Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Lợi Ích Quán Chiếu Vô Ngã

2026-03-03 00:56:22
LỢI ÍCH QUÁN CHIẾU VÔ NGÃ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Con đường thoát khổ PAGEREF _Toc73454718 \h 1

II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc73454719 \h 3

III. Sáu lợi ích quán niệm vô ngã PAGEREF _Toc73454720 \h 5

IV. Quán niệm thế gian vô ngã PAGEREF _Toc73454721 \h 8

I. Con đường thoát khổ

Hôm nay là ngày 30 tháng 12 năm 2018, một hai ngày nữa thôi là qua năm 2019 và hôm nay chúng ta ngồi đây là những hột chắc.

Trong hai ngày lễ thôi mà đã chết 27 người, bị thương 15 người, mới chỉ có hai ngày thôi, còn hai ngày nghỉ lễ nữa. Riêng tính về tai nạn giao thông đã chết 27 người nên chúng ta còn một ngày bình an để tu học là mình mừng vui vì mình còn bình an, còn khỏe mạnh, có sức để đến chùa tu học, để nghe pháp, để thực tập trí tuệ. Cho nên mình phải có sự tinh tấn, nỗ lực trong sự thực tập và hành trì, vì xung quanh có những việc xảy ra mà mình không thể nào tưởng tượng, không thể ngờ được việc đó xảy ra như vậy. Nếu mình lường trước được, biết trước hay tính toán được thì đó đâu được gọi là vô thường, vô thường là bất trắc ngoài sự dự đoán, dự tính của mình, nên phải luôn luôn cảnh giác.

Minh Thành thường hay nhắc trên truyền hình có chương trình Phút Giây Cảnh Giác, liên hệ đến sự cảnh giác trong sự tu học của mình rất hay. Chỉ cần chúng ta sơ sảy thì cái sân có thể xâm chiếm vào nội tâm của mình. Nếu không kiểm tra kĩ, không theo dõi, không để ý, không phòng bị tâm của mình, thì tích tắc sự nóng giận, mất kiểm soát sẽ xâm chiếm nội tâm của mình. Nó xâm nhập, xâm chiếm, chế ngự, an trú và áp đảo, như thế là khổ đau cho mình, cho người và cho cả gia đình. Cái sân không giải quyết được vấn đề gì hết mà chỉ làm hư thêm thôi.

Do mình không cảnh giác, không có sự để ý nên cái sân vừa xâm chiếm vào là nó sẽ tấn công mình ngay. Nếu mình tưởng tu là gì cao siêu thì không phải vậy, tu không phải làm gì ở bên ngoài, mà tu là thường trực lúc nào cũng nhìn lại cảm giác để thấy nó chỉ vừa manh nha, nhen nhúm, động đậy thôi là mình phải nhiếp phục ngay, không để nó phát tán ra. Đó là trí tuệ, là bậc thượng nhân, thượng nhân pháp – pháp của bậc Thánh. Vì phàm phu không nghe pháp, không biết tu, nên họ không biết được cái sân ở trong cảm giác, cho đến khi nó phát tán ra, hủy hoại hết thì lúc đó đã muộn rồi, thế nên Minh Thành cứ nhắc quý vị là phải luôn luôn thường trực để ý cảm giác trong mọi lúc mọi nơi.

Bình thường có để ý thì khi hữu sự đến mình sẽ thấy rất rõ, thậm chí những sự chê bai, hủy nhục, trái ý, nghịch lòng, được mất trong cuộc đời đến, chúng ta vẫn có thể nhiếp phục được cảm giác của mình, sẽ ít buồn, tức giận, ít khổ hơn. Còn cho đến mức cuối cùng là khi ra đi mình thấy rõ được hết cảm giác, mình nhiếp phục và làm chủ nó là có được tự tại trong sanh tử, đây là kết quả cuối cùng. Bình thường có nhìn, có để ý, có thấy, có nhiếp phục thì tới lúc hữu sự mình mới có công lực, sức mạnh, sau cùng mới có được kết cục viên mãn. Còn bây giờ mình không thấy, nó xuất hiện mình cũng không biết, nó hoàn toàn chinh phục, áp đảo và mình đi theo nó hết.

Quý thật là quý khi mình nghe người ta góp ý hay ví dụ như một cái điện thoại vang lên không đúng hay mình bị người khác chỉ trích thì lúc đó chúng ta đừng lắng nghe cái đó nhiều, mà hãy quay trở lại xem cảm giác của mình lúc này ra sao, đó là diệu pháp. Đó chính là tự mình cứu lấy mình.

Đức Thế Tôn từng nói rằng:

“Này các Tỳ-kheo, khi trong nội tâm của ông sanh khởi lên sự bứt rứt, nóng giận, sân hận thì điều đó đem lại hạnh phúc hay bất hạnh?

Bạch Thế Tôn, đó là bất hạnh.

Khi các ông phát giác nó sanh khởi trong cảm giác và nhiếp phục, chế ngự, không cho nó phát tán ra, đến lúc cảm giác sân hận đã tan biến rồi thì hạnh phúc hay bất hạnh?

Bạch Thế Tôn, đó là hạnh phúc.”

Như vậy quý vị đã thấy rõ con đường của đau khổ và hạnh phúc chưa? Đó chính là đạo lộ của Đức Phật. Ví dụ bây giờ chúng ta bệnh, đi đến bác sĩ, hỏi ông bác sĩ tên gì, ông ấy nói: “Tôi tên Trần Văn A” rồi mình đứng chắp tay trước mặt ông ấy rồi nói: “Ông Trần Văn A, Trần Văn A cứu tôi, cho tôi hết bệnh!” nói mãi từ sáng đến chiều tới tối thì có hết bệnh không? Vậy mình phải làm sao để hết bệnh? Quỳ lạy ông ấy hết tuần này đến tuần kia có hết bệnh không? Vậy tiếp theo mình phải làm sao?

Chúng ta phải khám bệnh, biết nguyên nhân chính xác của bệnh, rồi cho thuốc đúng, thuốc tốt không phải thuốc giả và uống đúng liều, đúng thời hạn quy định, kiên cử nhiều thứ, như vậy mình mới hết bệnh. Còn bây giờ tối ngày cũng đọc hoài, niệm hoài, lạy hoài mà tham, sân, si mình không biết, không nhiếp phục được, rồi nói: “Thầy ơi con đi 15 – 20 năm mà sao con vẫn thấy con tham, sân, si còn y nguyên mà có khi còn bự hơn lúc trước nữa!”. Có các Phật tử đến khóc với Minh Thành là niệm Phật 20 năm, là tiến sĩ, học cao chứ không phải người bình thường, họ chia sẻ với Minh Thành: “Con không thấy phiền não đi ngang, đi xuống mà con thấy phiền não đi lên!”

