Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng KOSALA 5 - Tiết Độ Ăn Uống & Buông Bỏ Thắng Bại

2026-03-03 00:52:33
Tương Ưng Kosala 5

TIẾT ĐỘ ĂN UỐNG & BUÔNG BỎ THẮNG BẠI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về tiết độ trong ăn uống PAGEREF _Toc83020896 \h 1

II. Đức Phật dạy về thắng – bại PAGEREF _Toc83020897 \h 7



I. Đức Phật dạy về tiết độ trong ăn uống

Bài kệ Xưng tán Đức Phật.

Giống như hoa sen đỏ

Ngực thơm mùi hương dịu

Sáng sớm tinh sương nở

Với hương hoa ứ đọng

Hãy nhìn thân Như Lai

Chói hào quang chiếu dịu

Như mặt trời sáng chói

Giữa hư không bao la.

Đây là bài kệ của một người cư sĩ tán thán Đức Phật trước năm vị vua. Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Tương Ưng Kosala qua những cuộc đối thoại của Đức Thế Tôn và vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) là Pháp vương và Đế vương.

Trong chương Tương Ưng này có nhiều hình ảnh, sự kiện rất phong phú, đa dạng pháp nghĩa, sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày. Chúng ta sẽ cố gắng học hết chương Tương Ưng Kosala này vì có rất nhiều câu chuyện, sự việc, nhiều vấn đề liên hệ với đời sống thực tế, nhất là đối với người cư sĩ và trong giai đoạn này cũng rất thích hợp. Vì có các Phật tử mới nhưng theo học những pháp thâm sâu quá thì sẽ theo không kịp nên để cho pháp được rộng mở, thấm nhuần thân tâm của các vị mới, chúng ta sẽ học thêm những bài kinh rất lý thú, thú vị khi Đức Thế Tôn còn tại thế.

Bài kinh Đại thực – Ăn nhiều:

“1) Trú ở Sàvatthi.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.

2) Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

3) Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:

Con người thường chánh niệm,

Được ăn, biết phải chăng,

Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài.”

Đức Phật nói bài kệ để khuyên nhủ con người nên chánh niệm, được ăn uống phong phú, dư dả như vậy thì phải biết phải chăng, biết chừng mực thì sẽ lâu già hơn. Khi ăn biết phải chăng, biết chừng mực đối với cảm giác của lưỡi. Chúng ta có sự chánh niệm, tỉnh giác, biết phải chăng, chừng mực đối với những cảm thọ mà mình ưa thích thì già sẽ đến chậm hơn và tuổi thọ được kéo dài.

“4) Lúc bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau lưng vua Pasenadi nước Kosala.

5) Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:

- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.

6) - Thưa vâng, Đại vương.

Thanh niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn cơm cho vua Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này:

"Con người thường chánh niệm,

Được ăn, biết phải chăng,

Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài."

7) Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.

8) Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: "Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!"

(Bài kinh Đại thực Ăn nhiều – Chương III. Tương Ưng Kosala

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Câu nói của vua Pasenadi tán thán Thế Tôn thật từ bi, thương xót, đem lại lợi ích cho vua ngay cả ở hiện tại và tương lai.

Qua bài kinh, chúng ta thấy được tình thương của Đức Phật rất tuyệt vời. Chúng ta chia sẻ thêm, việc ăn uống rất quan trọng, “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, đa số các chứng bệnh của chúng ta là từ miệng đi vào. Vậy nên thức ăn rất quan trọng, là cả nghệ thuật ẩm thực, là đạo dưỡng sinh. Vì có nhiều người suốt đời của người ta chạy theo dưỡng sinh chi đạo, tức là chỉ lo về phần ăn uống. Nên có phương pháp ăn gạo lức muối mè nổi tiếng cả thế giới, đã cứu được nhiều người. Trong đạo chúng ta cũng có nhiều thầy truyền bá phương pháp này cũng đã giúp được nhiều người.

Vì vậy cả một nghệ thuật, khoa học, đạo lý trong ăn uống. Về thức ăn như thế nào, nguồn gốc ra sao, chế biến và người nấu tâm họ như thế nào, người ăn thì ăn bằng cách nào… Chúng ta nhớ về bài Chánh quán thọ thực của Đức Phật là cả một trí tuệ của Đức Phật trong đó.

Vì vậy cứ thấy ai đem đồ lên là mình mừng, thích, ham, như vậy không được, nghĩ là thương nhưng đó là hại. Vì họ không biết thương là cứ đem cho ăn. Vì vậy thương của người trí rất khác với thương của người bình thường. Như có những tin ở nước ngoài nói về mì có những chất gây ung thư nên đã thu hồi lại.

Vậy nên ăn uống là cả một nghệ thuật, người làm việc này phải có trí, tâm, đức và hiểu được công việc của mình đang làm có giá trị, lợi ích lớn như thế nào. Tùy theo mức độ nhận thức, tâm của người đó và có người dành cả đời để nghiên cứu về đạo dưỡng sinh trong ăn uống.

