Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TINH HOA NIKAYA & TRÌNH PHÁP – THU NHIẾP LỤC CĂN THANH TỊNH GIỚI-ĐỊNH-TUỆ 2

2026-03-03 00:52:10
Tinh Hoa Nikāya & Trình Pháp

THU NHIẾP LỤC CĂN

THANH TỊNH GIỚI – ĐỊNH – TUỆ 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trạng thái của Sơ thiền PAGEREF _Toc137720475 \h 1

II.Sự thật về khổ PAGEREF _Toc137720476 \h 4

III.Bản chất thân này PAGEREF _Toc137720477 \h 8

Trạng thái của Sơ thiền

Khi hành trì niệm Phật, hay ngồi tịnh tâm mà được an lạc thì đó chỉ là sự an lạc, hỷ lạc, chứ chưa phải Sơ thiền. Lúc trước Minh Thành cũng từng niệm Phật, từng tham gia thiền biết vọng… nói chung là đi qua rất nhiều pháp môn. Đến giờ hiểu được, để thể nhập Sơ thiền thì phải có tầm và tứ, phải ly ác bất thiện pháp, ly dục, có sự tác ý trong đó, có sự hỷ lạc do ly dục sanh. Nếu không có tầm có tứ là không vào được sơ thiền; tầm và tứ là sự hướng tâm và tác ý; chúng ta cần phải có người hướng dẫn, bằng không, mình không tự nhiên biết được.

Có thể ngay tại lúc ngồi học ở lớp, có vị đang đạt được trạng thái của Sơ thiền, mà mình không biết được, chứ không phải đợi lúc ngồi thiền mới có. Tức là lúc đó vị này không có dục tham, sân hận, trạo cử, hôn trầm và hoài nghi; trong tâm không có tham muốn gì, hơn nữa, tham muốn này không phải chỉ là tham muốn của nam nữ. Như chúng ta ngồi học đây, mà cứ hóng nhìn ra ngoài, muốn nhanh hết giờ học để được ra ngoài giải lao thì đó cũng là dục. Thành ra từ “dục” trong Nikāya rất sâu và rộng, chứ không phải dục chỉ là nam nữ, đó là cái dục nặng nhất. Hoặc chúng ta đang ngồi học mà cứ nhớ đến sư huynh lúc sáng nói một câu gì đó làm mình khó chịu, khi đó tâm ta bị sân chi phối.

Tâm không bị năm triền cái chi phối là khi đó phải: không có dục; không có sân; không có buồn ngủ, không có hôn trầm; thân và tâm được yên lặng, an tịnh, lắng dịu, không bị dao động; không nhớ nghĩ những lỗi lầm quá khứ khiến tâm ray rứt, trạo hối; không phân vân về giáo pháp của Đức Phật.

Ngược lại, thân lắc lư dao động, tâm thì ray rứt những lỗi lầm, đó gọi là trạo hối của thân tâm; ngồi không được yên, lắc qua lắc lại, dòm qua dòm lại, trở chân, gải, ngứa, đó gọi là trạo cử; trong tâm cứ nhớ lại những chuyện giận buồn, đó là sân; lưỡng lự không biết thầy giảng có đúng pháp không đó là nghi ngờ… Lúc đó, tâm chúng ta bị năm triền cái che đậy, bị chi phối bởi những ham muốn, nóng giận, buồn ngủ, lăng xăng, hối hận, trăn trở, ray rứt, nghi ngờ điều gì đó, vì vậy, tâm không được trong sáng.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh II, bài kinh “Bà La Môn Sangàrava”, Đức Phật có ví dụ: tham dục giống một bát nước hòa lẫn với thuốc nhuộm; sân hận như một bát nước được lửa đun sôi; hôn trầm – thụy miên như bát nước phủ rong rêu; trạo cử – hối tiếc như nước bị gió thổi, làm cho xao động và hoài nghi như nước lẫn bùn.

