Tinh Hoa Nikaya - Cảm Nhận Về Bộ Sách
Tinh Hoa Nikāya
Cảm Nhận Về Bộ Sách
Thích Minh Thành
Ngày 14 tháng 02 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm nhận của Sư Phụ về bộ sách PAGEREF _Toc137396836 \h 1
II. Con đường tu học chân chánh PAGEREF _Toc137396837 \h 7
I. Cảm nhận của Sư Phụ về bộ sách
Bộ sách này rất là công phụ, là cả một công trình nghiên cứu rất là nghiêm túc, rất là dài, suốt 15 năm. Một sự tu học của Ngài là đến mức độ rất là thâm sâu, khó lường. Cho nên cầm trên tay quyển sách này con rất là xúc động, tại vì Ni sư soạn quyển sách này bằng cả sinh mạng, tâm huyết trong lúc nằm ở trên giường bệnh. Cho nên bộ sách này là cả một huyết lệ, xương máu và cốt tủy của tạng kinh Nikāya. Cho nên con mong rằng tất cả các thầy cô cố gắng về đọc trước, để khi mình nghe giải thích mình sẽ nắm bắt dễ hơn. Về tác giả của bộ sách này thật là khó nói bằng lời, là một bậc đại đại trí tuệ, hiếm có, khó gặp, “thiên cổ nhất nhân” ở trên cuộc đời này.
Cho nên chúng ta cầm bộ này lên là chúng ta phải trân trọng, tại vì Ngài có thể là cũng không còn ở trên đời này được bao lâu nữa. Để lại cho chúng ta đầu tiên là bộ “Phân Loại Nikāya” ở trên trang Linh Quy hay là trên app của Linh Quy Pháp Ấn chúng ta thấy đó. Đây là công trình làm 10 năm, phân loại thành 500 chủ đề của tạng kinh Nikāya, chúng ta được học là con trích từ trong đó. Và công trình thứ 2 chính là bộ “Tinh Hoa Nikāya” này, là 2 công trình thật là lớn. Bây giờ Ngài ẩn tu, Ngài không có xuất đầu lộ diện ra bên ngoài. Nhưng cái sự thực tu, thực chứng thì sau này lịch sử sẽ ghi nhận, bây giờ chắc là không có mấy người biết. Con nói một chút vậy để chúng ta trân trọng bộ sách mà mình đang có, bởi vì tác giả đã bố thí pháp cho con là 350 bộ, tức là trên 1.000 quyển.
Trước khi chúng ta đi vào quyển này, thì con có một lời cảm nhận khi đọc bộ sách này. Đúng ra là lời này sẽ được đăng vô bộ sách này, nhưng mà thầy của con không có muốn con rơi vào cái danh lợi, cho nên không có đăng. Chúng ta nghe lời cảm nhận của con viết: “Một điều thao thức, tìm kiếm, tầm cầu cho tất cả người học Phật. Từ xuất gia cho đến tại gia, tu sĩ hay cư sĩ, là một phương pháp hành trì chân sát đúng như lời Đức Phật dạy. Đây là điều cấp thiết, cấp bách của toàn thể Tăng Ni, Phật tử trên khắp hành tinh. Với sự truyền thừa suốt gần 26 thế kỷ, đạo Phật đã lan toả toàn thế giới với những cành lá, màu sắc rất đa dạng và phong phú.
Chính vì đa dạng và phong phú cho đến nỗi, mà ngày nay người học Phật muốn tìm Phật pháp nguyên chất thật sự của Đức Phật đã giảng dạy là gì, thì dường như không biết mạnh mối từ đâu. Đây là điều cay đắng, xót xa cho tất cả người học Phật. Hiện tại có rất nhiều đường lối tu tập trong Phật giáo, chúng ta rất khó tìm ra được đường lối tu tập rõ ràng, cụ thể, trực tiếp, trực chỉ, trực diện có khả năng nhìn thẳng vào sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân si, bản ngã, vô minh, khát ái, để có thể phát hiện, nhiếp phục và đoạn tận. Con tuy đã trải qua nhiều năm tu học, nhưng đến khi nhìn lại nội tâm thì vẫn thấy vô cùng hổ thẹn, xấu hổ, tàm quý. Bởi do con vẫn chưa thật sự nhìn ra được thân và tâm của mình một cách chính xác, để tìm ra được một phương pháp chân chánh diệt tận các lậu hoặc.
Chính vì vậy, một đạo lộ tu tập, một đường lối hành trì, một phương pháp thực tập là một điều hết sức quan trọng cho người học Phật hiện nay. Từ khi cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu - bậc thầy lớn của Phật giáo Việt Nam, đã vượt trùng dương sang Ấn Độ tu học suốt mười mấy năm, sau khi trở về Việt Nam, Ngài đã dành cả cuộc đời của mình để phiên dịch đại tạng kinh Nikāya, lời dạy cội gốc, nguyên chất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy đại tạng kinh đã được dịch ra tiếng Việt, nhưng sự nghiên cứu, học hỏi hành trì và truyền bá những lời Phật dạy trong tạng kinh này chưa được phổ biến.
Đối với những người Phật tử, thậm chí là Tăng Ni xuất gia lâu năm ở trong chùa, vẫn bị ngỡ ngàng khi nghe đến từ “Nikāya”, và không biết đó là kinh gì, đây thật là một điều đau xót. Sau việc làm của cố hòa thượng Minh Châu, cố hòa thượng Chân Thiện cũng biên soạn và giảng giải kinh Nikāya, kế đó nữa là cố Ni Sư Trí Hải cũng tóm tắt những lời kinh. Và gần đây nhất là có thầy Quản Tánh, cũng gom nhặt lại những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật để in thành sách. Và qua đó cũng có một số Phật tử, một số đọc giả cảm nhận được phần nào giá trị cao quý của những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Kể từ khi xuất hiện những bản dịch thuật kinh Nikāya, của bậc tôn túc lớn của giáo hội Phật giáo Việt Nam là Hòa thượng Minh Châu cho tới nay đã hơn 40 năm.
Nhưng để người học Phật nắm được trọn vẹn, cốt lõi, tinh hoa, yếu chỉ tu tập của tạng kinh Nikāya vẫn là một điều thiên nan, vạn nan. Không khác gì một người đi vào trong khu rừng rậm rạp bạt ngàn, vô số cây cối, núi đồi chập chùng rất khó khăn để xác định được con đường thoát ra. Trong giữa khu rừng rậm rạp, bao la cây cối đó, bậc đại thiện tri thức, bậc đại hiền trí Chơn Tính Toàn đã không quản khó nhọc, đem hết tâm lực, sức lực, trí lực, nguyện lực của cuộc đời để nghiên cứu, tìm hiểu, suy tư, lắng nghe, học hỏi trong tạng Nikāya. Và cuối cùng Ngài cũng đã nhìn thấy rõ được một đạo lộ, hành trì minh bạch, sáng tỏ, thiết thực đó chính là Thánh trí năm uẩn.
