Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 30 - Làm Sao Sinh Lên Cõi Phạm Thiên

2026-03-03 00:56:22
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nghiệp & Quả Báo 30

Làm Sao Sinh Lên Cõi Phạm Thiên?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm từ vô lượng PAGEREF _Toc156661271 \h 1

II. Một kiếp PAGEREF _Toc156661272 \h 3

III. Sanh thú PAGEREF _Toc156661273 \h 7

I. Tâm từ vô lượng

Kính bạch chư tôn thiền đức và toàn thể quý vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta cùng nhau đi lên cõi trời sắc giới, đi thưởng lãm các tầng trời của cõi sắc giới trong bài kinh Từ là sanh cộng trú với Phạm Thiên, bài kinh có tên là Từ, ở đây bao gồm bốn tâm vô lượng nhưng chỉ lấy chỉ đầu là từ thôi, nói đủ là từ, bi, hỷ, xả, tứ vô lượng tâm. Bốn pháp này làm cho chúng ta có thể sanh lên ở chung với phạm thiên, bài kinh này chúng ta thấy được nhân quả của chư thiên trong các tầng trời sắc giới.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người với tâm, cùng khởi với từ, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên. Một kiếp, này các Tỳ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết vẹn tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))

Bài kinh này sẽ mở ra cho chúng ta một cái trí tuệ rất là rộng lớn, mở ra chúng ta một cái trí tuệ thâm sâu và rộng lớn. Ở trên chúng ta là Tứ Đại Thiên Vương, 6 cõi trời dục, gọi là lục dục thiên, 6 tầng trời cõi dục và ở trên 6 tầng trời cõi dục là 18 tầng trời cõi sắc, trên 18 tầng trời cõi sắc là 4 tuần trời cõi vô sắc. Tuổi thọ thấp nhất của Tứ Đại Thiên Vương, một ngày một đêm ở trên cõi Tứ Đại Thiên Vương là bằng 50 năm ở thế gian chúng ta, cõi Tứ Đại Thiên Vương là sống 500 tuổi, 500 năm, các tầng trời ở trên là tăng lên, 1000 năm của chúng ta chỉ có một ngày một đêm, tuổi thọ các tầng trời lên trên càng ngày càng cao, sống 1000 tuổi, đến cái tuổi thọ mà ở đây nói người tu từ vô lượng tâm thành tựu, chúng ta nhớ là chứng đắc được từ vô lượng tâm nhưng không thành tựu chánh kiến, không thấy được ngũ uẩn, trong cái bài kinh thì Đức Phật nói có hạng người này tâm cùng khởi với lòng thương rộng lớn, lòng thương này cùng khắp một phương và vị này an trú trong cái tình thương.

Chúng ta cũng đã được hướng dẫn thực hành thiền trải tâm từ mười phương rồi, mình ngồi mình trải lòng thương của mình về phương phía trước, mình quán tưởng, quán chiếu biết bao nhiêu những con người đang khổ đau, mọi hoàn cảnh đui, điếc, câm, ngọng, què quặc, bệnh nan y, bệnh tâm thần, mồ côi cha mẹ, mình khởi tâm thương tất cả những người đó, mình thương tới những loài súc sanh, thú vật hay là ngạ quỷ, cô hồn, địa ngục rồi mình thương tất cả những chúng sanh phải chịu những cái hoàn cảnh khổ đau như vậy. Mình trải tình thương về phương phía trước cùng khắp biến mãn, trùm hết về phần phía trước, an trú tâm trong cái phương đó và phương bên phải, bên trái, bề ngang, phía trên, phía dưới, các cái phương hướng như vậy là 10 Phương. Ở đây Đức Thế Tôn nói phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới tức là tu từ vô lượng tâm.

