Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Tu Tập Như Thế Nào

2026-03-18 06:50:19
TINH HOA NIKĀYA

THỨ TỰ TU TẬP NHƯ THẾ NÀO

Thích Minh Thành

Chúng ta có câu "học phi vấn biện, vô do phát minh", nghĩa là học mà không hỏi, không giãi bày, không thảo luận, không làm rõ ràng thì không thể làm sáng tỏ vấn đề. Ở đây có hai trường hợp, thứ nhất là do ngộ rồi nên không hỏi và thứ hai là không biết gì để hỏi. Kính thưa đại chúng, trong sự tu học của chúng ta phải có tuần tự, nếu chúng ta không nắm được tuần tự, thứ tự thì tu học không có kết quả cụ thể rõ ràng mà rất mông lung.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này". (Tăng Chi Bộ, chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)

Tuần tự tu học là sau khi biết thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn thì đầu tiên chúng ta phải thực tập tâm hiền, có thể chúng ta nghe từ này hơi lạ vì trước giờ chỉ nghe nói đến tâm từ nhưng thật sự tâm hiền là lối dẫn đến tâm từ. Khi mới vào mà thực tập tâm từ sẽ không đủ sức mà phải thực tập tâm hiền trước.

"Người tu tâm thật là hiền,

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, yên vui rạng ngời".

(Nghi thức tu học kinh Nikāya - Niệm tâm hiền)

Thế nào là tâm hiền? Đó là tâm an tịnh, lắng dịu và dễ chịu, ngọt ngào. Mình thường xuyên hướng vào lồng ngực, hướng vào nội tâm, hướng vào cảm thọ và nói "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào". Chúng ta để tay lên lồng ngực và nói "an tịnh nè, lắng dịu nè, dễ chịu nè, ngọt ngào nè", khi nói như vậy là đang hướng vào cảm thọ để nói chứ không phải đọc trên môi, nói trên miệng mà mình đang huấn luyện cảm thọ. Tại sao chúng ta thấy trong người khó chịu? Ai đụng vào cũng bực tức? Vì trong cảm thọ của mình không lắng dịu, an tịnh, dễ thương mà đó là cảm thọ gay gắt, cọc cằn, khó chịu cho nên khi cảm thọ bung ra chỉ toàn sân giận, dễ hờn mác, dễ bực bội, bất mãn, cau có. Chính vì vậy sự thực tập này không phải chuyện đùa, sẽ có người thấy giống chuyện đùa nhưng đó là sự tu hành rất sâu sắc, từ những chuyện nhỏ như đến giờ ra về là đứng dậy làm bàn ghế xô lệch kêu tiếng động lớn, đó là không có tâm hiền, vì tâm hiền là một cái tâm lắng dịu, dễ chịu, nhẹ nhàng, an tịnh trong khi những cái thô tháo, vọng động như vậy là đang chứng tỏ không có hiền nên mới biểu hiện ra những hành động thô như vậy. Cho nên khi thực tập cái này rất vi tế, thành ra khi đi vào pháp hành không đơn giản như mình nghĩ, mình toàn nói trên trời dưới đất nhưng đối với tâm hiền chưa chắc mình làm được vì tiếp theo của hiền là Thánh cho nên những vị Tỳ-kheo thời Đức Phật được gọi là Chư hiền, tức là những bậc hiền trí. Mình chưa có hiền cho nên có ai nói câu gì là mình bực bội lên, sừng sộ, khó chịu lên, còn nếu mình hiền thì dù cho lời nói đó khó nghe nhưng trong nội tâm vẫn an tịnh, lắng dịu, đó là do tu tập tâm hiền mới được như vậy và muốn được như vậy thì phải thường xuyên nhìn vào cảm thọ, trở về lồng ngực, trở về cảm xúc và mình luôn luôn nhắc nhở, tác ý, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ cảm xúc, cảm thọ. Phải suy nghĩ hiền chứ không suy nghĩ dữ, nói lời từ ái chứ không phải muốn nói gì là nói, khi nói chuyện phải an trú tâm mình trong năm lời nói sau đây:

"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. Thế nào là năm?

Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm.

Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích". (Tăng Chi Bộ, chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (VIII). Lời Nói)

Nói phải đúng thời, không phải muốn góp ý là góp ý liền tại đó, nói không đúng thời làm cho người ta bực bội, khó chịu. Tuy người góp ý có ý tốt nhưng nói không đúng lúc, đang lúc đông người hoặc đang có khách mà la mắng tại chỗ là không được. Trong huynh đệ, tỉ muội muốn góp ý thì hãy đợi khách về, xong buổi lễ thì lúc đó hãy nói chuyện nhẹ nhàng với nhau, còn ngay đó sân lên la tại chỗ là nói không đúng thời. Nói đúng chân thật sự thật chứ không được nói sai sự thật. Nói lời mềm mại nhu nhuyến, đừng nói lời thô bạo, nói nặng nói nhẹ, nói trên đầu trên cổ, nói xúc chạm, chạm tự ái người ta. Nói lời lợi ích cho mình cho người và nói bằng tâm từ, tình thương. Đó là năm lời nói mà Đức Phật dạy cho chư vị xuất gia, chúng ta cần thực tập theo đó, khi chúng ta vào chỗ lấy tô chén, muỗng đũa nếu có thực tập tâm hiền, chánh niệm tỉnh giác thì mình lấy đồ rất nhẹ nhàng, có khi người kế bên cũng không nghe nhưng đối với người thô tháo, thô bạo, tâm không hiền thiện, lắng dịu thì lấy đồ nào là rớt đồ đó, tạo tiếng động rổn rảng. Cho nên tâm hiền này là một sự an tịnh, lắng dịu, chánh niệm và tỉnh giác chứ không phải là chữ hiền bình thường của những người khờ khạo, đây là hiền trí và bậc hiền trí là do trí tuệ chánh niệm tỉnh giác dẫn dắt những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Người tu tâm hiền tiếp xúc với ai thì đối phương đều cảm nhận được sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đó là bậc hiền trí trong Phật giáo, còn tu mà lại tất bật, bận rộn còn hơn người ngoài đời là sự thất bại. Vì thế tâm hiền này là bước đầu tiên để đi đến tâm bi, tâm hiền cũng là một phần của tâm bi – lòng xót thương bi mẫn những tập khí thô tháo, thô kệch, thô ác, xót thương những cảm giác bực bội, đấu tranh, cộc cằn, cau có. Mình thấy được những tập tánh, thói quen thô bạo, thô thiển của chính mình rồi thương chính mình và quyết định thực tập cho nhu nhuyến, ôn hòa, hiền thiện, dễ chịu, dễ thương. Sau khi mình đã giữ gìn những giới đức, giới luật mà mình đã thọ thì tu tập tâm hiền, cho nên tâm hiền rất sâu sắc, mình có hiền hay không cũng được thể hiện trong dáng đi, bước chân, suy nghĩ, lời nói, hành động. Chẳng hạn lúc đầu Minh Thành nói mọi người để tay lên tim thực tập nhưng có người không làm thì đó không phải tâm hiền, không chấp nhận học pháp, bên trong có cảm giác chống đối "tôi không cần làm cái này, tôi giỏi rồi", không nhận diện năm uẩn sâu sắc sẽ không hiểu được tâm mình ương ngạnh đến thế nào, không chịu nghe lời. Tâm mình không bao giờ nói mà nghe lời, bảo đừng giận nhưng vẫn giận, kêu đừng sân mà vẫn sân, nói đừng tham mà cứ tham, nói đừng ngủ mà vẫn ngủ, trong lớp vẫn ngủ thậm chí nằm xuống bàn ngủ luôn, đó là tâm không nhu nhuyến, không hiền thiện, kêu đừng bản ngã mà vẫn ta đây, hống hách, kiêu căng, cao ngạo cho nên tu tâm hiền là để những thứ này lắng dịu, an tịnh chứ vẫn chưa thể diệt hết được nó. Giờ học mà cứ nói chuyện riêng là tâm chưa hiền, tâm chưa được huấn luyện vì đó là trạo cử, dao động, buông lung phóng dật, mà mình không nhận diện năm uẩn nên không thấy được những điều này nên cứ nghĩ nói chuyện là bình thường, không phải như vậy. Khi nào chấp nhận học pháp, nội tâm mềm mại, "dễ sử dụng" rồi mới đi đến tâm định tĩnh, trong sáng, vững chắc rồi mới đi vào chánh định được.