Trí huệ này tóm thâu cả thế giới, thân tâm và vạn vật. Tất cả thân người, cảnh vật, mọi vật đều thuộc về sắc uẩn. Tất cả những cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu thuộc về thọ uẩn. Tất cả những hình bóng thô, tế trong tâm thuộc về tưởng uẩn. Tất cả những suy nghĩ, lời đó thầm trong tâm thuộc về hành uẩn. Sự rõ biết bên trong và bên ngoài sáu trần thuộc về thức uẩn. Như vậy năm uẩn tóm thâu tất cả con người, nhân sinh, vũ trụ và thế giới. Đức Thế Tôn xác nhận rằng: “Năm uẩn là thế giới, thế giới là năm uẩn”. Trong tấm thân cao một thước 8 này có đầy đủ thế giới, và cũng chính trong tấm thân một thước 8 này, Đức Thế Tôn tuyên bố về sự khổ đau và con đường chấm dứt đau khổ.
Đây là một phát hiện vĩ đại, một công trình tâm linh hy hữu, vỹ tầng hữu sau hơn 2.000 năm Chánh pháp bị mai một. Đây là một kỷ lục vĩ đại của Phật giáo, đây là một thành quả to lớn, một cống hiến vô giá của tác giả đối với Phật giáo trong thời đại ngày nay. Khi đọc quyển sách này, con đã không thể ngăn dòng lệ tuôn trào hạnh phúc, sung sướng. Vì nhìn thấy Chánh pháp từ ngàn xưa tưởng như bị mai một, giờ đây được thắp lên, được khơi dậy. “Thật là vi diệu thay! Như người dựng đứng lại bị quăn ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc”.
Bộ sách “Tinh Hoa Nikāya” này thực sự là ánh sáng, là kim chỉ nam, là đạo lộ tu hành chân sát theo tinh thần nguyên chất của Đức Phật dạy. Làm cho tất cả chúng ta có thể tận mắt chứng kiến những cảm giác dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã. Đã và đang thúc giục, điều khiển, khống chế ở bên trong, làm cho chúng sanh điên đảo, say đắm và khổ đau. Một khi đã nhận diện được năm uẩn, thực tập được sự xoay lại nhìn rõ thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng và tâm thức của mình. Chúng ta sẽ thấy rõ những cặn bã, cấu uế, tạp nhiễm, rác bẩn trà trộn, ẩn náo tiềm tàng, mai phục khắp mọi nơi trong thân và tâm này.
Sau khi đã nhìn thấy được rõ những cặn bã, cấu uế ẩn núp trong năm uẩn rồi, chúng ta sẽ có phương pháp “Bát chánh”, tuyệt chiêu của bậc Thánh, đó là: Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Để điều chỉnh cách nhìn nhận về thân tâm, cuộc đời, để rời bỏ những ham muốn, nóng giận, những suy nghĩ hại mình hại người và chúng ta sẽ có những lời nói hiền hòa, từ ái, chân chính, có những hành động phù hợp với đạo lý. Đời sống sẽ được nuôi dưỡng bởi những nghề nghiệp chân chính, sự tinh tấn, chân chánh được thân tâm, dần dần sẽ đến chỗ thanh lọc, trong sạch. Từ đó chúng ta sẽ có được sự quan sát sâu sắc về bản chất của cuộc đời, không còn nhìn nhận sai lầm trong vô minh, si ám. Và cuối cùng là thành tựu được một nội tâm tịch tịnh, an định thật sự từ phương pháp tuyệt diệu, gọi là Thánh chánh định.
Đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại và vị lai đã, đang và sẽ đi qua để đến được hành trì Niết-bàn, an lạc, hạnh phúc tối thượng. Đây là đạo lộ độc nhất mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi, và những người học Phật chân chánh nơi hiện tại và vị lai sẽ đi, để đến được ngôi thành trì an lạc tối thượng. Mục đích của đạo Phật là gì? Tại sao có sự chứng ngộ của Đức Phật? Tại sao đạo Phật lại xuất hiện ở trong cuộc đời này? Sứ mệnh thật sự của đạo Phật ở trong cuộc đời này là gì? Chúng ta nhớ lại lịch sử của Đức Phật là sau khi chứng kiến cảnh trạng già nua, bệnh tật, chết chóc. Từ trong tâm của Ngài đã có một sự thúc giục mãnh liệt, là làm sao để tìm ra được con đường thoát khỏi cái bị sanh, thoát khỏi cái bị già, thoát khỏi cái bị bệnh, thoát khỏi cái bị chết, thoát khỏi cái bị sầu, bi, khổ, ưu não.
Ngài đã trải qua một quá trình nỗ lực tu tập không ngừng nghỉ, Ngài đã thành tựu được mục đích tối thượng của mình là thoát ly sinh tử, diệt tận khổ đau và chứng nhập cảnh giới bất tử. Vậy làm thế nào để đạt được mục đích đó? Đức Phật đã dạy rõ ràng là: “Chỉ khi có được sự thấy biết chơn chánh, mới có thể xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn, làm giảm thiểu và dần dần đưa đến sự chấm dứt khát ái đối với sự chấp thủ ở nơi năm uẩn này”. Có nhìn thấy rõ mục đích của đạo Phật, người tu mới có phương hướng hành trì. Có thấy được đích đến của mình là gì, người tu mới có thể tiến thẳng đến mục đích đó. Trái lại, nếu người tu không thấy đúng, như vậy sẽ đặt tâm sai hướng và sẽ đi lệch hướng vào nhiều ngã rẽ, hay là lối tẻ.
Cuối cùng một đời tu hành của chúng ta ở giây phút sau cùng, chỉ là sự hối hận và tiếc nuối. Thật là đau đớn cho chúng ta, nếu không sát quyết rõ ràng mục đích của sự tu. Nội dung trong quyển sách này là trình bày cho chúng ta thấy được tinh hoa, trí tuệ của Đức Phật, tinh hoa Phật trí. Cũng như là lộ trình tu tập về giới, định, huệ được thực thi như thế nào. Và cũng thấy được đầy đủ một cách sâu sắc, về toàn diện lời dạy của Đức Phật. Những ai không có điều kiện trực tiếp đọc hết đại tạng Nikāya, chúng tôi cũng xin giới thiệu nội dung quyển sách này, để giúp rút ngắn thời gian tự tìm kiếm. Để có thể trực tiếp cảm nhận được tinh hoa, cốt lõi thật sự của giáo pháp.