Vị này an trú cái tâm từ, tình thương của mình cùng khắp mười phương rộng lớn, vô biên, không có giận, không có sân với bất cứ một chúng sanh nào hết, không có bất cứ một cái hình bóng nào, không có bất cứ một loại chúng sanh nào mà người này có sân hận, có tức giận, có ghét bỏ, ngược lại người này tràn đầy một tình thương, người này an trú trong cái tâm quảng đại, vô lượng vô biên, không giận không sân và vị ấy nếm được vị ngọt của thiền ấy. Món ăn còn có vị ngọt thì đừng nói chi cái thiền là cái vị ngọt rất là cao cấp, rất là vi diệu, rất là màu nhiệm, vị này thưởng thức, nếm được vị ngọt của thiền. Khi nếm được vị ngọt có thể là dễ chịu quá, an lạc, sống hạnh phúc quá, yêu thích cái thiền đó, ở trong cái thiền đó, tu tập, an trú trong cái thiền đó, vị này dừng lại ở chỗ đó, tâm trụ là chỗ đó thì vị này không có lùi lại cũng không có rớt xuống, tức là vị này chứng được từ vô lượng tâm. Phần lớn tâm của vị này có tình thương rộng lớn đối với tất cả, không giận không sân bất cứ một ai, dù cho người đó có mắng chửi, làm hại thì vị này cũng thương lắm.

Vì người này tu tập cái tâm từ vô lượng, an trú tâm từ vô lượng nên vị này nếm được cái hương vị của tâm từ vô lượng, vị này yêu thích tâm từ vô lượng cho nên vị này tu tập vững chắc thành tựu, khi vị này nhắm mắt ra đi thì do cái tâm này là tương ứng với Phạm Chúng Thiên, cảnh trời Phạm Thiên. Có 3 tầng trời là Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên và Đại Phạm Thiên, Phạm Chúng Thiên là những vị này là chư thiên bình thường, còn Phạm Phụ Thiên là các chư thiên này phụ với Đại Phạm Thiên, gọi là quan, phụ là phụ giúp, phụ tiếp, còn Đại Phạm Thiên là vua trời. Tầng thấp nhất là tầng Phạm Chúng Thiên ở cõi sắc giới, khi vị này nhắm mắt ra đi thì vị này sanh lên ở chung với chư thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên, một kiếp là tuổi thọ vô lượng của chư thiên ở Phạm Chúng Thiên.

II. Một kiếp

Đối với một kiếp thì trong kinh Nikāya, Đức Phật có rất nhiều ví dụ:

"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỳ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỳ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

Như vậy dài, này các Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỳ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này... vừa đủ để giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, V. Núi)

Dùng một cái khăn the, cứ 100 năm phủi ngọn núi đá một lần, phủi cho đến lúc ngọn núi đá này tan nát ra thành tro bụi, thành trống không luôn, đó là một kiếp. Ví dụ thứ hai Đức Phật nói về hột cải.

"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...

Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Ví như, này Tỳ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỳ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

Như vậy dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này Tỳ-kheo... vừa đủ để giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Hột Cải)

Một ngôi thành trì dài rộng 18 cây số vuông để đầy hạt cải trong đó, một trăm năm lấy ra một hột, lấy cho đến không còn hột nào nữa cũng chưa tới một kiếp. Đó là hình ảnh thứ hai là hạt cải, hình ảnh thứ ba Đức Phật ví dụ:

"Rồi nhiều Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...

Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?

-- Rất nhiều, này các Tỳ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

-- Có thể được, này các Tỳ-kheo. Ở đây, này các Tỳ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỳ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.

Nhiều như vậy, này các Tỳ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để được giải thoát" Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Các Đệ Tử)

Ngày nào cũng ngồi nhớ lại trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp, bây giờ cộng lại hết một trăm năm của bốn người đó nhớ lại cũng không bằng một kiếp. Một kiếp này không phải là một kiếp con người mà là đại kiếp, kiếp lớn. Một cái ví dụ khác nữa là ví dụ về sông Hằng.

" .. Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).

Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn...

Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

-- Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?

-- Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

-- Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?

-- Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.

Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Sông Hằng)

Quý vị nào có qua Ấn Độ thì biết sông Hằng, còn quý vị nào chưa qua thì lấy biển Vũng Tàu cho dễ hiểu, ra ngoài biển đếm coi bao nhiêu hạt cát, đếm hết hạt cát đó là một kiếp. Như vậy vị này tu từ vô lượng tâm thì vị này được sanh lên Phạm Chúng Thiên, ở chung với chư thiên, sống một kiếp dài như trái đất nhưng mà cái chỗ đau đớn là tại đấy kẻ phàm phu ấy sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ đó rồi, sau khi sống trọn vẹn cái tuổi lâu dài như vậy của chư thiên thì người này đi đến địa ngục.

