Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

4 Dòng Thác Lũ 3 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu) - Dục - Hữu

2026-03-03 00:56:22
Nikāya Giảng Giải

4 Dòng Thác Lũ 3 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu)

Dục - Hữu

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dục ách PAGEREF _Toc156580219 \h 1

II. Hữu ách PAGEREF _Toc156580220 \h 11

III. Tâm hiền PAGEREF _Toc156580221 \h 13

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc156580222 \h 19

I. Dục ách

Kính lễ Đức Thế Tôn Chánh Pháp Chúng Tăng Và Thánh Giới. Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí, sáng giờ con chiêm nghiệm về 4 dòng thác lũ, cảm thấy sợ, thấy lo dòng thác lũ của dục, dòng thác lũ của hiện hữu, dòng thác lũ của kiến chấp, thân kiến và dòng thác lũ của vô minh. Trong bài kinh Các Ách thì Đức Phật dùng từ 4 ách, có chỗ ngài dùng bốn dòng thác, bốn bộc lưu. Chúng ta có biết cái ách là gì không? Ngày xưa xem phim mình thấy có mấy người tù tội bị đưa cái tròng vô cổ thì cái đó gọi là gì? Là gông cùm, như vậy cái ách là món đồ đeo vào con trâu để kéo cày, người ta gọi là "ách giữa đàng mang vào cổ". Chúng ta bị 4 cái cách này nó quàng lên cổ chúng sanh.

"- Này các Tỳ-kheo, có bốn ách này. Thế nào là bốn? Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)

Ách thứ nhất là cái ách ham muốn quàng lên trên cổ mình, đè lên trên cổ mình, ách thứ hai là cái ách của hiện hữu, cái ách thứ ba là cái ách của kiến chấp, của thân kiến, là cái thấy sai lầm, cái thấy mê lầm, cái thấy trật, cái thấy theo vô minh, cái ách thứ tư là vô minh ách. Bài này con đã thiền quán nhiều lần nhưng có khi mình chưa thấm thì phải nghe đi nghe lại, nhắc nhớ để mình kiểm tra tâm mình hằng ngày có bốn cái này quàng trên đầu mình không. Nó có đè đầu cưỡi cổ mình không? Mình có bị đè cái ách lên không?

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là dục ách?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là dục ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)

Lấy tay chạm vào cổ xem có gì trên cổ không? Có cái ách vô hình, mình vô minh nên mình khổ lắm, mình ngây thơ lắm, tất cả chúng sanh là trẻ thơ cho nên không có Đức Phật ra đời chỉ cho mình thì mình cứ sống ở trong lơ ngơ, lẩn thẩn, ngơ ngơ ngáo ngáo, không thấy không biết, vì cái thấy biết là thấy biết của bậc thánh cho nên giờ kêu rờ vào cổ thì nói có cái khăn. Mình bị đè đầu cưỡi cổ không phải một đời này đâu, 10 đời, 100 đời, mình bị đè đầu cưỡi cổ 1000 đời, 100.000 đời, nhiều trăm ngàn đời, nhiều triệu kiếp, nhiều tỷ kiếp, nhiều ngàn tỷ kiếp và không có thể đếm được cái con số đó gọi là vô thỉ kiếp.

Đức Thế Tôn dùng hai hình ảnh là dòng thác lũ và ở đây là dùng cái ách, tức là ngài sử dụng những hình ảnh đó là để đánh vào cảm Thọ, để mình thấy sự nguy hiểm của nó, tác hại của nó, tai họa của nó và sự vây hãm mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó nhận chìm mình, nó lôi nó kéo mình, nó làm cho mình lăn lóc, chìm đắm, chết trôi, chết nổi, trầm luân sanh tử mà mình không hề hay biết. Mình thích dục lắm nên nó giết mình, cho nên nhận tham sân làm bạn.

Nhận tham sân làm bạn

Tâm mệt mỏi, bất an

Bị ái, dục chi phối

Tâm luân hồi miên man.

Mình nhận kẻ thù làm bạn thân lắm, mình không biết mặt của dục ái, nó giết mình vô lượng vô biên kiếp mà mình không biết, mình còn thương nó nữa. Giống mình kế bên con rắn độc mà không biết cái nguy hiểm, cái tác hại của con rắn hổ mang cho nên Đức Thế Tôn mới nói có hạng người không biết cái nguy hiểm của lòng ham muốn, cái dòng thác lũ đó, cái ách đè đầu mà mình đó không biết cái nguy hiểm của nó. Mình phải kiểm tra cái muốn của mình, kiểm tra cái thúc dục, kiểm tra cái muốn, kiểm tra cái tham dục, ái dục của mình.

Ngoài đời người ta nói "một vợ thì nằm giường lèo, hai vợ thì nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm", ý câu này nói cái dục càng nhiều thì mình càng khổ, cái giường nó cũng cũ kỹ xấu xí, không có đủ tiền nuôi vợ nuôi con, hai vợ ngủ chèo queo tức là hai bà ghen nhau rồi cho ngủ không, còn ba vợ là cho ngủ với chuồng heo. Tức là cái dục càng nhiều thì mình càng khổ, càng tham sắc nhiều chừng nào thì con người mình càng hạ thấp cái giá trị, cái nhân phẩm xuống. Đó là dục ách.

Tất cả chúng sanh đau khổ với cái này vô cùng, chúng ta nghe những dòng nước mắt tuôn chảy khi trình pháp chồng nhậu về đánh bành thây áo giũ, tơi tả, cơm chan với nước mắt. Đó là một vợ một chồng chứ đừng có nói chi rơi vô cái cảnh đi lối tẻ, tà dâm, ngoại tình là con cái khổ sở, vợ chồng phân ly, con không nhìn mặt cha mẹ, rồi con trước con sau, dòng trước dòng sau, đủ thứ chuyện nói không hết cái khổ đó. Anh em ruột với nhau mà có khi còn giành giật, thưa kiện ra tòa chứ đừng nói chi là con của dòng trước dòng sau, cho nên Thế Tôn mới nói là không như thật biết được cá sự nguy hiểm, tác hại của lòng tham muốn, sắc dục. Ở đây nói sắc dục là một cái nhỏ trong cái dục thôi chứ dục là bao trùm sắc; thanh; hương; vị; xúc, bao trùm cả 6 ái: sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, cái này mới có sắc dục là một cái nhỏ ở trong một cái sắc thôi.

Có những người đau khổ về tình cảm suốt cuộc đời, họ thù hận, mình nói chẳng hạn như những hình ảnh hồi xưa mình coi phim có những người phụ nữ bị thất tình, bị phụ bạc nên hận đàn ông, có những người lập ra những cái phái là gặp đàn ông là xử, là hận thù mấy người đàn ông do họ đào hoa, phụ bạc, phụ tình, lừa gạt rồi lập ra mấy cái chỗ là không cho đàn ông vào. "Hỡi thế gian tình là gì làm cho sinh tử tương hứa" tức là sống chết có nhau. Ở chùa Bửu Liên bây giờ còn cái hũ cốt đó, lúc đó con đi vô nhà cốt thì thấy một cô đứng khóc hoài, nhìn dáng vẻ ăn mặc là người giàu có, cô ôm mặt khóc nhìn vào tấm hình thì người con còn rất trẻ. Sau đó mới hiểu ra là cha mẹ không đồng ý cho hai người đến với nhau nên hai người này buộc chân vô một cái cục đá lớn nhảy xuống sông, bây giờ còn thờ tại chùa Bửu Liên, đó là sanh tử tương hứa, thà chết chứ không có thể sống nổi vì không có được cái dục, cái ái đó.