Có thể nói quyển sách này là tiểu tạng kinh Nikāya, tất cả những gì thuộc về lời dạy tinh hoa, những giáo pháp thiết yếu, thâm sâu được biên tập một cách gọn gàng, đầy đủ, chi tiết. Trong phần nội dung của quyển sách này, sẽ giúp cho chúng ta thấy rõ con đường hành trì đúng theo lời dạy của Đức Phật. Bằng tất cả tấm lòng, con xin tri ân vô lượng đến bậc thiện tri thức Chơn Tính Toàn, người đã dùng tất cả tấm lòng và trí tuệ của mình để biên soạn thành một bộ sách có giá trị vô giá. Tóm thâu được toàn bộ những yếu nghĩa, yếu chỉ, yếu lý mà Đức Thế Tôn muốn truyền trao trong kinh tạng Nikāya.
Con xin thay mặt tất cả Tăng Ni và Phật tử nói lên tấm lòng thành kính, biết ơn vô tận đối với bậc đại trí tuệ, bậc đại hiền trí đã đem ánh sáng Chánh pháp chân chính, soi rọi trở lại cuộc đời đầy vô minh, si ám này. Quyển sách này có thể làm giáo trình quan trọng trong tất cả trường Phật học, các học viện Phật giáo, cho đến các tu viện, thiền viện. Dù là Phật giáo nguyên thủy, phát triển, hay là bất cứ tông phái nào cũng đều có thể lấy đây làm giáo trình, làm kim chỉ nam, làm đạo lộ hành trì. Bộ sách này là chiếc chìa khóa, là mật mã dùng để mở ra cánh cửa Thánh trí của Đức Phật, đã gần như bị lãng quên sau hơn 2.000 năm.
Kính mong những người hữu duyên sẽ đón nhận, xem đọc, học tập và hành trì với một tấm lòng trân quý vô hạn. Để không phụ công ơn to lớn của bậc đại hiền trí thức trong thời đại mạt pháp này. Kính nguyện Thánh pháp này sẽ là thần dược mở mắt cho trời, người, chúng sanh, muôn loài. “Để tất cả chúng ta chứng kiến chân lý tối thượng, siêu diệt, thời không, thiết thực, hiện tại có hiệu quả tức thời được người trí tự mình giác hiểu”.
Linh Quy Pháp Ấn, ngày 28 tháng 9 năm 2019 (nhằm ngày 30 tháng 8 năm kỷ hợi)
Con, trò Thích Minh Thành cúi lạy.”
Dạ thưa đó là lời cảm nhận khi đọc bộ sách, từ lúc đó là bộ đó mới có một cuốn thôi, thì con đã cảm xúc khi đọc và viết ra lời cảm nhận đó. Trước khi đi vào bộ sách “Tinh Hoa Nikāya” thì con muốn chia sẻ, để quý thầy quý cô thấy được tầm vóc, giá trị để mình không có nhìn sai, không có xem thường. Để mình có một cái tâm thái chuẩn bị, sửa soạn, để đi vào học bộ sách có thể nói là “không tiền tuyệt hậu”. Tức là trước nay chưa từng có một bộ sách như vậy viết về tạng kinh Nikāya trên toàn cầu, không phải chỉ trong nước Việt Nam mình. Chưa có một tác giả mà có thể soạn ra bộ sách nói lên hết tinh hoa, cốt lõi, toàn bộ Thánh pháp tạng kinh Nikāya đầy đủ, tường tận.
II. Con đường tu học chân chánh
Mà nhất là bộ này là khai triển về “Bát Thánh đạo”, 8 đúng của bậc Thánh. Trước nay chưa từng có ai giải thích “Bát Thánh đạo” như vậy, chúng ta học, chúng ta đọc đi rồi sẽ thấy. Đây là sự triển khai của bậc đã thành tựu Thánh tri kiến, không phải là của dạng tầm thường. Đầu tiên cái ý con nói là gì à? “Một điều thao thức, tìm kiếm, tầm cầu của tất cả người học Phật là một phương pháp hành trì”. Bây giờ con xin hỏi các thầy, các cô, hiện tại pháp hành của mình là gì ạ? Sao im ru hết trơn vậy, cái này quan trọng à. Con nói về pháp hành hiện tại của Phật giáo thời hiện đại bây giờ nè, là gì thưa cô? Mình nhìn một chút về cái mà mình đang thực hành, chưa có nói về cái pháp mình đang được học. Hiện tại pháp hành của mình bây giờ là cái gì?
Sư cô 1:
“- Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hiện tại pháp hành của toàn bộ Phật giáo trong nước Việt Nam này, chủ yếu là thực hành về tịnh độ, tụng kinh, trì chú, niệm Phật. Và sau đó là đến đời sống đời thường của người dân là đi từ thiện, và cứu trợ này kia. Chứ không có thực hành pháp kinh Nikāya, trong thời Đức Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Thầy: Mà người xuất gia của mình phát hành quan trọng nhất là cái gì? Người tu mình đó.
- Dạ thưa thầy, thưa đại chúng, pháp hành quan trọng nhất của người xuất gia theo lời Đức Phật dạy là thực hành diệt trừ tham, sân, si trong tâm và ngoài tâm của mình. Đối với hiện tại thời bây giờ thì nó đi sai lệch rất là nhiều, ví dụ như là trong mùa xuân này, thì hiện tại rất là nhiều chùa, chiếm khoảng 80% là cúng sao giải hạn và giải tam tai, là đi lệch với nhà lời Phật dạy rất là nhiều. Còn đối với đi sâu vào pháp hành của lời Đức Phật dạy nguyên thủy, thì rất là ít, hầu như là ít có trong hiện tại ngày nay.”
Bây giờ cái chuyện bên ngoài mình không có bàn, mình nói về chính mình đi. Mình tu làm sao từ ngày xuất gia tới bây giờ? Câu hỏi đó là đại công án, là một chuyên đề vĩ đại cho tất cả chúng ta thiền quán. Chính vì đó mà ở đây đầu tiên con nói liền: “Đây là một sự thao thức tìm kiếm, tầm cầu”. Bây giờ một người bác sĩ, thì việc làm của bác sĩ hàng ngày là cái gì ạ? Và trước khi trở thành bác sĩ thì phải học ngành gì ạ? Một người tài xế thì trước đó phải học phải không? Phải có bằng lái, rồi phải chạy thực tế, rồi lâu ngày mới trở thành thuần thục. Rồi bây giờ người tu của mình là học cái gì và làm cái gì? Cái đó là để câu hỏi cho chúng ta tự suy nghiệm.
