Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 14- Dục Hỉ và Căn Bản Của Khổ

2026-03-03 00:52:33
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 14

Dục Hỉ Là Căn Bản Của Khổ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Căn bản của khổ PAGEREF _Toc141972212 \h 1

II. Từ bỏ tham ái đối với cảm thọ PAGEREF _Toc141972213 \h 4

III. Ái làm tâm dao động – khổ ưu khởi lên PAGEREF _Toc141972214 \h 8

I. Căn bản của khổ

Kính thưa đại chúng hôm nay chúng ta đến phần IX. Nguyên nhân sinh khởi ra dục hỉ. Kinh pháp môn căn bản (Trung Bộ Kinh, bài kinh số 1)

“Này các Tỳ kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến tự ngã đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến tự ngã như là địa đại, không nghĩ địa đại là của ta, không dục hỉ địa đại, vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng dục hỉ là căn bản của khổ đau. Từ hữu sanh khởi lên và già, và chết đến với loài sinh vật. Do vậy này các Tỳ kheo ta nói Như Lai với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái đã chơn chánh giác ngộ vô thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với thuỷ đại, hoả đại, phong đại. Đối với Niết-bàn Như Lai cũng thắng tri như vậy”

(Trung Bộ Kinh, Tập 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản, Đấng Như Lai-I).

Thắng tri địa đại là địa đại là sao? Như Lai không có nghĩ đến địa đại, không nghĩ đên tự ngã đối chiếu với địa đại, không nghĩ địa đại là của ta. Không dục hỉ địa đại. Thắng tri là biết thấu triệt, biết một cách rốt ráo, biết một cách tận tường, toàn vẹn đối với địa đại. Chữ này rất là sâu sắc. Thế nào gọi là thắng tri, thế nào địa đại là địa đại?

Người mà có tu tập pháp thiền quán thì người đó nhìn cái cây, nhìn cái chuông, nhìn cái bàn hay nhìn một con người đối diện, ta nhìn đó ta biết đó là địa đại, đó là đất. Không có đem cái tự ngã đối chiếu với địa đại, tức là không thấy có một cái tôi, cái ta, cái bản ngã nào phản ảnh, đối chiếu lại với nhìn bóng, hình sắc này hết. Người đó biết một cách sát huyết rằng đó là đất, là địa đại. Người đó biết rõ rằng địa đại này không phải là ta, không phải là của ta, như vậy gọi là thắng tri. Còn mình không có thắng tri địa đại cho nên mình dục hỉ đối địa đại. Dục là muốn, hỉ là mình ưa thích, vui thích.

Cho nên chỉ cần kẻ vô văn phàm phu không có tu tập trí huệ quán chiếu thì nhìn là khen đẹp, đó là dục hỉ với địa đại. Đẹp không chưa đủ mà phải tìm nó loại gì, nó ở đâu, nó giống nhập hay là giống nội, đó là dục hỉ với địa đại. Còn người có tu thiền quán và thấy rõ địa đại là địa đại gọi là thắng tri. Đây là đất, nước, gió, lửa. Nhìn đây là đất, nước, gió, lửa hết là sắc uẩn hết, không hơn không kém thì cái đó là thắng tri. Còn bây giờ là mình nhớ người đó là quen với mình còn người kia là không quen, người này là tốt với mình còn người kia là ghét là đó không phải là thắng tri địa đại, đó là nhìn bằng tưởng tri, bằng thức tri.

Cho nên làm sao để mình nhìn tất cả mọi hình sắc trên cuộc đời này, mình biết nó đều là đất, nước, gió, lửa, nói rộng là tứ đại. Nhìn đâu mình cũng thấy đất, nước, gió, lửa không hơn không kém, muốn thấy như vậy thì dễ hay khó? Là cả một công phu, hành trì, tu tập và quán chiếu không phải là chuyện đơn giản. Giờ mình tập từ từ cho quen, tập quán chiếu là tứ đại, tập nhìn tất cả chỉ là sắc do tứ đại tạo thành. Không có đối chiếu cái tự ngã với địa đại.