II. Huấn luyện cảm thọ

Đó là tại vì mình không tìm ra được mấu chốt của vấn đề từ đâu làm cho mình khổ, cũng như mình không tìm được tại sao bệnh và bệnh gì, phải trị thuốc gì mà mình cứ mãi đọc tên ông bác sĩ, lạy ông bác sĩ. Cho nên quý Phật tử thấy Minh Thành ít khi lên chánh điện lạy, tụng đúng không? Như vậy có phải là Minh Thành không tu hay là quý vị tu giỏi vì ngày nào tới quý vị cũng lạy, cũng tụng? Thật ra đó là phương tiện ban đầu, còn thật sự Đức Phật dạy mình là phải nhìn sâu vào cái gì làm cho mình khổ? Có phải nóng giận, tham muốn, sự không hiểu biết về bản chất của thân thể này làm cho mình khổ không? Nếu đúng như vậy thì mình chuyển hóa, nhiếp phục được nó thì ngay chỗ đó giảm bớt khổ cho đến chỗ chấm dứt khổ, đó là con đường diệt khổ của Đức Thế Tôn.

Có phải một cảm giác tham muốn không đúng pháp, hay là một cảm giác tham dục sanh khởi lên là nó hành hạ, làm cho mình khốn khổ không? Quý vị nhìn xem, bao nhiêu những sự việc diễn ra trên báo chí trước mắt mình, 50-100 người kéo nhau, cầm dao cầm mác để đi đâm chém nhau. Đó có phải vì tham dục, vì sân hận không? Sau khi đâm chém xong rồi thì ai khổ? Chính bản thân họ khổ, những người chung quanh khổ, gia đình, cha mẹ, vợ con khổ. Đức Phật đã chỉ rất rõ ràng, tham, sân, si, bản ngã làm cho mình khổ và khi mình tìm cách nhiếp phục, chuyển hóa, đoạn tận nó là mình hết khổ, đó là đạo lộ, là Thánh đạo, con đường của bậc Thánh. Vì lúc trước mình không thấy nó ở đâu, còn giờ biết nó ở trong cảm giác rồi thì mình phải canh chừng, phòng chừng nó.

Minh Thành được một người chủ tâm sự, vị Phật tử này ở nước ngoài, rất hiền lành, có cô công nhân cứ lâu lâu lại lấy “vài tấm”, tới cuối cùng bắt gặp được và coi lại tất cả các phim camera theo dõi là khoảng hàng mấy chục ngàn đô. Ví dụ quý vị là chủ, có mấy người phụ giúp việc buôn bán, người này thường hay lấy đồ bỏ túi. Mình đã biết họ có thói ăn cắp vặt, hay lấy đồ, nhưng nếu mình chưa đuổi được, vì hoàn cảnh nào đó, thì lúc đó mình phải làm sao? Có để ý nhìn cô đó không, có cho người khác hay mình đứng gần để ý tủ tiền không? Hay thôi kệ cho họ lấy bao nhiêu thì lấy, không sao?

Như vậy, chúng ta biết trong cảm giác của mình hay sanh khởi tham muốn, tham dục, tham ái, tham lam thì mình có để ý vàoc cảm giác không? Hay mình để cho cảm giác qua mặt mình? Đó gọi là lậu hoặc, dục lậu, là đi buôn đồ lậu, cảm giác luôn luôn qua mặt mình mà mình không thấy, không biết. Đức Phật gọi đó là si mê và vô minh, vì nó đang diễn ra trong thân tâm của mình mà mình không biết. Sự tham muốn đưa đến khổ, sầu, tan nát, đổ vỡ mà mình không phát hiện ra, nó qua mặt, xâm chiếm, cuối cùng là dẫn dắt và mình đi theo đó, như vậy là mình đi xuống vực thẳm.

Đức Thế Tôn gọi năm uẩn là vực thẳm, sắc, cảm giác là vực thẳm, những nghĩ tưởng không chân chánh là vực thẳm. Đức Phật nói rằng kẻ phàm phu cho rằng là có vực thẳm ở giữa ngọn núi này và ngọn núi kia, nhưng đó chưa phải là vực thẳm, họ nói không đúng. Thật sự sắc mới là vực thẳm, thật sự cảm giác mới là vực thẳm, thật sự những nghĩ tưởng mới là vực thẳm. Vực thẳm chôn sâu mình, nó làm cho mình rơi xuống đọa lạc.

Quý vị nhìn xem ngày nay ngoài xã hội là bao nhiêu cái vực thẳm? Những thanh thiếu niên bây giờ sử dụng những chất ma túy, ngáo đá rồi leo lên trên nóc nhà bỏ đứa con 8-9 tháng xuống. Đó là vực thẳm của cảm giác, họ đi tìm những cảm giác, họ đi vào vực thẳm mà không hề biết. Chúng ta tưởng rằng mình thích những cái bên ngoài nhưng không phải, Đức Phật nói khi nhìn vào trong cảm giác thì mới biết mình bị lừa trong đó.

Cho nên hôm nay trước khi qua bài mới, Minh Thành nhắc lại bài cũ này rất quan trọng để quý vị tu, để mọi người thường nhìn ra được cảm giác. Bài tập trong sự tu học không phải như lúc xưa là viết vào giấy rồi có điểm. Bài tập này là chính ngay nơi thân tâm quý vị và điểm là làm cho mình được an lạc hạnh phúc, chặn đứng sầu, bi, khổ, ưu, não của bản thân, gia đình. Ngày xưa là trường học, đây là trường đời, trường tâm linh. Vì vậy, Minh Thành nhắc kĩ việc nhìn lại cảm giác là tu suốt đời, suốt kiếp, những đời sau cũng tu tiếp cho đến khi nào tới Thánh quả thì thôi, việc này không có thay đổi.

III. Sáu lợi ích quán niệm vô ngã

Hôm nay chúng ta học một bài rất đặc biệt, Đức Phật nói sáu lợi ích của sự quán niệm về vô ngã – là sáu lợi ích của ai thường suy nghĩ, quán chiếu, nhớ đến vấn đề vô ngã, tức là không có cái tôi thật, ai thường nhớ cái này thì người đó được sáu lợi ích lớn lắm. Đây là bài kinh trong Tăng Chi Bộ tập 3:

“Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.

Thế nào là sáu?

Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy.

Cái gì tạo ra cái "tôi" trong tôi sẽ được chận đứng.

Cái gì tạo ra cái "của tôi" trong tôi sẽ được chận đứng.

Tôi sẽ thành tựu trí.

Không cùng chia sẻ với người khác.

Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.”