Nếu chúng ta học đúng, chúng ta làm đúng, có kết quả đúng. Nhớ chữ “học đúng” này rất quan trọng à “học đúng, làm đúng, có kết quả đúng”. Chính vì vậy mà mình muốn học đúng thì mình phải có một lý thuyết đúng, chính xác, để cho mình học chứ. Nếu không có một lý thuyết đúng, thì mình làm sao học đúng được? Đầu tiên là mình phải có lý thuyết trước. Bây giờ chúng ta thấy ở đây con dùng cái từ như ở đây: “Với sự truyền thừa suốt 26 thế kỷ, Đạo Phật đã lan tỏa cùng khắp toàn thế giới những cành lá, những màu sắc rất đa dạng, phong phú. Đa dạng, phong phú cho đến nỗi mà bây giờ muốn tìm lại cái gốc của Đức Phật thật sự, là không phải dễ”.
Chỗ này là chỗ chúng ta thấy không ạ? Vì nó quá đa dạng, vì nó quá phát triển, vì nó quá phong phú đi. Cho nên muốn tìm lại cái bản sắc, cái bản chất, gốc cội đó là không phải dễ. Nội người nghiên cứu mà nghiên cứu ra được cái phạm Phật pháp gốc, nguyên chất, là có khi hết cuộc đời chưa nghiên cứu ra nữa. Chúng ta có thấy cái này không ạ? Mình không biết thực sự là hồi đó Đức Phật dạy cái gì, tu cái gì và mình có đúng như vậy không? Mình có học đúng theo Đức Phật, làm đúng theo Đức Phật và các bậc Thánh làm không? Mà để học được cái đó thôi là có khi suốt cuộc đời chưa có tìm ra được, vì nó quá phát triển.
Thì như vậy con mới nói rằng là: “Dường như không biết manh mối từ đâu, đây là điều cay đắng, xót xa cho tất cả người học Phật”. Mọi người nói một kiểu, mạnh ai muốn nói sao thì nói, Tông phái mọc lên như nấm. Khi Đức Phật vừa nhập diệt thì đã chia ra bao nhiêu Tông phái rồi? Bao nhiêu bộ phái? Hai bộ phái. Rồi sau chia ra bao nhiêu? Hai mươi bộ phái. Rồi sang Trung Quốc chia ra bao nhiêu Tông nữa? Sơ sơ là mười Tông. Rồi qua Nhật Bản là bao nhiêu Tông nữa? Rồi cứ như vậy, qua bên Miến Điện, qua bên Triều Tiên... Cho nên nhiều nhánh, nhiều cành, nhiều lá như vậy, cho nên dần dần người ta không biết cái gốc ở đâu nữa hết.
Có khi mình đang học, mình tưởng mình học hay, mình tu giỏi, nhưng thật sự đó không phải là cái gốc của Đức Phật, nó không đưa đến đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Cho nên có khi mình ở suốt cuộc đời ở trong chùa, nhưng mình vẫn sầu, bi, khổ, ưu não. Thậm chí là cái tôi nó lớn hơn là cái lúc còn làm chú tiểu, còn làm cư sĩ còn dễ thương hơn. Như con bây giờ được tấn phong lên thượng tọa là con sợ lắm. Con nghe kêu thượng tọa là con sợ, con cúi cái đầu xuống, mấy cái đó nó giết mình chết. Cho nên ở đây con mới nói là hiện tại có rất nhiều đường lối tu tập, nhưng mà rất khó tìm ra được đường lối tu tập rõ ràng, cụ thể, trực tiếp, trực chỉ, trực diện mà có khả năng nhìn thẳng vào sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si, vô minh, bản ngã và khát ái.
Rất là khó có một phương pháp nhìn thẳng vô nội tâm, thấy được tham, sân, si, dục, ái, bản ngã mà nhiếp phục, đoạn tận nó. Đa số là cầu xin, hướng ra bên ngoài không à, cầu chỗ này rồi cầu chỗ kia. Bên nhà nho có câu này cũng hay lắm:
“Cầu chư nhân, bất như cầu chư kỷ”, cầu ở nơi người khác chẳng bằng cầu ở chính mình. Cho nên khi mình học trong Nikāya rồi mới phát hiện ra, là giáo lý nguyên chất của Đức Phật hết sức là đơn giản. Chỉ quay trở lại nhận diện thân tâm của mình và nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, vô minh thôi. Có bao nhiêu đó à, nó không có nhiều thứ, hết sức là đơn giản và thuần túy.
Như vậy thì người ta tu mới được chứ, mới đạt được kết quả chứ, mới có ra các bậc Thánh chứ. Mình bây giờ chắc giỏi hơn người xưa, cho nên mình làm rất là nhiều “phận sự đa đoan”, mình phải dùng cái từ đó đó. Đa đoan là cũng đa sân, đa tham, thành ra mình chiêm nghiệm cái này hay lắm. Làm sao mà phải tìm ra được một phương pháp, để mà có thể là nhìn thẳng vô tâm, phát hiện ra cái sào huyệt, cái căn cứ địa, những cái hang ổ của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó. Thì cái phương pháp đó, là tất cả người tu mình đang cần, chỉ có cái đó thì mới cứu khổ được chúng sanh.
Bây giờ mình khổ là vì những cái thứ đó mà, bây giờ cái tham, cái dục làm cho mình khổ nè! Cái sân hận làm cho mình khổ nè! Cái si ám, vô minh, không thấy, không biết, làm cho mình khổ nè! Cái tôi, cái ta, cái bản ngã làm cho mình khổ nè! Bây giờ mình muốn hết khổ, thì mình phải diệt những thứ này cho nó hết khổ. Bây giờ mình không chịu quay trở lại để tìm diệt nó, mà mình cứ hướng ra ngoài, kiếm ai đó để làm cho mình hết khổ, thì điều đó là không thể xảy ra được “sự kiện ấy không thể xảy ra”, đó là lời nói của Đức Phật trong kinh Nikāya đó. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô cái giận trong con người mình đó, có ai làm cho hết được không? Cái tham ở trong con người mình đó, có ai làm cho nó hết được không? Cái tôi, ta ở trong con người mình đó, có ai làm cho nó hết được không?
Vậy tại sao mình không chịu quay vô, để mình làm cho nó hết? Hết cái đó là mình hết khổ. Đó là cái nhân quả rất là rõ ràng, nó rất là thiết thực, rất là cụ thể. Mà mình không chịu, mình thấy nó nhạt nhẽo, không màu sắc. Một phần quan trọng nhất, là tại vì mình chưa có thấy được thật sự lời dạy gốc của Đức Phật, chưa có người hướng dẫn, chưa có hành trì. Nếu như mình học đúng pháp, gặp đúng thầy, cộng với sự tinh cần, tinh tấn của mình chắc chắn mình sẽ có được kết quả như nguyện. Chính vì vậy hồi xưa biết bao nhiêu các bậc hiền Thánh Tăng, biết bao nhiêu các vị đắc đạo chứng quả, chúng ta thấy không?