Mới đây cách đây có mấy ngày thôi, lúc trước con có kể là cậu thanh niên 17 tuổi dẫn bạn gái về nhà ở chung thì cha mẹ không có đồng ý, chửi mắng la nó nên nó đem thuốc độc bỏ vô cái nồi canh đầu độc cha mẹ. Nhưng mà thuốc này là thuốc rầy nên cái mùi bày ra khó chịu, bà mẹ nghe cái mùi thì hoảng cuối nên báo công an, cuối cùng người ta bắt được nó, chỉ mới 17 tuổi thôi mà không cho nó dục ái đó thì nó giết cha mẹ luôn. Đó là dục ác, mình phải hiểu được sự ác độc, cái tai họa, nó hãm hại tất cả chúng sanh trong cái dục giới này, cái thế giới của dục này, đó là hai cái từ dục ách.

Một là nó hủy hoại đời sống của nó, hai là giết cha giết mẹ nó, đó là những cái minh chứng hùng hồn, người thật việc thật ở trước mắt nhãn tiền chúng ta. Có những người là vạn nhân chi thượng, ở trên một cái địa vị cao như vậy nhưng mà cũng vì cái dục, cái sắc đó mà tan nhà nát cửa, gọi là nhất tiếu khuynh thành, tái tiếu là khuynh nhân quốc, nghĩa là một nụ cười nghiêng nước mà hai nụ cười là đổ cả thành trì. Nó khủng khiếp đến như vậy, cho nên cái dục này không phải chuyện bình thường, đây là thế giới của dục, đây là dục giới trong sự quản lý của ác ma, của ma vương, bung cái bẫy mồi của dục ra là tất cả sụp đổ hết, tất cả quy lụy xuống làm đầy tớ hết.

Thật là đắng cay!

Thật là ác độc!

Thật là tai họa!

Thật là bất hạnh khi ở trong thế giới của dục này, sự thống trị của dục, sự quản lý của dục, sự thao túng của dục, sự tung hoành ngang dọc của dục vọng xâm chiếm toàn bộ, áp đảo toàn bộ làm cho nghiêng đổ trời đất, trái đất, thế gian này cho nên chúng ta nghĩ rằng một bậc ly dục phải tu tới mức độ nào. Ngày xưa có vị ẩn sĩ chứng đắc năm thứ thần thông, vị này bay trên hư không được, chứng được thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông nhưng mà lậu hoặc chưa có hết, dục ái vẫn còn.

Vị này nhận sự cúng dường của một cô gái rất đẹp là con của người thợ săn, vị này mới nhìn thấy cô gái là về nhà bệnh liệt giường liệt chiếu đi không nổi, mơ tưởng hình bóng đó hoài, bị ám ảnh hình bóng đó hoài, cuối cùng vị này nói thật với người thợ săn là không có cô gái đó là sống không được. Đó là đã chứng đắc thần thông mà còn như vậy, cho nên dục ách này ác độc khủng khiếp, người thợ săn hỏi vị ẩn sĩ có biết nghề gì không thì vị này nói không biết nghề gì cả, nếu không biết nghề gì thì làm sao chăm lo cho con gái người thợ săn được. Thế là vị ẩn sĩ này chỉ còn cách đem thịt ra chợ bán khi người thợ săn đi săn về, sau đó vị này cưới cô gái, mỗi lần cô ru con ngủ là cô chọc tức người ẩn sĩ này, đạo sĩ tu hành mà bị sắc dục nên giờ trở thành thấp hèn như vậy.

Ầu ơ... ru con, con ngủ cho ngoan

Cha con ẩn sĩ... lượm thịt săn giữa rừng

Ầu ơ... ẩn sĩ rớt bát nửa chừng

Vì con, vì vợ còng lưng tháng ngày.

Mỗi lần ru con là cô vợ nói lời châm chọc vị ẩn sĩ, sau đó vị này đi gặp một bậc A-la-hán thì được vị này giáo hóa, tu xuất gia chứng đắc Thánh quả. Có những trường hợp khác cũng chứng đắc thần thông, bay vào hoàng cung để thọ trai nhận cúng dường sơn hào hải vị, những đồ quý giá nhất được nhà vua cúng dường. Chẳng may một ngày nọ vị ẩn sĩ này thấy hoàng hậu bị rớt tấm y xuống, vừa nhìn thấy là vị này từ trên không rơi xuống như con quạ bị gãy cánh. Đó là dòng thác lũ của dục, đắng cay và ác độc đối với người tu.

"Một hôm, Bồ-tát đi đến quá trễ, hoàng hậu sửa soạn các món ăn xong, tắm rửa, trang điểm và soạn một chỗ nằm thấp. Trong khi chờ đợi Bồ-tát đến, bà đắp sơ sài một tấm áo trên thân rồi nằm nghỉ. Bố Tát xem giờ, liền cầm bình bát, đi ngang qua hư không và đến cửa sổ.

Nghe tiếng áo vỏ cây sột soạt của Bồ-tát, hoàng hậu hấp tấp đứng dậy, và áo vàng của bà rơi xuống. Bồ-tát để các căn bị chi phối bởi đối tượng đặc biệt khác thường này và đứng nhìn bà như bị thôi miên. Ác dục phiền não đã được chế ngự nhờ Thiền lực trước kia, nay lại khởi lên giống như con rắn hổ phồng mang, ngóc đầu lên từ cái giỏ nó bị cầm giữ, giống như cây vú sữa bị búa chém. Do phiền não khởi lên, thiền định thối thất, các căn trở nên không thanh tịnh, khi ấy Bồ-tát giống như con quạ bị gãy cánh. Bồ-tát không thể ngồi xuống như trước nữa và không thể ăn uống gì được. Dầu được hoàng hậu mời ngồi, Bồ-tát không thể ngồi yên" (Tiểu Bộ Kinh - Tập V, Chuyện Tiền Thân Đức Phật (II), Chương Ba. Phẩm Sankappa, 251. Chuyện Dục Tầm (Tiền thân Sankappa))

Ngày xưa con có đọc câu truyện có một vị thầy đó tu tinh tấn lắm ở trên núi, không có nhận ai làm đệ tử hết, chỉ có một cô Phật tử đi tới lui thăm nôm. Từ từ vị này bệnh thì cô cạo gió, chuyện gì xảy ra thì biết rồi, có mấy đứa con, thành ra rất khủng khiếp cái dục này, bị đứt thần thông. Đề-bà-đạt-đa là người chứng được ngũ thông cho nên người tu thiền định dễ có thần thông lắm, người vừa có chánh tri kiến vừa tu thiền định thì đoạn các lậu hoặc, người không có chánh tri kiến nhưng lại đạt các tầng thiền định là dễ có thần thông, tứ thiền bát định, ngoại đạo có thể đạt đến bát định, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đó là tứ thiền bát định, chứng được những cái đó mà vẫn ở trong sanh tử. Đạt được những cái định đó là đã rất là cao, cao nhất ở trong cái định của phàm phu, phàm phu định, đó là thiền sắc giới, thiền vô sắc giới.