Có khi ăn làm cho mình bệnh, có lúc lại giúp mình khỏe, có lúc món ăn lại trở thành thuốc để giúp mình trị bệnh, lại có lúc ăn giúp mình tu hành tinh tấn nhưng cũng có lúc làm cho mình giải đãi, lười biếng. Có khi ăn thì thân nhẹ nhàng, dễ chịu, có khi ăn lại làm cho thân thể nặng nề, bức rứt. Vậy nên người khi thường cảm giác toàn thân khi ăn món gì vào mà khác là biết ngay, cảm giác toàn thân rất quan trọng.

Chúng ta nên đừng ăn nhiều, đến mức quá no, cơ thể sẽ chịu đựng không nổi, hệ tiêu hóa tạo nên sức ép quá nặng, nhiều lần như vậy là thành bệnh. Vậy nên người bị đau bao tử vì nhiều lý do, có khi người này bị đau là từ nghiệp của đời trước nên sanh ra đã bị, có người bị đau là vì không để ý ăn uống, mình làm cho hệ tiêu hóa làm việc quá sức.

Giống như một chiếc xe chỉ chở được năm mươi thôi nhưng mình đẩy lên tám mươi thì một thời gian sẽ bị quá tải, các bộ phận bên trong sẽ không chịu nổi, hư sớm nên sanh ra bệnh.

Vì vậy, đừng ăn quá no, dù cho bữa ăn đó rất ngon mà nên ăn vừa phải, thanh đạm. Chúng ta thấy bây giờ là “chung nhi phục thủy” là những gì phát triển lên cùng cực thì sẽ quay trở lại lúc đầu, điểm bắt đầu giống như một vòng tròn.

Chúng ta thấy những nhà hàng lớn, cao cấp thì lại có những món đồng quê vì người ta đã được ăn các món Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Úc, Châu Phi… rất nhiều món nhưng giờ người ta thấy sợ vì “đã miệng hại thân”. Nên khi vào những nhà hàng chay cao cấp thì cũng có những món như rau, canh chua, tàu hủ kho tộ… đều là những món đơn sơ nhưng đắt tiền, đắt hơn cả những món nước ngoài chế biến.

Vì bây giờ người ta ý thức được thanh đạm, đơn sơ, mộc mạc là tốt cho sức khỏe, ít bệnh, khan kiện, dưỡng sinh.

Thứ nhất là mình không ăn nhiều, thứ hai là ăn vừa đủ, như Đức Phật dạy là phải biết chừng mực, phải chăng, chánh niệm những cảm thọ mạnh đó. Cảm thọ mạnh là những lúc gắp lia lịa, nhai rồi húp sột soạt mà quên hết, không nhớ cảm giác toàn thân. Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nên những gì Ngài nói cũng dẫn đến cứu cánh, cũng đem lại lợi ích, lợi lạc. Đức Phật không chỉ nói về ngũ uẩn mà từng chi tiết, khía cạnh trong đời sống này nên mới gọi Ngài là bậc Toàn giác, Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vậy nên các vị Thánh tăng thời xưa các Ngài ăn chỉ một bữa. Như lúc vua Pasenadi cảm thấy lạ nên từng hỏi Đức Phật là vua có sơn hào, hải vị đầy đủ hết, có gì muốn nấy nhưng khi nhìn thấy dung sắc của các vị Tỳ-kheo thì vẫn hồng hào, dung sắc rạng rỡ, thấy không bằng được. Nên các Ngài giải thích là các Ngài chỉ ăn một bữa nhưng an trú được trong hỷ lạc thiền định, không sống với quá khứ, tương lai mà an trú trong hiện tại lạc trú. Vì nếu cứ tiếc nuối quá khứ, lo lắng tương lai, hiện tại hao mòn thì cũng giống như cây lao rời cành. Các Ngài là ăn ít, ngủ ít nhưng hỷ lạc của thiền định và tâm khinh an trong pháp nên dung sắc của các Ngài tươi nhuận, tỏa sáng.

Vậy nên vua mới phân bì, hỏi như vậy vì dù có ăn đầy đủ sơn hào, hải vị nhưng dung sắc của Ngài ấy cũng không bằng với Đức Thế Tôn và các thầy, chỉ ngủ ở gốc cây, ăn ngày có một bữa mà tại sao dung sắu thù diệu như vậy.

Ăn uống thanh đạm làm cho thân mình khỏe, tâm mới yên được, trí được tỏ thì khi tu mình mới có được sự tiến bộ trong pháp. Còn thân ì ạch, nặng nề như vậy nên tâm hay cảm thọ của mình cũng không dễ chịu. Khi mình vào tu tập thì bị chướng ngại, không thuận lợi trong sự tiến tu của mình.