Đối chiếu tự ngã với địa đại là sao? Cái mặt tôi nó đẹp hơn cái mặt của chị kia, cái xe của tôi tốt hơn của sư muội kia, cái chùa của tôi lớn hơn chùa của cô kia, bàn tay tôi trắng hơn bàn tay của cô kia, đó là đối chiếu. Không nghĩ rằng địa đại là ta là của ta, địa đại là địa đại, đất là đất, lửa là lửa, gió là gió, nước là nước. Mình thấy không? Chỉ cần quả địa đại hơi mạnh hơn một chút ở phía ngoài là ngoại hoả đại là mình khó ăn, khó ngủ, khó học rồi, khó tu rồi. Rồi cái ngoại hoả đại tác động vô nội hoả đại. Nóng lên là cảm thọ của mình nó khác, cảm giác của mình nó khác. Mình luôn luôn nhìn bằng tứ đại, tháo gỡ các suy nghĩ, các nhận định sai lầm về tự ngã.

Ví dụ như hôm nay mình cần thấy hôm nay mình lên 3kg thì mình nói "địa đại hôm nay nó tăng trưởng quá". Chứ mình đừng nói "tôi được lên 3kg", mình nói "tôi được lên 3kg" đó là vô mình. Mình phải rằng "cái địa đại mà tôi đang mang đây bữa nay lên tới 3-4 kí rồi", đó là người có trí huệ có học pháp. Mình nói "tôi bữa nay lên 4 kí" là rõ ràng dính mắc hết, cho nên mình phải tập sử dụng ngôn ngữ cho đúng pháp. Cái ngôn ngữ thấy vậy nhưng rất quan trọng, tại vì trong lời nói của mình là từ trong ý hành phát khởi ra.

Mà suy nghĩ gọi là chánh tư duy thì nó phát ra chánh ngữ, suy nghĩ theo vô minh, tà kiến, chấp thủ thì nó sẽ phát ra theo chiều của nó. Cho nên mình leo lên cái cân mà mình thấy địa đại sụt xuống hết 4 kí lô, là sự tăng hay giảm của địa đại. Thì như vậy chuyện tăng hay giảm của địa đại thì có gì đâu mà mình buồn, đâu có gì đâu mà mừng, đâu phải lên kí là mừng hay giảm hết 4 kí rồi "ốm quá, xấu rồi" buồn xuống thì như vậy là mình không có thắng tri địa đại. Mọi người có thấy thực tế không?

Đối với mọi cái, đối với mọi thứ là mình tập nhìn bằng tứ đại hết. Ví dụ mình có món đồ đó là mình thích thú lắm. Mình để đó nhìn ngắm mà hôm nay có người bưng đi rồi thì mình nói "nó chỉ là cục đất, có người bưng đi rồi thì không sao hết, tứ đại đó người ta bưng giùm là khoẻ, nó không phải là của tôi mà là tứ đại, cái đó không phải là đồ của tôi". Mình nói "đồ đó là đồ của tôi", cái đó là vô minh, mình không thắng tri được tứ đại.

Đức Phật ví dụ Này các tỳ kheo giống như có người họ lấy nhánh cây, lấy những cành cây, lấy những cành cây họ chặt ra, họ bẻ rồi xong họ đốt. Thì các ông có suy nghĩ rằng những người đó chặt tôi, bẻ tôi, đốt tôi không.

Bạch Thế Tôn: Dạ không có.

Đức Phật nói: Cũng vậy. Các ông hãy quán cái thân này, tứ đại này giống như những cành cây, lá cây, nhánh cây vậy đó. Dù cho người ta có làm gì mình, mình cũng quán là tứ đại, mình không quán đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi thì mình không có khổ.

Vậy người đó chặt cành cây, bẻ những cành cây, rồi bẻ những lá cây cũng như vậy đó. Thì các ông đâu có nghĩ người đó chặt tôi, bẻ tôi, đốt tôi đâu. Hãy quán cái thân này giống như vậy, nó chỉ là tứ đại. Cho nên có ai khen tứ đại, bình phẩm, chỉ trích tứ đại đừng có nhận là tôi là của tôi, nó là ngũ uẩn thôi, vậy là giải thoái. Còn cái kia mà mình bám cứng vô rồi, mình chấp chặt vô, mình chấp thủ vô rồi. Cho nên ai nói là mình nhạy bén lắm, rất là sắc sảo ở trong chấp thủ và chấp ngã. Mình không bén nhậy ở trong tuệ quán, mà mình lại bén nhậy ở trong cái vô minh, tham ái và chấp thủ.