Lại gần Đức Phật chút xíu thôi, Ngài nói pháp rồi ngộ đạo, ở thời gian ngắn là diệt tận hết tham, sân, si, đạt thành các quả dị. Tại vì Ngài ấy dạy đúng, làm đúng, có một bậc thầy sáng suốt chỉ thành công. Thì bây giờ chúng ta chưa có nói gì nhiều, chúng ta chỉ cần nói là tìm cho đúng pháp để mình học. Chỉ bao nhiêu đó thôi, kế đó mình thực hành đúng pháp. Ở đây con có nói là: “Khi cố hòa thượng Minh Châu, bậc đại sư của Phật giáo Việt Nam chúng ta vượt trùng dương đi sang Ấn Độ mà tu học, suốt mười mấy năm như vậy, trở về Ngài dịch kinh cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời”. Tuy tạng kinh đã được dịch ra rồi, cũng có các vị giảng giải, biên soạn, nhưng mà cái sự ảnh hưởng để người ta hiểu về tạng kinh Nikāya đó là cũng chưa có thấy được nhiều, trước nay đó chúng ta có thấy như vậy không?
Thường là mình bị một cái định kiến cho rằng cái đó là tiểu thừa. Mình không biết ai đưa ra cái từ đó đâu, khủng khiếp lắm. Những người đưa ra cái từ đó, là những người đó là muốn cho Phật giáo không có còn nguyên chất nữa. Họ đưa ra những cái từ đó, họ nói ra những lời thật sự của Đức Phật lại là sai. Họ soạn ra những lời khác thì họ nói cái lời đó mới đúng, họ cho họ là đại, là lớn. Và chính vì vậy, những thế hệ sau bị hư tư tưởng. Nghe những cái đó, huân tập những cái đó, rồi cuối cùng lời dạy gốc thật sự của Đức Phật bị mọi người xem thường. Đó là lý do tại sao mà sau 500 năm, thì bắt đầu tới thời kỳ tượng pháp. Thời kỳ chánh pháp chỉ có 500 năm, tại vì sau 500 năm đó rất là nhiều sách vở chước tát ra, phát triển ra nhiều hệ thống tư tưởng mới.
Và cho rằng đây là hay hơn, lớn hơn những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, đó là lý do tượng pháp xuất hiện. Chừng nữa chúng ta học vô cái bộ này chúng ta sẽ thấy, tưởng pháp xuất hiện từ lúc đó, là sau 500 năm. Cho nên một đường lối tu học, một đạo lộ hành trì, một phương pháp thực hành là cấp thiết cấp thiết và cấp thiết, không có gì quan trọng bằng cái này hết. Ở trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật nói với Ngài Ananda: “Nếu mà ở trong Tăng chúng có sự bất hòa về những cái học giới nhỏ nhặt, thì điều đó không có đáng nói. Nhưng nếu như mà có những sự bất hòa về Pháp hành, về đạo lộ hành trì, thì đây là bất an cho chúng sanh, cho chư thiên, cho loài người, là tai họa to lớn cho nhân thiên”. Nếu có những bất hòa về giới đều thứ yếu thì chuyện này không có đáng, đó là chuyện nhỏ.
Nhưng mà nếu trong chúng Tỳ-kheo mà có sự bất hòa về pháp hành, về đạo lộ, về con đường dẫn tới Thánh quả, thì đây là bất an, bất hạnh, tai họa cho chư thiên và loài người. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng, cho nên Đức Phật rất là quan trọng về pháp hành. Nhưng mà ngày hôm nay chúng ta tu không có quan trọng về pháp hành, cho nên không có Thánh đạo. Mà không có Thánh đạo thì không có Thánh trí. Mà không có Thánh trí thì không có Thánh quả. Bây giờ câu hỏi các thầy các cô, một người bác sĩ mà họ đứng những ca phẫu thuật, đại phẫu như vậy. Thì cái cách mà họ mổ, cái cách mà họ xử lý trong ca mổ nó có quan trọng không? Nếu mà chỉ cần họ dốt nát, họ bị trật một cái gì đó hoặc họ lẫn lộn một cái gì đó thì sao? Thì chết người.
Thì đó là pháp hành của bác sĩ đó, tức là cách làm có đúng không, có chính xác không, có thích hợp, có phù hợp không trong trường hợp đó. Thì như vậy pháp hành có quan trọng không? Mà người tu của mình là cái pháp hành đưa từ phàm thành Thánh, từ tâm cấu nhiễu đạt tới tâm thanh tịnh, từ tâm vô minh mà đạt đến Thánh trí huệ. Mà có cách để làm cho được như vậy, mà bây giờ mình không quan trọng cái cách đó, không cần tìm cái cách đó. Thì cuối cùng là không có Thánh pháp, không có Thánh đạo, không có Thánh trí, thì không có Thánh quả. Không có Thánh pháp, tức là không có học tới cái lời dạy gốc của Đức Phật, mà đi học những lời dạy của những người sau này, của những tư tưởng khác, thì Thánh pháp bị mất rồi.
Không học được Thánh pháp, thì làm sao mình thấy được đạo lộ ở trong Thánh pháp đó? Con đường ở trong đó, con đường tức là pháp hành đó. Là cái cách như mình vừa học cái bài kinh “Toán Số Mục Kiền Liên”, thứ tự tu tập, cái đó là đạo lộ, tuần tự đó. Mà bây giờ mình không có gặp được đúng giáo pháp của Đức Phật, mình không thấy được con đường tu hành, cách thức hành trì, đạo lộ hành trì, tuần tự hành trì, thứ tự hành trì, thì làm sao mình thành tựu được trí huệ của bậc Thánh. Thánh trí không thể thành tựu được, mà Thánh trí không có thì làm sao có thể mà diệt tận được vô minh, để cho minh sanh khởi. Nếu mà không diệt tận được vô minh, thì khát ái không thể chấm dứt. Vô minh, khát ái mà còn, thì làm sao đạt được tâm thanh tịnh của Thánh quả? Thánh quả là thành quả của sự tu học chân chánh thôi, chứ không có gì hết.
Như bây giờ mình trồng cây thì nó ra trái có lạ không hay là bình thường? Bây giờ mình trồng cây sầu riêng mà nó ra trái sầu riêng là lạ hay mình thường? Bây giờ mình đi chùa, mà mình qua khỏi cổng chùa, mình đến chùa Hòa Khánh là mình đến đây bình thường hay là lạ? Bình thường hay là bất thường? Nói lớn lên nghe coi. Mình ăn cơm mà một hồi nó no thì là bình thường hay bất thường? Mình uống nước mà nó đã khát, nó giải khát là bình thường hay bất thường? Mình may cái áo mà từ cái vải nó thành cái áo là bình thường hay bất thường? Mình tu mà mình thành Thánh quả là bình thường hay bất thường? Bây giờ hiện tại chúng ta toàn là bất thường không à.