III. Sanh thú

Xót xa, nhói tim, đau đớn vì ở cõi trời thì làm sao làm phước, làm sao tăng lên phước, chỉ có hưởng thụ nên phước bị mòn xuống, trên đó không có ai khổ nên làm sao làm phước được, làm sao thấy được Khổ Thánh Đế cho nên khi Đức Bồ-tát Sĩ-đạt-đa chứng thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài mới nhớ lại ai là người ân nghĩa của mình để đi cứu độ, ngài nhớ lại các vị thầy của ngài nhưng rất tiếc là có vị chết được một tuần, có vị mới chết ngày hôm qua, sanh lên các cõi trời phi tưởng và phi tưởng xứ là trên đó không có tai để nghe pháp. Thành ra đâu có nói pháp được, an trú ở trong một cái tâm tưởng cực kỳ vi thế, trong lẳng lặng thâm sâu, không có nghe được, không có thấy, Đức Phật đâu có thuyết pháp được cho nên cuối cùng ngài coi lại hết thấy mấy vị thầy lên cõi trời hết rồi nên Đức Thế Tôn mới đi độ cho năm em Kiều-trần-như.

Còn các cõi trời ở dưới này có mắt, có lỗ tai và có ý nhưng mà không có cái da, không có cái thân, thấy nghe và có ý, không có cái thân tướng, 6 tầng trời dục thì có, còn các tầng trời cao ở trên là không có 6 căn như mình, thô phù như mình là không có. Như vậy các vị này đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ, chúng ta thấy sống lâu một kiếp trái đất mà cứ hưởng thôi, thí dụ như mình có 1 tỷ đô la là mình cứ xài hoài thì nó phải hết, dù cho có thật nhiều nhưng không có làm ra thêm thì cũng phải hết, chính vì vậy sanh lên cõi trời là một nạn, ở trong đạo Phật gọi là kiếp nạn, là tai nạn, trừ khi các cõi trời của các vị Bất Lai, trong 4 năm tầng trời đó thì cái đó là thánh đệ tử thiên.

Các vị đại chứng đắc Niết-bàn luôn, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa thánh đệ tử vó nghe pháp và kẻ phàm phu không có nghe pháp, tức là vấn đề thọ sanh, sanh thú, tức là cái chỗ mà mình sẽ sinh.

Chúng ta thấy chỗ đặc biệt của Đa văn Thánh đệ tử chưa? Đó là lý do tại sao mình phải nghe pháp, tại sao mình phải suy tư quán chiếu pháp, tại sao mình phải tác ý thiền quán. Các vị đó hết phước là lọt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn thánh đệ tử thiên là ở ngay chỗ đó cái tuổi thọ hết rồi thì các ngài nhập Niết-bàn, Tại vì các cái vị lên trên này là các vị đã thành tựu chánh kiến, lên đây thì tối thiểu cũng phải sơ quả, nhị quả, còn tam quả là ở tầng Tịnh Cư, năm cõi trời Tịnh Cư.

Lúc đầu nghe lên chư thiên còn thấy mê nhưng khúc sau lại thấy chê, lúc đầu nghe được sống tới một kiếp của trái đấy nhưng đến khi nghe hết phước rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì thấy sợ, nổi da gà hết. Được sống lâu như vậy nhưng cuối cùng cũng rơi xuống, khủng khiếp đến vậy cho nên Đức Thế Tôn mới nói đệ tử Như Lai tại đấy sau khi an trú cho đến trọn vẹn cái tuổi thọ của chư thiên thì nhập Niết-bàn trong hiện hữu đó, ngay tại chỗ đó chứng đắc Niết-bàn, tức đoạn tận tham, sân, si, tất cả lậu hoặc, thành thánh quả A-la-hán ngay tại cõi.

Đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp. Hạnh phúc không? Hoan hỉ không? Tối thượng tối thắng không? Cho nên đừng có làm biếng nghe pháp, đừng có làm biếng học kinh, đừng có làm biếng tác ý, thiền quán, làm biếng là rơi lọt xuống, làm biếng là bị đọa. Mình nhìn lại lúc trước mình vô minh ra sao, bây giờ mình vô minh sao, ngày mai mình còn vô minh sao, lúc trước mình có biết đâu, mình có minh thì mình mới thấy được vô minh, mình không có minh thì sao mình thấy được vô minh. Điều này được Đức phật nhấn tới nhấn lui, "đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.".

