Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NGHIỆP VÀ QUẢ BÁO 13

2026-03-03 00:56:22
NGHIỆP VÀ QUẢ BÁO 13

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kinh “Vỏ ốc” PAGEREF _Toc124085498 \h 1

1.Đức Phật bác bỏ tà kiến của ngoại đạo PAGEREF _Toc124085499 \h 1

2.Đức Phật giáo hóa Thôn trưởng PAGEREF _Toc124085500 \h 4

II.Từ bỏ ác nghiệp PAGEREF _Toc124085501 \h 9

III.Thực tập bốn tâm vô lượng PAGEREF _Toc124085502 \h 14

Kinh “Vỏ ốc”

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu chuyên đề về nghiệp trong kinh tạng Nikāya để tìm đáp án cho câu hỏi “Có phải ai phạm giới cũng đều sanh vào địa ngục hay không” qua bài kinh “Vỏ ốc”, Tương Ưng Bộ Kinh tập IV.

Đức Phật bác bỏ tà kiến của ngoại đạo

Khi đó Thế Tôn ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba. Có một vị thôn trưởng là đệ tử của Nigantha Nàtaputta thuộc phái Ni-kiền-tử đi đến Thế Tôn (Ni-kiền-tử là phái Lõa Thể, những người này tu không mặc quần áo, đạo này từ thời Đức Phật đến nay vẫn còn tồn tại ở Ấn Độ). Khi vị thôn trưởng đến Đức Thế Tôn hỏi:

- Này thôn trưởng, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp như thế nào cho chúng đệ tử?

- Bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho chúng đệ tử như sau: “Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy”. Như vậy, bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho các đệ tử.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Thầy của vị thôn trưởng – ông Nigantha Nàtaputta dạy rằng “phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy” tức là một người sống nhiều theo chiều hướng nào thì đời sau của họ sẽ sanh theo chiều hướng đó. Sau khi nghe vị thầy của đạo Lõa Thể thuyết pháp như vậy, Đức Thế Tôn mới nói như sau:

- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.

Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy sát hại sanh mạng, hay thời vị ấy không sát hại sanh mạng?

- Bạch Thế Tôn, có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, là thời vị ấy sát hại sanh mạng. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sát hại sanh mạng.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Đức Phật hỏi thôn trưởng rằng, thời gian một người sát sanh so với thời gian họ không sát sanh thì thời gian nào nhiều hơn? Lẽ tất nhiên, thời gian một người sát sanh, trộm cắp, tà dâm hay nói láo sẽ rất ngắn so với thời gian cả cuộc đời họ. Một người có thể nói láo khoảng năm, mười câu chứ không thể nói dối cả ngày, cho nên thời gian nói láo rất ít so với tất cả thời gian còn lại. Cũng vậy, thời gian giết chúng sanh ít hơn thời gian không sát sanh; thời gian trộm cắp ít hơn thời gian không trộm cắp; thời gian sống tà hạnh trong các dục ít hơn thời gian sống không tà hạnh…

Tuy nhiên, ông Nigantha Nàtaputta lại dạy rằng ai sống tối đa với thời gian nào thì khi chết sẽ tương thích theo chiều hướng đó, nói như vậy đồng nghĩa với việc không ai bị đọa vào địa ngục. Bởi lẽ, thời gian phạm giới rất ngắn, không phải lúc nào cũng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo… Vì vậy, khi Phật hỏi thời gian nào là nhiều hơn, ông thôn trưởng trả lời thời gian phạm giới ít hơn thời gian sống bình thường, đều đều. Sau đó Đức Phật mới nói tiếp rằng:

- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.

Ở đây, này Thôn trưởng, có vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: "Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục". Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo sư ấy.

Vị ấy suy nghĩ: “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sát hại sanh mạng tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có sát hại một sanh mạng. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục như vậy.

“Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có lấy của không cho. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục.” Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy.

“Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta sống theo tà hạnh trong các dục. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy.

“Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta nói láo. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Đức Phật nói rằng nếu các vị đệ tử đặt lòng tin, nghe theo lời thầy của đạo Lõa Thể rằng “ai sát hại sanh mạng, lấy của không cho, tà dâm, nói láo tất cả đều phải sanh vào đọa xứ địa ngục” thì người đệ tử sẽ chấp trước vào tà kiến ấy, chấp vào lời nói ấy. Nếu không đoạn tận, không chấm dứt được nhìn nhận sai lầm đó; không đoạn tận được tâm suy nghĩ đó; không từ bỏ được tà kiến đó thì vị ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục. Đức Phật lặp lại điều này rất nhiều lần.

Đức Phật giáo hóa Thôn trưởng

Sau đó, Đức Phật dạy rằng:

Ở đây, này Thôn trưởng, Như Lai sanh ra ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; Như Lai dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: “Chớ có sát sanh”; chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: “Chớ có lấy của không cho”; chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục và nói: “Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục”; chỉ trích, công kích nói láo và nói: “Chớ có nói láo”. Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy tư như sau:

“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: ‘Chớ có sát sanh”. Nay ta có sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên (sutthu), như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa'”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: ‘Chớ có lấy của không cho”. Nay ta có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

"Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục.."..

"Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói láo.."

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Đức Phật tuyên bố rằng Như Lai sanh ra ở đời là bậc xứng đáng được cúng dường (Ứng Cúng); là bậc thấy biết cùng khắp sự thật (Chánh Biến Tri); là bậc có đầy đủ đức hạnh và trí tuệ (Minh Hạnh Túc); là bậc khéo vượt qua bốn bộc lưu (Thiện Thệ); là bậc thông hiểu tất cả thế gian (Thế Gian Giải); là bậc cao tột không còn ai hơn (Vô Thượng Sĩ); là bậc có thể điều phục, chế ngự, bẻ gãy tất cả những người cứng cỏi, ương ngạnh ở trên đời (Điều Ngự Trượng Phu); là bậc thầy của Trời Người (Thiên Nhơn Sư); là đấng giác ngộ (Phật); là bậc tôn quý ở trên đời (Thế Tôn).

Ngài dùng nhiều phương tiện, cách thức, lời nói, hình ảnh ví dụ để chỉ trích, công kích sát sanh và dạy rằng không được sát sanh; chỉ trích, công kích trộm cắp và dạy rằng không được lấy của không cho; chỉ trích, công kích tà hạnh trong các dục và dạy rằng không được tà hạnh trong các dục; chỉ trích, công kích nói láo và khuyên tất cả chúng sanh chớ có nói láo.

Người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào Như Lai, vị ấy nghĩ rằng: “Thế tôn đã dùng nhiều phương tiện để chỉ trích, công kích và Ngài khuyên chớ có sát sanh; chớ có trộm cắp, chớ có lấy của không cho; chớ có tà hạnh trong các dục, chớ có nói láo. Nay ta có sát hại như thế này hay như thế kia, có nói láo như vầy hoặc như khác… như vậy là không nên, như vậy là không tốt”.

Đoạn kinh trên có ý nghĩa rằng, Đức Như Lai là bậc giác ngộ cùng tột ở trên đời, bậc thầy của Trời và Người… Ngài dùng nhiều những lời nói, ngôn ngữ, ví dụ rầy la, quở trách để giúp chúng sanh hiểu được tai hại, nguy hiểm, tác hại, quả báo khủng khiếp trong địa ngục, quả chín mùi của ác nghiệp. Ngài chỉ trích, công kích, chê bai về mười điều ác. Khi nghe lời Đức Phật chỉ trích công kích, nghe lời Ngài tuyên thuyết về sự nguy hiểm, tác hại, tội lỗi, về những kết quả chín mùi của nghiệp dị thục thì đệ tử của Ngài hiểu theo như vậy. Sau đó họ tự nhìn nhận lại bản thân, thọ nhận lời khuyên của Phật, không nên làm những điều ác vì nó sẽ đưa đến đắng chát, chua cay, khổ đau, tội lỗi: “Nay ta có sát hại như thế này hay như thế kia, có nói láo như thế này hay như thế kia, như vậy là không nên, như vậy là không tốt, và do duyên ấy ta có thể hối hận ác nghiệp ta làm, nay ta sẽ không làm nữa”. Những vị đệ tử suy nghĩ rằng họ không nên sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tham sân si, ác nghiệp… vì như vậy là không nên, như vậy là không tốt; nếu làm những điều này thì họ sẽ hối hận vì ác nghiệp đã làm, vì vậy họ sẽ không làm nữa. Nhờ suy tư như vậy nên họ liền từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo…