Tu không có Thánh đạo, Thánh quả, không có thành tựu Thánh trí, cho nên đó là bất thường. Thì bất thường đó tức là mạt pháp, không có “Bốn đôi tám chúng”, hiền Thánh xuất hiện. Không thấy, không gặp, kiếm đỏ con mắt không ra. Mà gặp đâu cũng toàn tham, sân, si, bản ngã không, thì đó là bất thường. Vì từ cái bước đầu Thánh pháp đã không có, học không có đúng. Giờ vô đầu tiên dạy sao ạ? “Con phải ráng học, con phải lấy bằng cấp, con phải lên trụ trì, con phải làm giảng sư, kinh sư hay là thiền sư hay là cái gì sư đó không biết”. Dạy như vậy đó, tức là không có dạy Thánh phápm dạy phàm phu pháp. Tức là người học từ ban đầu, đã được hướng dẫn đi vào lối tẻ rồi, không có đi chánh đạo. Tu chánh đạo phải đạt Thánh quả chứ. Như vậy Thánh pháp là nói cái gì? Thánh pháp là dạy cái gì?
Thầy này nói: “Đoạn trừ tham, sân, si”, cho một tràng pháo tay lớn thật lớn đi. Nhưng mà làm sao để đoạn trừ tham sân si? Là nhận diện ngũ uẩn (cho tràng pháo tay lớn nữa). Làm sao để nhận diện ngũ uẩn? Làm sao nhìn ra được ngũ uẩn, năm uẩn? Mình phải gặp được người hướng dẫn đúng cách. Đó là cái trình tự của nó đó. Cho nên mình không gặp được người hướng dẫn đúng, là toàn bộ phía sau này không có. Cho nên cuộc đời của con hạnh phúc nhất là con gặp được bậc Chánh kiến, đây là hạnh phúc mà lấy cả quả địa cầu này để đổi cũng không đổi, là gặp được cái bậc này, người thành tựu Chánh kiến. Chỉ có người đó mới chỉ cho mình được năm uẩn.
Từ chỗ mình nhận diện được năm uẩn, thì mình thấy được tham sân si. Từ chỗ mình thấy được tham sân si, thì mình mới nhiếp phục và đoạn tận. Mà nhiếp phục và đoạn tận bằng cái gì? Bằng Thánh đạo. Và khi mình nhiếp phục, đoạn tận lần lần sẽ có được Thánh trí huệ này để nhiếp phục nó. Khi mình thành tựu được Chánh kiến thì mình sẽ có Thánh trí tuệ, thánh trí để mình biết được nó, mình thấy được nó, mình có được những cách để mình đoạn tận nó. Thì lần lần mình sẽ đi đến kết quả. Chúng ta thấy nó có rõ ràng không? Sao rồi im ru hết trơn vậy? Tỏ không? Sáng không? Tu phải như vậy đó, chứ không phải là tu lờ mờ. Bây giờ tự nhiên mình chạy ngoài đường, người ta hỏi chứ cô đi đâu? Trả lời tôi không biết đi đâu. Rồi cứ chạy như vậy, người ta hỏi đi đâu cũng không biết đi đâu, tới đâu thì tới à.
Như vậy người đó có bình thường không? Có vấn đề không? Mà mình bây giờ cũng giống như vậy đó. Mình tu bây giờ là có vấn đề, tại vì mình không biết mình đi đâu hết trơn á. Tại vì một khi mình không thấy được ngũ uẩn, thì làm sao mình biết? Không biết ngũ uẩn tức là mình không thấy mình một cách đầy đủ. Mà mình không biết mình một cách đầy đủ, thì tu tới đâu làm sao mình biết. Cho nên hôm qua là chúng ta giải chữ “hướng dự lưu”, chúng ta có nhớ không ạ? Nghe lại cái bài đó rất quan trọng. Thật ra bài kinh ngày hôm qua là tổng cương lĩnh của tạng kinh Nikāya đó. Toàn bộ sự tu hành của chúng ta, chỉ là thanh lọc tâm cấu nhiễm thôi, tẩy sạch cái tâm cấu uế chừng nào nó hết là xong. Sự tu hành có bao nhiêu đó thôi bốn chữ “thanh lọc nội tâm”, “thanh lọc tâm cấu nhiễm”.
Mà bây giờ làm sao để thanh lọc tâm cấu nhiễm? Phải thấy cái tâm trước, thấy cái tâm rồi mới thấy nó cấu nhiễm, rồi mới có phương pháp thanh lọc, tẩy sạch. Đối với một người thấy được tâm cấu nhiễm, thì người đó mới tu được. Người đó sẽ có một cái năng lực, Đức Phật gọi là: “Dòng chảy đưa người về phía trước”, cái dòng nước đó nó đẩy người đó đi về phía trước, tự động. Khi một người đã nhập lưu, đã vào dòng trí tuệ rồi, thì người này bất thoái chuyển, không có còn lùi lại nữa. Tại vì khi người này thấy được cái tâm cấu nhiễm, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, dơ bẩn, bẩn thỉu, cấu nhiễm, dơ uế như vậy thì người này không có chịu nổi, người này sẽ ray rứt, thao thức, đau khổ ở trong lòng.
Khi mà nhìn thấy cái nội tâm của mình như vậy, thì người này tự nhiên có một cái động lực để làm sạch, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch. Thì cái sức mạnh đó là sức mạnh của bậc hữu học, của bậc thành tựu Chánh tri kiến, chúng ta phải nỗ lực lắm mới đi tới đó. Như là lớp chúng ta thật sự là hy hữu, hiếm có và khó gặp. Con nói thật các thầy cô, tất cả các trường trong nước Việt Nam luôn, không phải dễ mà được học nhận diện ngũ uẩn này. Mà chúng ta được học nhưng mà hỏi lại không có để ý, chú ý nhiều, thì cái đó là sự tổn thất của chính mình. Chúng ta được một cái nhân duyên hết sức là hy hữu, hiếm có cho tất cả các Tăng Ni của cả nước Việt Nam. Lớp này có thể là lớp lâu nhất trong tất cả các lớp, được hướng dẫn một cách đầy đủ nhất trong tất cả các lớp.