Cho nên cái đó là chỗ đặt tâm sai hướng. Đặt tâm sai hướng thì không có kết quả. Như Lai biết rằng tại sao không dục hỉ với địa đại vì Như Lai biết rằng dục hỉ là căn bản của khổ đau. Mấy câu này phải học thuộc lòng. Từ hữu sanh khởi lên và chết đến với các loài sinh vật, dục hỉ là căn bản của khổ đau. Sự ham muốn ưa thích là căn bản của khổ đau, cái này mình đã học từ đầu đến giờ rồi, này là dùng từ khác thôi.

Trong tâm mình có sự thúc giục mà thúc giục đối với tham, đối với sân, đối với si, những thúc dục đó là căn bản của khổ đau, là gốc rễ của đau khổ. Khi mình nhìn cảm giác của mình thường trực mà mình thấy những gì thúc giục ở bên trong mà nó thúc giục mà nó thuộc về tham, nó thuộc về sân, nó thuộc về tật đố bản ngã mà nó thúc giục ở bên trong thì mình biết đây là gốc rễ của đau khổ. Nó đang ngự trị, nó đang có mặt đây, nó đang xâm chiếm mình đây. Mình phải thấy được cái gốc rễ đó, để mình đào xới cái gốc rễ, để mình đào bứng nó lên. Đốt cho nó thành tro bụi, thả nó xuống dòng nước.

II. Từ bỏ tham ái đối với cảm thọ

Hỉ là hoan hỉ. Đức Phật dạy ở trong bài kinh giới phân biệt. Tất cả các cảm thọ, tất cả các cảm giác không phải là đối tượng để mình hoan hỉ. Hãy nhìn tất cả cảm giác, cảm giác vui sướng hay cảm giác bực bội, khó chịu hay là cảm giác không vui không khổ thì tất cả các cảm giác đó không phải là đối tượng để mình hoan hỉ. Mình hoan hỉ cái đó, nó là gốc rễ của khổ đau. Cho nên những đối tượng nào mà khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn hãy coi chừng, đây là gốc rễ của khổ đau. Một khi mình tham đắm dính mắc, mình khoan khoái thích thú trói buộc ở trong đó thì mình sẽ đau khổ. Khả hỉ là đáng vui, đáng thích, đáng yêu. Khả ý là vừa lòng. Liên hệ đến dục hấp dẫn những cái sắc, thanh, hương, vị, súc đó, những cái hình bóng đó, những cái nghĩ tưởng đó, những cái nhận thức đó là gốc rễ của khổ đau.

Từ hữu sanh khởi lên, từ những lậu hoặc, từ những tâm mê sanh khởi lên. Từ đó già chết đến với những loại sinh vật. Từ chỗ dục hỉ, từ chỗ đam mê ở trong đó thì hình thành ra sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não tiếp diễn không có dừng nghĩ được. Ta nói Như Lai với sự đoạn trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Trung Bộ Kinh, Tập 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản, Đấng Như Lai-II).

Như Lai là vị diệt trừ hoàn toàn các cái ái đó, tất cả mọi sự ưa thích, yêu thích là diệt trừ hoàn toàn. Không còn cái ưa thích trong tứ đại nữa, tức là Đức Như Lai hay những vị A-la-hán hay những vị thành đã tựu thánh trí thì đối với toàn bộ sắc pháp, sắc uẩn trên cuộc đời này không có một cái gì mà làm cho các ngài ưa thích, ham muốn, khoang khoái ở trong đó nữa hết đó mới gọi là Như Lai. Sự diệt trừ hoàn toàn tất cả các ái, sự ly tham lìa hết ham muốn, sự đoạn diệt, đoạn dứt, xả ly, lìa bỏ, từ bỏ, sự từ bỏ hoàn toàn.

Từ bỏ mà từ bỏ hoàn toàn, từ bỏ đến năm uẩn thì còn gì nữa mà không hoàn toàn vì năm uẩn là trùm hết nhân sinh vũ trụ rồi. Thành ra nhiều khi mình nhìn thấy họ từ bỏ hết vậy đó mà họ từ bỏ ở ngoài hình thức thôi, còn ở trong nội tâm của họ, những cảm giác họ không từ bỏ được, những cái tưởng họ không từ bỏ được, những cái suy nghĩ họ không từ bỏ được, cái thức ở bên trong họ không từ bỏ được. Cho nên những cái thiền đó là phàm phu thiền không phải là cái thiền của bậc đa văn thánh đệ tử. Thiền mà trí huệ toàn diện là phải thánh trí năm uẩn còn bằng không chỉ một phần của sắc uẩn thôi.