Khi không bị Năm triền cái chi phối, lúc đó tâm được hỷ lạc, hân hoan, hạnh phúc, vui sướng khi được nghe sự thật; đồng thời có sự để tâm vào sự hân hoan đó và tác ý, làm cho nó sanh khởi, hướng về sự hỷ lạc hạnh phúc thì lúc đó mới thể nhập Sơ thiền. Chứ không phải tự động ngồi thiền là vào Sơ thiệt được, phải có tầm với tứ, nhưng tầm tứ này phải có người hướng dẫn, nếu không hiểu đúng là chúng ta tầm tứ sai. “Tầm” là sự hướng tâm về đối tượng, “Tứ” là bám vào đối tượng đó.

---

Như vậy, để vào được Sơ thiền, đầu tiên, tác ý tâm ta hiện tại không có ham muốn gì, vui quá, thanh tịnh quá! Ta không có giận ai, dễ chịu quá! Ta ngồi không có buồn ngủ, mà lại vô cùng tỉnh táo tỉnh sáng và ta dễ chịu với sự tỉnh sáng này. Thân ta không có dao động, không có lăng xăng, ta ngồi yên thật là hạnh phúc! Ngồi yên dễ chịu quá, ngồi yên thật là an lành, an yên, an bình, an tịnh, ngồi yên vui quá, tuyệt vời quá! Tâm ta bình lặng không ray rứt về vấn đề gì, thật dễ chịu! Đối với ngũ uẩn ta không có nghi ngờ, không có phân vân, không có lưỡng lự gì, mà ta thấy rất rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Như vậy, chúng ta lìa Năm triền cái,

Lúc đó tâm hướng đến sự hỷ lạc, thấy thật là hạnh phúc, thật là an tịnh, dễ chịu, hoan hỷ trong giây phút này. Việc hướng tới sự hoan hỷ đó được gọi là tầm. Nhờ hướng đến sự hạnh phúc đó, ta thấy rằng giây phút này thật là tối thượng, thật tuyệt diệu, thật hiếm có, khó gặp, hy hữu nhất trong cuộc đời này. Trong khi tất cả mọi người chạy theo cơm áo gạo tiền, chạy theo những tình dục, tình cảm thấp hèn của thế gian, chạy theo sân si hơn thua, đấu đá, giành giật của cuộc đời; còn tâm chúng ta hướng đến sự buông xả tất cả những thứ đó, vì vậy, ta thấy thật là hạnh phúc, ngọt ngào, dễ chịu, mát dịu, thanh lương. Đây là vị ngọt tuyệt diệu của sự hỷ lạc, tối thượng, hân hoan, thanh tịnh, huyền diệu, cao thượng, tuyệt đẹp.

Tiếp tục tác ý như vậy thì trong người chúng ta trào dâng lên một cảm thọ hỷ lạc, cảm thọ này lan tỏa hết từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng hơi thở, từng mạch máu, từng huyết quản, từ đảnh tóc cho tới gót chân… chỗ nào trong thân chúng ta cũng có hỷ lạc. Đức Phật ví như được xối vòi hoa sen, nước tuôn xuống từ đỉnh đầu lan xuống gót chân, không có chỗ nào là không thấm ướt trong sự hạnh phúc, trong sự vui sướng, phấn khởi, hân hoan, thích thú, khoan khoái, dễ chịu cả thân lẫn tâm. Chúng ta hoan hỷ trong sự tác ý đó và an trú trong sự hân hoan đó. Khi đạt được trạng thái đó, ta muốn ở trong trạng thái đó bao lâu tùy theo ý muốn: nửa tiếng, một tiếng, hai tiếng, ba tiếng, một ngày, hai ngày, ba ngày…

Trong kinh các bậc Thánh gọi là không có mệt nhọc, không có khó khăn, phí sức khi muốn trú vào Sơ thiền, dễ dàng như mở cánh cửa để bước vào. Vậy tại sao chúng ta không thể nhập được sơ thiền? Vì tâm chúng ta đầy năm triền cái, ngồi lại thì những đối tượng ham muốn, thích thú hiện ra; hoặc những đối tượng sân hận bực bội, khó chịu hiện ra; những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm bắt đầu sanh khởi; hoặc có sự nghi ngờ phân vân với Pháp, không biết pháp mình đang nghe có đúng không, ngoài ngũ uẩn ra thì có gì khác không; lúc nào cũng dao động lăng xăng, không thôi ngủ gà ngủ gật. Đó là năm triền cái của chúng sanh, không bị chi phối bởi cái này thì bị cái kia xâm chiếm, cho nên phải có người hướng dẫn cho chúng ta về trạng thái của Sơ thiền.

