Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hộ Trì Căn - Duyên Sanh Pháp

2026-03-03 00:56:22
HỘ TRÌ CĂN- DUYÊN SANH PHÁP

Thích Minh Thành

 Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì các căn. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII) Không Thể Rơi Xuống)

Người tu phải có sự giữ gìn và bảo vệ khi nhìn, một người có hộ trì căn sẽ khác với người không có hộ trì căn. Tại sao mình mang kính, mang giày. Vì mình muốn bảo vệ thân thể. Vì sao phải đội nón bảo hiểm? Để bảo vệ cái đầu, hai người bị tai nạn giao thông, một người có đội nón và một người không đội nón sẽ khác nhau rất nhiều. Khi đi nắng nhiều mà có kính mát thì sẽ bảo vệ mắt mình… tất cả những cái đó để bảo hộ, hộ trì, đó là sự bảo hộ bên ngoài. Đức Phật dạy mình bảo hộ, hộ trì, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khi con mắt người tu nhìn thấy sắc, sắc ở đây không phân biệt riêng đối tượng nào mà là tất cả sắc thì không được nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Như thế nào là nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng? Tướng chung là tổng thể, tướng riêng là nhìn từng chi tiết, bộ phận. Ví dụ nhìn cả cây kiểng là tướng chung, tướng riêng là nhìn kĩ từng cành, từng dáng uốn lượn của cây. Con người cũng vậy, nhìn tổng quát một người là tướng chung, để ý từng bộ phận mắt, mũi, tay là tướng riêng. Khi nhìn nắm giữ tướng chung thì tham ái hoặc là ưu bi sanh khởi lên, nếu là đối tượng đó đẹp, khả ý, khả ái, khả hỷ, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn sẽ làm cho mình sanh khởi lên dục tham ái, ham muốn, ưa thích. Đây là duyên sanh pháp của mắt: Do duyên có mắt và sắc của người đó, khi con mắt tiếp xúc với sắc đó khởi lên sự rõ biết về sắc đó. Ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo thành sự tiếp xúc của con mắt (nhãn xúc) lập tức sanh khởi lên cảm giác, có cảm giác sẽ có ái và thủ, nghĩa là khi tiếp xúc sẽ sanh ra cảm giác, khi có cảm giác sẽ ưa thích, mà ưa thích thì sẽ nắm giữ, nắm giữ thì sẽ có dục tham và mình sẽ đau khổ với điều này. Những nguyên nhân làm con mắt không được chế ngự khiến cho tham ái, ưu bi sanh khởi lên thì Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, không cho nhìn nữa, vì thế sự tiếp xúc là cực kì quan trọng trong việc tu học. Thời xưa Thái tử Tất-đạt-đa tu trong rừng sâu vắng người, chúng ta học trong tạng kinh sẽ thấy thời gian Thái tử tu hạnh độc cư khi thấy bóng người sẽ chạy từ núi này qua núi nọ.

Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta. (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Trong thời gian ngài độc cư không tiếp xúc với bất kì một ai, vì cái xúc này cực kì khủng khiếp, sự tiếp xúc này hết sức nguy hiểm. Ngay khi tiếp xúc sẽ lập tức sanh ra cảm thọ, ngay khi tiếp xúc lập tức sanh ra dục, ngay khi tiếp xúc lập tức sanh ra nghiệp, vô minh. Xúc sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp, đây là duyên sanh pháp của kinh Nikāya. Ngay khi đưa món ăn ngon vào lưỡi lập tức sanh cảm thọ, có cảm giác khoan khoái, thích thú, nhai cho lẹ để đưa tiếp thức ăn vào miệng, đó là sự thúc giục trong nội tâm, ngay khi tiếp xúc là ưa thích, khoan khoái, cái khoan khoái này muốn thêm nữa, đó là sự khác nhau giữa dục ái tham. Dục là một cảm giác thúc giục, tham là một cảm giác muốn thêm, ái là một cảm giác khoan khoái.