"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp". (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song tầm)

Đầu tiên là phải nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng vì thế việc huấn luyện tâm không phải chuyện đơn giản, xin thưa đại chúng. Cái tâm của mình rất ương ngạnh, cứng cỏi, để điều phục được tâm là cả một công phu thường xuyên nhìn lại suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, khi thấy rồi phải nhiếp phục nó. Từng bước chân, từng lời nói, từng cử chỉ phải được soi xét kĩ càng, bước vào phòng giáo thọ sư mà đóng cửa ầm ầm thì đó là tâm không hiền thiện, trong từng cái nhỏ nhặt như vậy phải được an tịnh, lắng dịu. Trong việc nghe điện thoại cũng cần tu tập, nếu không chỉ cần "Alo" là bên kia giật mình vì hết hồn, nghe giọng không biết được là người tu mà cần phải nhìn thấy hình hài mới biết là người tu. Phải để ý thường xuyên và liên tục tất cả mọi khía cạnh, góc độ của thân tâm, tâm – miệng – ý, ngũ uẩn, để ý, giáo dục, dạy đỗ, điều ngự để trở thành nội tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền lương rồi mới đi đến hiền Thánh. Khi mình bị người lớn góp ý là mình phừng phừng lên, người lớn nói chưa xong mà mình cắt ngang "tôi không có làm như vậy", mình biện minh, ngụy biện đó là tâm hung dữ, đức hạnh hiền thiện này nếu chưa thành tựu thì không thể tu tập tâm từ vì tâm từ rất sâu sắc, tâm từ đó là vô lượng mà người ta hay gọi là từ vô lượng tâm. Cái y áo của mình cũng thể hiện sự tu tập sự hiền thiện. chánh niệm tỉnh giác, không phải đang đứng ở nhà Tổ muốn cởi y là cởi hoặc là vừa đi vừa cởi y, trong từng cử chỉ hành vi của mình phải có oai nghi, tế hạnh, chánh niệm tỉnh giác.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.

Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Những lời này để chúng ta thực tập oai nghi, chánh niệm trên nền tảng tâm hiền, đi, đứng, ngồi, nằm, dáng ngồi của chúng ta không phải muốn ngồi thế nào là ngồi. Minh Thành nói những điều thực tế trước mắt để mọi người thấy, thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp là người chuyên hướng dẫn oai nghi, chúng ta cứ nghĩ đi, đứng, nằm, ngồi có gì đâu mà cứ nói hoài nhưng chính cái đó làm nên sức ảnh hưởng lan tỏa của Hoằng Pháp ra khắp thế giới, chính là oai nghi tế hạnh. Chúng ta cứ nghĩ tu là một lúc nào đó sẽ có hào quang, bay bổng lên hư không, đó chỉ là sự ảo tưởng, tu ở ngay chỗ đi, đứng, nằm, ngồi, thân thể được sử dụng như thế nào thì vị ấy biết bằng trí tuệ thân như thế ấy. Chúng ta cầm ly uống nước mà chúng ta uống ực ực là không có chánh niệm tỉnh giác, nếu không uống từ từ để xem lại cảm thọ như thế nào, đang có cảm thọ gì để an tịnh, lắng dịu mà chúng ta tu ừng ực một hơi hết ly nước thì đó là không niệm oai nghi, không thực tập tâm hiền. Khi chúng ta ăn cơm cũng có oai nghi, có tâm hiền trong đó, mình gắp đồ ăn mà vô tình tay áo nhúng vào nước tương, nước mắm, đồ ăn rơi vào áo, dính trên miệng… tất cả đều phải chánh niệm tỉnh giác, thân như thế nào vị ấy biết bằng trí tuệ thân như thế ấy, an tịnh, lắng dịu dù cho đồ ăn có ngon thế nào đi nữa cũng phải nhiếp phục cảm thọ, không để thô tháo, không nhai rệu rạo, không nuốt ừng ực, đó là sự nhiếp phục cảm thọ. Trong người có những sự thúc giục ăn lẹ, ăn nhanh thì mới có ra những hành động cử chỉ đó, còn bên trong an tịnh lắng dịu thì ăn thông thả, từ từ, nếu không có đồ ăn cũng không bực bội, sân hận mà an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng. Chiều nay có món mì tiềm rất ngon nhưng khi mình về thì hết đồ ăn chỉ còn cơm nhưng mình vẫn an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ăn cơm nguội với rau luộc nước tương nhưng cảm giác vẫn an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thì đó là bậc hiền trí của Phật giáo, nó tế nhị đến như vậy chứ không có gì to tát cả. Bị người ta nói những câu chỉ trích nặng nề nhưng trong tâm vẫn an tịnh, lắng dịu, nhiếp phục các cảm thọ chứ không phản bác, cộc cằn, sân hận, không tung ra những lời thô ác để trả đũa, đó là tâm hiền, là bậc hiền trí của Phật giáo. Từ nãy giờ chúng ta tu ở ngay việc uống nước, ăn cơm, nói chuyện, cách đi, đứng, ngồi, nằm. Ở ngay dáng đứng cũng biểu hiện tâm hiền, không được xắn tay áo, đứng chống nạnh hoặc chỉ trỏ, đó là thân thể được sử dụng như thế nào phải rõ biết bằng trí tuệ, đó là những đức hạnh căn bản nền tảng của người tu, nếu làm chưa được những điều căn bản này thì đừng nói gì đến giác ngộ giải thoát. Bị vu oan nhưng mình vẫn từ từ chứ không vội phản bác, chỉ trích lại mà sống quán thân trên thân. Khi thực tập tâm hiền được rồi mới đến thực tập tâm từ.