Vậy nên Đức Thế Tôn dạy nhà vua:

“Con người thường chánh niệm,

Được ăn, biết phải chăng,

Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài.”

Sau đó, nhà vua bảo người hầu mỗi ngày dọn thức ăn và đọc bài kệ trên thì vua sẽ ban cho một trăm đồng tiền vàng. Hằng ngày nhà vua nghe bài kệ này là để nhắc nhở, như lý tác ý hay là mượn người ta tác ý dùm mình. Một thời gian sau là nhà vua hạn chế ăn uống, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay của mình và nói lên lời cảm ứng: “Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!”

Lợi ích hiện tại là Đức Phật chỉ về chuyện ăn uống, lợi ích tương lai là Đức Phật dạy các pháp cho Ngài. Ngay ở hiện tại là vật chất lẫn tinh thần, thân và tâm, tuệ trí và phước báo Đức Phật đều chỉ dạy. Đó gọi là xưng tán Đức Như Lai. Vì những ơn, đức, sự nhớ nghĩ ngấm vào trong cảm giác, vào trong ý tưởng thì đó gọi là niệm ân đức của Đức Phật và cũng là niệm Phật.

“Nắng chiều đẹp vô hạn

Chỉ tiếc sắc hoàng hôn

Tịch dương vô hạn hảo

Đản tích cận hoàng hôn.”

Ví dụ như chúng ta đi thiền hành trên núi vào buổi chiều, lúc hoàng hôn thì chúng ta chiêm nghiệm được: “Nhờ Đức Thế Tôn, nhờ giáo pháp thì giờ mình mới có mặt trên ngọn núi này, mới được những bước chân thiền hành, đơn độc, bình an, tịnh lạc như thế này, ân đức của Thế Tôn thật cao vời, ân đức của Chánh Pháp thật vi diệu, ân đức của chúng tăng thật dào dạt thân tâm!”

Như vậy là chúng ta đang niệm ân đức của Tam Bảo, ý niệm đó thôi đã trở thành niệm ân đức Tam Bảo, niệm thiền quán. Khi mình khởi lên ý đó thì để nó tiếp tục hoặc mình chủ động khởi lên ý đó hoặc ngẫu nhiên ý đó sanh khởi lên, thì mình tiếp tục tác ý, nuôi dưỡng, làm cho phát triển thì đó gọi là niệm ân đức Tam Bảo trong khi mình đang đi thiền hành.

Mình thường niệm như vậy nên sự buồn chán sẽ tan biến, sự vô vị, nhạt nhẽo tan biến, ân đức của Tam Bảo trào dâng trong thân tâm của mình. Tất cả pháp đều lấy tác ý làm sanh khởi, nếu mình không tác ý thì làm sao nó sanh được?

II. Đức Phật dạy về thắng – bại

Tiếp theo là bài kinh Hai lời nói và chiến tranh:

“Trú ở Sàvatthi.

Vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, triệu tập bốn binh chủng gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala và tiến đánh Kàsi.”

Bốn binh chủng là gồm có: sa binh, bộ binh, tượng binh, mã binh.

“2) Vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha triệu tập bốn binh chủng gây chiến với ta và tiến đánh Kàsi."

3) Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi triệu tập bốn loại binh chủng dàn trận ở Kàsi, chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha.

4) Rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, tấn công vua Pasenadi nước Kosala. Trong cuộc chiến trận, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha chiến thắng vua Pasenadi nước Kosala. Bị chiến bại, vua Pasenadi nước Kosala lui về tại kinh đô Sàvatthi.

5) Rồi một số Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, họ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

6) - Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala, tiến đánh Kàsi. Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu con bà Videhi nước Magadha gây chiến với ta, tiến đánh Kàsi". Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, dàn trận ở Kàsi chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha. Bạch Thế Tôn, rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và vua Pasenadi nước Kosala xáp chiến nhau. Trong cuộc chiến trận ấy, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha chiến thắng vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, bị chiến bại, vua Pasenadi nước Kosala rút lui về kinh đô của mình là Sàvatthi.

7) Này các Tỷ-kheo, vua Ajàtasattu, con bà Videbi nước Magadha là ác hữu, là ác bạn lữ, là ác giao du. Và này các Tỷ-kheo, vua Pasenadi nước Kosala là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện giao du. Và này Tỷ-kheo, hôm nay, trong đêm này, vua Pasenadi nước Kosala trải một đêm đau khổ của người bại trận.

Thắng trận sanh thù oán,

Bại trận nếm khổ đau,

Ai bỏ thắng, bỏ bại,

Tịch tịnh, hưởng an lạc.

8) Rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha triệu tập bốn loại binh chủng, gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala và tiến đánh Kàsi.

9) Vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, gây chiến ta và tiến đánh Kàsi."

10) Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, dàn trận ở Kàsi chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha.

11) Rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và vua Pasenadi nước Kosala xáp chiến với nhau. Trong cuộc chiến ấy, vua Pasenadi nước Kosala chiến thắng vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và bắt sống vua ấy.