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích,

bài kinh Không Có Hạn Chế 3)

Thứ nhất, “trong tất cả thế giới, tôi không dự phần vào trong ấy”. Tại sao vậy? Thế giới ở đây quý vị phải hiểu là cuộc đời, kiếp người và thân thể này. Đức Thế Tôn nói rằng:“Này các Tỳ-kheo, trong cái thân thể một thước tám này, Như Lai tuyên bố sự hình thành thế giới. Và trong cái thân thể một thước tám này, Như Lai tuyên bố sự chấm dứt của thế giới.” Như vậy, đối với đạo Phật, chữ thế giới là xuyên suốt luôn cả thân thể, đời sống và vũ trụ vạn vật. Như vậy thì tại sao mình lại nghĩ tôi không dự phần gì vào trong thế giới, tôi không có gì trong đây hết? Tại vì thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.

Hôm qua Minh Thành xem trận sóng thần của Nhật Bản, Minh Thành nhìn thấy một cảm giác rụng rời. Quý vị còn nhớ trận sóng thần ở Nhật Bản không? Những người xung quanh họ hoảng loạn, họ đứng trơ người ra, họ không biết chuyện gì nữa, tức con sóng cao lên hàng chục mét, hàng mấy chục mét, nó ập tới. Có những hình ảnh mình thấy rất thương là hình ảnh đứa con hoảng loạn, rồi ai cũng chạy, đạp lên trên nhau để thoát thân, đứa bé trượt chân nằm xuống khóc, cha cậu bé đã chạy đi được phải quay trở lại, kéo bé lên thì những người khác đạp lên vai, lên đầu ông ấy vì người ta chỉ biết chạy do sóng ập tới rồi. Khi đó bao nhiêu tòa nhà cao tầng, xe cộ trôi giống như rác, như lục bình ập tới và những người này trước đó họ có biết không?

Cho nên thế giới là vô thường, đi đến huỷ diệt, không có những an ủi trong này. Đối với những người thành tựu trí huệ, đối với Đa văn Thánh đệ tử phải thấy rằng đây là chỗ mong manh, tạm bợ, vô thường, đây chỉ là quán trọ ở bên đường, trước sau gì cũng đi đến chỗ hủy diệt, làm gì có cái chắc chắn? Bây giờ ở Châu Phi rạn nứt một đường dài rất lớn, có nguy cơ sau ngày sẽ tách ra. Ngay cả chỗ nổi tiếng nhất, ai cũng mong muốn được về ở là thành Cali, ở Mỹ thì nó cũng rạn nứt một đường dài từ nam tới bắc, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp đổ xuống. Ở ngoài miền Bắc, cao nguyên của mình, đang ngồi chung vui ăn uống nói cười thì sạt lở sụp xuống hết, 8-9 căn nhà và hai mươi mấy người bị chôn vùi tại chỗ. Đó là những tiếng chuông, những hồi còi báo động, những sự thật mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã tuyên thuyết nên mình phải nhớ kĩ những điều này, không được quên.

Họ ngồi đó ăn, nói, cười xong rồi bức tường sạt lở, sập xuống đè chết tại chỗ. Có người đang ăn phở ở Nha Trang ngay ngày nhà giáo, 4-5 người bị thương được lôi ra, còn 2-3 người chết tại chỗ. Ngày nay bao nhiêu sự mong manh, biến động, hỏa hoạn, thiên tai, lũ lụt, sóng thần nên Trái Đất này thành trụ hoại không. Giờ đang tới kiếp hoại, biến dị, chuẩn bị hoại diệt. Sáng này kêu bão tới, thật thương cho đất nước Indonesia, từ đầu năm đến giờ không biết bao nhiêu trận bão, không biết bao nhiêu người chết, hoang tàn hết.

Hôm qua Minh Thành giảng ở Quan Âm Tu Viện, buổi chiều đi chung với quý Phật tử, đi ngang thấy bộ bà cụ già lúc 4 giờ 38 phút chiều, cầm hai xấp vé số la lên, hai nước mắt chảy ròng ròng ở giữa đường lộ kêu lên. Bà cụ khoảng trên bảy mươi tuổi. Tới giờ xổ rồi mà còn hai xấp vé số dầy như vậy, quý Phật tử muốn ghé lại mua giúp cho bà cụ nhưng xe kín hết không thể ghé lại được. Qua đó mình nhìn thấy thế giới vô thường, đi đến chỗ huỷ diệt, rồi tấm thân này, cuộc sống này sẽ ra sao? Chúng ta cứ gọi nó là “mình”, ảo tưởng rằng “mình” sẽ còn khỏe mạnh hoài, “mình” còn ở đây hoài, không có việc đó. Vì thân thể này, đời sống này là vô thường, sẽ hủy diệt, hủy hoại, tan nát bất cứ lúc nào, không báo trước nên mình phải tỉnh ngộ, tỉnh thức sâu sắc, nhìn thấy được sự vô thường để ta vừa lo cho đời sống, vật chất nhưng phải để thời giờ tâm linh cho trí tuệ, cho sự tu tập, cho thiện pháp, cho công đức.

IV. Quán niệm thế gian vô ngã

“Thế giới là vô hộ, vô chủ”, đó là thuyết giáo, là Chánh Pháp thứ hai do Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Nói gần về thân thể này, cái gì bảo hộ nó? Thân thể này cái gì là chủ? Có một cái gì ở trong thân tâm này mà bảo hộ chắc chắn cho mình? Cái gọi là bảo hiểm, là khi xảy ra chuyện gì rồi mới cho được chút tiền mà cũng là của mình đóng vô thôi. Không có bảo hộ, bảo hiểm tuyệt đối an toàn. Minh Thành xem những chuyến bay bị rớt, có một chuyến nhiều nhất là năm trăm mấy chục người, có những chuyến hai trăm mấy, ba trăm mấy người.

Người ta nói rằng: “Máy bay là phương tiện an toàn nhất trong tất cả các phương tiện giao thông”, bên dưới có một lời bình luận nói rằng đó cũng là cái nguy hiểm nhất, chết nhanh nhất, không có gì gọi là bảo hộ chắc chắn. May là mình không rớt, nếu rớt xong là xong luôn. Các chuyến bay xảy ra chuyện, mọi người trên đó chắp tay niệm rất nhiều, nếu bình thường tu cỡ đó thì tốt, còn đằng này tới gần nguy hiểm mới hoảng loạn niệm rất nhiều. Như vậy, quý vị thấy rằng không có gì chắc chắn, không có gì bảo hộ, không có gì tuyệt đối an ổn. Quý vị lên trang web linhquyphapan.vn nghe bài Bến đỗ bình an. Khi nghe bài đó Đức Phật nói không có sự an toàn trong cái già, không có sự an toàn trong cái bệnh, không có sự an toàn trong cái chết, không có sự an toàn ở trong cái quả của ác nghiệp.