Như vậy, đoạn đầu thôn trưởng thưa với Đức Phật rằng vị thầy bên đạo Lõa Thể khẳng định “ai sống tối đa theo thời gian nào, khi thọ sanh sẽ theo chiều hướng đã sống nhiều trong thời gian đó”. Ông ấy khẳng định lời mình nói đúng như vậy, không thay đổi, tuy nhiên Đức Thế Tôn đã chỉ ra chỗ sai lầm nghiêm trọng trong lời dạy ấy. Thay vào đó, Đức Phật chỉ trích, công kích nói lên sự nguy hiểm, tác hại, đau khổ, tai họa của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngài dùng nhiều ngôn ngữ, hình ảnh, ví dụ, phương pháp, cách thức, phương tiện đưa chúng ta thấy được một sự thật khổ đau trong ba đường ác bằng thiên nhãn, bằng Phật nhãn, bằng minh nhãn của Ngài. Ngài trình bày một cách rõ ràng, đầy đủ, chi tiết, cụ thể giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy người qua kẻ lại, người mặc áo xanh, người mặc áo vàng, người mặc áo đỏ, người mặc áo trắng.

Ví như hai nhà ở đối diện nhau, người trong nhà đi qua đi lại, làm cái gì cái gì cũng bị những người đứng chính giữa nhìn thấy. Đức Phật thấy tất cả chúng sanh do hạnh nghiệp xấu hay tốt, thiện hay ác rành rõ như những màu áo đen hay trắng, sau đó họ đi vào các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngài nêu ra nhân từng quả của các loài súc sanh; tâm như thế nào thì sanh thành con gì... Ví dụ tâm cong queo, tâm xảo trá, quỷ quyệt, lạng lách sẽ sanh ra làm con rắn, con lươn, con trùng. Do tâm không ngay thẳng nên sanh ra không đi ngay thẳng mà phải lạng lách như vậy, uốn lượn như vậy. Đối với các tâm vốn đã quanh co, xảo quyệt, gian trá cong queo lại thêm ác độc nữa thì sanh ra làm rắn độc. Đức Phật nói từng nhân từng quả của các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhờ nhận thức được nguy hiểm, tội lỗi, tác hại, khổ đau, biết những nghiệp ác đó là không nên, là không tốt, nếu làm sẽ hối hận với những ác nghiệp đó nên người đệ tử Phật liền từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ uống rượu. Và trong tương lai người ấy đình chỉ các ác nghiệp, như vậy ác nghiệp ấy được vượt qua.

Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Ðoạn tận tham, không có tham lam, đoạn tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân.

Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.

Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và, với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Phật ví dụ một người lực sĩ thổi tù và bằng con ốc, người lực sĩ cầm con ốc thổi lên rất dễ dàng, rất nhẹ nhàng, không mất công sức bao nhiêu hết nhưng âm vang đó vang dội khắp bốn phương trời. Cũng vậy, này Thôn trưởng tu tập từ tâm giải thoát, tu tập bi tâm, tu tập hỷ tâm, tu tập xả tâm giải thoát, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm việc làm có hạn lượng sẽ không còn dư tàn, không còn sót lại, không còn tồn tại. Tức là không còn sót lại bất cứ nghiệp gì; tất cả nghiệp đều được làm sạch bằng tứ vô lượng tâm – từ tâm giải thoát, bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát và xả tâm giải thoát.

Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:

- Thật là tuyệt vời thưa Thế Tôn, thật là vi diệu vô cùng bạch Đức Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Bạch Thé Tôn Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Vỏ Ốc)

Sau lời thuyết pháp của Đức Phật, thôn trưởng đổi đạo. Với từ lực của Đức Phật, bằng những lời nói chân chánh, chân lý, có một uy lực mạnh mẽ làm chuyển đổi tâm thức mê muội trở về với chánh kiến, trở về với sự thật, chánh tín, nhân quả.