12) Rồi vua Pasenadi nước Kosala suy nghĩ như sau:

"Tuy vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha làm hại ta, dầu ta không làm hại ai; nhưng vua ấy là cháu trai của ta. Vậy ta hãy tịch thu toàn bộ tượng binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ bộ binh của vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và chỉ tha cho vua ấy mạng sống".

13) Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi tịch thu toàn bộ tượng binh... ... và chỉ tha cho vua ấy mạng sống.

14) Rồi một số lớn vị Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, mang theo y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, họ đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

15) - Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala và tiến đánh Kàsi. Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, gây chiến với ta và tiến đánh Kàsi".

Rồi bạch Thế Tôn, vua Pasendi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, dàn trận chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi, nước Magadha. Rồi Bạch Thế Tôn, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và vua Pasenadi nước Kosala xáp chiến với nhau.

Trong cuộc chiến ấy, vua Pasenadi nước Kosala chiến thắng vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và bắt sống vua ấy. Rồi vua Pasenadi nước Kosala suy nghĩ như sau: "Tuy vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha làm hại ta, dầu ta không làm hại ai; nhưng vua ấy là cháu trai của ta. Vậy ta hãy tịch thu toàn bộ tượng binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ bộ binh của vua Ajàtasatu, con bà Videhi nước Magadha và chỉ tha cho vua ấy mạng sống." Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi tịch thu toàn bộ tượng binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ bộ binh của vua Ajàtasattu con bà Videhi nước Magadha, và tha cho vua ấy mạng sống.

16) Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ:

Vì nghĩ đến tư lợi,

Nên mới cướp hại người,

Khi người khác cướp hại,

Bị hại, lại hại người.

Người ngu nghĩ như vậy,

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác đã chín muồi,

Người ngu chịu khổ đau.

Sát người, bị người sát,

Thắng người, bị người thắng,

Mắng người, người mắng lại,

Não người, người não lại,

Do nghiệp được diễn tiến,

Bị hại, lại hại người.”

(Bài kinh Hai Lời Nói Về Chiến Tranh - Chương III. Tương Ưng Kosala – Tương Ưng Bộ Kinh tập một)

Khi nãy chúng ta đã nói về ăn uống, bài này chúng ta nói về đánh giặc, trong chương Tương Ưng này rất phong phú, nhiều góc độ trong cuộc sống, đầy kịch tính, có thể đóng thành phim được.

“Thắng trận sanh thù oán,

Bại trận nếm khổ đau,

Ai bỏ thắng, bỏ bại,

Tịch tịnh, hưởng an lạc.”

Minh Thành xin thưa, cuộc đời của Minh Thành chỉ có mấy chữ này thôi nhưng sử dụng mãi không hết, đó là Đức Thế Tôn đã nói trong kinh Nikāya: “Ta không tranh với đời!” Một câu này thôi nhưng hơn cả kho báu.

Lúc đó Đức Thế Tôn từ vùng khác về lại thì những người trong vùng này nghe tin Thế Tôn về thì người ta đi đến thăm, trong đó những người Bà-la-môn, những gia chủ giàu có đem đồ đến rồi nói chuyện làm ồn cả tịnh xá với khoảng năm trăm người. Thế Tôn nói với ngài Ananda là nghe tiếng giống như chợ cá, như nhóm chợ. Ngài Ananda trình bày lại với Đức Phật thì Ngài nói là “Ra đuổi họ đi! Ta không mong cầu lợi dưỡng nơi họ! Ta không tranh với thế gian.”

Trong kinh nói về Đức Thế Tôn là Ngài giống như sư tử chúa, khó gần, Ngài thích an tịnh, thích ở một mình, thích sự tịch tịnh. Qua các câu kinh chúng ta sẽ thấy được sự sâu sắc của Đức Phật. Và còn nhiều lần khác như lần đệ tử của Ngài Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất mới xuất gia kéo về mấy trăm người rồi lấy tọa cụ, tấm trải ngồi rồi chia chỗ nên làm ồn ào, Đức Thế Tôn thấy vậy cũng đuổi đi vì Ngài thích sự yên tịnh.

Ví dụ như có bài kinh chúng ta đã học, có một nhóm ngoại đạo đang nói chuyện sôi nổi, tranh cãi thì từ xa thấy tôn giả Gotama tới thì nói nhau “Im lặng dùm tôi. Nếu chỗ này yên tịnh thì Tôn giả sẽ đến.” Khi đó họ im lặng thì Ngài tới.

Từ câu chuyện đánh giặc chúng ta nhìn ra câu chuyện trong đời sống của mình.

“Thắng trận sanh thù oán,

Bại trận nếm khổ đau,

Ai bỏ thắng, bỏ bại,

Tịch tịnh, hưởng an lạc.”