Cho nên có những người trú vào thiền họ thích lắm, họ không muốn ra họ muốn ở trong đó hoài, không muốn tiếp xúc với ai hết. Tiếp xúc là động tâm, muốn trú vào cái an tịnh thì cái đó là cảm thọ an tịnh, lắng dịu và bị đắm vào trong cái thọ đó mà không biết cái thọ đó là vô thường. Thành ra cái này thâm sâu, thật sự là rất thâm sâu cho nên lúc Đức Thế Tôn mới thành đạo ngài không muốn thuyết pháp vì cái này là cái trí huệ soi thủng hết tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức và hoàn toàn từ bỏ năm uẩn này để đi ra khỏi rồi chấm dứt luân hồi sanh tử. Tức là không còn cái gì ở bên trong này để các ngài yêu thích nữa hết, ái luyến nữa hết.

Ví dụ mình còn thích những món ăn đó là đoàn thực. Mình còn thích nhất định mình sẽ chết và đầu thai rồi đi kiếm ăn nữa, cho nên mình không giải thoát được. Cho nên bậc tu là đoạn tứ thực, quán chiếu lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với thức ăn. Khi ăn thì cái ngài luôn luôn nhìn sâu vào cảm giác xem nó có thúc giục không, có khoang khoái không, có ham muốn trong cái ăn này không. Nếu mình thực tập sẽ thấy hay lắm, đầy rẫy những cái tham ái trong khi mình ăn, đó là cái tu rất là sâu. Thời Đức Phật là các Tỳ kheo là tu như vậy đó.

Cho nên còn một cái mà mình yêu thích thì mình không giải thoát được, chắc chắn mình sẽ trở lại và không biết mình trở lại với hình thức nào. Có khi trở lại thì cái đầu có hai cái sừng, có lúc thì mỏ nó dài ra, có lúc trở lại với một tấm thân hàng tấn, có khi trở lại tấm thân một chút xíu mà tất cả những cái đó là hình thức của ngũ uẩn. Nó bị dục, bị ái, bị tham, bị vô minh, chấp thủ đẩy mình vô, sức mạnh của nghiệp đẩy mình đi mà mình không làm chủ được, nó theo dục ái, cái tham đó mà đi. Đừng nói chi cái thân này, trong thân này biết bao nhiêu chúng sanh và ngũ uẩn trong đây, hai ba chục con lãi trong đó.

Có nhiều người họ gắp những con trong lỗ tai ra, những con trong lỗ mũi ra mà chưa kể vi trùng đó. Cho nên mình đừng có tưởng cái thân này là tôi, đó là không có, làm gì có cái tôi và của tôi. Nhiều khi mình đi đại tiện còn có con gì ở trong đó nữa, rồi con dòi ở trong người mình nữa. Coi bài Nghiệp Quả Đáng Sợ sẽ thấy cái chân mà dòi đầy trong đó. Trong cơ thể mình đầy rẫy vi trùng trong đó hết. Nhiều khi con kiến bò trên tay mình, mình đâu có biết mà đó là một ngũ uẩn. Trên thân con chó có những con rệp và rất nhiều con khác trên thân con chó, nó ăn, nó cắn trên đó.

Thành ra những hình thức ngũ uẩn là vô lượng, vô biên mà mình không thấy, không biết mà những cái đó là dục hỉ. Từ hữu sanh khởi lên và khi chết đi đến các loài sanh vật cho nên sự từ bỏ hoàn toàn các ái đã chơn chánh giác ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Cho nên Minh Thành nhắc sự tu là quý huynh đệ phải nhìn xuyên suốt trong cảm giác, nhận thức của mình, nó ái ở chỗ nào mình phải quán chiếu rồi phá nó ở trong cái năm uẩn, phá cho đến lúc nào nó hoàn toàn ly tham không còn ái nữa là lúc đó tu thành công. Không nói cái cao siêu, chỉ nói cái ăn, cái mặc, cái chỗ ở của mình, những cái đó là những cái sanh ra lỗi lầm của người xuất gia, ở trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói rất là rõ.