Lúc nãy có vị trình bày tâm được lặng yên, không biết có phải là Sơ thiền không? Tuy nhiên, trong ý hành lúc đó vẫn còn câu niệm Phật, nghĩa là vẫn còn phải mượn một phương tiện để tâm được yên. phương tiện đó chỉ cần mượn vào giai đoạn đầu mới tập tu, còn khi vào các tầng thiền là phải buông xả nó để đi vào một cách trọn vẹn trong sự hỷ lạc của Sơ thiền.

Như vậy, tu tập thực hành theo kinh tạng Nikāya là có thể hưởng được Sơ thiền, không khó khăn, không phí sức, không mệt nhọc nếu cố gắng thực tập. Quan trọng là phải biết thực tập đúng cách, biết quán chiếu, biết đánh đuổi các dục, các ác và bất thiện pháp trong tâm.

Sự thật về khổ

Hiện nay, phần lớn các vị đều tu cho có, tu được hai thời là xong, rất máy móc và chỉ trên hình thức bề ngoài. Trong khi, Đức Phật dạy rất sâu sắc, người tu phải nỗ lực rất nhiều, gian khổ rất nhiều để chiến đấu với các pháp bất thiện. Đức Phật nói người tu dù với khổ với ưu nước mắt đầy mặt nhưng cũng không từ bỏ gánh nặng của thiện Pháp; mỗi khi tu vượt qua không được ta phải đau khổ, ray rứt, khóc lóc, buồn đau, nhức nhói, hối hận, trăn trở, thao thức, ray rứt.

Đó là gánh nặng của thiện Pháp, chứ không phải đơn giản từ bỏ gia đình, vào chùa tu là khỏe, lánh nặng tìm nhẹ, không làm gì hết, suy nghĩ như vậy là chưa đúng. Chẳng lẽ xuất gia để tìm cái sung sướng hay sao? Chẳng lẽ bỏ cha bỏ mẹ, từ bỏ tất cả gánh nặng của thế gian rồi đi tu để hưởng thụ hay sao? Người xuất gia cần nhớ rằng, chúng ta đi tu là từ bỏ gánh nặng của ác, bất thiện Pháp để mang vào gánh nặng Thiện Pháp và gánh nặng Thánh Pháp. Phải nắm vững chỗ này nếu không chúng ta tu không đúng hướng.

Thiện Pháp là tăng thượng Giới học, tăng thượng Tâm học, tăng thượng Pháp học, tăng thượng những oai nghi tế hạnh cần thực hành. Thánh Pháp là tăng thượng Tuệ học? Tức là như thật thấy đây là khổ; như thật thấy biết đây là nguyên nhân của khổ; như thật thấy biết được sự chấm dứt khổ và như thật thấy biết đạo lộ, con đường, phương pháp cách thức đưa đến chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đó chính là tăng thượng Tuệ học, trong Nikāya nói rất là rõ.

Vậy, tu trí huệ là tu làm sao? Văn – tư – tu là như thế nào? Quán là quán những gì? Tuệ là tuệ ra sao? Đức Phật dạy, phải như thật thấy rõ sắc này là khổ, thọ này là khổ, hình hài này là khổ đau, những món đồ này là khổ đau. Nhưng tâm chúng ta dính mắc, trói cột vào nó, cái gì cũng cho là của mình, đến khi chúng tan hoại, hủy hoại, tan nát, hoại diệt là sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên, muốn tu tập tăng thượng trí tuệ thì phải quán chiếu ngũ uẩn này là khổ đau, những cảm thọ này là khổ đau, những hình bóng trong tâm là khổ đau, những suy nghĩ nhận thức này là khổ đau. Thường xuyên nhắc nhở, để ý, quán sát , tư duy, thiền quán, như vậy thì mới tăng thượng Tuệ học.