Sanh thú là chỗ thú hướng của thọ sanh, bây giờ cứ tụng kinh Nikāya suốt ngày suốt đêm, suốt tháng suốt năm rồi chết trên cái bộ kinh Nikāya lên thành Thánh đệ tử thiên. Chỉ đọc kinh Nikāya thôi, suy nghĩ kinh Nikāya, nói kinh Nikāya thôi, chết với kinh Nikāya, không làm gì khác, không nói gì khác, cứ nói kinh, cứ thiền kinh, quán kinh, nhớ nghĩ về kinh thì chết thành thánh đệ tử thiên. Đó là là Phạm Chúng Thiên.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người với tâm cùng khởi với bi ... với tâm cùng khởi với hỷ ... với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quang âm Thiên. Hai kiếp, này các Tỳ-kheo, là thọ mạng của các chư Thiên ở Quang âm Thiên ... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Biến tịnh Thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ kheo là thọ mạng của chư Thiên ở cõi Biến Tịnh Thiên ... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỳ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

Này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))

Khi nãy là thương còn giờ là xót, trước khi muốn đi vào được tâm bi này thì mình thực hành tâm hiền trước, cái tâm hiền là dẫn đến tâm bi, tâm hiền thiện, hiền từ, hiền hòa, hiền đức, hiền lương, hiền hậu, hiền nhân. Khi thực hành tâm hiền này có cái nền tảng thì chúng ta đi vào cái tâm bi, tại sao lại khác biệt, cũng là chư thiên mà một người là rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn một người lại đoạn tận tham, sân, si, nhập Niết-bàn. Tại sao? Tại vì thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, vô minh, dục ái và cái tâm hướng đến sự tẩy sạch, đoạn tận các cấu uế, khác nhau ở chỗ đó cho nên cái chánh kiến mới trở thành bậc thánh, tức là tri kiến của bậc thánh, không có tri kiến bậc Thánh đó thì tu cái gì cũng là phàm phu hết, đó không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc ở trong ngũ uẩn, không chứng đắc, không nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không nhìn thấy được cấu nhiễm trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tức là không thấy tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã và không có cái tâm hướng đến sự đoạn tận, tẩy sạch hoàn toàn thì cái đó là phàm phu, mãi mãi là phàm phu, dù tu cái gì, chứng cái gì, đắc cái gì cũng là phàm phu thôi. Cho nên lấy chánh tri kiến làm chỗ gọi là phân định thánh phàm.

Phàm hay thánh là ở chỗ chánh tri kiến có hay không và có được bao nhiêu, có được đầy đủ gọi là Dự Lưu Thánh quả, mới bắt đầu hướng vào một cái tâm của mạnh mẽ tiến lên thì gọi là Hướng Dự Lựu là hướng đến chánh kiến, còn vị Dự Lưu vô luôn còn gọi là bậc chánh kiến tức là thấy đúng, mà nói Tiếng Việt cho dễ hiểu là thấy đúng một cách đầy đủ, thấy đúng chưa đầy đủ nhưng đang hướng đến sự thấy đúng đầy đủ, còn cái kia là thấy hoàn toàn thấy sai tức là tà kiến. Dù cho tu cái gì đi nữa mà thấy sai, thấy có cái tự ngã thì còn trầm luân sanh tử, chìm đắm trong các cõi, tại vì không thấy ngũ uẩn thì không thấy khổ ở trong ngũ uẩn, không thấy khổ trong ngũ uẩn vì không thấy sự vô thường của ngũ uẩn, không thấy sự vô ngã trong ngũ uẩn cho nên yêu thích sự hiện hữu ở trong năm uẩn, đã yêu thích hiện hữu trong năm uẩn thì không thể chấm dứt được cái khổ, không thể chấm dứt được năm uẩn, không thể thoát ly được năm uẩn, không thể xuất ly được năm uẩn, không thể từ bỏ được năm uẩn.

Khi không từ bỏ năm uẩn thì sẽ đi lòng vòng, có khi thăng khi trầm. Thăng là được lên chư thiên, có khi lên đến tột cùng là phi tưởng và phi tưởng xứ, còn rớt xuống tột cùng là địa ngục. Thật khủng khiếp! Cái đỉnh của tam giới là phi tưởng và phi tưởng xứ và cái đáy của tam giới là địa ngục, chỉ có bậc thành tựu chánh kiến thì đi ra khỏi tam giới. chúng ta thấy rõ vấn đề ở đây chưa? Thấy rõ vấn đề để mình tu, bây giờ tâm bi đó là cùng khởi lòng xót thương về một phương phía trước, bên phải, bên trái, phía sau, bề ngang, phía trên, phía dưới, cùng khắp các phương hướng, biến mãn cùng khắp với lòng xót thương bi mẫn chúng sanh, không giận không sân bất cứ một người nào, dù cho người đó có hành hạ, làm khổ mình vô cùng nhưng mà mình không giận, lòng xót thương tràn ngập từ đỉnh tóc cho tới gót chân, từ tế bào, từng lỗ chân lông, từng làn da thớ thịt, ngấm vào trong xương tủy, ở trong não là toàn bộ châu thân cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng, hình bóng trong tâm tất cả là thường xuyên trú cho một lòng bi mẫn cùng khắp, rộng lớn vô lượng vô biên không có bờ mé.