Cái y phục, cái chỗ ngủ nghĩ, chỗ ở, thuốc men trị bệnh những cái đó là cái người xuất gia dễ bị ái, dễ bị nhiễm, dễ bị lỗi lầm. Phải cẩn thận khi ăn, lúc uống, cẩn thận khi ngủ, khi mặc, khi sinh hoạt và mình coi kỹ cảm giác của mình đi đâu mà về tới phòng thì lúc đó cái ái có sanh không, quăng cái nải xuống thở cái khì, "khỏe quá, về tới nhà rồi, đây là phòng của tôi, chùa của tôi đó" là ái đó rồi chết xong làm ma ngay chùa đó. Hoà thượng Lược Sư kể câu chuyện rất xúc động, có một thầy đã lớn tuổi, xây chùa vừa xong thì bệnh nặng, sắp chết. Thầy đi không nổi nhưng cũng ráng chống gậy đi rờ từng cây cột. Hết sức nguy hiểm vì đó là ái. Làm sao mà giải thoát được.

Cho nên có một vị thầy nói với Minh Thành, Minh Thành nổi da gà. Thầy thấy hai ba mươi năm sau có một chú tiểu nào đó lại đây xin ở hoài mà không chịu đi thì biết đó nha. Đó hết sức là nguy hiểm. Nếu mình tạo dựng một ngôi chùa mà mình luyến ái, mình dính mắc vào trong đó thì mình sẽ trở lại ngôi chùa đó mà không biết hình thức nào, có thể là chó giữ chùa cũng có, chứ không phải giỡn, nó khủng khiếp lắm.

Cho nên hãy nhớ rằng dục hỉ là căn bản cho tất cả khổ. Sự yêu thích, sự khoang khoái, sự thích thú, sự rành buộc dù cho bất cứ cái gì mình sẽ đi vào luân hồi. Phải nhìn thấy được cái bản chất của tứ đại, diệt trừ hoàn toàn các cái ái. Sự ly tham, sự đoạn diệt, sự từ bỏ hoàn toàn tất cả các cái ái đó là sự giác ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai. Đó là giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác chứ mình đi tìm ở đâu? Tức là nhìn thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã. Thấy sự nguy hiểm, tác hại của ái đi ra khỏi nó thì đó là giác ngộ, đó là giải thoát.

Cho nên ngày xưa không có ngủ dưới gốc cây quá 3-4 đêm. Tại vì ngủ ở đó là "gốc cây này gốc cây của tôi người khác lại là không được, cái này gốc cây của tôi dành trước, tôi xí trước". Cái tâm ái thủ của mình khủng khiếp không? Bỏ nhà vô chùa mới 3 tháng mà "chùa của mình, sư phụ ơi đây là chùa của mình mà, phải làm đẹp lên". Nó bỏ cái này là nó bắt cái kia đó là trạng thái vô minh, tham ái và chấp thủ mà mình không nhìn ra được cái trạng thái, cái tâm mê. Nó giống con khỉ chuyền cành này qua cành kia mà cành nào nó cũng nắm chặt hết không có buông ra.

III. Ái làm tâm dao động – khổ ưu khởi lên

Ái Làm Tâm Dao Động, Khổ Ưu khởi lên.

Ai có tham luyến thời có dao động. (Kinh Channa – Tương IV, 99)

Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:

Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn. Sau khi ngồi, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Channa:

Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng.

Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất (Xá-lợi-phất), tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.

Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa.

Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỳ kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Xá-lợi-phất, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.

Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.

Hãy hỏi đi, Hiền giả Xá-lợi-phất, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.

Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi" ?

Này Hiền giả Xá-lợi-phất, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi" ?

Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Trong tai... Trong mũi... Trong lưỡi... Trong thân.. Thưa Hiền giả... Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán tất cả các pháp: sáu căn, sáu trần, sáu thức…không phải là tôi, không phải của tôi vì tôi biết nó là thứ đoạn diệt pháp, cái thứ bại hoại, tan nát, cho nên tôi nhìn nó không phải là của tôi.

Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:

Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: "Ai còn tham luyến, thời có dao động. Ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp, thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ"

(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, Phần 2. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV.Phẩm Channa, IV.Channa).