Một khi quả của ác nghiệp trổ ra thì lúc đó không có cái gì là an toàn hết. Nên Đức Phật mới nói an toàn ở trong tâm từ, trong việc phước thiện, trong việc công đức, an toàn trong trí tuệ, phước huệ trang nghiêm. Đó giúp cho mình có sự an toàn tương đối, còn an toàn tuyệt đối thì chỉ có Niết-bàn, chấm dứt tham, sân, si, thì đó mới là cảnh giới của bất tử, quý vị có muốn đến chỗ bất tử chơi không? Nếu muốn thì chấm dứt tham, sân, si đi, như vậy là sẽ tới được chỗ bất tử ngay. Còn tham, sân, si, bản ngã là còn sanh, già, bệnh, chết; hết tham, sân, si và bản ngã thì lúc đó không còn sanh, già, bệnh, chết, đó là ở cảnh giới bất tử, cứu cánh của giải thoát.

Như vậy, cái gì là bảo hộ cho mình? Căn nhà là bảo hộ có phải không? Minh Thành ngồi trong phòng có, nhưng thể xem hết tất cả các nước, xem các trận động đất ở các nước như Nepal, Ấn Độ… xem những sự biến động trên thế giới để mình thấy rõ cái vô hộ, vô chủ minh họa cho sự thật Đức Phật đã nói. Ví dụ như chỗ đó lửa cháy thì mình chạy ra được, nơi đó nước cuốn trôi thì mình ráng bò lên được nhưng nếu động đất thì chạy đi đâu? Nếu lúc đó người ta đang ngồi trên xe, rồi đất rung lên làm xe lắc lắc, khi đó họ chỉ biết đứng một chỗ, không biết chạy đi đâu. Khi động đất rồi chạy đi đâu quý vị? Leo lên cột hay leo lên lầu đều không được.

Chỗ chuyên che chở, nâng đỡ mà nó lại là một thứ tan rã, bại hoại, tan nát, nên mình dựa trên chỗ bại hoại thì làm sao chắc chắn được. Mình đang đứng trên chỗ vô thường, ở trong mảnh đất của tan nát mà mình không biết, mình còn dương dương tự đắc, cho rằng ta đây hơn người, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, “Tôi đẹp hơn, tôi giàu hơn, tôi cao quý hơn, tôi giỏi hơn, tôi tài hơn, tôi hay hơn, không ai bằng tôi hết!” thì đó là vô minh đấy, si mê, tạo nghiệp rồi chịu lấy khổ.

Cho nên thành tựu trí huệ này để mở tâm từ ra, để thấy tất cả mọi người đều cùng chung số phận, động đất rồi thì giàu cũng giống như nghèo, đẹp cũng giống như xấu, đen cũng giống như trắng, mập giống như ốm, già giống như trẻ, bệnh cũng giống như khỏe, vì động đất thì đều bị rơi xuống hết. Nhìn thấy điều này là đại trí tuệ, là thượng nhân, còn không thấy cái này mà cứ tưởng mình còn hoài, mình ngon lắm, bền chắc lắm rồi mình si mê. Phải nhớ tụng, niệm và quán chiếu nữa thì mới đủ.

Lễ lạy, tụng niệm, rồi quán chiếu thâm sâu, phá cái ngã, phá cái tôi. Thân này vô chủ, mình tưởng mình là chủ, có thể ra lệnh cho nó, nhưng giờ bị bệnh mình ra lệnh cho nó khỏe thì có được không? Đang buồn, sầu não, chán chường, mình ra lệnh: “Đừng có sầu nữa, vui đi, vui lên!” thì nó có chịu nghe không? Cái tâm mình có chịu nghe mình ra lệnh không? Vậy là cái tâm vô chủ, còn khi nãy thân bị bệnh kêu khỏe mà không nghe thì cái thân vô chủ. Rồi khi tham muốn, mình ra lệnh “Không tham nữa, đó là bậy không được tham!” thì nó có nghe không hay nó cứ tham? Nếu có nghe là có chủ, chừng nào mình ra lệnh và nó nghe là có chủ rồi đấy. Ngược lại là không chịu làm chủ thân tâm mình, tối ngày đi làm chủ ở ngoài, rồi nó quậy mình, tu thì vắng hoe, đi chơi thì vé bán không đủ. Như các chỗ đá banh cả chục ngàn hai chục ngàn mà vé không đủ bán, bán mắc mà cũng ráng chen vô, ở đâu cũng ráng vào coi; còn tu thì đến vắng hoe, ngồi gục lên gục xuống thê thảm, khổ như vậy đấy.

Cho nên thế giới này, thân thể này không có chủ, đừng tưởng mình là chủ nó. Ví dụ thình lình đi khám thì phát hiện ra mắc bệnh nan y, nếu mình là chủ thì trước đó mình phải biết, nhưng mà mình không biết gì hết, phát hiện ra là giai đoạn cuối rồi. Không ở đâu xa, ở Thanh Đa, Minh Thành chưa đi nhưng có dịp Minh Thành sẽ ghé thăm, một đứa trẻ chỉ có mười tám tuổi, xương sống bị làm sao mà chỉ nằm thôi không ngồi dậy được, bà ngoại phải nuôi, khóc nức nở vì mới mười tám tuổi, mặt mày sáng sủa mà phải nằm dài, ăn cơm phải đút. Có hàng trăm ngàn hoàn cảnh khổ như vậy, quý vị lên mạng xem để thấy những nỗi khổ của cuộc đời này, xem cho thấm. Hay chúng ta chỉ lên mạng xem các chương trình như Thách Thức Danh Hài thôi? Quý vị nên xem những cảnh khổ của cuộc đời này để thấy nhàm chán, thoát ly, vượt ra để tu tập, tinh tấn lên.

Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả. Nghe điều này buồn nhưng lại sanh trí huệ tuyệt vời lắm. Quý vị đừng ngán, phải nghe, vì đây là chân lý, là sự thật, bản chất thế giới là vô sở hữu, không có gì hết. Đừng tưởng đâu giờ mình có nhà, có xe, đất, vườn, ruộng, tiền, vàng, đô… có đủ thứ nhưng thật sự mình không có gì hết. Khi thở “khì” ra thì lúc đó có được gì? Cái thân mình bị họ quăng lẹ lẹ đi vì để nó thối chịu không nổi, người thương yêu nhất, nghĩa tình nhất với mình, người mà mình sanh ra, nuôi dưỡng, người đầu ấp tay gối với mình mấy chục năm nhưng khi mình chết rồi thì có khi “Không dám vô dòm mặt đâu, sợ quá không dám vô!”