Nhìn đâu cũng thấy lòng xót thương, nhìn ai cũng thấy xót, nhìn con thú, con vật, nhìn con kiến, con muỗi, thậm chí nhìn con ma trước mặt cũng xót thương chứ không có sợ, con ma có hiện ra cũng là cầu xin giúp đỡ cứu độ. Chúng ta phải có lòng bi mẫn cùng khắp như vậy, bi tâm vô lượng như vậy thì vị này nếm được cái gì ngọt của cái thiền xót thường, vị này yêu thích thiền xót thương rộng lớn. Do vị này tìm được sự an vui ở trong thiền xót thương đó, vị này an trú trong cái tâm đó, trú tâm ở trên cái thiền đó, sống phần lớn trong cái tâm đại bi mẫn, xót thương rộng lớn cùng khắp. Vị này không lùi lại, không bị rơi xuống, vị này chứng đắc cái thiền đó, sau khi vị này nhắm mắt ra đi được sanh ở chung với chư thiên ở cõi Quang Âm Thiên.

Quang Âm Thiên là chư thiên này không có sử dụng lời nói như mình, thân của các ngài là ánh sáng, lời nói cũng bằng ánh sáng luôn, không phải bằng âm thanh. Các vị này đến đâu là sáng rực hết cả thành phố đó, cả cái tỉnh, cả cái bầu trời, cả cái quốc độ, vị này sanh chung với chư thiên cõi Quang Âm Thiên, hai kiếp là thọ mạng của chư thiên ở Quang Âm Thiên. Khi nãy là một kiếp, bây giờ là hai kiếp, mặc dù là chư thiên mà Đức Thế Tôn nói là "kẻ phàm phu ấy" vì đó là Phàm Phu Thiên chứ không phải mình nói phàm phu tục tử là thấp kém, nhưng Đức Thế Tôn nói bay trên trời là phàm phu, không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc, không thấy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, dù cho chứng đắc cái gì cũng là phàm phu. Qua đây chúng ta phải tôn kính thánh trí ngũ uẩn, hôm qua chúng ta cúi lạy Đức Thế Tôn, thánh trí ngũ uẩn, hạnh nguyện viên thành, thuyết viên mãn hết thánh trí ngũ uẩn cho chúng sanh, đại nguyện đã tròn, dưới cây Sala thị hiện Niết-bàn, lưu lại xá lợi phước khắp trần gian, 5.000 năm xá lợi mới tàn, tự động tất cả xá lợi trên thế giới tập trung lại một chỗ rồi tan ra hết, chánh pháp mới hoại diệt, không còn ai biết một từ ngữ về Phật - pháp - Tăng nữa, bây giờ đã hơn phân nửa thời gian của đạo Phật rồi.

Sau khi hết tuổi thọ hai kiếp của trái đất, vị này từ ở trên đỉnh mà lọt xuống dưới vực tận cùng của địa ngục, lần trước con có chia sẻ về lợi ích của giới, sự thành hoại của trái đất, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thành tựu trong Nam Thiện Bộ Châu này, trong thế giới chúng ta vì trong đây có khổ, trong bốn châu thiên hạ mới thấy được khổ đau. Từ cái khổ mới sanh tín, mới phát khởi được lòng tin, mới thấm thía cái khổ, mới nhàm chán, mới có sự yểm ly, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, mới thấy cái khổ, mới nếm cái khổ, mới thấm cái khổ, mới chứng nhập được khổ thánh trí. Nếu vui sướng suốt ngày thì có thấy ai khổ, ai nghèo đâu, có ai đói đâu, có ai bệnh đâu, có ai đau đâu, không có ai già.