Vì vậy cái dục này là cái ách đè lên cổ mình cho nên tại sao ở thế gian dùng những từ như "gông đầu cầu của nhìn lâu cũng đẹp", "lửa gần rơm không chạy thì chùa", là sự tiếp xúc hết sức là nguy hiểm chính như vậy mà sự độc cư thời Đức Phật là rất quan trọng, các cái vị tu hành chứng đắc là nhờ có độc cư, cắt cái duyên xúc. Bây giờ lửa cháy mà mình để rơm kế bên, hằng ngày không kiểm tra kĩ cũng có ngày bùng cháy vì vậy dục ách và dục bộc lưu là dòng thác lũ thứ nhất của dục giới cuốn hết, cuốn phăng, cuốn trôi, cuốn lăn hết, chìm đắm hết. Có nhiều người lên xin xuất gia mà nói có vợ và con nhỏ ở nhà thì con thấy không có hi vọng nhiều, con nói cứ từ từ rồi tính rồi vài ngày đến nửa đêm là đi mất. Đó là dòng thác lũ của dục rất ghê gớm và khủng khiếp cho nên bị đánh bầm dập nhưng vẫn không li dị được, không bỏ nhau được.

Nhiều người nói xin lỗi để mình hiểu được sự thật cuộc đời, bước gần hôi một cái mùi kinh khủng lắm, không chịu được do bị hôi nách, vậy mà cũng có nồi nào úp vung nấy. Kinh hoàng luôn, cái mùi kinh khủng không chịu nổi, vậy mà lên xe có máy lạnh là bể lỗ mũi, vậy mà vẫn có người thích, lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi, cái mùi hôi như vậy mà vẫn hấp dẫn.

Cho nên khổ lắm, mình thích cái dơ bẩn chứ không thích sạch sẽ, thích bất tịnh, nhơ nhớp, sự trong sạch, thanh tịnh thì không chịu, thích cái nhơ nhớp, bẩn thỉu. Đó là dục bộc lưu, cái này mình phải quán 3 tháng, 3 năm, còn muốn diệt tận nó là phải suốt cuộc đời, phải dồn tâm lực vào để mình dập nó, mình tác ý liên tục ngày đêm, tất cả mọi phương diện góc độ, khi nào nó sanh khởi lên là phải dập nó, sanh khởi lên là diệt, sanh khởi lên là giết. Mình phải để tâm liên tục thì sẽ đi đến chỗ ly dục, dòng thác lũ của dục này rất khủng khiếp.

Khổ thì khổ chứ bỏ không được, có những gia đình bị đánh tả tơi, tan tành mà vẫn không bỏ nhau được, chính là cái dục này, cái ái này, có nhiều cái khổ lắm, nhiều khi bị chửi vậy đó nhưng mà thiếu chửi là nhớ, sao không nghe chửi gì hết, trông về để nghe chửi, cái nghiệp đó tương ứng với nhau thành ra đó là nói cái dục thô của nam nữ, ngoài ra còn có tham dục, hương dục, vị dục, sắc dục với món đồ.

Chúng ta thấy cái tâm của mình nó hèn hạ, nó thấp kém lắm, nó bẩn thỉu, người ta mới cho đôi dép, đi được một chút là cho rằng đây là dép của tôi, ai đụng vô là sân si, mà không phải là người đời, đó mình người tu. Mình thấy nó nhục lắm, tu vậy thì nhục, tâm thấp kém, hèn hạ lắm, thấy đôi dép là ái sanh, tức là thích đôi dép. Phải tập xả ly cái sắc ái này, tập xả ly với cái vật chất hèn hạ này, cái thứ vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt này, tập nhìn nó là những thứ đáng vứt, đáng bỏ, đáng quăng, tập nhìn tất cả những gì mình ưa thích từ bỏ nó.

Con ngồi ngay mà được chết bây giờ là khỏe vô cùng luôn, không lưu luyến chút nào, ngồi ngay đây là tắc thở luôn là đi lên, sao mà cái tâm mình cứ dính mắc vào những cái thứ bồn chậu dấm muối, những đồ lặt vặt từng chút vậy đó, cái suy nghĩ đó là mình, là của mình. Bây giờ con hỏi quý thầy với cô là người tu thì mình có cái gì? Cái gì của mình? Cái này đi tu mình đem cái gì theo? Những món đồ mình mặc là của bá gia bá tánh, không có cái gì là của mình, gặp cái gì mình cũng tác ý "không có cái gì là của nhà ngươi, không có gì là của mi hết, mày đừng có ngu, mày đừng có ảo tưởng". Hễ cái gì khởi lên là mình diệt nó liền, diệt cái tư tưởng đó ngay lập tức, nó vừa khởi lên trong suy nghĩ thôi chứ không cần nói ra miệng cũng phải diệt tận liền, từ cái bên ngoài mới đi vào bên trong, tới cái mình yêu thích, những cái đồ quý giá, tiếp tục xả phú cầu bần.

Mình tập xả với những món đồ mình yêu thích, cái gì mình yêu thích nhất là tập đem đi cho, tập xả, bố thí những cái mình yêu thích nhất, con nhờ cái đó mà con gặp được tôn giả, gặp được thánh nhân, nhất là các vị xuất gia của chúng ta không có món gì là món mình yêu thích, không có món gì là món quý giá của mình, mình vô sản, mình là khất sĩ, là người ăn xin.

Phải nhớ thật kĩ câu này, phải niệm câu này, niệm giống như niệm Phật vậy đó, "ăn xin, ăn xin, ăn xin, ăn xin", niệm được cái này cái tâm mình tuyệt vời lắm, mình thấy mấy người khổ về vật chất thì mình ngồi nhẹ nhàng, mình mỉm cười, mình thương. Khi mình làm được điều này tức là xả bỏ những cái vật đáng yêu, đó là bước thứ hai, công cuộc tu của mình là công cuộc xả bỏ, bỏ cho hết là mình thành công. Đây là cái thứ nhất, ở đây mình mới nói có phần sắc dục, làm thì mình làm hết vậy đó tới chừng trở về rồi thì không có một cái ý niệm nào là của mình trong đó, đó là cái khó nhưng phải làm cho bằng được.