Đừng nghĩ rằng chỉ có các nhà vua đánh trận mà chúng ta không có, khi mình làm gì mình muốn làm hơn người ta, bằng thì không chịu, đó là tâm hơn thua, tâm tranh đấu. Điều này chính Minh Thành xài hoài cũng không hết là “không tranh với đời”, không nhất thiết phải chạy theo người khác.

Khi mình làm gì mình cũng muốn hơn người ta, giờ mình nói ví dụ đơn giản là hai chị em chưng hoa, rồi lại nhìn sang so sánh “Tôi đẹp hay chị đẹp?” Hai người đầu bếp cùng nấu ăn, đến khi nấu xong thì nếm xem cái nào ngon, hay ai nấu ngon hơn… Đó là tâm hơn thua, là tâm đưa đến đau khổ. Vì nói ra thì lúc nào cũng khổ vì vừa hơn vừa thêm oán, khi mình bị thua thì mình sẽ ghét người hơn, người thua sẽ đau khổ.

Nếu dính vào tâm này là không tốt, dù là trong chùa, ngoài phố hay trong nhà đều có thể bị. Hai vợ chồng nói chuyện với nhau thôi cũng giành phần thắng. Hay cha con nói chuyện với nhau cũng giành phần đúng. Thậm chí hai người thầy cùng bàn về Phật pháp rồi lại sân lên, hai huynh đệ trong đạo tràng tu nói chuyện một hồi thì tức lên, tranh luận “Tôi mới nói đúng. Tôi nói rõ ràng là diệt sân si rồi mới diệt tham!” Cuối cùng hai bên lại thắng bại, hơn thua nhau.

Nếu chúng ta bỏ được tâm này là bình an, tâm mình động là tại vì đó, vì khuynh hướng hơn thua, cao thấp, đúng sai, thắng bại là đau khổ, bất an, đi tới đâu cũng có chuyện. Như đi trồng cây cũng có chuyện, “Cây tôi trồng đẹp hơn! Ông trồng nó không sống nổi, tôi trồng thì nó sẽ nở hoa!” Nấu ăn thì người ngon, người kia không bằng, vì vậy nên tâm hơn thua thì đi tới đâu họ cũng sẽ tranh đấu tới đó, cũng có phải quấy, thị phi, thắng bại đến đó. Vậy nên:

“Thắng trận sanh thù oán,

Bại trận nếm khổ đau,

Ai bỏ thắng, bỏ bại,

Tịch tịnh, hưởng an lạc.”

Tịch tịnh là tâm hồn an tịnh, hưởng được hương vị của sự yên vui, tâm bình an. Khi đó, người đó bỏ được các thắng bại, hơn thua. Ví như người làm rất giỏi, rất hay nhưng nếu có sơ suất gì, có người chỉ ra thì phản ứng lại “Tự làm đi, sau này kêu người khác làm đi. Tôi không làm nữa!” Vì vậy chỉ một chút đó thôi thì hủy tất cả những công đức mà mình gầy dựng bao lâu từ trước tới nay. Vì khi người ta chỉ thì chỉ là chỗ đó thôi, còn tất cả những cái khác là tốt, không có ý nói là mình xấu toàn bộ.

Đó cũng là bản ngã, hơn thua và nhiều khi làm cho hả dạ: “Tôi không làm nữa cho biết! Tôi nghỉ, tôi không làm nữa!” Như vậy cũng không sung sướng mà lại đem về tâm đau khổ vì chưa chắc lúc đó muốn nghỉ mà đã lỡ nói rồi thì phải làm, nên mới đau khổ, hối hận, hối tiếc.

Mình mất tất cả những công đức, phước báu, thiện pháp trong tâm hơn thua đó. Như vậy nhưng chúng ta không biết rằng đi học thì phải có bài kiểm tra, như đi học phải có thi thì mới lên lớp những lúc đó là những lúc mình thi để mình lên lớp. Đó là những cơ hội để mình tạo ra phước báu để mình tích tụ công đức, để tăng thượng trong thiện pháp. Trái lại khi mình không nhìn thấy mà lại đem tâm hơn thua, tâm đúng sai, tâm bản ngã, nhân ngã ra thì hư hết, không học đạo được. Đó như câu “Đi vào kho báu mà trở về tay không”

Khi chúng ta bước vào được kho tàng mà lại đi ra tay không thì có uổng không? Mình đến được một chỗ hiền thiện, tu hành chánh thức mà mình lại không chịu mang một tâm chân thành, tha thiết, cầu học mà lại đem tâm giận dỗi, đúng sai, hơn thua, hờn mác để rồi mất đi cơ hội mà ngàn kiếp không có được lần thứ hai, như vậy có uổng không?

“Một bước sa chân làm ngàn đời ân hận, quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.”