Mình còn tham muốn luyến ái với cái gì thì tâm mình còn dao động đối với đó, đối với cái mình còn tham muốn mình còn dao dộng. Ví dụ mình ngồi ở chỗ đó là 1000 người, mình không để tâm tới ai thì không có luyến ái ai hết. Có 1 người chỉ ra người này là người xấu, tội lỗi, ăn trộm, nhục nhã, huỷ nhục người đó thậm tệ thì mình thấy thấy mình thường. Nhưng khi mình dẫn theo một người rất thân quen và thương mến mà người ta chỉ người này là người ăn cướp thì mình có giao động không? Tại sao vậy? Vì người này là người thân, người thương, đó là luyến ái. Ai còn luyến ái thì người đó còn giao động.

Còn 1000 người kia mình không luyến ái với ai hết cho nên mình không có dao động. Ai bị xử chung thân hay gì đó mình cũng ngồi không phản ứng, chỉ nghe vậy thôi. Đó là ví dụ thô nhất bên ngoài, còn sâu thẳm trong nội tâm mình còn luyến ái còn giao động, còn tham muốn là còn giao động mà người nào hết tham luyến là người đó không giao động, là bất động tâm giải thoát. Mà ai không giao động thì được khinh an, nhẹ nhàng cho nên mình để ý nói cái bình thường gần gần cho dễ hiểu, người mà không dao động thì cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách nằm rất là an tịnh.

Cho nên trong kinh Khen Ngợi Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp đưa đến chỗ an tịnh. Khinh an này là trong thất giác chi, bảy chi phần của giác ngộ mà người muốn giác ngộ mà không có cái này là không được. Phải có chi phần của giác ngộ, khinh an, nhẹ nhàng. Nhiều khi có người đi mà tấm thân phình phịch đi như thùng phi chuyển động, cái đó là không khinh an, chứng tỏ bên trong trì trệ lắm, trầm trọng lắm. Người đi có thiền hành, người ta thiền trong bước đi nó bình an lắm, nó khinh an.

Ai mà được khinh an là không bị thiên chấp. Tâm kinh an, nhẹ nhàng nó không có chấp mà hễ chấp là nó nặng nó nghiêng, nghiêng rồi nó bám vô một cái gọi là thiên chấp. Mình nặng về cái gì đó là thiên chấp vào cái đó, nặng về dục, nặng về sân, nặng về bản ngã, nặng về đó kị, ganh tỵ nặng về cái gì là cái tâm mình nghiêng về chiều đó. Cho nên hể nói tới cái gì về người đó là có chuyện. Có nhiều người nói "tôi không có nói tới ai hết, đừng ai nói tới tôi ", cái này có thiên chấp không? Nghe hay nhưng đó là chấp ngã nặng, "tôi không muốn nói tới ai, tôi không muốn chơi với ai, đừng ai nói tới tôi".

Cho nên ai được khinh an thời người đó không thiên chấp, mà ai không thiên chấp thì không có đến và đi. Bởi vì không còn ái nữa, không còn tham nữa thì đến đâu? Tại vì mình còn tham, còn ái, còn dục thì mình mới đi kiếm, đi tìm giờ hết rồi thì đi tìm gì nữa? Thì đâu có đến đi.

Ví dụ ngồi bình an dưới cây hay là tĩnh lặng một mình. Hỏi giờ cô có muốn ăn không? Nói không. Cô có buồn ngủ không? Nói không. Cô có muốn đi du lịch không? Nói không. Cô có muốn gì không? Nói không. Vậy không có đến đi đâu hết, ngồi đây bình an ở đây. Còn mình muốn ăn là phải chạy đi, muốn ngủ là phải chạy đi, muốn gì là phải chạy đi, giờ không có muốn gì hết thì như vậy không có đến và không có đi. Tâm giải thoát ly tham rồi thì như vậy đó, nó không còn tìm kiếm một cái gì nữa hết cho nên nó không có giao động. Còn bây giờ nó tìm kiếm hoài, bên trong còn muốn.

Ai không có đến và đi thì không có diệt và sanh. Ví dụ bây giờ bất thình lình Minh Thành ngất té xuống rồi đứt gân máu chết. Hoặc một ly nước dừa được bưng lên mình quán là trong đây có thuốc độc mình uống vô mình ngã ra chết. Tức là mình luôn luôn lúc nào mình nghĩ cái chết có thể đến bởi bất cứ cái gì, mọi hình thức nó sẽ đến với mình bất cứ lúc nào.