Không nắm giữ tướng chung là không để ý, không nhìn kĩ, không nhìn chằm chằm vào một đối tượng nào cả. Trong sự tu được Đức Phật dạy cực kì kĩ lưỡng, chúng ta không ngồi thiền được vì sáu căn luôn hướng ra ngoài, con mắt tiếp xúc với sắc, lỗ tai tiếp xúc âm thanh, lỗ mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với sự đụng chạm, mình không nhìn trở lại nội tâm, không quán chiếu thân thể, cảm thọ, trong tâm mình như thế nào, những pháp đang có mặt là thiện pháp hay bất thiện pháp đều không thấy nên trong tâm mình là một đống xà bần, một đống hỗn loạn, mình không thực hành chánh niệm, không quán thân – thọ – tâm – pháp, không thấy thân tâm, như thế là không giữ gìn căn môn, tức là con mắt là cánh cửa để sắc đi vào, cánh cửa mở toang, căn nhà mở toang ra ai muốn vào thì vào sẽ khác với căn nhà có khóa, muốn ai vào thì mời, không muốn thì khóa cửa lại. Sự hộ trì căn cũng giống như vậy, phải có sự giữ gìn.

Những nguyên nhân khiến tham hoặc sân sanh khởi thì phải chế ngự. Mình phải xem xét, quán chiếu, suy xét sâu sắc, nhìn sâu vào cảm thọ, cảm giác của bản thân. Khi nãy có một thầy hỏi vì sao con lại thực hành theo kinh Nikāya thì con xem lại nội tâm của con lúc đó có khó chịu không, nếu có khó chịu thì làm cho nó an tịnh, lắng dịu, trải tình thương đến thầy đó, con không để cho tâm sân hận, khó chịu khởi lên, đó là câu hỏi không thiện chí nhưng con không trách mà con xem lại cảm giác lúc đó có khó chịu không, nếu có thì lập tức đánh tan cảm giác đó và trải tâm từ đến người đang hỏi, đó là sự tu tập quán cảm thọ, vì vậy sự tu tập này rất hay, không nhìn ra ngoài mà quay trở lại nhìn tự thân mình, tất cả đều quay về tự thân. Khi tai nghe tiếng, không nắm giữ tướng chung, tướng riêng của âm thanh đó, những nguyên nhân gì sanh khởi ra tham sân si, ưu bi thì phải chế ngự những nguyên nhân ấy, không để nó sanh khởi lên, phải giữ tâm lắng dịu, bình thản, an tịnh.

Duyên sanh pháp của tai: Do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo ra sự tiếp xúc của lỗ tai (nhĩ xúc), khi lỗ tai tiếp xúc âm thanh lập tức sanh ra cảm thọ, nếu lời nói đó êm ái, ngọt ngào sanh ra tham, ái, thích và mình phải nhiếp phục cảm thọ tham, ái, thích đó, không để nó làm mất chánh niệm. Còn nếu có là lời nói chỉ trích, phỉ báng, thậm chí là mắng chửi thì phải xem trong cảm thọ có ác bất thiện pháp không, nếu có phải lập tức chế ngự, hóa giải cảm thọ đó. Đó là sự hộ trì nhĩ căn, giữ gìn lỗ tai khi nghe tiếng.