Có một cô Phật tử ở nước ngoài đến hỏi Minh Thành, nghe thì Minh Thành chỉ cười, chuyện là hai vợ chồng già, khi ông mất thì tối bà ngủ không được vì sợ ma, sợ ông ấy về, đi vào, đi ra nhìn thấy hình, nhìn thấy chỗ này, chỗ kia sợ ngủ không được. Quý vị thấy không? Như vậy thì cái gì là tình thật? Lúc đầy thì yêu thương nhau lắm, tới khi nằm thở “khì” là không dám nhìn mặt vì tuổi kị. Như vậy thì tình yêu chỗ nào, thương yêu nằm ở chỗ nào?

Cho nên chỉ có Đức Thế Tôn phơi bày những cái bị che giấu, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy được. Còn lại trên cuộc đời này, ai chết rồi là quấn lẹ lẹ để đóng hòm rồi thẩy xuống lò thiêu, thẩy xuống huyệt, mọi người đều che giấu, che đậy, che kín. Chỉ có Đức Thế Tôn phơi bày hết tất cả những sự che kín để cho mọi người nhìn thấy được chân tướng của các pháp, của thân thể, của trời đất, của cuộc sống, của vũ trụ này nên chúng ta được gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Mình phải làm một người đệ tử Phật đa văn, phải nghe Chánh Pháp rồi nghiền ngẫm, quán chiếu nó. Chỉ cần thở “khì” thì tất cả bao nhiêu công trình, sự nghiệp của mình, chẳng hạn có năm chục cái nhà, để lại một tỷ đô la, đất là vô số, là địa chủ nhưng rồi cũng xong, cũng đem theo nghiệp ác và nghiệp thiện. Thứ mình đem theo là nghiệp, còn vật chất thì có đem theo được gì đâu, vậy mà bây giờ không chịu lo gì hết.

Người không biết tu thì bên trong cái dục cứ thúc giục, cái ái cứ ưa thích, cái tham cứ muốn thêm, muốn hoài không cùng cực, rồi cứ đi theo cái vòng đó chạy suốt cuộc đời, chạy hoài cho đến già 70-80 tuổi nhưng cũng chưa dừng lại. Ông già 70-80 tuổi mà hãm hiếp những đứa trẻ thơ chưa đầy 1 tuổi? Dục vọng nó sai khiến con người, đảo lộn hết tất cả đạo lý luân thường. Hết sức rùng rợn, hoảng sợ, khiếp sợ. Đó là do tham dục, sân hận, si mê của con người phát triển tột đỉnh rồi hủy hoại cả thế giới. Mình học Phật Pháp để nhìn thấy, để sợ, để tránh, xa lìa, viễn ly, thành tựu trí huệ vô sở hữu. Cho nên khi mình được bất cứ thứ gì thì mình cũng không dương dương tự đắc, vì đây là phước của quá khứ và hiện tại, nếu mình có thì mượn nó làm phương tiện để làm các thiện pháp, giúp mọi người và từ đó mình tiến lên trong trí huệ của bậc Thánh, như vậy là sự tuyệt diệu của người tu. Ra đi là cần phải từ bỏ tất cả.

Cũng do nhân duyên, hôm đó thầy Bửu Huệ mệt, Minh Thành xuống, cũng đã có mấy lần Minh Thành xuống và hay nhắc “Thầy hãy thấy được sắc uẩn này là vô thường, buông bỏ nó, cái sắc chất, cái thân thể này là bệnh hoạn, thầy hãy buông bỏ nó, là già cỗi, là vô thường, là tan hoại nên hãy xóa bỏ nó đi, hãy buông nó xuống, đừng cho nó là tôi, là mình, là của mình. Hãy nhìn tất cả cảm giác này là vô thường, buông xuống, đừng nắm bắt đó là mình, những nghĩ tưởng phải bỏ xuống.” Khi thầy nhắm mắt ra đi thì đội nhị tỳ mai táng vào nâng người thầy lên, Minh Thành đứng đó nhìn sâu sắc vào lời dạy của Đức Phật trong kinh Tứ Niệm Xứ, lời kinh như rực sáng, phát hào quang. Nhìn thấy rõ bản chất thân này là như vậy, bản tánh thân này là như vậy, không thể khác với bản chất đó, phải quán chiếu, đừng bao giờ quên, hãy từ bỏ tất cả, thậm chí là nút áo mà người ta còn “lắc” trở lại, nếu có đốt tiền thì cũng toàn đốt tiền đô la âm phủ thôi.

Quý vị để lại tiền thật, nhưng đốt cho quý vị là tiền đô la âm phủ, mà nếu đốt tiền thật thì cũng có xài được đâu? Vậy thì tại sao bây giờ không nỗ lực, tinh tấn tu tập phước huệ trang nghiêm? Cứ nói rằng “Thầy ơi con bận đi du lịch rồi! Tu không được!” hay “Bận làm ăn rồi, tu không được” rồi “Con bệnh rồi tu không được”. Phải nhớ các câu này, học thuộc lòng các câu này: “Vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả”. Tất cả những người yêu thương nhất trên cuộc đời này trước sau gì cũng từ bỏ; tất cả những món đồ gì mà mình quý trọng nhất cũng phải từ bỏ; tấm thân mình đã chăm chút, vun vén, cuối cùng cũng phải bỏ nó. Hãy sử dụng tấm thân này giống như người phục dịch vậy, sử dụng nó để thành tựu thiện pháp, thành tựu trí huệ, thành tựu phước đức, đừng để mình làm kẻ tôi đòi, nô lệ cho thân thể này.

“Thế giới là thiếu thốn, khao khát nô lệ cho tham ái”. Câu này mắc lắm, ai hiểu được câu này là thành tựu thượng trí. “Thế giới, hay cuộc đời, thân thể này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái”. Quý vị quán chiếu đi, đây không phải là lời của người bình thường, mà là của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói. Mình luôn luôn ở trong sự thiếu thốn, không đủ, quý vị xem tâm tham của mình đấy, nó luôn thiếu thốn. Quý vị nghĩ xem, từ cái ăn, cái mặc đến tình cảm, tâm linh, lúc nào nhìn kĩ sâu sắc trong nội tâm thì mình thấy nó đều là thiếu thốn, chỉ muốn thêm thôi.

Quý vị nghĩ người không có gia đình là thiếu một người ở chung để chăm sóc? Nhưng có gia đình rồi thì vẫn thiếu, lúc này là thiếu con cái, có người không có con cứ đi tới cầu lạy hoài để cầu được con. Còn có người mười lăm đứa con nhưng vẫn thiếu, đó chính là thiếu tiền, sau đó gồi lại trách móc “Đứa này vầy, đứa kia nọ, không thấy đứa nào có hiếu thật sự hết!” Rồi tại sao khi có gia đình rồi nhưng vẫn còn tham muốn nữa? Vì bản chất của tham dục, tham ái là khao khát, thiếu thốn. Đức Phật nói nó không bao giờ đầy đủ, thỏa mãn, cái dục luôn luôn không thỏa mãn. Chính vì vậy con người cứ lao theo cái dục, càng theo dục thì càng khổ vì bản chất dục không thỏa mãn.