Từ bỏ ác nghiệp

Vậy, bài kinh này có ý nghĩa như thế nào? Có phải ai phạm giới cũng đều sanh vào địa ngục hay không? Nếu đúng là như vậy thì tu để làm gì, nếu như vậy thì sám hối để làm gì? Nếu đúng là như vậy thì làm sao có cải tà quy chánh, chuyển mê khai ngộ, hồi đầu thị ngạn được? Nếu xấu chỉ mãi mãi là xấu, tội chỉ mãi mãi là tội, bị đọa thì chắc chắn phải đọa, không còn cách nào khác thì làm gì có sự tu? Trong khi tu là điều chỉnh, là sửa đổi, là chỉnh lý, là sửa chỉnh. Vì còn xấu, còn dở, còn tội nên chúng ta mới sửa cho thành tốt, thành hay, thành phước. Đây cũng là ý nghĩa của việc sám hối trong đạo tràng.

Bài kinh này là một thông điệp vĩ đại của Đức Thế Tôn, mở ra cho tất cả chúng ta những hy vọng, ước nguyện để hướng thượng, tăng thượng, thay đổi, làm mới lại chính mình. Nếu mình là một người xấu, một người có tội mà cứ mặc cảm với tội lỗi đó mãi thì làm sao tu được. Khi thấy mình đau khổ, ray rứt, nhức nhối trong tâm phải biết đó là trạo hối. “Trạo” là dao động, trạo cử; “hối” là hối hận nhưng sự hối hận này chính là động lực, sức mạnh để đưa mình bước lên những bước cao thượng, tăng thượng, hướng thượng, vì vậy sự hối hận này là tốt, là thiện pháp. Còn hối hận vì không muốn thay đổi, hối hận khiến cho mình tự ti, mặc cảm, chìm đắm trong những cảm giác tội lỗi để rồi buông trôi bạn thân thì hối hận đó là bất thiện pháp.

Đây là chỗ rất vi tế cần lưu ý. Cũng đều là hối hận nhưng sự hối hận để rồi tự ti, mặc cảm, để rồi buông xuôi, buông thả chính mình thì sự hối hận đó là bất thiện pháp, ác pháp; còn hối hận để mình nhìn lại quá khứ, hướng đến tương lai, từ đó có niềm tin mạnh mẽ vào pháp để tu tập, đó được gọi là tịnh tín bất động đối với pháp, tin rằng mình có thể thay đổi được khi tu tập đúng Chánh Pháp. Một khi đã tu theo Chánh Pháp thì không được suy nghĩ theo tà pháp, theo thường tình, phàm tình: “Tu thế này khó quá, chỉ có bậc Thánh mới tu được”. Nghĩ như vậy là không đúng, vì trước khi các Ngài là Thánh thì các ngài phải là phàm, hơn nữa, khi đã thành Thánh thì còn gì tu nữa? Cho nên, nếu cứ suy nghĩ “khó quá không tu được” là phi như lý tác ý, là suy nghĩ sai, đặt tâm không đúng hướng, khiến cho mình chịu không tu học, không thay đổi, không làm mới, không điều chỉnh, không chỉnh lý, không có một cuộc thay đổi lớn bên trong thân tâm chính mình.

Cánh cửa thay đổi vận mệnh, chuyển mê khai ngộ, hồi đầu thị ngạn, siêu phàm nhập thánh đã được mở ra chính là bài kinh này. Khi thấy được đâu là nghiệp ác, chúng ta ý thức được đó là dở, là sai, là có lỗi, là có tội, là khổ đau, là bất an, là tai họa… nếu tạo những ác nghiệp đó sẽ phải hối hận về sau nên không làm nữa, nhờ suy nghĩ như vậy mà từ bỏ được những điều xấu ác ấy.

Qua đó, chúng ta thấy thật đúng như lời Đức Phật dạy: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, mình phải biết vận dụng những định lý này để nhiếp phục những ác, bất thiện pháp. Khi bắt đầu tác ý, lúc đầu chúng ta sẽ nghe những bậc chân, nhân chánh kiến để tác ý theo lời nói của những vị ấy, sau đó mình ghi nhớ và tự nhắc lại. Chẳng những chúng ta nhắc lại câu kinh đó, lời nói đó mà còn phải chiêm nghiệm, suy tư, nghiền ngẫm trong nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ của lời nói. Bởi lẽ, hai nhân làm sanh khởi chánh kiến, thành tựu sự thấy đúng của bậc Thánh là nghe Chánh Pháp và Như lý tác ý. Như lý tác ý là sự tác động tâm ý đúng với sự thật, điều này đòi hỏi phải có nhiều sự để tâm, phải nhìn, phải nghe, phải suy tư, phải quán xét nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh của pháp đó.