Minh Thành đã hướng dẫn rất nhiều bài về tâm từ này trên trang linhquyphapan.vn, mỗi ngày phải trải tâm từ. Nếu không trải tâm từ sẽ không hóa giải được sân hận, không hóa giải được nghiệp cũ lẫn nghiệp mới và tạo oan trái cho nhau rất nhiều. Cho nên phải trải tâm từ thường xuyên, thương cho cái vô minh, tham dục, sân hận đã thiêu đốt mình, thương những cảm xúc sân hận đã nhận chìm mình, thương cho những cảm xúc si ám, si mê đang bao trùm mình, thương cho những cảm xúc bản ngã, ta đây, hơn thua, ganh tỵ, cống cao ngã mạn và thương cho chính mình thật nhiều, nếu không biết mình là gì và không thương lấy mình thì đừng thương lấy người khác. Tất cả chỉ là ái mà thôi, ai làm vừa lòng vừa ý mình thì mình thương, ai đem cái lợi đến cho mình thì mình thích, ai nói lời ngọt ngào với mình thì mình thương, mình thích còn lại ngược lại những điều trên thì mình giận, mình ghét, đó không phải từ bi mà chỉ là ái, cho nên trong sự thực tập tâm từ phải biết thương mình trước tiên, mình không biết thương chính mình thì mình còn thương ai được nữa? Thương cho cái vô minh, sự nông nổi, sự không hiểu biết của mình, thương tập khí, tánh tình, thói quen xấu dở của mình, thương cái buông lung phóng dật của mình, phải thương thật nhiều để chuyển hóa, thay đổi, làm mới, làm đẹp lại bản thân, chúng ta nhận diện năm uẩn rồi mới thấy chúng ta là những kẻ đáng thương nhất hành tinh, Minh Thành có giảng bài "Mình là người đáng thương nhất hành tinh", đó là việc đầu tiên của tâm từ vì khi muốn thực tập tâm từ phải biết thương mình trước, khi biết thương mình thì lúc đó mới trải tâm thương người khác. Mình cứ nghĩ rằng thương người ta, lo cho người ta, nghĩ cho người ta, cứu giúp người ta là việc tốt, đây là sự hiểu lầm vì tham dục của mình chưa nhiếp phục được, sân hận trong lòng vẫn đang thiêu đốt mình, vô minh còn đang bao trùm mình, cái ta vẫn còn đang vênh váo, đến cả cha mẹ, huynh đệ, thầy mà bản ngã của mình vẫn khởi lên, vậy thì chúng ta đi thương ai? Thương ai khi mình còn đầy rẫy những sự đau khổ, hờn trách, buồn bực, khi mình còn đầy rẫy những sự bất mãn, bất kính, vô ơn, khi mình còn đầy rẫy sự bực bội, cộc cằn, khi mình còn tự làm cho mình bức xúc và nhiệt não, khi tự mình còn đang thiêu đốt, giày xéo chính mình, tự mình làm cho mình khổ đau thì làm sao mình thương người ta được? Làm sao có thể thương người khác với một nội tâm còn đầy rẫy tham, sân, si, vô minh và bản ngã? Khi ngồi thiền trải tâm từ quán chiếu những gì Minh Thành nói từ đầu đến giờ nước mắt sẽ tràn ra ràng rụa, toàn cơ thể chấn động, tim thắt lại tạo ra những cảm thọ xúc động vô cùng vì nhìn thấy sự vô minh, tham ái, chấp thủ của mình. Khi có những cảm thọ đó thường xuyên và liên tục là mình đang khai mở cảm giác tâm từ và tâm từ bắt đầu khởi động trong thân tâm chúng ta. Sự tu này là sự tu ở nơi cảm thọ, nếu không sanh cảm thọ, cảm xúc, cảm giác thì sự tu không có kết quả, ngồi trải tâm từ mà mình cứ ngồi thừ ra, đơ người thì tu không có kết quả. Phải trải tâm từ từ nơi lồng ngực để cảm giác mở ra, lan lên tai, lên đầu, mắt, mũi lại lan đến ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, từ đỉnh đầu đến gót chân của mình tràn đầy tất cả những cảm xúc dào dạt, thương yêu, bi mẫn, xót thương giống như khi tắm vòi sen nước tuôn từ đỉnh đầu đến gót chân được thấm nhuần dào dạt một cảm xúc xót thương, từ tâm và bi mẫn, không có một lỗ chân lông trên thân mà không có cảm xúc từ bi đó, nó nhuần thấm toàn bộ cơ thể. Từ cảm giác từ tâm dào dạt này tuôn trào ra những dòng nước mắt vì xót xa cho kiếp luân hồi này, xót xa cho những nghiệp quả mà mình đã gây ra, xót xa cho tâm tham sân si, bản ngã của mình đã gây ra, cảm xúc cứ ngày càng dâng lên và nước mắt tự nhiên tràn ra và chúng ta sẽ khóc tức tưởi, nghẹn ngào, lúc này chúng ta bắt đầu khai mở cảm thọ từ tâm với chính chúng ta.