Sanh ra nếu là tiên nữ đến 16 tuổi là trẻ mãi như vậy không có gì, đến khi nào chết thì thôi, nếu chết thì lọt xuống tam đồ ác đạo, bên nam thì khoảng 18-20 tuổi là trẻ mãi như vậy cho đến ngày chết, không có già, không có bệnh. Đó là các tầng trời thấp ở lục giới, lục dục thiên, còn các vị cao cấp ở trên này là không có hình tướng, chỉ có tâm tưởng thôi cho nên học cái này mình mới thấy được con người nhỏ bé của mình, kiếp người nhỏ bé ngắn ngủi của mình, những cái bong bóng, những cái hạt cát, những cái chùm bọt, những cái bèo trôi sông, không có gì hết, cho nên mình lấy cái cuộc đời vô nghĩa, ngắn ngủi, tạm bợ, vô thường, mong manh này để chứng đắc trí bất tử nhưng mình không chịu nỗ lực, không chịu dốc hết toàn tâm, toàn trí của mình để tu quyết tử vì khi chết rồi rơi vào chỗ nào không thể biết được.

Chết rồi có thể chui vô cái thân của con giòi, con chuột, con kiến, con gián, chui vô cái thân của ma quỷ, của địa ngục, súc sanh, vô cái thân của đui, điếc, câm, ngọng, què, người thực vật 30 năm… Cho nên mình học mình để có cái nhìn nó vượt ra trái đất này, nếu không cái thấy của mình chỉ có một chút vầy thôi, suốt ngày cứ hơn thua từng chút một. Tội nghiệp, khổ lắm, cho các vị tu về hỷ vô lượng tâm, xả vô lương tâm, vị này tu cái tâm vui nhè nhẹ trong lòng, cái tâm khinh an, vui với tâm hoan hỉ với thiện pháp vì đây là tu thập thiện, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, nói lời hung ác, nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, sân, si, tà kiến, người này cái vui, thấy thiện pháp nên vui vì mình không tạo nghiệp, không làm ác, mình không có làm tội nữa nên mình vui trong cái tâm hoan hỉ đó rộng khắp mười phương, không thù ai, không giận ai, không hận ai, không ghét ai, hoan hỉ hoài như vậy thì vị này nếm được hương vị của thiền hoan hỉ đó, vị này yêu thích cái thiền hoan hỉ đó, vị này an trú trong cái thiền đó, phần lớn một ngày vị này an trú 70-80 % trong cái thiền đó.

Khi nhắm mắt ra đi vị này sanh lên Biến Tịnh Thiên, bốn kiếp trái đất là tuổi thọ vô lượng của chư thiên ở Biến Tịnh Thiên. Còn tu xả vô lượng tâm là cái tâm vị này cứ buông bỏ, không có chấp, không có giữ chặt, không có nắm chắc cái gì hết, buông bỏ hết, vị này phía trước cũng bỏ, bên trái, bên phải, phía sau, trên dưới, bề dọc, bề ngang đều buông bỏ, cái tâm buông bỏ rộng lớn khắp 10 phương vô lượng, không có cái tâm nắm giữ, không có tâm nhỏ hẹp, không có tâm chấp nhặt, không có tâm ghim gút mà là buông xả, buông bỏ, từ bỏ rộng lớn vô lượng vô biên, không sân với bất cứ người nào, không giận bất cứ một ai, không có khó chịu với bất cứ một ai, tâm lúc nào cũng nhẹ nhàng buông bỏ, thảnh thơi, rộng lớn cùng khắp vô lượng vô biên. Vị này sanh lên Quảng Quả Thiên, 5 kiếp là tuổi thọ vô lượng của chư thiên ở Quảng Quả Thiên, tại đấy kẻ Phàm phu sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ chư thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư thiên ấy đi đến địa ngục.

Sau khi sống 5 kiếp của trái đất thì xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn đệ tử Như Lai ở tại đấy sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư thiên ấy nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không có nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.

Các vị sanh ở Phạm Chúng Thiên là các vị này chứng đắc sơ thiền, các vị sanh ở Quang Âm Thiên là các vị này chứng đắc nhị thiền, các vị sanh ở Biến Tịnh Thiên là các vị này chứng đắc tham thiền. Bài kinh tới chúng ta sẽ học tới cảnh giới chư thiên vô sắc giới, ở đây mình thấy điều gì? Đó là thấy ngũ uẩn và không thấy ngũ uẩn, thấy lậu hoặc và không thấy lậu hoặc cho nên chúng ta nhớ lúc mà đức Bồ-tát Sĩ-đạt-ta, Tất-đạt-đa là trong canh thứ ba ngài chứng bốn thánh trí về ngũ uẩn và kế đó ngài chứng bốn thích trí về lậu hoặc.