Có bao nhiêu tiền là đầy đủ? Không bao giờ là đủ, như vậy bản chất của nó là thiếu thốn, là khao khát, ăn rồi thì đói nữa, rồi nô lệ cho tham ái. Cứ tưởng đâu mình hay nhưng thật ra mình là nô lệ cho tham ái. Nó sai khiến mình, nó bắt mình làm đủ kiểu để phục dịch cho nó, phục dịch cho tham ái đó, mình cứ tất bật lăng xăng suốt cả năm, suốt nhiều năm, suốt cả cuộc đời để phục dịch cho cái tham ái đó mà nó không hài lòng, nó bắt mình phục dịch hoài nhưng nếu làm biếng, không chịu làm thì vô tiệm vàng hốt của người ta rồi vô tù. Nó bắt phục dịch, làm không muốn làm nhưng ăn trộm của người ta hay.

Đó là nô lệ cho lòng tham, lòng tham sai khiến phải làm vậy, đâu chỉ người ta, mình cũng vậy. Khi nhìn sâu sắc thì sẽ thấy mình cũng là nô lệ, bị sai khiến đủ điều hết. Cứ quần quật hoài không tu được, không học Phật Pháp được, ngồi yên không chịu, chỉ muốn kiếm này kiếm kia làm, muốn gặp người này người kia để nói. Đó là thúc giục bên trong, rồi khi được nói thì có cảm giác thích thích, đó là ái, nên muốn thêm, muốn thêm, gặp ai cũng nói, cũng biểu diễn, đó là tham. Cho nên nó rất vi tế, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, nhiều phương diện mà mình phải để ý lại nhìn trong cảm giác mình mới thành tựu trí huệ.

Tiền, tình không bao nhiêu là đủ; nhà cửa, đất đai, quyền chức cũng không biết bao nhiêu là đủ. Người đứng đầu một lãnh thổ rồi mà cứ nhòm ngó đất nước người ta có nhiều tài nguyên, khoáng sản nên muốn chiếm rồi lại xảy ra chiến tranh. Trong bài kinh “Đại Khổ Uẩn”, Đức Phật nói con với cha, vợ với chồng cũng vì cái tham mà tan nát ,không nhìn mặt nhau, thậm chí giết hại nhau; rồi vua với vua, anh với em, bao nhiêu người cũng tan nát hết, đó là nô lệ cho tham ái, mình không làm chủ được.

Cho nên nếu mình giải thoát được khỏi tham thì tuyệt vời lắm, an lạc lắm. Ngồi ở Linh Quy Pháp Ấn uống chung trà, cơm thì lúc tối còn dư chiên lại, xịt nước tương, miếng dưa leo, có thêm miếng rong biển nữa, vậy mà cũng ngon. Tâm không bị chi phối bởi tham thì kì diệu lắm, an lạc lắm, thanh tịnh lắm, mầu nhiệm lắm! Cho nên tầng thiền thứ nhất, tâm thanh tịnh thứ nhất của người tu là ly sanh hỷ lạc địa – tức là ly dục, ly tham thì lúc đó sanh ra một sự hỷ lạc, niềm vui đó không có một cái gì trên cuộc đời có thể so sánh được. Niềm vui của bậc Tu-đà-hoàn thấy pháp, đạt được sự ly dục, Đức Phật nói đó là:

“Hơn thống lãnh cõi đất,

Hơn được sanh cõi trời,

Hơn chủ trì cả vũ trụ,

Quả Dự Lưu tối thắng.”

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Phật Đà)

Người thấy được pháp, thấy được bản chất của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thấy được bản chất của thân thể, của cảm giác, của những suy tưởng này là vô thường, là khổ, là vô ngã, thấy được bản chất của cuộc đời này là vô chủ, đi đến hủy diệt, không có sở hữu, là nô lệ cho tham ái. Khi Ngài nhìn thấy được như vậy rồi thì tâm của Ngài không còn khao khát, không còn đeo đuổi, không còn đắm đuối, không còn chạy tìm nữa, lúc đó Ngài dừng lại, trước tâm đó trời và người đều phải đảnh lễ. Tâm đó là của bậc Dự Lưu vào dòng pháp.

Còn mình bây giờ thì còn thiếu thốn lắm, nếu ai nhìn sâu trong tâm mà thấy “Còn thiếu đủ thứ thầy ơi!” là biết còn khao khát, muốn này muốn kia, thêm muốn cái nọ. Có nhà rồi vẫn thấy chưa đủ, còn ráng phải lo cưới vợ cho con, rồi phải kiếm thêm này nọ kia, đó là nô lệ cho tham ái. Nó cứ sai khiến mình làm hoài, không cho mình nghỉ, gọi là làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, hết tuần chưa đủ, chủ nhật cũng làm kiếm thêm. Người thiếu ăn thiếu mặc không nói, người dư ăn dư mặc rồi mà cũng “Căng thẳng lắm, stress, nhức đầu lắm!”, hỏi sao vậy thì nói là “Kiếm thêm”, hỏi có thiếu không thì trả lời: “Không, đâu có thiếu gì đâu, giàu nhưng mà cũng căng thẳng lắm thầy ơi. Xã hội bây giờ không được, mình phải tranh đua!” Cho nên, một câu nói của Đức Phật mà Minh Thành thấy hay vô cùng là: “Ta không có tranh với đời!”

Thời đó, khi tiếng tăm của Đức Thế Tôn đồn xa đến khắp mọi nơi. Ngài là bậc tôn quý trên đời, là bậc Chánh Đẳng Giác, đi đến đâu tiếng tăm của Ngài cũng vang xa đến mức độ toàn cõi Thiên Trúc. Lúc đó Đức Thế Tôn đi tới một vùng nọ, có năm trăm vị Bà-la-môn, gia chủ, đại gia đi tới, nói chuyện ồn ào, tranh giành đi trước đi sau để gặp Đức Phật. Lúc ấy, Đức Phật đang ở trong tinh xá, Ngài hỏi những người này là ai. Lúc này có một vị thị giả trả lời:

“Bạch Thế Tôn, các vị gia chủ, các vị Bà-la-môn, những vị đó đi đến thăm viếng Đức Thế Tôn!”