Nhiều khi nếu bỏ ra đi thì ác pháp sanh khởi, làm cho mình thoái đọa, rơi xuống vực sâu. Cũng vì tâm hơn thua, đúng sai, phải quấy, “Tôi mới là đúng, người kia sai! Tôi mới là hơn, người kia thua…” Tâm như vậy không tu được, tâm này phước nhỏ, không phước lớn, lần nào sanh ra cũng sẽ không được như ý, tâm này là thấp kém, hạ liệt. Vì vậy khi tu là phải diệt tận tâm này.

Như vợ chồng nói chuyện với nhau thì giành phần hơn, cự cãi làm bất hòa, cha con hay huynh đệ cãi nhau thì cũng giành phần đúng, phần phải. Cuối cùng thì chỗ nào có mặt thì chỗ đó có chiến tranh thì làm sao tu được?

Chất liệu căn bản để xây dựng một hội chúng hiền thiện, một gia đình hạnh phúc, bình an là hòa kính, hài hòa, hiền hòa, hòa hợp lẫn nhau. Chất liệu căn bản để xây dựng một gia đình bình an, hạnh phúc, đạo tràng hòa hợp, thanh tịnh, tinh tấn tu học. Nếu cứ nhìn nhau với hơn thua từng chút, đúng sai như vậy thì làm sao tu được?

Vậy nên nếu mình thắng trận thì người khác sẽ oán thù mình, mình cãi đến khi giành được phần hơn thì người kia ghét, vì mình thắng người ta thua. Còn nếu mình thua, bại trận thì đếm khổ đau, vậy nên “Ai bỏ thắng bỏ bại. Tịch tịnh hưởng an lạc.”

Nên có câu chuyện người Bà-la-môn đi theo Đức Phật để mắng chửi và còn hỏi “Ông có nghe tôi chửi không? Ông có bị điếc không?” Lúc đó Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ:

Người hơn thì thêm oán

Kẻ thua ngủ chẳng yên

Hơn thua cả hai đều bỏ

Như vậy được ngủ yên.

Vì người hơn thì người ta oán mình, người thua thì không thể ngủ yên được vì quá tức giận nên hơn thua đều bỏ hết thì như vậy sẽ được ngủ yên.

Có những Phật tử đi mấy chục nước trên thế giới, làm trong đài truyền hình lớn nhưng bước vào trong thiền đường này đến bây giờ đã là mấy năm sau, nhắc lại vẫn là xúc động. Khi bước vào đây thì nước mắt người ta tuôn ra vì xúc động. Vì trong Linh Quy Pháp Ấn là tinh thần không thắng bại, không tranh với đời nên có nhiều điều khác lạ như trên bàn Phật lại không có bông, điều đó thể hiện tinh thần vô tranh. Có người nói đi biết bao chùa nhưng không có chỗ nào như nơi này.

Trên chỉ là một chút của Đức Phật dạy cho vua Pasenadi là không cần phải giống, phải bằng hay phải hơn người ta. Một ghế mây tre, một cành trúc thôi cũng đã hưởng pháp lạc. Đại chúng có cảm nhận được sự an bình, tịnh lạc trong nhà tre này không? Đó là tinh thần vô tranh, đừng tranh với đời, đừng nói giống điều này điều kia mà hãy nói giống Thế Tôn, giống Phật, giống các bậc Thánh, Đa văn Thánh đệ tử, đừng muốn giống những người bây giờ.

Và giống để làm gì? Ngang để làm gì? Bằng để làm gì? Hơn, thua để làm gì? Hãy giống Đức Thế Tôn, giống Trúc Lâm tịnh xá, giống Ngài ngồi dưới gốc cây, sống một đời sống ngày càng vô sản. Không có gì là ta, là của ta. Sống đời sống ly tham, lìa tham muốn đối với cuộc đời này. Không ưa thích, tranh giành, hơn thua. Tâm niệm luôn hướng về con đường ly tham, con đường nhàm chán, từ bỏ, thoát ra.

Như Minh Thành nói về cây tùng này mua đã được ba, bốn năm, nếu như chưng hoa lan, hoa khác thì bao nhiêu lần hao phí? Vậy nên nhiều khi Minh Thành có những suy nghĩ lạ, nên nhiều lúc Minh Thành nhờ Phật tử hái hoa đồng, cỏ dại đem vào cắm.

Hãy học tinh thần không tranh với đời. Ví như đi qua chỗ kia thấy người ta có bộ bàn ghế thì mình ước “Phải chi chùa mình cũng có được bộ giống vậy!” hay thấy người ta làm lễ thì mình cũng nghĩ “Phải chi mình cũng về cúng sư ông, sư phụ mình như vậy!”

“Ai bỏ thắng, bỏ bại,

Tịch tịnh, hưởng an lạc.”

Vì sao người ta lại thích cổng trời? Vì chùa Linh Quy Pháp Ấn là cả bầu trời chứ không là chùa gì, Quán Chiếu Đường còn nhỏ hơn nhà bếp của người khác. Đây là tinh thần ít muốn, biết đủ, đơn giản, vô tranh, làm đại già la, làm đại tùng lâm, lấy đó làm kiến trúc của Phật giáo nguyên chất.