Cái gì đến với mình, mình nghĩ trường hợp đó có thể đưa đến tử vong. Phải sợ hãi tử vong này như té xuống hay đứt gân máu chết hay đột quỵ ngã xuống chết mà lúc đó mình còn, còn ái thì nhất định mình sẽ tìm một cái thân nữa. Mà Minh Thành nói với quý huynh đệ rồi là Đức Phật nói là gì? Là mình có ưa thích có con mắt này không?

Khi mình ngắm trong gương mình thấy con mắt của tôi, lỗ tai của tôi, lỗ mũi của tôi, cái miệng của tôi, cái tay cái chân của tôi mà mình yêu thích cái này thì khi chết mình đi tìm cái thân giống như vậy nữa nếu mình có thiện pháp. Mình còn yêu thích cái sống, mình còn yêu thích sự hiện hữu của dục, tham, ái thì khi nhắm mắt mình sẽ tương ứng với cái nghiệp nó đẩy mình tạo ra hình dáng ngũ uẩn tiếp tục cho nên còn có sanh diệt, còn đến đi, còn dao động.

Còn những vị tu đã hoàn toàn ly dục, ly ái, ly tham, hoàn toàn quán tới từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt thì người đó khi nhắm mắt họ đâu còn đi kiếm cái nào nữa thì lúc đó tâm giải thoát, tuệ giải thoát ra khỏi năm uẩn, cái đó gọi là chấm dứt luân hồi. Nó không còn tái tạo những cái thân vô thường, bất tịnh, khổ đau, dục, tham, ái, bản ngã, vô minh nữa cái đó gọi là ra khỏi luân hồi sanh tử.

Tức là hoàn toàn đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý, đối với sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu súc, sáu ái, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, đối với tất cả trong ngoài, trên dưới không còn yêu thích với bất cứ cái gì hết. Tại vì thấy nó và vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Người này quán nhàm chán ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt thì sau khi người này nhắm mắt chết rồi thì vượt ra ngoài năm uẩn, không còn tái sanh nữa cho nên gọi là sanh đã tận, phạm hạnh đã thành việc cần làm đã làm và không còn trở lui trạng thái này nữa (Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương I.Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Đại Phẩm Thứ Bảy).

Mình tu là tới đó. Còn trạng thái này là trạng thái dục tham, chấp thủ đối với năm uẩn, đối với năm uẩn là mình chấp thủ, chấp cứng vào trong đây. Bây giờ mình ngồi lại thì những hình ảnh hiện ra, những sắc tưởng trong nội tâm mình hiện ra, những hình bóng mình tiếp xúc với những ai hiện ra, mình ngồi một mình là mình cười một mình. Cái đó là mình yêu thích ở trong những sắc tưởng ở quá khứ. Ngồi một mình là nghĩ tháng sau, năm sau hay là 2-3 năm sau mình trở thành gì, hình ảnh của mình ra làm sao rồi mình ngồi mình thích, mình khoái rồi mình cười một mình đó là sắc tưởng của vị lai. Còn người tu là phải quán tất cả sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần (Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V.Tự Mình Làm Hòn Đảo, VI.Các Uẩn), thì tất cả các sắc đó là vô thường, là khổ, là vô ngã. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi như vậy gọi là thắng tri sắc. Đó là phép quán.

Cho nên mình học mình phải biết được hết dù cho mình chưa hành được nhưng mình phải biết nó như vậy rồi tới lúc nào mình cần thực hành mình biết được mình thực hành rồi mình hướng dẫn đúng. Trước giờ mình nghĩ đơn giản mình nghĩ tu là tụng rồi thở mấy hơi phồng xẹp rồi hồi nó xẹp luôn, quẹo cổ qua một bên rồi xuống. Tu xong trở ra rồi ngơ ngơ, ngáo ngáo. Tại vì đó là cái ngồi trong vô minh, tất cả các pháp diễn ra trong nội tâm mình không biết rồi mình ra nói chuyện Tề Thiên, Tây Vương Mẫu, rồi đi lên vườn thượng quyển hái bàn đào.

