên nhãn thức là sự rõ biết các sắc, chỉ rõ biết các hình sắc, âm thanh thì không biết. Còn rõ biết âm thanh là nhĩ thức, nó chỉ rõ biết âm thanh, ngoài âm thanh ra nó không biết gì. Thành ra cái biết của mình không phải 1 cái mà là 6 cái. Khi nhận diện 6 cái thức này thì mình mới thấy tâm mình là duyên sanh pháp, chứ không phải 1 cái tâm. Nó riêng từng phần, từng giới hạn của nó, gọi là nhãn thức giới. Giới đó là giới vức, ranh giới, phạm trù, lãnh vực, tức là nhãn thức thì chỉ rõ biết hình sắc thôi, ngoài cái hình sắc thì nó không biết.

Ví như lúc mình ngồi 1 chỗ, mắt mình cũng mở mà lúc đó tâm mình đi theo tưởng, bị tưởng chi phối dẫn dắt, khi người ta vỗ vai hỏi “Nãy giờ tôi nói gì có nghe không?”, “Tôi không nghe gì hết”. Lúc đó không phải mình không có nhĩ thức mà mình bị theo tưởng, hành dẫn dắt, hay cảm thọ bởi 1 câu nói yêu thương hoặc sân hận của ai đó, hình ảnh người đó cứ hiện hoài hoài, câu đó cứ trong đầu. Mình chú tâm vô những hình ảnh, cảm giác, nghĩ tưởng đó, nên người kế bên nói không để ý nên mình không nghe. Lúc đó cái thức của mình đang chú tâm vào thọ, tưởng, hành – nội trận ở bên trong chứ không rõ ở ngoài. Tâm mình chú ý vào chỗ nào thì chỉ biết chỗ đó thôi chứ chỗ khác không biết. Ví dụ như trong chùa mình có 10 người những mình chỉ để ý 1 người thì từng chút của người đó mình biết hết, còn những người mình không nhìn tới, không để ý đến thì mình không biết vì về họ hết.

Tiếp theo tỷ thức là gì? Là sự rõ biết về mùi. Thiệt thức sự rõ biết về vị. Thân thức là sự rõ biết thân xúc chạm, chỗ nào nó tiếp xúc thì nó chỉ biết ở nơi đó. Ví dụ, hiện tại bây giờ chỗ nào xúc chạm của da thịt vào quần áo, ghế ngồi thì chỗ đó biết ngay chỗ xúc chạm thì gọi là thân thức, sự rõ biết vào chỗ nó tiếp xúc, đụng chạm, nó biết chỗ đó thôi. Đó gọi là thân thức. Nó rất sâu xa, không phải đơn giản, mình phải tập nhận diện 5 uẩn rồi đến 6 thức.

Cuối cùng là ý thức, nhận diện ý thức rất khó, phải thiền định. Trước mắt mình cần nắm đơn giản là ý thức là rõ được thọ, tưởng, hành. Khi mình có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ gì đó thì thức của mình nhận biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó trong tâm thì mình biết đó là ý thức, rồi từ từ mình sẽ được học tiếp. Nhớ cho kỹ, ý thức chỉ rõ được thọ, tưởng, hành, ngoài cái đó ra thì nó không biết. Còn 5 thức trước rõ biết trần cảnh bên ngoài sắc, thinh, hương, vị, xúc; còn ý thức chỉ nhận biết rõ được thọ, tưởng, hành bên trong. Cho nên lúc nào mình chú tâm vào thọ, tưởng, hành bên trong mình sẽ không biết những thứ bên ngoài. Mình cứ chú tâm suy nghĩ vô những câu chuyện thì những hình bóng hiện ra, trong đó có cảm giác, nó cứ hiện ra. Mình cứ suy nghĩ, đăm chiếu chuyện đó hoài, nên người nào đó kêu mình không nghe, khi vỗ vai mới giật mình. Tại vì cái tâm của mình lúc đó đặt vô thọ, tưởng, hành bên trong, nên nó tập trung quay vô bên trong nên nó không biết ngoại trần bên ngoài.

Sáu thức là 6 cái biết riêng biệt, chứ mình không có 1 cái tâm để biết hết mọi thứ. Ví dụ mình bị điếc lỗ tai thì mình chỉ thấy, ngửi, cảm nhận được nhưng không nghe. Bộ phận ghi nhận âm thanh bị hư, không phát huy nhận thức được, chỉ có cái đó bị trục trặc, những cái còn lại vẫn còn. Cho nên mình thấy cái biết của mình nó rời rạc, không có 1 nguyên thể của 1 cái tâm, gọi là “tâm thể hằng biết” được, trong kinh Nikāya không nói như vậy.

Tiếp theo nói 1 chút về duyên sanh pháp để mình thấy sự rõ biết hình sắc không đơn giản tự nhiên nó biết mà nó cần phải có duyên sanh pháp. Do duyên của con mắt và các sắc sanh khởi nên sự rõ biết – ba pháp này giao thoa, xúc chạm với nhau tạo ra thành nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của mắt. Khi tiếp xúc nó sanh ra cảm giác, từ xúc sanh ra thọ. Sau đó từ cảm giác sẽ sanh ra sắc tưởng, sắc tư. Tức là hình bóng về người hoặc món đồ đó mình không còn thấy nữa, nhưng nó còn đọng lại trong tâm làm mình nhớ lại. Tiếp tục suy nghĩ về người đó, món đồ đó được gọi là sắc tư. Đó là duyên sanh pháp của Nikāya do chính Đức Phật dạy.

Kết thúc, nói lại để mình thấy rõ, do có con mắt này, là cục thịt tròn tròn trên mặt; do có hình sắc bên ngoài; thì nó sanh khởi ra sự rõ biết các sắc. Ba pháp này giao thoa, tiếp xúc với nhau gọi là nhãn xúc, khi xúc sanh thọ, có cảm giác: dễ chịu, khó chịu, hoặc trơ trơ không khó chịu, không dễ chịu. Sau khi sanh ra cảm giác thì sắc tưởng, sắc tư sanh khởi, hình bóng người đó, món đồ đó hiện khởi lên. Ví dụ, sau khi tiếp xúc, mình trở về chùa thì mặt của người đó hiện ra, hoặc vô bị thầy Minh Thành rầy quá, nhớ cái mặt của ổng – sắc tưởng. Rồi có sắc tư, suy nghĩ học cái này căng, nhưng mà hay bởi vì mình thấy được những cái gì trước giờ mình không thấy.

./.