Chỉ cần người chịu khó, để ý, siêng năng một chút là đã nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si. Và có khả năng hướng dự lưu và nhập lưu trong cái lớp này. Tức là vào “Bốn đôi tám chúng” đó, chính thức làm đệ tử của Phật thật sự. Bây giờ thật là khó, không phải dễ mà được nghe những cái này. Mà càng rất là khó để được cho chúng ta làm bài tập, để nhận diện ngũ uẩn. Và cho chúng ta chia sẻ, trình pháp những cái tâm mà nó vận hành như thế nào, mình thấy được hết trơn, mình đứng mình nhìn mà. Hồi xưa mình có biết không? Chưa học nhận diện ngũ uẩn thì mình biết cái gì đâu. Ngồi thiền rồi nhắm mắt đơ đơ ra, giỏi lắm thì được yên yên một chút là đi ra mừng húm rồi.
Tu ở trong cái mờ tối, hành trì ở trong cái vô minh. Không thấy được ngũ uẩn, là mình không biết cái gì tu hết, mình chỉ làm được một chút thiện pháp ở bên ngoài thôi. Cho nên ngoại đạo là thành tựu cái khổ hạnh, thiền định, rất là thâm sâu. “Tứ thiền bát định”, nhưng mà vẫn gọi là phàm phu định, phàm phu thiền. Sanh lên được các thiên giới, thành chư thiên, thậm chí là thành các bậc phạm thiên nhưng mà không thể thoát ly khỏi sanh tử, không đi ra khỏi ngũ uẩn được. Tại vì còn vô minh đối với ngũ uẩn, còn tham ái, khát ái đối với năm thủ uẩn. Cho nên là tu cho đến mức độ nào cũng là phàm phu thôi, nếu không gặp bậc Chánh đẳng chánh giác hoặc là đệ tử của Ngài hướng dẫn.
Đó là chỗ quý báu mà một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện ở trên cuộc đời này. Tại vì chỉ có Ngài mới là bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, chỉ có Ngài mới là bậc liên thuyết đạo lộ xuất ly, chỉ cho người ta đi ra khỏi đường năm thủ uẩn, không có thể có một người thứ hai. Trừ ra Ngài, các bậc Thánh chúng, hay là những vị đã được nghe Ngài hoặc là các bậc Thánh chúng đó nói, thì mới biết được con đường thoát ra. Còn ngoài ra tất cả chúng sanh là điều trong u mê, vô minh hết. Chỗ đó là một chỗ quý báu khi một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện trên cuộc đời và chỗ quý báu mà khi một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện ở trên cuộc đời, chỗ quý báu mà chúng ta gặp được câc bậc Thánh, các bậc thành tựu Chánh tri kiến.
Còn nếu không gặp các bậc đó, thì mình tu 1 tỷ kiếp, cho mình tu cùng cực khổ hạnh, cùng cực thiền định luôn cũng là phàm phu thôi à. Giỏi thì sanh lên các cõi trời sắc giới, hay là vô sắc giới, ở trong tam giới chứ không đi ra được. Tại vì còn nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình, của mình. Còn yêu, còn thích sắc, thọ, tưởng, hành thức. Thí vụ như các vị ở cõi vô sắc là yêu thích một cái cảm giác trống rỗng, thanh tịnh như vậy. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở vô xứ. Không có thích cái thân này nữa, dơ dáy, bẩn thỉu, thấp hèn, xấu hổ, nhục nhã, không thích. Mà thích thân trống rỗng, mênh mông, bao la, không có thân và chứng đắc được ở trong đó luôn.
Cho nên trú trong những cái thiền định đó là những cái đại kiếp, thành hoại của trái đất ở trong đó. Nhưng mà hết cái thiền định đó rồi là lọt xuống, rơi xuống địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, rồi tiếp tục khổ đau, tham, sân, si, bản ngã nữa. Thành ra cái quý vô cùng, vô cực là Chánh tri kiến, Thánh tri kiến, là cái thấy đúng của bậc Thánh, cái này không bao giờ trả ơn được. Đức Phật nói có ba bậc không bao giờ mình lễ lạy, cúng dường bằng tất cả sinh mạng của mình mà có thể đền ơn được. Thứ nhất: Người hướng dẫn mình quy y Tam Bảo trong Tăng Chi Bộ kinh, quy y ở đây không phải là buổi lễ đơn sơ như mình đâu, mà bằng tất cả tấm lòng thật sự suốt đời quy ngưỡng Phật – Pháp - Tăng đó, chứ không phải chỉ hình thức nha. Mà thật sự mình đem cả sinh mạng của mình quay về nương tựa Phật – Pháo – Tăng mà được người hướng dẫn. Thì người hướng dẫn đó là đại ân nhân, không thể nào mình trả hết. Dù cho mình có giặt giũ, nấu nướng, đem thâm làm giường tọa cho vị đó ngồi, hay dùng cả cuộc đời mình cung phụng mình cũng khồng báo ơn hết vị hướng dẫn mình 3 pháp quy y đúng Chánh pháp.
Người thứ 2 là bậc chỉ cho mình, dạy cho mình thành tựu Chánh tri kiến, không thể nào mình đem cái gì mình báo ơn hết cho vị đó hết. Là bậc chỉ cho mình Chánh tri kiến, thấy đúng về ngũ uẩn, về tự thân tâm của mình. Và bậc thứ 3 là người giúp cho mình dạy dỗ, giáo dục, hướng dẫn cho mình đoạn tận các lậu hoặc để mình thành tựu Thánh quả, đó là ân nhân vĩ đại thứ 3. Ba vị này là không bao giờ mình có thể đáp ơn hết được. Cho nên ở trong đây cho mới nói là: “Khi đọc bộ sách này con đã không thể ngăn được dòng lệ tuôn trào hạnh phúc, sung sướng. Khi nhìn thấy Chánh pháp từ ngàn xưa tưởng như đã bị mai một, giờ đây đã được thắp lên, được khơi dậy.
Bộ sách này: “Thật là vi diệu thay! Thật là vi diệu thay!” Bộ sách này thật là ánh sáng, kim chỉ nam, là đạo lộ tu hành chân xác với tinh thần nguyên chất của Đức Phật. Để cho chúng sanh đoạn tận được đảo điên, say đắm và khổ đau. Chúng ta nhớ lịch sử của Đức Phật là Ngài thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết, rồi Ngài thấy một người đi xuất gia, Ngài xúc động mạnh nên Ngài mới đi tu, đi tầm đạo. Và cuối cùng Ngài chứng nhập được cảnh giới Niết – bàn, bất tử. Như vậy mình phải thấy rõ được mục đích của đạo Phật, thì người tu của mình mới có một phương hướng, mới có mục đích, mục tiêu tiến thẳng.