Cho nên biết bao nhiêu người ngồi thiền rồi Tôn Ngộ Không nhập tùm lum hết, thiền kiểu đó. Thiền mà không khéo người ta kêu thiền đăng, biết không? Cho nên mình phải nắm được, nắm vững. Sẽ có người nói "thầy nói khó vậy ta sao mình làm được ta", phải dẹp suy nghĩ này qua một bên. Tại vì mình đang học là mình phải tiếp thu, phải hiểu, phải biết, phải thông đạt rồi chừng nào tu được bao nhiêu thì tu. Ví dụ mình "biết chừng nào tới Mỹ thôi đừng học, đừghỏi gì tới Mỹ, đừng nói gì tới Mỹ hết, biết chừng nào tôi đi được" thì người đó chừng nào đi tới Mỹ? Người ta nói mình cứ nghe, cứ tìm hiểu khi nào có dịp biết đâu có cái duyên, sao biết được trong cuộc đời này. Thì sự tu học phải sâu sắc, mạnh mẽ, thành tựu chánh tri kiến.

Ai không có diệt, không có sanh thì không có đời này đời sau, không có giữa hai đời. Dòng luân hồi chấm dứt, đoạn tận dòng luân hồi khổ đau.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?

Có phải trước mặt Ông, này Xá-lợi-phất, Tỳ kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?

Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.

Này Xá-lợi-phất, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Xá-lợi-phất, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Xá-lợi-phất, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ kheo Channa thời không vậy. Tỳ kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.

(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, Phần 2. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV.Phẩm Channa, IV.Channa).

Câu này quan trọng ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, ta nói là có lỗi. Tức là bỏ thân này mà muốn kiếm thêm một thân mới thì người ấy có lỗi. Còn vị Channa này là từ bỏ thân này thành tựu thánh trí, thánh quả A-la-hán.

Thành ra chỗ này cho chúng ta học một điều gì? Đang bệnh nặng gần chết mà các vị tôn giả đến thăm ngài nói chuyện, ngài ví dụ, thấy bao nhiêu cái ví dụ không? Mình lúc gần chết nằm đó mình nói được mấy cái ví dụ không? Nói ví dụ mà mình thấy là 5-6 cái ví dụ mà thần trí của ngài phải tỉnh táo, sáng suốt, chánh niệm mới nói được như vậy.

Rồi các vị thánh giả A-la-hán nhắc nhở, giáo giới đó là hộ niệm. Nhưng mà vị này đã thành tựu chánh trí rồi cho nên không cần hộ niệm mà chỉ nhắc câu Đức Phật dạy là kiểm soát trí huệ của vị này. Để mình thấy điều gì ở đây? Khi chết cảm giác rất là khủng khiếp, mình đừng tưởng đâu mai mốt mình chết là mình nằm trên giường rồi mình đi di chúc rồi mình đi.

Đọc bài kinh Niệm Tử Đức Phật dạy mình quán bất cứ trường hợp nào thì cái chết cũng có thể xảy ra để mình tu tập. Con rắn cũng có thể làm cho mình chết, một cơn gió độc cũng thể làm cho mình chết, ăn vô mắc sặc cũng có thể chết đừng có tưởng đâu không thể chết. Ăn những thực phẩm rồi trúng độc cũng chết. Tự nhiên bệnh tim mệt thở không được cũng ngã ra chết, lên máy bay thì máy bay phải hạ cách khẩn cấp đi cấp cứu không là chết, thậm chí là chết trên máy bay, rồi đi sanh con chết.

Có trăm ngàn kiểu chết mà ngay lúc đó mình chết ở đâu, mình chết lúc nào mình có biết không? Cho nên ở đây đâu có ai bảo đảm thầy con bảy chục, hay tám chục, hay con một trăm tuổi mới chết. Thì mình phải trang bị cho mình sự tu tập, quán chiếu Tứ Niệm Xứ, chánh niệm mỗi lúc mỗi nơi để diệt tận tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ. Bất cứ mọi lúc, mọi nơi phải trang bị cho mình một trí huệ sắc bén, tinh tấn, tin cần, tin cần giới, dõng mãnh giới, tinh tấn lực, trượng phu cần dõng. Thành ra trong tứ đại, ngũ uẩn này không có cái gì là chắc chắn và bảo đảm hết. Cho nên nhiều bữa Minh Thành gắp đồ ăn tới miệng mà rớt xuống, ngay chỗ đó cái là ngộ, mình gắp tới miệng mà sắp vô rồi mà nó còn rớt xuống. Cho nên mình chưa vô thánh quả thì chưa có gì chắc chắn.

Ta hưởng an ổn lạc,
Phàm phu chưa hưởng được.
Tỳ kheo, chớ tự tin
Khi lậu hoặc chưa diệt

(Kinh Pháp Cú, Phẩm An Lạc)

./.