Do duyên có con mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc. Ba pháp này giao thoa tạo nên sự tiếp xúc của con mắt, gọi là nhãn xúc. Khi con mắt tiếp xúc lập tức sanh khởi cảm thọ, đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm giác sanh khởi sau khi con mắt tiếp xúc nhưng không dừng lại ở cảm thọ mà sau đó còn có sắc tưởng, sắc tư, sau khi tiếp xúc mà sắc đó đẹp, có cảm thọ thích thì khi trở về nhà hình bóng của sắc đó ám ảnh trong tâm gọi là sắc tưởng, suy nghĩ về nó là sắc tư. Khi tiếp xúc với một đối tượng đẹp mà mình thích thì hình bóng của đối tượng đó khởi lên trong tâm gọi là sắc tưởng, sắc tư là sự suy nghĩ về hình bóng đó sau khi tiếp xúc. Nếu tiếp xúc với người đó có cảm thọ khó chịu, bực bội, sân hận thì khi trở về hình bóng của người đó còn trong tâm gọi là sắc tưởng, suy nghĩ về hình bóng đó là sắc tư, nếu mình không đánh tan cảm thọ khó chịu này thì mình thọ nhận nó vào tâm, sau này gặp lại hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó sẽ trỗi dậy tạo nghiệp.

Do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của tai với âm thanh gọi là nhĩ xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh thọ ngay lập tức gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác đó sanh khởi từ sự tiếp xúc của lỗ tai, sau đó sẽ có thanh tưởng, thanh tư, tức là tiếng vang của âm thanh đó sẽ vang trở lại trong tâm mình, người ta đã nói rồi nhưng về ba ngày sau vẫn còn văng vẳng bên tai. Nếu mình thích âm thanh đó thì thanh tưởng hiện lên, thanh tư là suy nghĩ về câu nói đó, nếu câu nói này là ác bất thiện pháp sẽ nuôi lớn sân hận, nuôi lớn những cảm giác thù hận, bực bội và sau đó sẽ phát ra ngôn ngữ, khởi lên hành động nghịch chiều luân lý gây nên hậu quả của ác nghiệp cho hiện tại và tương lai.

Do duyên có lỗ mũi, có mùi, khởi lên sự rõ biết các mùi gọi là tỷ thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi gọi là tỷ xúc, khi tiếp xúc sanh ra thọ, đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra cảm thọ. Nếu đó là mùi khó chịu thì có cảm thọ sân, bực bội, sau đó là hương tưởng, hương tư, khi trở về nhớ lại mùi đó thấy sợ thì gọi là hương tưởng, suy nghĩ về mùi đó là hương tư.

Do duyên có cái lưỡi, có thức ăn, khởi lên sự rõ biết các vị. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi (thiệt xúc), ngay sau đó sanh khởi cảm giác mà mình không hề hay biết, Đức Phật gọi là vô minh vì mình không biết các pháp đang vận hành, giống như một công ty có từng bộ phận, cả một hệ thống vận hành mới tạo nên một dây chuyền hoàn hảo. Khi mình nổi sân lên cũng có cả một chuỗi duyên sanh pháp sanh khởi trong tâm mà mình không thấy gì hết thì gọi là si mê, ngu muội, còn khi thấy được từng pháp sanh khởi, biết được nguyên nhân làm tham sân si sanh khởi thì gọi là có tu tập, hộ trì, không biết gì thì gọi là vô minh, phàm phu không có hộ trì căn. Khi lưỡi tiếp xúc món ăn ngon sẽ thích là ái sanh khởi, trong tâm có sự thúc giục ăn nhiều, ăn nhanh là dục, tham. Nếu không nhiếp phục dục tham ái, không thấy sự vận hành của các cảm giác, cảm thọ sẽ ăn trong dục tham ái chứ không ăn trong chánh niệm, cảm thọ trong lưỡi xâm chiếm toàn bộ thân tâm, thậm chí làm rớt đũa muỗng, tay áo dính cả vào thức ăn vì lúc đó không có chánh niệm, không có Thân Hành Niệm nên bị cảm thọ đó áp đảo, lôi kéo. Sau khi ăn xong trở về sẽ có vị tưởng, vị tư, hình bóng của mùi vị đó khởi lại trong tâm, suy nghĩ về hương vị món ăn hôm nay được ăn hiện trở lại, nếu không tẩy sạch, chế ngự thì mình sẽ bị dính mắc trong vị này.