Ví dụ, sát sanh có rất nhiều tai hại, tác hại, nguy hiểm. Nhờ thấy sát sanh có quá nhiều tác hại, nguy hiểm, đẩy mình vào trong tội lỗi nên mình sẽ chán ngán, lo sợ; suy nghĩ cái này là không nên, cái này là không tốt, chẳng những không tốt cho trong giây phút hiện, cho trong giây phút tương lai, mà còn không tốt cho những đời sau nữa. Không chỉ tạo ác nghiệp cho tương lai mà sức khỏe hiện tại cũng bị ảnh hưởng khi ăn những thứ máu huyết. Hơn nữa, có khi mình còn cắt cổ, nhổ lông, thọt huyết các loài vật, khiến chúng sanh ra những cảm thọ hận thù, những chất độc tố cũng sanh khởi ra từ sự giết hại, từ tâm sân hận, từ sự uất ức, tức tưởi, mạng chung như vậy. Chưa kể đến bây giờ người ta nuôi bằng hóa chất, thức ăn để nuôi những con vật không còn tự nhiên như ngày xưa, cá cũng ăn bằng những thức ăn hóa chất; heo, gà, vịt cũng nuôi bằng hóa chất. Kể cả con người cũng ăn thực phẩm toàn hóa chất huống gì là con vật. Thức ăn giờ không đủ tươi sống để cung cấp nữa, phần nhiều là thực phẩm đầy chất bảo quản, hóa chất, thuốc độc. Khi quan sát thấy những những nguy hiểm, tác hại, nhân quả, nghiệp báo của việc sát sanh này, lúc đó mình thấy sát sanh là không nên, là tội lỗi, là không tốt, là ác nghiệp, sẽ làm cho ta hối hận về sau. Nhờ suy tư như vậy nên chúng ta từ bỏ sát sanh.

Cho nên, Giáo Pháp của Đức Thế Tôn tuyệt vời, vi diệu, tối thượng, thực tế, cụ thể, rõ ràng, không có gì mờ ám, xa vời! Không phải lạy Phật xin Ngài ban cho con ăn chay là được, đó chỉ là sự cầu nguyện để mình mạnh mẽ lên thôi. Vấn đề ở đây là ý thức được nguy hiểm, tác hại, tội lỗi, ác nghiệp, tác hại của việc sát sanh nên mới từ bỏ. Qua đó, chúng ta được thấy giáo pháp của Phật hết sức là nhân quả, hết sức là logic, hết sức cụ thể thiết thực, hiện tại, rõ ràng, minh bạch thực tế, thực tiễn. Không có một vấn đề nào viễn vông, mê tín, xa vời.

Đối với trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, nói những lời phù phiếm cũng vậy, chúng ta hãy liệt kê ra hàng trăm sự tai hại của những ác nghiệp đó rồi quán chiếu, cúi lạy những tai hại đó. Đồng thời phát nguyện sám hối những tai hại đó mỗi ngày để ghi nhớ, rồi thẩm thấu, rồi lo lắng, sợ hãi trước những ác nghiệp và cuối cùng là từ bỏ. Thế Tôn nói ra từng giai đoạn để hướng đến sự từ bỏ: suy tư, sợ hãi, giảm bớt từ từ và đình chỉ các ác nghiệp. Nghĩa là phải có từng giai đoạn, chứ không phải một cái rụp là cắt bỏ rồi ăn chay trường liền được, trường hợp này tuy vẫn có nhưng rất hiếm. Cũng vậy, không phải cắt cái rụp là một người không còn nói dối, mà người ấy giảm bớt từ từ, cuối cùng mới đình chỉ, dừng lại. Như vậy ác nghiệp ấy được vượt qua.