Sâu vào bên trong là từ bỏ cái suy nghĩ đây là tôi, là của tôi, không có từ bỏ suy nghĩ đó là mình khổ lắm cho nên vì không có từ bỏ cái suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi cho nên mới mang cái thân lông lá. Nhiều khi nhìn thấy con xót xa dữ lắm, đang đi thiền hành ở bên lầu tư chùa Bửu Liên thì nhà bên có con chó thò cái đầu ra sủa liên tục thì con tác ý "thôi con ơi, tội nghiệp quá, đã mang cái thân lông lá như vậy mà còn sân si, bản ngã gì nữa", sau đó con trải tâm từ thì con chó sủa ít lại, từ từ hết sủa luôn, hôm sau con đi kinh hành thì nó cũng ra nhìn nhưng không sủa nữa, con vẫn ngồi thiền trải tâm từ.

Dù cách 4-5 căn nhà mà vẫn thò cái đầu ra sủa, sủa cho mọi người biết tôi đây nè, "biết tôi là ai không, tôi là chó nè". Đó là cái tâm bản ngã, sân hận, cái tâm mê, cái tâm vô minh, mà không phải đó là ai đâu mà chính là mình đó, tất cả mọi cái đều quay lại mình.

Khi mình gặp những cái chuyện xảy ra trong cuộc đời này mình đừng có trách người ta, mình phải nhìn mình trong đó, những cái mình thấy thì mình xem lại nó như tấm gương phản chiếu hình ảnh mình trong đó, như vậy trí tuệ mình mới tăng trưởng. Đó là thiền quán, đó là cái cách như lý tác ý, đó là cách quán chiếu, nhiều khi mình xúc động, mình đi ngang con cuốn chiếu lỡ đụng nó là nó co lại, nó cuốn cả người nó lại, mình cầm nó lên để thả nó đi thì nó cuộn tròn lại, chắc nó đang run sợ, nó có một cái tự ngã ở trong cái thân nó. Con sâu cũng vậy, bao nhiêu tấm thân, vô vàn những hình dáng, hình tướng, hình hài, hình thể, hình thái, tất cả trong đó là dục không, bản ngã không, vô minh không. Đó là dục ách, đó là dòng thác lũ cho nên không thấy được sự nguy hiểm của nó, không thấy được vị ngọt của nó thì làm sao đi đến sự chấm dứt và xuất ly, thoát ra khỏi nó được. Cho nên Đức Thế Tôn nói "dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại", những cái này chiếm đóng và nó tồn tại ở trong tâm mình.

Mình đâu có thấy được nó, mình bị mù làm sao thấy được, mình sống trong bóng đêm thì làm sao thấy được. Đầu tiên là dục tham, trong này nó cứ thúc giục, muốn thêm, muốn nhiều nữa. Dục hỷ là vui lắm, khoái lắm, được ai cho món đồ tốt là mặt tươi rói, phấn khởi, hân hoan mà không biết đó là thiếu nợ, có làm thì mới có ăn không dưng ai dễ đem phần đến cho, vì vậy mình nhận sự cúng dường của người ta là phải lo sợ, cho nên trong bài kinh đầu tiên căn bản pháp môn là dục hỉ với địa đại, dục hỷ với thủy đại, dục hỷ với quả đại, dục hỷ với phong đại. Vì thế diệt cái dục hỷ này cả một sự tu, không có an trú ở trong khổ thánh trí là không có diệt dục hỷ được. Một ngày chúng ta an trú trong khổ thánh trí được mấy giờ? Một ngày mình thấy khổ được mấy tiếng đồng hồ? Trong 24 tiếng thì thấy được mấy tiếng là khổ?

Dục luyến là lưu luyến, bịn rịn, rời xa là lưu luyến, bịn rịn, phải rời xa những cái mà mình yêu thích, ham muốn, lưu luyến. Trong bài kệ Đường Tăng cùng với nữ vương quốc có câu "gặp nhau là khó mà lìa nhau lại càng khó", đó là bài thơ Đường được phổ nhạc, "Tương kiến thì nan biệt diệc nan" nghĩa là gặp gỡ nhau đã khó, chia lìa nhau lại càng khó, tức là sự lưu luyến, bịn rịn. Vợ chồng, mẹ con, người yêu thương mà chia tay nhau, dáng đã đi khuất rồi nhưng mà cũng vẫn còn đứng nhìn, đó là dục luyến. Dục đam mê, dục khát, vô trong đó rồi là nó mê, đam mê, nó khao khát, dục não là vô trong cái dục này rồi là sầu não, phiền não. Dục chấp thủ là nó chặt vô trong những cái mà nó muốn, những từ này là biết bao nhiêu trạng thái tâm, là những dòng cảm thọ trong thọ uẩn.

Đức Thế Tôn đọc ra được hết những trạng thái của tâm, đó là lộ trình tâm khi dục sanh khởi, chiếm đóng và tồn tại thì những thọ; tưởng; hành này sanh khởi, vận hành và Đức Thế Tôn chỉ mặt từng tên, giống như thanh tre có bao nhiêu mắt thì Đức Phật chỉ mắt thứ nhất, mắt thứ hai, thứ ba… Khủng khiếp cái thánh trí huệ của Đức Phật, đây là những cái đốt tre, những cái mắt tre, những cái móc xích làm ra vòng xiềng xích, đây là dòng thác lũ đẩy mình đi, cuốn mình đi, nhận chìm chúng sanh.

Dục chấp thủ, dục ái trong các dục, ưu não trong các dục, buồn phiền, rầu lo, chữ "não" này có nhiều nghĩa lắm, đó là tìm đủ mọi cách làm sao để gặp, làm sao để giao tiếp, làm sao để lựa lời, lựa câu, phải hành động gì đó để lấy lòng cho được.

Chữ dục não này thấy vậy chứ nhiều khía cạnh, góc độ trong đó lắm. Lúc hai người mới quen nhau là suy nghĩ đủ thứ cách làm sao để mà lấy được lòng, nếu gặp cái gì mà không đúng ý là về buồn bã, thất vọng, khổ đau và có khi là hồi nãy mình nói là nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông. Đó là dục não, dòng thác lũ, cái ách này đè xuống đầu mình làm mình ngóc đầu lên không nổi, mình làm nô lệ cho dục, làm tôi đòi cho dục, đó gọi dục giới, thế giới của dục.

Thế Tôn chia ra các hạng người, thứ nhất là phàm phu, ngoại phàm, thứ hai đó là ngoại học ly dục, thứ ba đó là mới là bậc hữu học, thứ tư là bậc vô học, vô văn phàm phu không có biết gì về Nikāya, đây là vô văn phàm phu còn gọi là ngoại phàm tức là phàm phu ở bên ngoài cái vòng pháp này, gọi là ngoại học phàm phu. Kế đó là gì những người phàm phu ngoại học nhưng mà đã ly dục vọng, những cái vị này có khả năng lên chư thiên của cõi sắc giới, không có ở dục giới, đó là những vị chứng các tầng thiền, tức là ngoại học ly dục vọng, dù người ta chưa thành tựu chánh kiến nhưng vẫn có khả năng ly dục, tuy nhiên cái ly dục này không triệt để, có thời gian sau này cái nhân, cái duyên khi mà nó hết thì nó sẽ trở lại cho nên mới còn sinh tử luân hồi.