Đến bài kệ thứ hai, vua Pasenadi đánh thắng nhưng không giết vua Ajàtasatu, mà chỉ thu bốn loại binh chủng. Khi đó Đức Phật nói lên bài kệ:

“Vì nghĩ đến tư lợi,

Nên mới cướp hại người,

Khi người khác cướp hại,

Bị hại, lại hại người.

Người ngu nghĩ như vậy,

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác đã chín muồi,

Người ngu chịu khổ đau.

Sát người, bị người sát,

Thắng người, bị người thắng,

Mắng người, người mắng lại,

Não người, người não lại,

Do nghiệp được diễn tiến,

Bị hại, lại hại người.”

Tại sao lại có trộm cướp? Vì mình chỉ nghĩ tới lợi ích của mình mà không nghĩ tới lợi ích người khác. Tại sao lại đi cướp nước của người ta? Vì mình chỉ nghĩ lợi ích của bản thân mà không nghĩ tới nỗi khổ của người khác. Món đồ đó có được là người ta bỏ ra biết bao mồ hôi, nước mắt mới sắm lên được vậy nhưng lại rình rồi ăn cắp thì đó là mình nghĩ tới tư lợi, lợi ích của mình nên mới cướp hại người ta.

“Khi người khác cướp hại,

Bị hại, lại hại người.”

Là mình bị cướp hại rồi mình lại đi cướp hại của người khác, là làm khổ cho nhau. Đúng ra khi mình bị ăn cắp đồ là mình đau khổ, mình biết được cái khổ của việc bị mất đồ đó là rất đau khổ thì mình không nên lấy đồ của người khác nữa. Nhưng bị ăn cắp rồi lại đi ăn cắp đồ của người khác. Vì chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân mà không nghĩ tới người khác.

“Người ngu nghĩ như vậy,

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác đã chín muồi,

Người ngu chịu khổ đau.”

Người ngu chỉ biết nghĩ tới lợi ích cho bản thân mình, ích kỉ, không nghĩ tới người khác. Khi mình lấy đồ, cướp đồ, hại người ta thì mình thấy giống như lúc đó là mình được lợi nhưng lúc đó là quả ác chưa chín mùi, nếu quả đã chín mùi thì người ngu chịu khổ đau.

Quả báo đó mình phải chịu gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần những cái mình đã lấy, đã cướp của người ta nên giết người bị người giết, thắng người bị người thắng, mắng người thì người mắng lại, não người người não lại (não là sầu não). Làm cho người khác lo lắng, sợ hãi, bất an do nghiệp diễn tiến, bị hại lại hại người.

Vậy nên chỉ nghĩ tới lợi ích cá nhân mình mà mình lại đi cướp, đi hại người khác, chỉ thấy lợi ích ngay trước mắt nhưng không biết được nỗi khổ lâu dài về sau, khi quả của ác nghiệp đó chín mùi.

Nên trong kinh Pháp Cú có bài nói: Khi cái ác chưa chín mùi thì người ngu nghĩ đó là ngọt. Cái ác đã chín mùi rồi thì người ngu chịu đắng cay. Cứ nghĩ việc lấy đồ của người khác là hay, là được lợi ích, ngọt ngào lắm nhưng khi quả ác chín mùi thì lúc đó phải chịu đắng cay, đau khổ. Vậy nên Đức Thế Tôn từng nói: Ác là phải chịu quả báo khổ, không có ác nào chịu quả lạc, quả vui. Thiện thì có quả báo vui, không thể nào có hành động nào thiện mà chịu quả báo khổ, điều đó không thể xảy ra.

Vậy nên Ngài khuyến khích chúng sanh hãy làm tất cả những gì thiện có thể làm được, cứ việc làm, cứ việc nghĩ, cứ việc nói, không bao giờ thiện lại đem đến quả khổ, không bao giờ cái ác lại đem tới quả vui, điều này không thể xảy ra. Chẳng qua là chưa tới lúc nó chín mùi, tới lúc chín mùi thì người ngu chịu quả đắng cay, quả ác.

Vậy nên giết người thì bị người giết, thán người thì bị người thán. Mắng người thì bị người mắng lại, làm đau buồn người ta thì người ta sẽ làm đau buồn mình lại. Do nghiệp cứ diễn tiến như vậy, “bị hại lại hại người”, tức một người làm hại người kia, người bị hại đó lại đi làm hại người khác. Cứ như vậy rồi nghiệp chất chồng lên nhau, chúng ta từng học bài quán Xả vô lượng tâm về nghiệp.

Nếu không hóa giải được quan gia trái chủ thì nó sẽ chồng chất mãi, đời này qua kiếp khác.