Bài kinh này mang đến cho chúng ta sự thấy đúng, nghĩ đúng để mình nỗ lực cố gắng trong tu tập, cuối cùng sẽ đạt được thành công, đây cũng là Tám đúng trong Bát Chánh Đạo. Cụ thể là sau khi nhận thức được sự thật của vấn đề, mình sẽ suy nghĩ về điều đó để luôn luôn nhắc nhở mình cố gắng, nỗ lực, siêng năng, tập trung tâm ý, quán xét vấn đề và cuối cùng  thành tựu, tức là từ bỏ được những điều ác. Như vậy, ác nghiệp đó được vượt qua.

Chúng ta hãy ghi nhớ câu này: “nay ta có sát hại như thế này hay như thế kia, ta có trộm cắp như thế này hay như thế kia, ta có tà dâm, ta có nói láo như thế này hay như thế kia, như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận ác nghiệp ta làm. Nay ta sẽ không làm nữa. Người ấy do suy tư như vậy liền từ bỏ sát sanh, do suy tư như vậy liền từ bỏ trộm cắp cắp, do suy tư nhiều như vậy liền từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu. Bỏ những tham lam, sân hận, tà kiến, nhìn nhận sai lầm thì người ấy đình chỉ mười điều ác ấy, như vậy ác nghiệp ấy được vượt qua.” 

Tuy nói gọn như vậy nhưng chúng ta phải tu tập trong từng phần từng phần. Còn nặng về cái gì thì tập trung tất cả tâm lực, nguyện lực, chí lực, công lực, thần lực, dốc toàn lực của mình để mình nhiếp phục chế ngự cái đó. Phải viết ra, phải đọc tụng, phải lễ lạy, phải sám hối, phải phát nguyện mỗi ngày. Phải nhắc nhở mình thường xuyên liên tục.

Ví dụ mình hay nói nhiều, hay nói chuyện thị phi, hay nói chuyện của người này người kia, mình phải nhắc tâm mình “im lặng, lặng im, an tịnh, lắng dịu”, “cái miệng này là cái miệng thúi”. Mỗi khi muốn nói chuyện thị phi, phải quấy thì mình nói “miệng thúi”, nói ra tiếng luôn cũng được. Đức Thế Tôn nói người sinh ra ở đời búa để trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác. Cho nên mình phải nhắc hoài, phải luôn luôn canh chừng, dòm ngó, quản lý, quản thúc, phòng ngừa cái miệng của mình. Chúng ta phải đề phòng, phòng hộ, bảo vệ, canh chừng để nhắc nhở nó. Phải viết ra những tai họa của khẩu nghiệp.

Khi xem tin tức, thấy những tai họa, những tai nạn liên hệ đến ác nghiệp thì mình để dành, lâu lâu mở ra xem để tự nhắc nhở mình, lấy đó làm chủ đề thiền quán, đề mục tu hành. Khi mở mạng lên thấy tin tức về ngoại tình cạo tóc lẫn nhau, lột đồ nhau, tạt axit vào mặt trở thành quái nhân, dị nhân thì mình để dành, cứ mỗi ngày lấy ra xem vài lần để nhắc nhở mình tai hại của sự tà dâm, tà hạnh trong các dục. Hậu quả của ác nghiệp này vô cùng đau khổ ngay trong hiện tại và tương lai, có thể bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Viết ra tất cả những thứ tai hại và tác hại của nó rồi mình nhắc nhở, lạy sám hối hối rồi phát nguyện từ nay về sau từ bỏ. Cứ thực tập như vậy chắc chắn sẽ đạt được kết quả nhưng phải để tâm vào đó thật nhiều.

Tại sao chúng ta luôn để tâm vào kiếm tiền nhiều mà không để tâm vào sự tu? Tại sao chúng ta luôn để tâm vào vấn đề làm đẹp, dành rất nhiều thời gian cho vấn đề làm đẹp thể xác, mà lại không dành nhiều thời gian cho làm đẹp tâm hồn? Tại sao chúng ta dùng rất nhiều thời gian để nấu nướng chiên xào, ăn uống mà mình lại lãng quên nội tâm suy dinh dưỡng, tiều tụy, nghèo nàn của mình? Tại sao chúng ta dùng rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc của mình để thiết kế kiến trúc cho ngôi nhà được đẹp đẽ, mỹ lệ nhưng lại không dành thời gian để thẩm mỹ lại nội tâm của mình cho được trong sáng, sạch đẹp?