Ngài thấy được đây là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ, sau đó ngài chứng đắc đây là lậu hoặc tức là cái tâm mê, nguyên nhân nào có cái tâm mê này, làm sao để lậu hoặc này chấm dứt, con đường dẫn đến sự chấm dứt tất cả các lậu hoặc này, ngài chứng đắc bốn thánh trí ngũ uẩn và bốn thánh trí lậu hoặc.

Sau khi ngài chứng đắc thì địa cầu chấn động, 10.000 thế giới rung chuyển và tam thiên, đại thiên thế giới này, tất cả chư thiên ở các tầng trời cõi dục, cõi sắc là hô vang lên, sau đó Đức Thế Tôn chuyển pháp luân là ngài dạy cho các vị đó thấy được năm vẫn, thấy được lậu hoặc và các cái vị này hướng đến sự đoạn tận các lậu hoặc, cái tâm mê ở trong năm uẩn.

Các vị đi theo Đức Phật đều là thánh đệ tử vì Đức Phật thấy con đường đó, tìm ra con đường đó, chứng đắc con đường đó rồi thành tựu con đường đó cho nên Phật chỉ thì đi là phải đúng con đường đó, không thể nào chỉ mà đi khác được, nếu đi khác con đường đó thì gọi là ngoại học phàm phu, còn đi đúng đường được Đức Phật gọi là bậc Đa văn Thánh đệ tử, bốn đôi tám chúng. Nếu mình nghe được cái pháp như vậy mà mình không thực tập theo, mình vẫn coi là kẻ ngoại học, nghe rồi, hiểu rồi nhưng không làm mà bỏ đó thì mình trở về địa vị ngoại học vô văn phàm phu.

Thời Đức Phật cũng có nhiều người đi lại gặp Phật nhưng chống đối thậm chí là đọa địa ngục, Đề-bà-đạt-đa cũng vậy, các vị đệ tử bạch với Đức Phật là Đề-bà-đạt-đa đã đi gần tới Thế Tôn rồi nhưng Thế Tôn nói Đề-bà-đạt-đa không gặp được Như Lai, một chút sau là động đất, Đề-bà-đạt-đa lọt xuống địa ngục. Nghiệp quả khủng khiếp, rùng rợn, sợ hãi lắm, chúng ta rất là may mắn, phước báo nên mình cố gắng trở thành Đa văn Thánh đệ tử, đừng có nghe pháp nhưng lại trở thành kẻ vô văn phàm phu, rất là uổng, phải luôn luôn thường xuyên nhìn lại thân tâm của mình mọi lúc mọi nơi, nhìn lại cảm giác của mình, mình đang suy nghĩ cái gì, đang có cảm thọ gì đây, hình bóng gì trong tâm, đây là thiện hay bất thiện, những cái này đem đến cái hậu quả gì, ngọt hay là đắng, đen hay là trắng, thiện hay là ác, khổ hay là vui.

Chúng ta đã được học các trí tuệ về nghiệp mà Đức Phật đã tuyên thuyết, chúng ta học từ đầu tới nay là đã được 80%, mấy chục buổi, phải nghe lại những cái bài quan trọng nhắc nhớ mình, ứng dụng quan sát thường xuyên mà nhất là phải nhìn cho ra được tham sân si, dục ái, bản ngã, tẩy sạch, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận. Nếu không dù gặp được thánh pháp, gặp được chánh pháp, mình gặp được bậc đại đạo sư Đức Thế Tôn hiếm có khó gặp ra đời tuyên thuyết diệu Pháp mà cuối cùng mình rọt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì uổng lắm, đáng tiếc lắm đáng.

Sự thật rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất dễ chứ không có khó, sanh lên chư thiên thì rất khó, bây giờ mình nhìn cái tâm mình là thấy liền, còn giận ai không, nghe người ta nói câu gì khó chịu thì cái tâm thế nào, có sống ở trong lòng thương, có tâm từ không, nhìn lại tâm là thấy biết liền thành ra học cái này để mình thấy c trí tuệ của mình được sáng, như thật tuệ tri, mình biết mình đang ở đâu chứ không có sống ở trên cái ảo tưởng.