Còn bậc hữu học là đệ tử của ngài, gọi là thánh đệ tử, bậc hữu học này bao gồm từ hướng Dự Lưu cho đến là hướng A-la-hán, bảy cái thánh vị, trong bốn đôi tám chúng thì từ hướng Dự Lưu cho đến hướng A-la-hán là còn trong hữu học vị, vô học vị tức là A-la-hán. Trong bốn đôi tám vị thì thấp nhất là hướng đến sự từ bỏ ngũ uẩn, ở đây chúng ta bước qua hữu ác, cái này rất sâu sắc, cái này rất thâm sâu, nếu không học Nikāya là không thể nào hiểu nổi hai chữ này, không thể nào hiểu nổi cái hữu ái này. Ngày xưa con học chữ hữu mà không biết hữu là gì, nghĩ rằng hữu là nghiệp, không hiểu được nhưng khi vào dòng pháp này rồi mới thấy run sợ.

II. Hữu ách

Hữu này chính là hiện hữu, tất cả chúng sanh ở trong tam giới là yêu thích hiện hữu, vì yêu thích hiện hữu cho nên khổ ở trong cái hiện hữu đó. Hiện hữu này có ba hình thái, nói tổng quát là hiện hữu ở trong dục giới, hiện hữu trong sắc giới, và hiện hữu ở trong vô sắc giới. Dù ở trong hình thái nào chúng ta cũng yêu thích hiện hữu hết, mình thấy như cái con chó hồi nãy, cũng có con chó đẹp trai, con chó đẹp gái, nhìn mấy con chó xấu thì "mày làm sao bằng tao, mày là con chó ghẻ, tao là con chó lành".

Lúc đó con dẫn vài thầy đi thiền hành từ chùa Bửu Liên ra bờ sông Thanh Đa, nhiều khi có mấy chú mấy người nước ngoài về học pháp nữa, mình đi ra đó thì đi ngang con chó rụng hết không còn cọng lông nào, đó là con chó ghẻ, bước tới gần là nó sủa nên con trải tâm từ, thấy xót thương vô hạn, thấy vậy là tự nhiên tim mình nhói lên, xót thương những cái hình thái đau khổ như vậy, nhưng nó vẫn yêu thích cái thân chó ghẻ, nó đâu có biết nhàm chán, ly tham đâu, nó không biết chấm dứt, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, nó không biết dập tắt sự hiện hữu.

Con sâu cũng vậy, con giòi cũng vậy, con muỗi cũng vậy, con kiến cũng vậy, nhiều con nhỏ xíu nhưng cắn một cái là giật bắn người, "biết tôi là ai không, tôi là kiến nè", mình với nó là oan gia trái chủ nhiều đời. Hồi đó mình cũng giết nó hay sao đó, mình cũng làm nó đổ máu, bây giờ nó chích mình chút vậy thôi, mình đập nó chết thì nợ cũ chưa xong, chồng thêm nợ mới nữa. Nhiều người không biết đạo ngồi với con bị muỗi chích là đập cái chát đỏ da ngay trước mặt con luôn, khổ ghê luôn. Tất cả những cái đến với mình là oan gia, có nhân quả nghiệp báo hết chứ không có tự nhiên, bao nhiêu người không kiếm chích mà nó lại ngay mặt mình, nó kiếm chuyện, nó nhào vô, vì hồi xưa mình cũng làm nó đổ máu bây giờ nó kiếm một miếng bù lại.

Mình tu thiện pháp nhiều thì cái đổ máu của mình có thể đổi lại một cái con muỗi chích thôi, bây giờ chịu cái nào? Chịu đổ máu trả nợ hay là chịu con muỗi chích chút thôi? Như vậy cũng không chịu nổi, cũng đập cho nó chết mới thôi, vậy là tiếp tục đổ máu nữa, cho nên mình tu cái tâm hiền hay tâm từ vi diệu vô cùng, bởi vì nó hóa dữ thành lành, hóa đại sự thành cái tiểu sự, chuyện lớn hóa thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

Chỉ có tâm hiền, tâm từ, cái tâm chấp nhận nhân quả, cá nghiệp báo thì mình mới giải quyết được những vấn đề mà người ta không có hiểu đâu, người không có biết tu, không có thành tựu trí tuệ về nghiệp là không hiểu được, đây là bất cọng pháp của Thánh đệ tử. Mình nói ra là người ta hỏi ngược lại có bị bệnh gì không mà lại như vậy, do người ta không thành tựu của trí tuệ về nghiệp.

Ví dụ mình với người đó hồi xưa có oan trái nặng nề lắm, bây giờ mình biết ăn chay, mình biết tụng kinh, biết niệm Phật, biết quy y, biết thọ trì năm giới, mình làm cư sĩ đệ tử thì người đó đến chỉ nói vài ba câu nặng thôi, nhưng lúc đó mình tu được cái tâm nhẫn, cái tâm từ, tâm hiền thì có thể mình sẽ nhường nhịn được, mình hóa dữ làm lành, hóa lớn thành nhỏ, hóa nhỏ thành không, nếu không lúc đó mình sân hận lên, thậm chí là đổ máu mất mạng. Chúng ta có thấy hàng ngày trên tin tức những chuyện không có gì hết nhưng lại đưa đến những thảm án, những vụ hình sự, đó là vì không có trí tuệ và nghiệp, không có biết tu tâm hiền, tâm từ, không có hóa giải được những cái mối nợ nhiều đời nhiều kiếp.

Có những cái mình thấy biết, mà cái tâm mình là cái tâm mê cho nên đừng nói chi là mới có năm bảy ngày mà hôm nay gặp lại là mình quên rồi, mình nói rồi mà hỏi lại là không nhớ mà mới có năm bảy ngày thôi, huống hồ gì mình làm cho người kia 30 năm hay là 300 năm trước, làm sao mà nhớ cho nên tâm hiền, tâm từ là số 1, nó là cái áo giáp bằng đồng bao bọc cho mình, gọi là thương đao bất nhập, gươm giáo đâm không lủng vì áo giáp bằng đồng bảo vệ mình và bảo vệ đối tượng nhân quả của mình, cái oan gia, oan trái, oán thù nhiều kiếp của mình.

Có nhiều người mới gặp là muốn kết chị em vì quá thương, tự nhiên mới gặp muốn nhận làm mẹ con, mới gặp là muốn kết huynh đệ, không sanh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm nhưng nguyện chết cùng giờ, cùng tháng, cùng năm, cùng giờ, gọi là cắt máu ăn thề thì cái này không phải tự nhiên mà đã là anh em nhiều đời với nhau. Ngược lại có những người vừa gặp đã rực lửa, trợn mắt nhìn nhau, ngoài đời thường nói "bốn mắt nhìn nhau trào máu họng", do tâm sân hận, những oan trái nhiều đời nhiều kiếp đã tích tụ nên vừa gặp nhau là trong này khởi lên mà chính người đó cũng không biết tại sao, do nhiều lớp vô minh, mới có 7-8 ngày mình đã quên thì đừng nói gì 100 năm trước, 10 đời trước thì làm sao nhớ, cái thọ cũ bên trong khởi lên nên nhìn nhau là ghét, không ưa.