Chúng ta thấy không, thân và tâm giống như cái cân bị nghiêng lệch, không cân bằng, một cái trên trời một cái dưới đất. Cho nên giờ chúng ta nghe pháp, giờ chúng ta tu học là giờ chúng ta quay trở lại kiến trúc tâm linh, uống thuốc bổ tinh thần, làm cho tâm của mình giàu có, sung mãn, sung túc. Phải cố gắng trở thành một người tỷ phú tâm linh trong Phật giáo, chứ đừng làm kẻ ăn mày trong đạo Phật. Có người trải qua năm năm, mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, ba mươi năm ở trong chùa để tu tập, công quả mà ai đụng vào một cái là phùng mang, trợn mắt, sừng sộ, phẫn nộ, sân si, bản ngã chình ình. Họ nói gì cũng hay, thậm chí nói thao thao bất tuyệt về sự tu tập nhưng đụng vào một cái là tham, sân, si, bản ngã rầm rầm. Đi chùa ba mươi năm, bốn mươi năm, tu suốt cả đời chỉ được một đống tham, sân, si, bản ngã. Thật sự hết sức đau khổ, tội nghiệp và đáng thương!

Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn nhắc nhở chính mình: “Tâm ơi là tâm, ta tội nghiệp mi quá, tâm ơi mi đáng thương quá. Tâm mê ơi là tâm mê, tâm mê này đáng thương, đáng tội nghiệp dữ lắm, mi mới là kẻ đáng thương nhất hành tinh đó tâm ơi”. Mỗi lần sanh khởi hơn thua, ganh đua thì hãy sỉ vả vào mặt nó: “Hãy nhìn vào gương đi, xem cái mặt giống ai, nhìn coi mặt giống ai giống la sát hay giống Bồ tát. Hãy tự nhìn mình xem có giống người tu không?”. Chúng ta phải sử dụng phương pháp như lý tác ý thật nhuần nhuyễn, thuần thục, điêu luyện, thiện xảo, công phu thì mới thấy sự tuyệt diệu của Đức Phật. Chuyển mê khai ngộ; phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật; hồi đầu thị ngạn; siêu phàm nhập thánh… chính là trong chỗ như lý tác ý này. Hãy cố gắng điều chỉnh, chấn chỉnh, chỉnh lý, sửa chỉnh, tu chỉnh trong sáu căn ba nghiệp của mình, trong những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình.

Thực tập bốn tâm vô lượng

Những lời dạy của Đức Phật hết sức bình dị, không văn chương hoa mỹ nhưng lại là chân lý siêu việt: “do đoạn tận sát sanh người ấy trở thành người không sát sanh”, tức là khi dứt sát sanh thì người ấy trở thành người không sát sanh. Tương tự, khi chấm dứt lấy của không cho người ấy trở thành người không còn trộm cắp; chấm dứt sống tà hạnh trong các dục thì người ấy trở thành người sống không tà hạnh trong các dục; đoạn tận nói láo thì người ấy trở thành người không nói láo, từ bỏ nói láo.

Khi vị đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si thì vị ấy trở thành đệ tử của bậc Thánh. Chữ “Thánh” ở đây chỉ cho Đức Thế Tôn. Trong kinh Nikāya dùng từ Thánh đệ tử để chỉ đệ tử của bậc Thánh đã từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si. Đức Phật nhấn mạnh chữ “từ bỏ” rất nhiều lần, vì vậy, là người đệ tử Phật, là Thánh đệ tử chúng ta phải từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm tỉnh giác với tâm hòa lẫn với tình thương cùng khắp một phương. “Tâm câu hữu với từ” tức là tâm hòa lẫn với tình thương cùng khắp mười phương, cùng khắp vô biên giới. Người ấy an trú biến mãn với tâm hòa chung với tình thương, tâm từ bi quảng đại vô biên không hận không sân.