Từ cảm thọ này mới mở rộng ra, lan tỏa phía trước, phía sau, phía trên, phía dưới, bề dọc, bề ngang, lan tỏa khắp hư không giới, mọi nơi đều bao trùm cảm xúc của từ tâm, bi mẫn. Chúng ta sẽ dùng thọ; tưởng; hành để khai triển thiền quán, điều này là sự thật, đối với bất cứ ai cũng làm được nếu chịu khó thực tập, mọi người lên trang linhquyphapan.vn mở những bài thực tập tâm từ và ngồi thiền theo đó rồi sẽ thấy kết quả, chắc chắn nước mắt sẽ tuôn ra, cảm xúc, cảm thọ sẽ được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển rộng lớn. Chúng ta sẽ nhìn đời sống này, nhìn hữu tình chúng sanh khác đi, không còn giống lúc trước nữa, cái nhìn được thay đổi, chúng ta sẽ nhìn cuộc đời này chỉ là sự đáng thương, tất cả mọi hiện hữu đều là đau khổ, không phải giàu là vui, nghèo là khổ, giàu cũng vẫn khổ như ai vì tất cả mọi sự hiện hữu đều là sự vô thường, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là bất an, bất trắc, bất thường, bất toại nguyện, tất cả những hình hài, cảm xúc, ý nghĩ này là sự biến hoại, tan nát, hủy hoại và hoại diệt và thật sự thâm sâu trong sự quán chiếu chúng ta sẽ thấy rằng không có ai ở đây cả, ngay cả thân xác này chỉ là đống tham lam, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã đang ngày đêm hoạt động chứ không có ai trong đây, vì là những đống tham lam, tham dục, si mê, vô minh nên trong này cứ khởi lên hoài cho nên bước tiếp theo là an trú tâm trong Tứ Niệm Xứ.

Đây là bước tiếp theo sau khi thực tập tâm từ, chúng ta luôn luôn nhìn lại thân thể, nhìn lại những cảm thọ, nhìn lại nội tâm và chúng ta sẽ thấy được rác bẩn trong tâm, những đống rác kinh hoàng trong tâm chúng ta. Chúng ta sẽ thấy những cảm thọ cứ sanh khởi lên để thúc giục đi tìm, đi kiếm và chúng ta sẽ thấy những cảm giác bực bội cứ dâng lên nóng bức và chúng ta sẽ thấy những cảm giác u mê, si mê và chúng ta sẽ thấy cảm giác ta đây, bản ngã đang xâm chiếm mình rất khủng khiếp rồi chúng ta sẽ bất ngờ "Ôi trời ơi! Không ngờ một nội tâm đầy rác bẩn, cấu uế như vầy trong vô lượng vô biên kiếp đến bây giờ mới được nhìn thấy", "Trời đất ơi! Sao cái tâm của con lại dơ uế như vầy? Sao cái tâm của con lại cấu nhiễm như vầy mà tới giờ con mới thấy", kèm theo đó nước mắt tuôn ra đầm đìa. Lúc này chúng ta sẽ an trú vào tâm đại tàm quý, cảm thấy xấu hổ và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp trong thân tâm chúng ta, đi đâu cũng cúi xuống chứ không dám ngẩn lên nữa vì mình đã nhìn thấy trong tâm đang có quá nhiều rác bẩn, đến khi nhìn ra mọi người lại còn thấy hãi hùng hơn nữa, những người ở chung cứ đụng vào là sân si, chạm vào là bản ngã rồi mình sẽ thấy nhàm chán vô cùng, mình không tham muốn nữa mà chỉ muốn xuất ly thôi, đó chính là đạo lộ, là Thánh đạo của Đức Phật mới đưa mình đến chỗ thoát ly khỏi ngũ uẩn, chính là nhàm chán, ly tham, chấm dứt và từ bỏ.

Khi đã tu đến chỗ này một cách trí tuệ với đầy đủ Tứ Niệm Xứ thì chúng ta sẽ thấy hỡi ơi, tự động chúng ta sẽ sanh ra tâm xuất ly, viễn ly, thoát ly của giải thoát thì lúc này chúng ta mới đi vào dòng trí tuệ thật sự của Dự Lưu Thánh quả. Chúng ta sẽ nhìn cuộc đời này không còn bất cứ một cái gì đáng để yêu thích hoặc đau khổ, phiền não, sầu bi, như vậy chúng ta sẽ Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, đi vào dòng chảy trí tuệ của các bậc Thánh nhân. Đó là đạo lộ đưa đến Dự Lưu Thánh quả cũng như A-la-hán quả. Nó vi diệu, thần thánh, thiêng liêng, cao cả như vậy mà tại sao không chịu học, cứ chạy đi tìm cái gì?

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.