III. Tâm hiền

Những cái đó tạo nghiệp rất nhiều, nói không thể hết được cho nên tóm lại tâm hiền, tâm từ là tuyệt đối quan trọng, hóa giải được mọi thứ.

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Từ lúc con về Linh Quy này thì con thấy tâm hiền của mình được hiền hơn lúc trước nhiều, những cái gì mà con thường hay phản ứng thì con không còn phản ứng nữa, con thấy chuyện gì, ngày xưa con nghe ai nói câu đó hay là một điều gì đó là trong lòng của con phản ứng. Mặc dù con không nói ra nhưng mà con có phản ứng, nhưng bây giờ con không có phản ứng nữa, con thấy con để cho nó trôi đi, con không có nắm giữ lại, cứ để cho nó trôi qua, cho nó trôi qua, cho nó trôi đi.

Sư Phụ: Nhiều khi nói không có hết được công năng, tác dụng, lợi ích, giá trị của tâm hiền hay lắm, tu đi rồi sẽ thấy. Mong rằng tất cả các vị nào có tâm cố gắng viết bài lợi ích, giá trị, hiệu quả, công năng, tác dụng của tâm hiền, tâm từ gửi về để mình có một bài thu hoạch, để mình thấy chứ nhiều khi mình có cũng không biết, không thấy rõ. Tâm lờ mờ nên không biết thành ra mình không biết quý tâm hiền nhiều.

"Và thế nào là hữu ách?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các hữu, nên hữu tham, hữu hỷ, hữu luyến, hữu đam mê, hữu khát, hữu não, hữu chấp thủ, hữu ái trong các hữu xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hữu ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)

Mnh giải thích những nghĩa dễ nhất, có ba lớp, một là có, hai là nghiệp, ba là sự hiện hữu. Mình ham có lắm, vui với cái có dữ lắm, lưu luyến với cái có của mình lắm, mình đam mê trong cái có của mình dữ lắm, mình khao khát để mình có được và mình cũng u não lắm, phiền não lắm khi ai đụng tới cái có của mình, ai mà ngắm nghía, mưu tính lấy những cái mình có thì mình khổ lắm. Hữu chấp thủ tức là mình nắm chặt vào trong những cái mình đang có, mình yêu thích cái đang có, tâm mình yêu thích cái sự cái sự có của mình, sự yêu thích này nó chiếm đóng và nó tồn tại trong tâm của mình luôn, ưa thích, vui sướng, lưu luyến, đam mê, khao khát, phiền não khi ai đụng vô những cái có của mình. Mình nắm chặt cho những cái có của mình, yêu thích có mình, đam mê những cái có, mình khao khát có thêm nữa, mình mong muốn.

Khi ngài Phú-lâu-na xin Đức Phật đi du hành giáo hóa chúng sanh thì Đức Phật hỏi khi đến nơi đó mà bị người dân ở đó mắng chửi thì sao, ngài trả lời nếu họ mắng chửi thì họ còn hiền, họ chưa ném đá, chưa lấy cây gậy đập con. Đức Phật lại hỏi nếu họ lấy gậy gộc đánh thì sao, ngài trả lời họ còn hiền vì họ chưa sát hại con. Đức Phật hỏi nếu họ sát hại luôn thì sao, ngài nói như vậy thì khỏe rồi vì con được xả bỏ cái gánh nặng hiện hữu của năm thủ uẩn đầy phiền não và khổ đau, ung nhọt, bất hạnh, tai họa này. Cuối cùng Đức Phật nói ngài ấy hãy được rồi ông đi đi, chỉ trong một mùa an cư kiết hạ 3 tháng ngài Phú-lâu-na độ cho 500 người chứng Thánh quả, sau đó ngài nhập Niết-bàn.

"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?

-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.

-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.

-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung" (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Những cái này là cách dạy tu chứ đâu phải mình nghe kể chuyện rồi nghĩ đó là chuyện của ngài Phú-lâu-na, mình tu rồi quán chiếu giống vậy. Các ngài thấy sự hiện hữu này là mệt mỏi, có con mắt là phải lo cho con mắt, con mắt bệnh, gia đình Hiền Định lên đây có bé nhỏ mới có mấy tuổi thôi mà cận hai độ rưỡi, đó là nhà giàu học giỏi, viết chữ bự đó, chưa có nói những đứa nhỏ sanh trong vùng thiếu thốn, nghèo nàn, làm gì có mắt kính cận đeo.

Có con mắt là lo con mắt, có cái lỗ tai là có cái bệnh tai, có cái lỗ mũi là có bệnh mũi, viêm xoang, có cái miệng là có cái bệnh miệng, đủ thứ bệnh trong miệng, có người làm răng rồi chết luôn, có tim là bệnh tim, có lá gan là bệnh ung thư gan, có lá phổi là bệnh phổi, có đường ruột, có hệ điều hòa hay hệ hô hấp, hệ tuần hoàn thì bao nhiêu cái hệ là có bấy nhiêu cái bệnh hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp. Vậy mà không thấy sự nguy hiểm và tác hại, lo lắng, bất an trong đó mà cứ hất mặt ưỡn ngực, vênh váo lên, tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, dối trá, lừa gạt, ganh tị, đố kỵ, giành giật, mưu sĩ, mưu mô, mưu tính, mưu hại, mưu độc, mưu toan.

Thật là mệt mỏi cho dòng thác lũ của cái có, dòng thác lũ của cái nghiệp, của những cái thói quen này, mệt mỏi cho cái dòng thác lũ của sự hiện hữu này, ham muốn cái sự hiện hữu, vui thích sự hiện hữu, lưu luyến trong sự hiện hữu, đam mê trong sự hiện hữu, khao khát trong sự hiện hữu, phiền não trong cái hiện hữu, nắm giữ trong cái hiện hữu và yêu thích sự hiện hữu, những cái tâm yêu thích hiện hữu này nó chiếm đóng, nó tồn tại ở bên trong, đây gọi là hữu ách. Những cái này cần phải thiền quán, hằng ngày phải kiểm tra dục trong người như thế nào, hữu trong người như thế nào, còn yêu thích mấy cái đó không.

Cái hữu này thâm sâu lắm, tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, ngài A-nhã Kiều-trần-như thành tựu được chánh tri kiến và thốt lên câu "phàm cái gì được tập khởi, được sanh khởi tất cả đều phải đi đến đoạn diệt", cái gì sanh phải diệt thôi, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan. Khi mình thành tựu được cái thấy biết đó một cách thấu đáo là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất tức là phá được hữu ách, vượt qua được dòng thác lũ hữu bộc lưu, chúng ta mới hiểu được lý do tại sao ngài A-nhã Kiều-trần-như đắc Dự Lưu Thánh quả, ngài nhìn thấy tận cùng tất cả sự hiện hữu là đau khổ, sanh là phải diệt, sanh diệt pháp. Mình tập nhìn mọi cái, thấy được cái tính chất diệt của nó, thí dụ nhìn cái dĩa lá trúc này là sanh diệt pháp, những cái lá hôm nay vẫn còn màu xanh nhưng vài ngày nữa sẽ đi tới héo úa, sau đó nó sẽ bị vứt ngoài vỉa hè.