Trong cuộc sống hằng ngày tất cả pháp vận hành rất nhiều, tham sân si sanh khởi liên tục, trong cảm giác dễ chịu lúc nào cũng có tham, trong cảm giác khó chịu lúc nào cũng có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu lúc nào cũng có si tùy miên, gọi là tham tùy miên trong lạc thọ, sân tùy miên trong khổ thọ và si tùy miên trong bất khổ bất lạc thọ, như vậy tham sân si trú ẩn trong ba loại cảm giác mà mình không nhìn thấy, không quán chiếu, không đánh gục, không diệt tận cho nên học tu hoài mà tham sân si không giảm thiểu, thậm chí bản ngã càng ngày càng cao, lúc mới vào trường học rất cung kính, thấy thầy giáo thọ là cúi đầu còn giờ học 2-3 năm rồi là nói chuyện tay đôi với giáo thọ, không biết cung kính, chào hỏi thậm chí có những lời bất kính, đó là thối đọa trong thiện pháp, điều này cực kì nguy hiểm. Con ở trong chùa đã 30 năm, dạy trong trường Trung cấp mười mấy năm nên không phải là không nhìn thấy được điều này, con rất thương cho quý thầy trẻ tuổi, sự tu tập của mình là sự nhiếp phục bản ngã, tánh kiêu căng, ta đây, đó là điều tuyệt đối quan trọng của người tu, nếu mình không nhìn thấy, không kiểm soát, không diệt tận là đại thảm họa, sự tu tập của chúng ta là chứng nhập trí tuệ vô ngã mà giờ tu càng lâu, thọ được giới lớn thì bản ngã càng tăng thì hoàn toàn trái ngược với lời dạy của Đức Phật, vì thế trong tu tập phải có sự để tâm, nhìn lại bản thân chứ không phải nhìn người khác, càng nhìn người khác thì phiền não càng sanh. Cổ nhân có câu: "Các nhân tự tảo môn tiền tuyết, mạc quản tha nhân ốc thượng sương", nghĩa là "Hãy lo quét tuyết sân mình đã, chớ quản nhà người ngói đẫm sương", tuyết và rác một đống trước mặt hãy lo quét đi, nội tâm của mình đầy rẫy những thứ xú uế, tham sân si, vô minh và bản ngã mà mình không nhìn lại để nhiếp phục, tẩy sạch mà cứ nhìn ra ngoài để đánh giá đúng sai, hay dở, phải quấy thì đó là sự hướng ngoại, tạo nghiệp cho bản thân. Vì thế Tứ Niệm Xứ là quay lại quán chiếu, soi rọi nội tâm của mình, đoạn trừ tham sân si, nhìn thấy cảm giác bực bội, sân hận, dễ chịu, tham ái, các cảm giác trơ trơ trong si hoặc là cảm giác bản ngã, ta đây để nhiếp phục, đó là cốt tủy của Phật pháp, nếu không thấy thì sự tu chỉ uổng công.

Do duyên có thân, có sự đụng chạm, khởi lên sự rõ biết sự đụng chạm đó (thân thức). Thân thức này không hề đơn giản, bản thân con học 28-29 năm mới biết thân thức là gì, mình cứ nói nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức nhưng cái đó chỉ là trên từ ngữ còn muốn nhận diện nó trong đời sống hằng ngày thì phải có sự tu tập, phải có người hướng dẫn, chia sẻ. Ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo ra cảm giác, cảm giác này dễ chịu thì tham ái, cảm giác khó chịu thì sân hận, bực bội, không khó chịu không dễ chịu thì có si trong đó, sau khi đã đụng chạm, tiếp xúc sẽ có xúc tưởng, xúc tư, sau khi về nhà hình bóng của người mình tiếp xúc hiện lại trong tâm gọi là xúc tưởng, suy nghĩ về sự đụng chạm đó hiện khởi trở lại là xúc tư. Mình chết trong hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đó, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó xâm chiếm, áp đảo, chế ngự trong tâm, có những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, sự đụng chạm khắc sâu trong tâm khảm, ám ảnh tâm suốt đời làm cho tâm bị trạo hối, mỗi khi ngồi thiền những hình bóng đó lại hiện ra, cảm xúc đó hiện ra, những suy nghĩ đó hiện ra mà mình hoàn toàn bị nhận chìm, không có đường ra khỏi, không biết đạo lộ xuất ly nên không thể đạt được thiền định, đó là sự trạo cữ, tâm mình sẽ bị những cảm giác, hình ảnh đó ám ảnh, bị suy nghĩ làm cho bất an không thể lắng dịu, an tịnh được.