Minh Thành từng chia sẻ: nếu mình không thấy khổ là không tu được. Quý sư có thấy cái thân này là khổ không? Có thấy cảm giác này là khổ không? Có thấy những hình bóng trong tâm là khổ không? Có thấy sự rõ biết này là khổ không? Minh Thành ví dụ, chúng ta đang đi tung tăng bình thản, tự nhiên quay qua thấy một ánh mắt đang trừng trợn nhìn mình, lúc đó ta cảm thấy khó chịu, đó là khổ. Có cái khổ đó là tại vì chúng ta thấy, chúng ta biết có người đang trừng trợn chúng ta. Như vậy sự rõ biết cũng là khổ.

Con mắt này là khổ đau ,các sắc này là khổ đau, sự rõ biết các sắc này là khổ đau. Ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành nhãn xúc và sự tiếp xúc của con mắt đó là khổ đau, và khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ thì cảm thọ đó là khổ đau. Đó là khổ thánh trí trong Nikāya. Bản chất con mắt này là khổ đau, thế nên có rất nhiều bệnh về mắt, nào là viễn thị, cận thị, loạn thị, khiếm thị…

Sự sanh khởi, sự an trú, sự xuất hiện, sự hiện hữu của con mắt này là sự sanh khởi, sự an trú, sự xuất hiện của khổ. Sự xuất hiện, sanh khởi, hiện hữu của lỗ tai này là sự xuất hiện, sự an trú của khổ. Sự xuất hiện, hiện hữu của lỗ mũi này là khổ, là tật bệnh, là lo lắng, sợ hãi, bất an, tai họa, là những bệnh viện, là ung thư. Miệng lưỡi thân này cũng vậy, sự xuất hiện, có mặt, hiện hữu của thân này là khổ đau, bất an, lo lắng, là sợ hãi, tai họa, già nua, bệnh tật và chết chóc. Chỉ có tạng kinh Nikāya mới chỉ cho chúng ta thấy tột cùng về mọi phương diện, khía cạnh của khổ. Thông thường vì chỉ học phớt qua nên ta không thấm thía về khổ.

Chúng ta tự hào với tấm thân này, mỗi khi soi gương nếu còn bằng lòng, hãnh diện về gương mặt của tự thân, đó chính là tham ái đối với sắc uẩn, gọi là sắc thủ uẩn. Đó là sự yêu thích cái thân này, khoái cái thân này, nắm giữ cái thân này và cho rằng cái thân này là mình, là của mình. Chính sự chấp thủ ngũ uẩn này là nguyên nhân của tất cả khổ đau.

Tại sao chúng ta phải lo no, lo đói? Nếu không có cái bụng này thì có đói không? Tại sao chúng ta phải lo mặc, hơn nữa, không những lo cho có mặc, mà còn lo để mặc đẹp? Mọi lo lắng, tham muốn đó đều do có cái thân này. Chúng ta chấp chặt cái thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, rồi mình hài lòng, bằng lòng, vừa lòng với cái thân này. Khi đó, tâm mê sẽ làm hang, làm ổ, làm tổ, làm dinh, làm thự, làm căn cứ địa, làm sào huyệt trong cái thân này, không đi ra được. Chính cái tâm mê, tâm ngu, tâm vô minh, tâm khát ái, tâm mù lòa này đang làm hang, làm ổ trong cái thân xác phèo, phổi, ruột, gan, phân, nước tiểu, máu, mủ này.

Thân trống rỗng không ai trong đó,

Tâm vào đây làm tổ chi tâm?

Tâm vào đây làm ổ làm gì?

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.

(Thân trống rỗng - Cửa vào bất tử)

Tâm mê chấp thủ vào thân này, rồi nó nắm giữ say mê và cuối cùng đi ra không được. Chỉ cần ta bị va quẹt, trầy trật, chảy máu một chút là sân si lên và đau khổ, hoảng sợ. Đừng nói chi ai làm thân này chảy máu, chỉ cần người khác có một hành động xem thường là chúng ta hận thù, tất cả là vì chúng ta coi cái thân này là quan trọng, rồi lập bàn thờ cho nó nên mình cứ mãi đau khổ và bị nó hãm hại.