Lá xanh là sanh, lá héo úa là già bệnh, đem vứt ra ngoài vỉa hè là chết, sanh – trụ – dị – diệt, mình tập nhìn sanh diệt trí khắp mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, mọi người, mọi vật, mọi tâm thức, mỗi tâm trạng mọi cảm thọ, thấy được tính chất sanh diệt của nó, chỉ mặt nó nói "mày là đồ sanh diệt", "mi là cái đồ tàn hoại, đồ tan nát, hủy hoại", tâm mình sẽ nhả ra, sẽ xả ly, không ham thích những cái hiện hữu nữa, không còn say đắm sự hiện hữu nữa, không còn lưu luyến sự hiện hữu nữa, không đam mê hiện hữu, không khao khát, không có phiền não những cái hiện hữu này, không có nắm giữ những cái hiện hữu này nữa. Chết thì chết, không chết sớm cũng chết muộn, không chết trước cũng chết sau, không chết già cũng chết trẻ, bây giờ chết thì chấp nhận chết, làm sao không chết được cho nên khi chết tâm mình điềm nhiên chấp nhận, an nhiên xả bỏ, an tịnh, lắng dịu

Không mất trước thì cũng mất sau, không mất sớm thì cũng mất muộn, bây giờ mất thì mai này khỏi mất, xả cái tâm nắm giữ cái món đồ bị mất đó. Bây giờ mất thì mai này khỏi mất, không mất thì cũng hoại diệt, tan nát, mất thì cứ mất, đó là tu tâm xả, lòng mình an tịnh, lắng dịu. Đó gọi là vô sanh pháp nhẫn, tâm mình không còn sanh khởi sự luyến tiếc, phiền não khi mình đã nhận được thánh pháp, chánh pháp, lòng mình không còn sanh khởi tham, sân, si, dục ái, hơn thua đấu đá với ai nữa, không có gì là mình, không có gì là của mình, không có gì là tự ngã của mình, sự hiện hữu này chỉ là khổ đau, không ưa hiện hữu, không thích hiện hữu, không khoái hiện hữu, không muốn hiện hữu, không muốn tiếp tục hiện hữu nữa, mình mong muốn chấm dứt mọi hình thái của hiện hữu. Cái này vi diệu, không còn lòng dục, lòng ái, lòng chấp đối với sự hiện hữu trong ngũ uẩn, đó là chúng ta vượt qua dòng thác lũ của hiện hữu.

IV. Trình pháp

Sư cô Thanh An: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch trên sư phụ, con xin kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng, con xin kính bạch trên chư tôn thiền đức Ni cùng quý sư cô và tất cả đại chúng. Kính bạch sư phụ, vừa qua con được lắng nghe sư phụ trùng tuyên lại những lời Đức Phật dạy là bốn dòng thác lũ. Sau khi được nghe con thực hành thiền quán về sự hiện hữu trong thực tại, bản thân con luôn luôn và lúc nào cũng nhận thấy sự hiện hữu trong bản thân con, con thấy có những lúc con buông bỏ được sự ham thích, sự khoái lạc, chẳng hạn như một ngọn gió lại rồi từ đó con cũng hạn chế được.

Từ ngày con lên đây thì sau khi con nghe sư phụ giảng về tâm hiền và tâm từ thì con cũng ít nhiều tập được tâm hiền, ngày trước khi con thấy một việc gì hay là một lời nói của bất cứ vị đạo hữu nào trong đạo tràng, khi con nghe là tự nhiên trong cái cảm thọ của con cũng có nhiều cái bức xúc, có khi con nói ra liền nhưng từ ngày lên đây con nhìn thấy tất cả mọi vị cũng như chư Tăng và quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả đại chúng luôn luôn thanh tịnh, hiền từ, con cũng phải tập quán chiếu lại là mình phải cần nhẹ nhàng hơn, nói nhỏ, đi nhẹ, tất cả mọi hành động cử chỉ con đều phải tập. Con cũng mở lòng ra giống như hồi đó con thấy kiến thì con cũng bực bội lắm, muỗi cũng vậy nhưng mà từ khi lên đây muỗi rất nhiều nên con cũng phải lo giăng mùng sớm, con vào mùng thì con đọc một vài bài kinh nào đó để cho thuộc, con nghiền ngẫm cho con nhớ lại để sáng con lên đọc kinh cùng đại chúng thì con cũng không còn thấy muỗi làm phiền mình nữa. Đó là những gì con suy nghĩ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Vậy là tốt, cô nhớ tập tác ý, tập như lý tác ý, nghe kỹ mấy bài như lý tác ý hôm nay mời các vị sư cô mới đi Mời sư

Sư cô Gia Tỉnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cơ và đại chúng. Từ lúc lên đây thì con cũng có thay đổi nhiều thứ lắm, con là từ nhỏ đến lớn rất sợ con vật, con kiến, con muỗi, con ruồi, con sâu, con rất là sạch sẽ nhưng mà vì con muốn học kinh Nikāya này nên con đến Linh Quy, con chịu ở cái chỗ có nhiều thứ như vậy. Con thấy như vậy là cái khổ thân của con vì khi người ta ngồi trên đám cỏ người ta vui vẻ nhưng con không có được vui, con sợ lắm. Con sợ con sâu, con sợ con này con kia, tâm con không có ổn, khi con ngủ ở trong phòng thì con thấy nước ẩm rồi ngủ dưới đất con cũng sợ lắm, nhưng mà con nhìn qua con thấy cô Hiền Hằng nằm tuốt ở trong đó mà không có nệm thành ra con thấy mình có cái chỗ tốt hơn cô Hằng nên con không lo sợ nữa.

Con thấy những con vật, con cũng bắt chước với cô ở đây là trải tâm từ, con trải tâm từ với lại các con vật ở đây, con đặt tên con quy y cho nó, con rất là sợ con cóc nhưng con đứng quy y cho nó, con đặt tên cho nó là Diệu Thương, con sâu con đặt tên cho nó là Diệu Hiền. Ở Linh Quy mọi người dùng phương pháp trải tâm từ và ai cũng hiền lành, nên tâm cũng mỗi ngày một hiền lành hơn đối với các con vật mà con thường sợ trước đây.

Sư Phụ: Vậy là tốt rồi, như vậy là cũng cả một sự chiến đấu để ở được núi rừng. Các thầy, các cô, các bậc hiền trí bằng tình thương, bằng từ tâm nhớ chăm sóc, giúp đỡ cho các vị mới. Còn các vị sư cô nào mới về nữa không ạ? Các vị mới từ xa về đây cũng phải chiến đấu rất nhiều, kham nhẫn, thành ra trong chúng mình có từ tâm để các vị có thể ở được, tu học.