Phật nói:

“Sao mà giống bạn hàng tôm hàng cá vậy? Hãy nhân danh ta ra nói với họ. Ta không có tranh với đời. Ta không tìm danh lợi, tài lộc ở thế gian. Kêu họ đi đi! Ta được xuất ly lạc, là niềm an lạc của ra khỏi tham dục, ta là niềm an lạc của sự thanh tịnh tâm, ta đạt đến cái an lạc của Niết-bàn. Ta không đi tìm các dục lạc giống như phân của thế gian. Đuổi đi!”

Vị thị giả nói:

“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc đại tôn quý, đại giác ngộ, Ngài đi đâu thì ai cũng tới tìm Ngài để đảnh lễ cúng dường, để cầu phước. Xin Ngài hoan hỉ vì họ chưa biết Phật Pháp, mới lần đầu đến.”

Vị thị giả phải năn nỉ xin, Đức Phật ban đầu cũng “quở” nhưng sau đó Ngài cũng dạy pháp. Qua đó ta thấy được từ một thái tử có ngai vị, chuẩn bị lên làm vua mà Ngài bỏ lại hết tất cả thì đâu còn gì để tranh với đời, chẳng lẽ Ngài đi xuất gia rồi lại đi tìm những thứ đó nữa sao? Giống như khi hỉ mũi, khạc đàm, đồ đã bỏ đi rồi thì chúng ta đâu có tìm lại. Vậy tại sao chúng ta đã bỏ được nhiều thứ ở ngoài rồi mà vào chùa thì lại đuổi theo những thứ khác. Cho nên quý Phật tử yên tịnh, thanh tịnh đi đến chùa tu học thì Minh Thành vui lắm, nhưng đến mà “xí xô xí xào” thì Minh Thành nhớ câu của Đức Phật như là bạn hàng tôm, bạn hàng cá đang nhóm chợ ở trong chùa, như vậy là Minh Thành không vui. Đừng nói chi cư sĩ, Ngài Mục Kiền Liên và Xá lợi phất dẫn năm trăm vị mới xuất gia về thăm Đức Phật, khi vào thì người kia lo chỗ, người này lấy bát, nói chuyện ồn ào nên Đức Phật mới hỏi:

“Ai vậy? Ai mà giống bạn hàng tôm bạn hàng cá giành cá với nhau ở ngoài chợ vậy? Ra đuổi hết đi cho ta! Ta không tiếp”

Trong kinh, Đức Thế Tôn ở trong hương thất, ai đi tới thì khảy ba tiếng móng tay, tằng hắng một tiếng, nếu không được nữa thì gõ nhẹ, khi đó Đức Thế Tôn sẽ mở cửa. Các vị trong đạo khác nói: “Bậc ấy giống như sư tử chúa, thích trầm lặng, yên tịnh”. Cho nên lúc Đức Phật còn tại thế, các đạo khác đang nói chuyện, cãi ầm ầm, lý luận ào ào mà Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đức Thế Tôn tới thì họ kêu: “Yên lặng nha!”, vì nếu ồn ào nói chuyện thì các Ngài không bước vào. Vì vậy, là người Phật tử mình học được trầm mặc, yên tịnh thì rất là hay. Còn nếu nói là mình thảo luận về Chánh Pháp, không phải là thôi.

Quý vị phải nhớ những điều Đức Phật dạy và thường thực tập, có như vậy mình mới hiểu được điều thứ nhất là: “trong tất cả thế giới tôi không dự phần trong đó”. Tức là chỗ ở đây là chỗ tạm thôi, không có phần của tôi. Minh Thành đã nói trước rồi, tùy nhân duyên, ở trên núi hay ở Bửu Liên xong xuôi là Minh Thành giao hết. Ở Bửu Liên là Minh Thành giao rồi, các thầy làm hết chứ Minh Thành có làm gì đâu. Trên núi cũng vậy, quý vị đến là sẽ không gặp Minh Thành, khi nào giảng pháp tu học mới có mặt Minh Thành, tất cả công việc khác đã có người làm hết, Minh Thành không biết gì hết, vì trong thế giới này tôi không có phần gì ở đây hết, chỉ có pháp thôi.

Ngay cả trên núi cũng vậy, khai sơn phá thạch dựng lập ra nhưng bây giờ mọi khâu đều đã có người làm hết, Minh Thành chỉ hướng dẫn pháp thôi. Và lúc nào đó quý vị thấy Minh Thành mất tiêu thì đừng kiếm, vì khi ấy đã xách cái đải đi vào rừng tu hoặc đã đi vân du hoằng pháp. Chuẩn bị tinh thần đã lâu rồi, nên lúc nào không thấy thì quý vị đừng đi kiếm. Chuẩn bị cho mình tinh thần đó nên an lạc lắm, nhà này, xe này không phải của tôi, tài sản này không phải là của tôi, chỉ là phương tiện vậy thôi. Nếu nghĩ nó là của mình thiệt thì sau này khổ lắm, nhất là khi tạo ra quá nhiều, đến lúc mình nằm trên giường bệnh sắp ra đi là đi không nổi vì tiếc nuối lắm. Đừng nói chi người cư sĩ, người xuất gia mà không thành tựu Chánh Tri Kiến, không tu tập thâm sâu thì vẫn tiếc ngôi chùa, như vậy là không đúng theo lời Đức Phật dạy – thừa tự pháp chứ không phải thừa kế tài sản. Đức Phật có dạy bài kinh “Thừa Tự Pháp”, tức là thừa kế Chánh Pháp, chứ đừng thừa kế tài sản vì tài sản là nguyên nhân của tranh đấu, của giành giựt, của sầu, bi, khổ, ưu, não.

“Cái gì tạo ra cái ‘tôi’ hay cái ‘của tôi’ trong tôi sẽ được chận đứng hết”. Những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng mà nghĩ nó là tôi, là của tôi thì chặn đứng nó, đừng để cho nó phát triển. Thân này là tứ đại, cảm giác này cũng không có gì hết, nó là vô thường, biến đổi nhanh chóng lắm. Những suy nghĩ này không đúng, không phải là pháp, đó là pháp duyên sanh. Do nghe câu nói đó mình mới suy nghĩ, do mình thấy hành động đó mình mới suy nghĩ, nếu mình không thấy, không nghe, không tiếp xúc thì mình đâu suy nghĩ. Như vậy năm uẩn này không phải tôi, không phải của tôi mà những suy nghĩ nào suy nghĩ về tôi, của tôi thì phải chặn đứng, đừng để cho nó tiếp tục, phát triển, cần phải dạy nó liền rằng không có gì là tôi hết.

“Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu.”