Các bậc Thánh xem thân này như nùi giẻ rách, như bao rác, như là túi da, như là thứ bẩn thỉu nhất mà các Ngài đã quăng bỏ. Còn chúng ta thì say mê, tham đắm, nắm giữ, chấp thủ vào trong thân này. Thậm chí người khác chưa chạm đến, chỉ mới nhìn thôi là ta đã phừng phực, phẫn nộ, sừng sộ, sân si, bất mãn… chỉ một ánh nhìn đã đủ khiến mình đau khổ. Vậy nhưng nghe nói “có thân là khổ” thì chúng ta không chấp nhận. Bao nhiêu chứng bệnh trong thân này, ung thư gan, phổi, dạ dày, lá lách, máu, bao tử, mũi, tuyết giáp, lưỡi, miệng,… chỗ nào cũng là ung nhọt ung hạch ung bướu ung thư.

Đức Phật có dạy, thân này giống như một cái ung nhọt đã lâu ngày, nó rỉ chảy ra những thứ bất tịnh, phàm những gì chảy ra là những thứ nhơ nhớp, tanh hôi, nhàm chán, xú uế, bẩn thỉu hôi tanh, vì vậy, phải nhàm chán thân này.

Này các Tỷ kheo, ví như một ung nhọt đã trải qua nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỷ kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, huỷ hoại, có chín miệng vết thương, chó chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thối rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỷ kheo, hãy nhàm chán thân này.

(Tăng Chi Bộ Kinh IV, Chương 9 Pháp, II. Phẩm Tiếng rống con sư tử, bài kinh Một ung nhọt)

Đó là những lời chánh thống của Đức Phật, là trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dùng để phá vỡ sự thân kiến, kiến chấp về thân và cái nhìn sai lạc về thân này. Chúng ta rất quý mến thân này, để rồi cái thân này hành hạ và làm cho mình khổ đau mãi mãi. Chỉ vì một ánh mắt là có thể đi ra tòa, đi vô tù, thậm chí là chết người. Chỉ vì một ánh nhìn bị xem là nhìn đểu, mà con người có thể giết hại lẫn nhau. Thật sự kinh hãi và hoảng sợ cho những sự thật đang diễn ra ở trước mắt chúng ta. Dù là chú cháu, cậu cháu, bạn bè với nhau nhưng chỉ vì một ánh nhìn – nhãn xúc, một câu nói, một tiếng hát karaoke – nhĩ xúc… là tan nhà nát cửa, chung thân, tử hình, án mạng, thật là khủng khiếp. Vì không có sự phòng hộ, bảo vệ, nhiếp phục, chế ngự giữ gìn sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này nên cứ đau khổ và bất hạnh dài lâu trong hiện tại và tương lai, những điều này Đức Phật dạy rất rõ trong Tương Ưng Sáu Xứ.

Chỉ khi thành tựu trí tuệ thâm sâu và rộng lớn trong nhiều góc độ, khía cạnh, phương diện của thân tâm này thì ta mới thấy được sự khổ bao trùm tất cả. Khổ bao trùm hết mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; bao trùm hết sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; bao trùm hết ngũ uẩn, tứ đại, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Chứ khổ không phải chỉ ở bên ngoài thân. Mỗi lần hồi tưởng lại người phụ bạc, người tráo trở, lật lọng, người thân rồi sơ, yêu rồi hận, thương rồi ghét thì chúng ta đã rất đau khổ. Dù không ai làm gì mình, chỉ cần ngồi hồi tưởng lại người đối xử với chúng ta vô lương tâm, vô tình, vô nghĩa, tàn nhẫn, vô nhân đạo thì chúng ta vô cùng đau khổ, thậm chí nước mắt chảy xuống.

Đức Phật lột tả tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ của khổ đau ở trong thân tâm và thế giới. Phải có một trí tuệ thâm sâu và sắc bén thì mới thấy rõ khổ, bằng không, chúng ta không thấy khổ thật sự. Nếu chỉ học phớt phớt về khổ thì trở ra ngoài nhìn gì cũng mê, nhìn gì cũng khoái, đó là không có thấm khổ. Không thấy khổ sẽ còn tham, sân, si dài dài, sẽ còn ngã mạn hoài hoài, sẽ còn hơn thua mãi mãi. Chỉ khi thấy được khổ thì các ác, bất thiện pháp mới được giảm xuống, lắng xuống, dịu xuống diệt tận, tận cùng. Cho nên trong trí tuệ này, phải thấy được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ.