Sư cô: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Qua buổi chiều ngày hôm nay được sư phụ giảng về cái khổ của 4 ách là dục ách, hữu ách, kiến chấp và vô minh, khi mới học được hai cái dục ách và hữu ách là lúc đó ý hành của con đã khởi lên là mới được học 2 cái này thôi mà con đã thấy rất là khó với con. Nhưng mà cái hạnh phúc nhất là nói về hiện hữu hữu ách đó, những cái gì mình có mà mình bị mất, mình yêu thích mà mình bị mất thì mình rất là đau khổ. Nhưng mà cái hạnh phúc nhất là con cũng đã từng bị mất rồi nên khi mà cái đó là cái mà con yêu thích nhất, con nâng niu và con nghĩ rằng không bao giờ mất như một ngày nào đó thì nó cũng mất. Lúc đó con rất là đau khổ và buồn nhưng mà qua một thời gian tu tập thì con nghĩ rằng con lại hạnh phúc, hạnh phúc rất là nhiều, không có cái đó con được sống theo lý tưởng của mình, được làm những gì mình thích và sống đúng với con người của mình.

Nhờ cái đó sau này con lớn lên con mạnh mẽ hơn, sau này gặp những chướng ngại như vậy con cũng có thể tự mình đứng dậy được. Ngày xưa con rất thích ở gần những người lớn tuổi, họ hay chia sẻ kinh nghiệm của họ trong cuộc sống, sau này khi con lớn tuổi rồi con mới hiểu thịnh suy ở trong cuộc đời lúc nào cũng có, con phải có những cái đó thì con mới lớn hơn được. Lúc đó con nói sao quý thầy, quý Ni sư nói gì khổ vậy, bây giờ thì con đã hiểu rồi, còn khi đến đây đến tận bây giờ thì tâm trạng của con thấy ở đây là một môi trường rất là tốt. Buổi sáng nay khi mà sư phụ chia sẻ về khuyến tấn đại chúng tu tập thì lúc đó là cái hạnh phúc và ý hành của con nhớ đến sư phụ của con, sư phụ con rất là khó, lúc nào cũng bắt đại chúng tu tập, nhiều lúc chúng con nói ép chúng con riết chắc thành mỡ luôn nhưng khi đến đây được sư phụ cũng rất muốn cho đại chúng tu tập, cái đó là cái mà con thấy hạnh phúc nhất, ở môi trường mà có được một vị thầy dạy mình đúng chánh pháp, tạo mọi điều kiện cho mình tu tập và có một đại chúng sống đúng chánh pháp như vậy thì rất là hạnh phúc, nên lúc đó ý hành có khởi lên chắc con sẽ xin ở đây luôn.

Khi lên đây giờ thì được sống với đại chúng, ở đây ai cũng mở lòng thương, có tâm từ rất là lớn nên con cũng học được rất là nhiều, dạ con chỉ biết bao nhiêu đó thôi ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Rất là tốt, vậy là rất tốt.

Phật tử: Con kính thưa sư phụ, con hiểu là ngài Xá-lợi-phất là ngài thoát khỏi tham, sân, si, dục ái hết rồi, ngài là một vị tướng quân của Thế Tôn, tâm ngài hiền, ai chửi gì ngài cũng im lặng.

Sư Phụ: Con có muốn học theo ngài không?

Phật tử: Dạ có.

Sư Phụ: Con muốn học như thế nào?

Phật tử: Dạ con muốn học theo ngài vì tâm ngài hiền và ngài tốt bụng.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Dạ con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí

Sư Phụ: Niệm an tịnh, lắng dịu, hít sâu vô, an tịnh thở nhẹ ra, lắng dịu, dễ chịu.

Phật tử 2: Con xin kính bạch sư phụ, hồi lúc con có thọ bát ở chùa Hoằng Pháp, lúc đó con thấy sư phụ bước vô giảng đường là cái tâm con cảm nhận được là sư phụ có một cái rất là từ tâm, con cảm nhận được cái năng lượng đó, nó rất là từ tâm và từ bi.

Sư Phụ: Cứ để cho cảm giác tuôn trào ra đừng có ngăn lại, đây là những giọt nước mắt rất quý báu trong vòng sinh tử luân hồi này, giọt nước mắt này là những giọt nước mắt của giác ngộ, có hạnh phúc sẽ gội rửa thân tâm của cô được trong sạch, thanh tịnh, thanh cao, cao thượng.

Phật tử 2: Tự nhiên con nói không được, dạ con xin kính thưa sư phụ là như nãy giờ sư phụ có giảng bốn cái khổ ách, con xin nguyện là con sẽ vứt bỏ bốn cái khổ ách đó, vứt bỏ và quăng bỏ nó con sẽ không luyến tiếc nuối. Con xin sư phụ khi nào có khóa xuất gia gieo duyên cho con xin được xuất gia gieo duyên, con biết hoàn cảnh con đủ thứ ràng buộc hết, con giống như một con chó bị trói trong cái cột, có bài phải kinh Phật nói con chó bị cột và chạy vòng vòng quanh cây cột. Nhờ ân đức của sư phụ, oai lực của sư phụ cho con được tu tập giải thoát trong đời này và kiếp này. Con xin cảm ơn sư phụ, dạ con xin đảnh lễ sư phụ, xin cho con gái con cũng được đảnh lễ sư phụ. Dạ, Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Cô có cảm thọ được phát ra vậy rất là tốt, cô cố gắng thường xuyên nghe pháp, sắp tới đây ngày 14 tháng 6 âm lịch sẽ có khóa tu xuất gia giao duyên 2 tuần, cô cố gắng sắp xếp về tu. Tất cả chúng ta đều bị nhiều sợi dây trói cột lắm, mà cái đau nhất là mình không biết mình đang bị trói, chỉ có Đức Phật mới chỉ cho mình biết chỉ có tâm từ này mới có thể xoa dịu, mới có thể làm cho trái tim của mình được mát mẻ, được ngọt ngào vì mình đã chịu đựng quá khổ đau trong vòng luân hồi này, mình gặp không biết bao nhiêu là tai nạn, vì lòng tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngả. Vì tâm hơn thua, ganh tị, đố kỵ, chúng sanh làm khổ cho nhau, hành hạ lẫn nhau, thậm chí là những người thân với nhau vì vô minh, vì si mê, vì cái tôi làm đau khổ cho nhau cho nên chúng ta cố gắng tu tập tâm hiền, tâm từ này mới có thể làm xoa dịu bớt khổ đau cho mình và cho người. Tu tập tâm từ thật nhiều, thật là sâu dày, thật là rộng lớn, thật là dạt dào, thật là ngọt ngào, thật là rộng lớn thì chúng ta mới bớt khổ được, chúng ta mới giảm khổ được, mới hết khổ được, chúng ta mới có thể đem lại niềm vui cho nhau được, chỉ có tâm từ trọn lành của ba đời chư Phật truyền trao.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.