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)

Đó là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, quý vị cứ bám chặt vào đó rồi quý vị sẽ thấy một niềm an lạc kì diệu xuất hiện. Còn nếu quý vị cứ bám vào những suy nghĩ thường tình là sầu, bi, khổ, ưu, não tiếp diễn không ngừng nghỉ. Nghĩ được, quán được trí tuệ vô ngã giữa cuộc đời này thì quý vị sẽ ngồi mỉm cười. Ai tham, ai sân, hơn thua gì thì quý vị chỉ việc cười thôi và còn thấy thương cho họ. Hiểu được cái này, quán được cái này mới thấy từ bi thật sự, còn bình thường nói thương người ta là do họ chiều theo ý mình, làm đúng ý, còn họ khác, không trúng ý mình thì còn thương nữa không? Thành ra đó không phải là từ bi, từ bi là thấy được bản chất thật sự không có gì là tôi, là của tôi. Khi ấy, “Tôi sẽ thành tựu trí”, người cứ quán chiếu như vậy thì sẽ thành tựu Thánh trí, thành tựu trí huệ của Đức Phật, trí huệ của bậc Thánh.

Khi nói điều này người thông thường khó nghe, khó chịu lắm, nhiều khi người ta sân lên. Tự nhiên mình đến nhà người ta rồi nói “Cái này không phải của chị đâu!” thì khi ấy mệt đó. Tại vì đó là phàm trí, họ không học được trí huệ của bậc Thánh, cho nên người ta nghe thì họ cũng không chịu. Đó chính là “không cùng chia sẻ với người khác”. Người quán chiếu được trí huệ vô ngã này là người đó không chia được với ai vì đây là trí huệ của tự thân, đoạn tận đau khổ cho chính mình, người khác không chia được.

Dù là mẹ con, anh em, vợ chồng, thân thương cỡ nào thì phải tu tập thì mới nếm được cái này, nếu không thì không chia cái này được. Tiền chia được, ăn chia được, nhà ở cũng chia được nhưng cái trí tuệ vô ngã này không chia được. Nó đặc biệt, siêu đặc biệt, mầu nhiệm, tuyệt vời cho nên thành tựu được trí huệ không cùng chia sẻ với ai được. Ví như bây giờ Minh Thành chia cho quý vị không được, Minh Thành chỉ nhắc lại đường lối là như vậy, nếu thực tập thì quý vị được thôi. Nói đơn giản như con ăn cơm thế mẹ được không? Mẹ với con mà sao thế không được? Hay chồng ăn cơm thế vợ được không? Lúc đau bụng, bị tào tháo rượt vậy người kế bên đi dùm được không? Tu cũng giống vậy, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, bất tu bất đắc. Cho nên không chia sẻ được, trí huệ này quý báu lắm, quý báu vô cùng.

“Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.” Những nguyên nhân và các pháp do nhân sanh là trí huệ để thấy được sự sanh diệt của tất cả các pháp. Điều này thâm sâu và hay lắm. Minh Thành ví dụ do có con mắt, rồi có hình sắc bên ngoài, sự rõ biết của nhãn thức – căn, trần, thức – ba pháp này hôi tụ, giao thoa lại tạo ra được sự tiếp xúc, đó gọi là nhãn xúc – sự tiếp xúc của con mắt. Khi tiếp xúc như vậy thì thọ sanh ra. Quán chiếu được việc này thì sẽ thấy trí tuệ tuyệt vời lắm. Xúc sanh thọ, do tiếp xúc nên gây ra cảm giác, sau đó mình thích nghĩa là thọ sanh ra ái. Ví dụ dễ hiểu, mới vừa tụng kinh xong, nghe hôm nay nhà bếp nấu chín món mà toàn những món ruột, thức ăn bay mùi lên, có món lẩu mắm bay mùi thơm lên, có tào hủ chiên xả ớt, canh chua, cá kho tộ chay chẳng hạn.

Như vậy thì có gì tiếp xúc? Trước khi nói mũi thì nói về lỗ tai trước. Quý vị có lỗ tai, có tiếng Minh Thành nói, quý vị rõ biết âm thanh – ba cái này tiếp xúc với nhau ta gọi là nhĩ xúc – sự tiếp xúc của tai. Khi tiếp xúc như vậy, quý vị nương theo lời của Minh Thành, tưởng ra có hình bóng “À, có tô canh chua hiện ra, cá kho tộ chay hiện ra”, có bao nhiêu món đều hiện ra. Như vậy xúc sanh ra thọ, cảm giác được sinh ra. Cho nên các cảm giác, hình bóng là tưởng. Những suy nghĩ chẳng hạn như: “À, trưa nay không chừng có mấy món này thiệt”, đó là hành. Rồi quý vị nhận thức được, biết được thọ, tưởng, hành, thì đó là thức. Mũi cũng vậy, nghe mùi rồi mình biết được mùi thơm gọi là tỷ xúc - sự tiếp xúc của mũi. Hoặc lưỡi của mình để vào món ăn, tiếp xúc thì sanh ra cảm giác yêu thích, vì vậy mình phải nắm giữ, đó là ái sanh ra thủ. Sau đó, mình muốn cảm giác lặp lại nữa, thiếu cái đó mình chịu không nổi, thiếu thốn, đòi hỏi.

Ví dụ trước giờ chưa ăn món đó, hôm nay ăn món đó thấy ngon quá thì kiếm món đó nữa nhưng lại không thấy đâu. Đó là xúc sanh thọ, thọ sanh ái. Minh Thành chỉ nói những cái nhỏ, quý vị tự suy ra mấy cái lớn khác thì thấy nguy hiểm không? Cho nên khi tiếp xúc, mình phải chánh niệm tỉnh giác, biết rằng cảm giác này dễ chịu nhưng nó vô thường, ngon thì biết là ngon nhưng không đam mê, không bị buộc vào cái ngon. Hoặc dở thì biết dở nhưng đừng bị buộc vào cái dở, rồi hỏi: “Ai nấu dở vậy?”, xuống gặp bà nấu “xạc” một trận, về buồn quá không muốn đi tu nữa. Như vậy là mình vào tu mà chê người ta. Như vậy là do tiếp xúc nên sinh ra cảm giác, vì vậy mình phải chánh niệm tỉnh giác, thì ít bị phiền não, nếu không chánh niệm tỉnh giác thì dễ đụng độ lắm, giống như bếp ga bây giờ hay phựt lắm, cháy tùm lum, dẫn đến chết người.

Như vậy, hôm nay Minh Thành nói cho quý vị sáu lợi ích của quán vô ngã. Tu tập được điều này là quý vị sẽ có được niềm hạnh phúc kì diệu. Chính nhờ nhìn thấy được vô ngã, thấy tất cả không phải mình thì chúng ta sẽ không làm gì nữa hết. Thay vào đó mình sẽ khiêm cung, cung kính, nhún nhường và làm tất cả các thiện pháp, công đức, đó chính là báu vật ở giữa thế gian này./.