Bản chất thân này

Hãy nhìn lại xem chúng ta có khổ vì đôi chân không? Minh Thành vừa đi thăm một chú chạy xe Grab cách đây mấy hôm, chú này chạy đúng luật đúng lề đường nhưng bị người khác chạy xe mô tô tông gãy chân, bây giờ đứt động mạch chủ, bác sĩ phải cắt phần da bên này chêm vô đầu gối bên kia, gắn inox xiết vào da thịt, hiện tại đang nằm một chỗ.

Chúng ta cần thường xuyên quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, xem những hình ảnh bên trong thân để nhìn kĩ bản chất của hình hài này. Đôi chân thanh niên trai tráng, mới ngày hôm trước còn lành lặn, đi đứng ngon lành, khỏe mạnh. Chỉ cần xe tông một cái rầm thì lập tức trở thành phế nhân, nằm một chỗ ít nhất là một năm trời. Bây giờ phải gắn một bao nước tiểu, mặc yếm, mặc tả, nằm một chỗ, không được đi được đâu, vì inox đóng chặt vào giường bệnh, phải nằm để cố định cái chân lại, không được lăn qua trở lại. Đó là sự thật của sắc pháp, sắc này là vô thường, sẽ bị biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, đây là mới dẫn chứng về đôi chân.

Cái đầu này cũng vậy, người ta giải phẫu, lấy một cái dao rọc từ trên xuống lột da đầu ra, lấy cưa để cưa hộp sọ, sau đó mở hộp sọ ra lấy cục não ra, cắt ra từng miếng. Họ rọc một đường ngay ngực, sau đó banh ra để lấy gan, ruột, phèo, phổi, bao tử. Khi người ta cắt dạ dày ra thì trong đó toàn những thức ăn tiêu hóa chưa hết, có mùi vô cùng kinh khiếp và hãi hùng. Trong thân này chỉ toàn là máu, phân, nước tiểu, tinh huyết…

Thân xác này rồi sẽ như vậy, hiện tại nó đã như vậy chứ không phải chết mới vậy. Chẳng qua khác nhau ở chỗ là thân thể này còn vận hành, nhưng chỉ cần cần tim ngưng đập, không vận hành là nó rữa nát ra, thối nát ra, bầy nhầy. Giòi sanh ra từ những chỗ mềm nhất, nó bò lúc nhúc, tuôn ra từ hai con mắt, hai lỗ tai, chúng ăn từ trong ruột ăn ra ngoài và kết thúc của đời sống này là như vậy. Cuối cùng chỉ còn lại một cái đầu lâu, một cái hộp sọ, một bộ xương. Thân này bản chất là như vậy, tánh chất là như vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy.

Tất cả rồi cũng dần dần tan nát, tan rã, hủy hoại, hoại diệt. Ban đầu xác thân này còn dính lại một chút gân, chút thịt, chút máu… hết giòi ăn thì ruồi bu kiến đậu. Những con chó rừng bắt đầu tìm đến, ngoạm từng miếng thịt. Tiếp đến là những con kiến, ruồi nhặng, kên kên, quạ, diều hâu đến rỉa. Sau đó thân xác này khô dần, da khô, máu khô, thịt khô, chỉ còn chút xíu vương vấn dính chút gân, máu… Từ từ máu cũng khô hết, rồi dần hiện ra một bộ xương trắng màu vỏ ốc. Bộ xương này một năm, hai năm, ba năm từ từ rệu ra, bể ra… đây là xương đầu lâu, kia là xương sườn, nọ là xương chân, ống chân, xa xa là bàn chân, xương da xương đùi… Rồi một năm, hai năm, ba năm trôi qua, các xương này sụm xuống phân hủy, nát ra, rệu ra, rã ra, mục ra, nát ra trở thành bụi. Gió thổi bốn phương tám hướng cuốn những hạt bụi này bay đi và cuối cùng trở thành hư không, trở thành cát bụi, tan biến vào hư không.