Trước hết phải xót thương tận cùng đối với chính mình. Xót thương mình bị chìm đắm trong vô minh, bản ngã, tham sân si, hơn thua, khờ dại. Sau đó chúng ta trải tâm xót thương ấy đến với những người thân thương nhất trong gia đình như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái... Họ cũng giống như mình, tất cả đều là nạn nhân của tham sân si, bản ngã, hơn thua. Họ cũng đau khổ, họ cũng đầy dòng nước mắt giống như mình. Cho nên, hãy tập trải tâm xót thương đến chính mình và trải tâm xót thương đến những người thân thương nhất trong gia đình. Dần dần trải tâm xót thương đó đến những người ăn xin, nghèo khổ, rồi đến người dưng kẻ lạ vì họ cũng đầy tham sân si, bản ngã, vô minh, đau khổ. Sau cùng, trải tâm xót thương đến những đối tượng mình ghét, mình giận, thấy tội nghiệp họ và hiểu rằng mình giận thì mình đau khổ, họ sân họ cũng khổ đau; cả hai cùng đau khổ, đều là những kẻ ngu si, mê muội, vô minh nên hãy thấu hiểu nỗi khổ của mình và người sân hận kia, từ đó thông cảm và tha thứ cho nhau. Trải lòng bi mẫn xót thương đến cho họ, tự thấy thương mình vô cùng và thương người sân hận với mình vô cùng, khi đó không còn giận nữa mà chỉ có một sự xót thương thôi. Chúng ta cố gắng tập dần dần sẽ được, không có việc gì khó, để tâm thực tập chắc chắn đạt được kết quả.

Nhờ vậy mà lòng từ, lòng bi của mình sẽ cùng khắp phương trước mặt, phương bên phải, phương bên trái, phương phía sau, trên dưới, bề dọc, bề ngang… Cùng khắp tất cả vô biên giới mười phương là tâm bi mẫn xót thương của mình. Cùng khắp tất nhân sinh vạn loại trên hành tinh này đều là những nạn nhân của tham sân si, bản ngã, vô minh, dục ái. Thế nên hãy trải tâm bi mẫn, xót thương của mình khắp hành tinh vô lượng chúng sanh hữu tình này, trùm trái đất này. Chúng ta ôm cả địa cầu vào trong trái tim của mình bằng một tấm lòng xót thương, bi mẫn.

Đối với tâm hoan hỷ thì chúng ta tác ý vui thích, hạnh phúc, sung sướng vì được học Chánh Pháp của Thế Tôn. Chúng ta khoan khoái, dâng trào,hân hoan, hỷ lạc vì được nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy được những cảm thọ tham sân si, nhìn thấy được bản ngã và đang nhiếp phục, chế ngự nó. Chúng ta sung sướng, vui mừng, phấn khởi, làm cho thân tâm hoan hỷ, thấm nhuần từ đảnh tóc cho đến gót chân. Đồng thời mong muốn sự hoan hỷ này, sự hạnh phúc này cũng được lan tỏa đến những người thân thương trong gia đình. Sau cùng cầu mong tất cả chúng sanh trên toàn thế giới đều được pháp hỷ sung mãn giống như mình đang có. Đó là chúng ta trải hỷ vô lượng tâm.

Sau cùng là thực tập tâm buông xả, vì tất cả những cảm thọ là vô thường, có sanh ắt có diệt, cái gì hiện hữu rồi cũng tiêu tan, cho nên, cần trú vào tâm buông xả nhẹ nhàng. Hãy cố gắng tu tập tâm buông xả rộng lớn vô lượng vô biên cùng khắp mười phương. Dù có bao nhiêu công trạng, công lao, công đức cũng đều tập tâm buông xả. Tập không kể công, không khoe công, không chấp công ngay cả với công tu hành của mình. Công phụng sự cho mọi người cũng đều phải buông bỏ ngay lập tức. Nhờ vậy, tâm của mình sẽ trở nên rộng lớn, mênh mông, bao la, vô tận, thênh thang, thảnh thơi.

Một người tu tập bốn tâm vô lượng được như vậy thì phàm nghiệp làm có hạn lượng ở đây sẽ không còn dư tàn, ở đây sẽ không còn tồn tại. Sau khi tu tâm xả, viên mãn bốn tâm vô lượng thì tất cả các ác nghiệp không còn sót lại, chấm dứt tất cả những ác nghiệp.

./.