Nếu học không khéo thì học Phật nhưng lại học vô cái tưởng không, học tưởng tượng, ảo tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng, tưởng mơ, không thấy được sự thật, không có đến để mà thấy, phải đến để mà thấy được ngũ uẩn của mình, đến mà thấy được tham sân si của mình, đến đây mà thấy được những cái tâm mê lậu hoặc của mình, nhiếp phục, chế ngự và thực hành được những cái thiện pháp, những cái thánh pháp mà Đức Phật đã dạy thì mình có cơ hội vượt qua được cái vòng luân hồi sinh tử đầy oan nghiệt, đầy thống khổ, đầy nước mắt và máu này, mình mới được một cái đời sống an lành, an lạc, an bình ở trong cái tâm của bậc hiền trí.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

Phật tử Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con xin thành kính tri ân những lời giảng dạy của thượng tọa. Con chỉ có câu hỏi này thôi, con chưa hiểu về cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới, hình thức sống của họ như thế nào thì con chưa hiểu, xin thượng tọa từ bi giảng dạy qua cho con một chút ạ.

Sư Phụ: Vấn đề này thì nó rộng lớn lắm, mình lên mạng mình đọc nha, nó rộng lớn lắm, chi tiết lắm, cái này mình cũng không có cần tìm hiểu nhiều lắm đâu. Mình tập trung vào cái phần 4 tâm vô lượng, là còn các cái tầng trời ở đây thì trong từ điển Phật học trên mạng người ta ghi đầy đủ, chi tiết lắm. Nó rất nhiều cái vấn đề thành ra cái thời gian mình đây rất là ngắn thì mình hiểu chung cái ý nghĩa là tu tập thập thiện và tứ vô lượng tâm, tùy theo mức độ nhiều ít, tròn khuyết, sâu cạn mà sanh các tầng trời cao thấp.

Chúng ta sống trong dục giới và 6 tầng trời cõi dục, tất cả chúng sanh trong dục giới thì tâm dục còn rất nặng nên sanh trong cõi dục, ngay cả các tầng trời cõi dục tâm vẫn còn ái dục, có điều dục ở trên các tầng trời thì vi tế hơn, nó cao cấp hơn. Từ tâm dục biểu hiện ra cõi dục, gọi là dục giới, tức là thế giới của dục, còn các tầng trời cõi sắc thì các vị này hết dục, không còn tâm dục nữa mà là ly dục, sống phạm hạnh nhưng các ngài còn thích cái hình sắc đẹp, sắc tướng đẹp cho nên các ngài sinh trong cõi sắc, chính vì cái tâm đó cho nên biểu hiện ra thế giới đó. tức là cõi sắc. Sắc ở đây là những cái sắc tướng vi tế, thù thắng, vi diệu, các vị này không thích hình sắc vi tế gì nữa, không có muốn hình sắc gì nữa, chỉ muốn sống trong một cái tâm thanh tịnh, rộng lớn, không có còn hình sắc, không còn tướng mạo gì nữa, không có cái gì nữa hết, chỉ một cái tâm thanh tịnh rộng lớn thôi. Do cái tâm như vậy cho nên các vị này sanh ra trong thế giới vô sắc giới.

Đó là lý do gọi tất cả pháp cho tâm tạo là vậy đó, tức là tâm còn dục, tâm hướng về dục thì nó tạo ra cái thế giới dục, cái tâm hướng về sắc vi tế, thù thắng hay là vi diệu cho nên sanh ra cái thế giới sắc, cái tâm hướng về cái cảnh không có sắc tướng, chỉ có cái tâm thanh tịnh rộng lớn thì sanh trong cõi vô sắc. Các vị này hướng tâm về cái sự không có hình sắc gì hết, không có sắc tướng gì hết, chỉ có tâm thanh tịnh thôi thì các vị này sanh vào thế giới vô sắc. Ba thế giới này đều nằm trong sinh tử luân hồi hết cho nên nói cho nôm na cho dễ hiểu để tu là cái tầng ở phía dưới là nặng về tham dục, cái tầng ở trên còn sân, tầng trên cao nữa là còn si thành ra tham, sân, si tạo thành tam giới, phá hết tham, sân, si thì ra khỏi tam giới. Muốn phá tham, sân, si thì phải tu giới - định - tuệ. Đơn giản là vậy.

./.