“Này các tỷ kheo, bản chất thân này là như thế, bản tánh thân này là như thế, không vượt khỏi tánh chất ấy”. (Trung Bộ Kinh I, 10.Kinh Niệm Xứ)

Chín giai đoạn của một tử thi phải được thường xuyên quán chiếu mỗi ngày, mỗi giờ để phá đi sự yêu thích, tham đắm vào trong hình hài này, nhờ đó tâm mê mờ không thể làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân này nữa. Tâm mê này bị dính trong ổ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức và cứ lòng vòng trong đó, không ra được. Do đó, có những người chết đi rồi trở thành cô hồn, tái sanh làm chó giữ nhà, làm cô hồn giữ chùa. Người tu chúng ta cũng có khả năng đọa vào ngạ quỷ , làm cô hồn để giữ chùa nên đi không được. Người đời thì giữ nhà, giữ vàng, giữ tài sản, người tu thì giữ chùa, vì tâm thức bị nắm giữ và gắn chặt nên đi không được.

Ví như hai người yêu thương nhau không xa nhau được, thà là chết chứ không có rời nhau, đó là do tâm thức nắm giữ, chấp thủ, ái luyến. Chấp thủ vào món đồ cũng giống dính mắc vào con người, cũng không muốn đi xa món đồ đó; và vì thế, khi tái sanh sẽ trở thành cô hồn để giữ của, nếu nghiệp xấu ác thì trở thành súc sanh để giữ đồ, còn nếu có phước hơn thì được làm người để tiếp tục lại giữ món đồ đó. Chúng ta có thể thấy, trong những bộ phim, trong những kho tàng, kho báu, khi được mở ra thì toàn là rắn độc, thú dữ bên trong. Đó là những người đã tạo ra những món đồ quý giá, vàng bạc, lưu ly, ngọc ngà, kim cương… do ác nghiệp họ đầu thai trở lại giữ những món đồ đó. Ai đụng vô là họ cắn cho chết, vì họ chấp thủ tài sản đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.

Cho nên, trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy chúng ta với mục đích là không chấp thủ, không chấp trước vật gì ở trên đời, vị ấy sống quán thân trên thân, sống quán tâm trên tâm, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vì không chấp trước một vật gì ở thế gian nên những vị ấy mới đạt được tâm bất động giải thoát, xuất ly, đi ra khỏi ngũ uẩn vô thường, đau khổ, bất an, tai họa. Còn chúng ta nói mình tu giải thoát, vậy chúng ta đã cố gắng tu tập để thoát ra thân này, thoát ra ngôi chùa này, thoát ra những người thân thương của mình hay chưa? Vậy thì nói giải thoát là giải thoát cái gì!

Tạng kinh Nikāya chỉ cho chúng ta tận chân tơ kẻ tóc, rành rõ, minh bạch, tận tường, trong sáng, đến để mà thấy, không có nói mơ màng, không có nói viễn vông, không có nói ảo tưởng, mà nói ngay bây giờ. Pháp hành này chỉ cho chúng ta thấy rõ, khi tâm còn chất chứa tham, sân, si đối với ngũ uẩn là vẫn còn hoài những bất an, khổ đau, tai họa; khi nào tâm hết tham, sân, si là chúng ta giải thoát, bất động, không còn dính mắc. Điều này tự chúng ta thấy, tự chúng ta chứng, tự chúng ta biết, chứ không phải tu mà không biết gì cả.

Trên đây là những điều chúng ta cần để tâm thật nhiều trong sự tu học. Minh Thành mong tất cả các thầy các cô để ý thật nhiều trong sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện những cảm thọ, quán chiếu thật kỹ những gì đã được học từ trước đến nay để những buổi trình pháp sau chúng ta có thêm sự sâu sắc, đúng pháp, đúng trình tự đã được học và được thực hành. Do không để tâm tu tập, quý vị mới thấy sự thực hành này không dính dáng gì vào những gì đã được học. Cho nên, phải cố gắng vận dụng những pháp được học vào trong đời sống này, chúng ta phải thực hành theo đúng đạo lộ của đức Phật và nhờ vậy ta sẽ đạt được kết quả đúng như các bậc Thánh ngày xưa đã thành tựu./.