Duyên sanh pháp của ý cực kì khó, có khi ngồi thiền suốt đời cũng không biết được. Mình đang ngồi một mình trong phòng nhớ lại hình bóng của người làm cho mình buồn khổ hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng, mình có cảm giác khó chịu, mình có suy nghĩ liên quan đến hình ảnh, cảm giác đó, khi ngồi đó mình rõ biết đang có suy nghĩ, hình bóng, cảm giác như vậy trong tâm đó là duyên sanh của ý, tức là sự để ý lại nội tâm, cái này rất sâu sắc, phải có sự thực tập ngồi thiền mới nhận diện được. Khi để ý thì hình bóng của lòng bàn chân hiện ra trong tâm gọi là tưởng, có cảm giác là thọ, có suy nghĩ thấy hơi lạnh, khi để ý lại chỗ nào thì pháp sẽ hiện ra. Vào ban đêm cúp điện, mình muốn nhìn rõ chỗ nào thì cầm đèn pin rọi vào chỗ đó, ngay chỗ đó có vật thì sẽ hiện ra, cũng vậy ý căn là một sự để ý, khi để ý bên ngoài sẽ nhìn ra bên ngoài đó là sự hướng ngoại, còn để ý bên trong cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sẽ được soi rọi, thọ; tưởng; hành được biểu hiện ra, để ý vào bên trong thì tâm có hình bóng gì sẽ hiện ra hình bóng đó, có cảm giác gì sẽ hiện ra cảm giác đó, có suy nghĩ gì thì sẽ biết. Nếu bây giờ hỏi trong tâm đang có hình bóng gì mà mình nói không có là do mắt mình đang nhìn ra bên ngoài chứ không có nhìn vào trong nên không thấy tâm đang có gì, vì ý căn lúc đó đang phóng ra bên ngoài tìm sắc, thanh, hương, vị, xúc. Do có sự để ý, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm, khởi lên ý thức tức là sự rõ biết những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, ba pháp này hội tụ, giao thoa bắt đầu sanh khởi ra pháp tưởng, pháp tư, tức là những cảm thọ mới sanh khởi nữa, suy nghĩ mới sanh khởi, tiếp tục nữa thì cảm thọ, suy nghĩ lại sanh ra tiếp tục như vậy, chúng sanh khởi liên miên như vậy nên gọi là chúng sanh.

Sắc này là thân người, cảnh vật, đồ vật, tất cả những cái này đều thuộc về sắc uẩn, do tức đại tạo thành. Có 3 loại cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ. Trong cảm thọ dễ chịu có tham sanh khởi, tham sân si có mặt trong năm uẩn nhưng hang ổ của nó nằm trong cảm giác cho nên khi có cảm giác ưa thích thì có hình bóng, suy nghĩ đi theo, cảm giác khó chịu có sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si trú ẩn trong đó. Có sáu tưởng: Sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng. Có sáu tư: Sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư. Suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về tiếng, suy nghĩ về mùi vị, suy nghĩ về hình bóng, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong. Phải biết được duyên sanh pháp của sáu căn thì mới hộ trì căn được, nếu không biết tại sao lại sanh khởi thì rất khó hộ trì.

./.