Bài kinh tiếp theo:

“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

3) Rồi một người đi đến vua Pasenadi nước Kosala và báo tin kề bên tai vua Pasenadi nước Kosala: "Thưa Đại vương, hoàng hậu Mallikà đã sinh hạ được một người con gái".

4) Khi được nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala không được hoan hỷ.”

Chúng ta nhớ về thời kì phong kiến ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”, tức một người con trai thì gọi là có con nhưng mười người con gái thì được xem là không. Đến bây giờ ở Trung Quốc vẫn còn và phát sinh tình trạng con trai nhiều hơn con gái.

Ở đây chúng ta thấy rằng nhà vua chuẩn bị có con nhưng vẫn ở bên Đức Phật để học pháp thì vua Pasenadi cung kính Đức Phật như thế nào và tàm tính đối với Tam Bảo ra sao.

“5) Rồi Thế Tôn, sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala không được hoan hỷ, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:

Này Nhân chủ, ở đời,

Có một số thiếu nữ,

Có thể tốt đẹp hơn,

So sánh với con trai,

Có trí tuệ, giới đức,

Khiến nhạc mẫu thán phục.

Rồi sinh được con trai,

Là anh hùng, quốc chủ,

Người con trai như vậy,

Của người vợ hiền đức,

Thật xứng là Đạo sư,

Giáo giới cho toàn quốc.”

(Bài kinh Người con gái - Chương III. Tương Ưng Kosala – Tương Ưng Bộ Kinh tập một)

Ý Đức Thế Tôn muốn chỉ cho vua Pasenadi là có một số người con gái còn tốt đẹp hơn so với con trai, vì có trí tuệ, giới đức. Và những người con gái đó sinh ra được những người con trai làm anh hùng, quốc chủ (vua) và người con trai đó “Thật xứng là Đạo sư. Giáo giới cho toàn quốc”. Là sanh ra được làm vua, làm anh hùng hay là bậc thầy để dạy dỗ cho cả nước giống như là quốc sư.

Như vậy là Đức Thế Tôn khuyên vua Pasenadi là đừng trọng nam khinh nữ vì có những người nữ có giới đức, có trí tuệ thì những người này có được những người con là anh hùng, quốc chủ, là bậc thầy của cả đất nước. Nên người phụ nữ có giới đức, trí tuệ thì sẽ có những người con đặc biệt.

Chúng ta nhớ về hoàng hậu Maya 74:38 hay những người khác trong lịch sử như Mạnh Mẫu (mẹ của Mạnh Tử) … Có rất nhiều người mẹ đức hạnh, sanh con ra rồi thì giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, thì những người con này trở thành những bậc Hiền Thánh, anh hùng, quốc chủ, những bậc Đạo sư…

Đức Thế Tôn khuyên vua Pasenadi đừng xem thường người con gái vì vua nghe qua sanh con gái thì không vui.

Chúng ta thấy hơn hai ngàn năm trước thì Đức Thế Tôn đã có tinh thần bình đẳng. Sự kiện mà Tỳ-kheo-ni được thành lập là cả một vấn đề vì xã hội lúc đó họ chống đối rất mãnh liệt, không phải việc đơn giản.

Khi bà Ma-sà-ba-đề 76:15 cạo đầu, đi chân đất, khoác tấm vải lên và dẫn năm trăm thể nữ trong hoàng cung mà đi bị chảy máu, sưng chân. Bao nhiêu trăm dặm và họ đi đến Thế Tôn năn nỉ ba lần thì cuối cùng Đức Thế Tôn nói là cho bát kỉnh pháp, thành lập ra ni đoàn, sau đó là những bậc Thánh A-la-hán của bên ni xuất hiện.

Đó là cả một trí tuệ và tâm bình đẳng của Đức Phật ngay trong hiện tại và tương lai, chúng ta cũng thấy được nhiều khía cạnh, vấn đề rất gần gũi trong cuộc sống chúng ta. Như việc sinh con mà phân biệt nam nữ thì Đức Phật đã khuyên nhà vua phải hoan hỷ lên. Từng điểm nhỏ như vậy để mình thấy tinh thần của Đức Phật, trí tuệ của Đức Phật, tâm từ bi của Đức Phật và tính bình đẳng của Ngài đối với chúng sanh.

Hôm nay chúng ta đã học qua ba bài kinh: Ăn nhiều, Hai lời nói về chiến tranh và Người con gái. Ấn tượng nhất là bài kinh Ăn nhiều, là ăn ra sao để có được sức khỏe, để thân thể này nhẹ nhàng. Nhất là trong thời điểm này rất dễ lên cân vì chỉ ăn rồi ở trong nhà, đối với người có đồ ăn, còn người nghèo khổ không có đồ ăn thì bị đói. Vì vậy, những vị có đồ ăn nhiều thì nên chia cho người khác. Và khi ăn phải có chừng mực, tiết chế, tiết độ trong ăn uống để hành trì.

./.