Còn nếu mình tu mà mình không thấy được con đường, không thấy mục đích, không thấy mục tiêu, chỗ nhắm của mình, thì mình sẽ đi lệch hướng, tâm mình đặc sai hướng. Sự hành trì của mình đi lệch hướng vào nhiều cái ngã rẽ, lối tẻ. Và cuối cùng một đời tu của mình trong những giây phúc cuối cùng trong cuộc đời, trong giường bệnh là mình sẽ hối tiếc. Thật là đau đớn cho chúng ta, nếu không sát quyết, rõ ràng mục đích của sự tu. Đúng ra là giờ này con không có ở đây, vì một sư bà nằm trên giường bệnh ở bên Mỹ giao chùa cho con. Sư bà là lớp học đầu tiên ở Chân Không. Chúng ta biết thiền viện Chân Không không ạ? Là thời là đại đệ tử của hòa thượng Trúc Lâm.
Lúc đó con chưa vào dòng pháp Nikāya này nữa, mới có tiến gần tới thôi chứ chưa đi vào trọn vẹn 100% như bây giờ. Thì thiền viện Trúc Lâm có mời con về chia sẻ cho trong đại chúng 4 tháng về kinh A-hàm, con rất là xoáy sâu về vô thường, khổ, vô ngã. Lúc đó sư bà phát hiện ra mình bị ung thư giai đoạn cuối ở bên Mỹ, thì lúc đó sư bà mới nghe bài của con 4 tháng con chia sẻ trong thiền viện Trúc Lâm, đào sâu nhiều phương diện, khía cạnh về vô thường, khổ, vô ngã. Sư bà thấm thía và điện thoại cho con ở trong nước mắt, sư bà xưng con, con rất là xúc động “Tới bây giờ con mới cảm nhận được những lời thầy, con mới thấm thía được chữ vô thường, khổ, vô ngã khi nằm trên giường bệnh, sắp sửa kết thúc đời sống”.
Sư bà mới kêu con đi qua đặng giao, nhưng mà con thì trọn đời là làm một chú tiểu, làm một người ăn xin, vô sản. Dù ở trên hình thức là con có đảm nhận trách nhiệm ở đây ở kia. Nhưng trong tâm con là cái nùi giẻ rách, một kẻ ăn xin, hoàn toàn vô sở hữu. Vả chăng nếu con sở hữu thì duy nhất đó là Thánh pháp tối thượng cúa Đức Phật, ngoài ra con không có bất cứ một vật gì ở trên đời. Cho nên con thấy cái mầm mống ở trong đó, là bà con của sư bà không có hoan hỉ nên con không có qua. Mà con có qua thì con chỉ giảng pháp xong thì con về thôi, không có nhận ngôi chùa. Thì như thế các vị đó càng quý kính. Mình thấy những mầm mống tai họa mình tránh sớm, mình được an ổn. Cho nên ngày giờ này mới vô được Nikāya, chứ nếu lúc đó nhận là giờ xong rồi.
Cảm Nhận Về Bộ Sách
Thích Minh Thành
Ngày 14 tháng 02 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm nhận của Sư Phụ về bộ sách PAGEREF _Toc137396836 \h 1
II. Con đường tu học chân chánh PAGEREF _Toc137396837 \h 7
I. Cảm nhận của Sư Phụ về bộ sách
Bộ sách này rất là công phụ, là cả một công trình nghiên cứu rất là nghiêm túc, rất là dài, suốt 15 năm. Một sự tu học của Ngài là đến mức độ rất là thâm sâu, khó lường. Cho nên cầm trên tay quyển sách này con rất là xúc động, tại vì Ni sư soạn quyển sách này bằng cả sinh mạng, tâm huyết trong lúc nằm ở trên giường bệnh. Cho nên bộ sách này là cả một huyết lệ, xương máu và cốt tủy của tạng kinh Nikāya. Cho nên con mong rằng tất cả các thầy cô cố gắng về đọc trước, để khi mình nghe giải thích mình sẽ nắm bắt dễ hơn. Về tác giả của bộ sách này thật là khó nói bằng lời, là một bậc đại đại trí tuệ, hiếm có, khó gặp, “thiên cổ nhất nhân” ở trên cuộc đời này.
Cho nên chúng ta cầm bộ này lên là chúng ta phải trân trọng, tại vì Ngài có thể là cũng không còn ở trên đời này được bao lâu nữa. Để lại cho chúng ta đầu tiên là bộ “Phân Loại Nikāya” ở trên trang Linh Quy hay là trên app của Linh Quy Pháp Ấn chúng ta thấy đó. Đây là công trình làm 10 năm, phân loại thành 500 chủ đề của tạng kinh Nikāya, chúng ta được học là con trích từ trong đó. Và công trình thứ 2 chính là bộ “Tinh Hoa Nikāya” này, là 2 công trình thật là lớn. Bây giờ Ngài ẩn tu, Ngài không có xuất đầu lộ diện ra bên ngoài. Nhưng cái sự thực tu, thực chứng thì sau này lịch sử sẽ ghi nhận, bây giờ chắc là không có mấy người biết. Con nói một chút vậy để chúng ta trân trọng bộ sách mà mình đang có, bởi vì tác giả đã bố thí pháp cho con là 350 bộ, tức là trên 1.000 quyển.
Trước khi chúng ta đi vào quyển này, thì con có một lời cảm nhận khi đọc bộ sách này. Đúng ra là lời này sẽ được đăng vô bộ sách này, nhưng mà thầy của con không có muốn con rơi vào cái danh lợi, cho nên không có đăng. Chúng ta nghe lời cảm nhận của con viết: “Một điều thao thức, tìm kiếm, tầm cầu cho tất cả người học Phật. Từ xuất gia cho đến tại gia, tu sĩ hay cư sĩ, là một phương pháp hành trì chân sát đúng như lời Đức Phật dạy. Đây là điều cấp thiết, cấp bách của toàn thể Tăng Ni, Phật tử trên khắp hành tinh. Với sự truyền thừa suốt gần 26 thế kỷ, đạo Phật đã lan toả toàn thế giới với những cành lá, màu sắc rất đa dạng và phong phú.
Chính vì đa dạng và phong phú cho đến nỗi, mà ngày nay người học Phật muốn tìm Phật pháp nguyên chất thật sự của Đức Phật đã giảng dạy là gì, thì dường như không biết mạnh mối từ đâu. Đây là điều cay đắng, xót xa cho tất cả người học Phật. Hiện tại có rất nhiều đường lối tu tập trong Phật giáo, chúng ta rất khó tìm ra được đường lối tu tập rõ ràng, cụ thể, trực tiếp, trực chỉ, trực diện có khả năng nhìn thẳng vào sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân si, bản ngã, vô minh, khát ái, để có thể phát hiện, nhiếp phục và đoạn tận. Con tuy đã trải qua nhiều năm tu học, nhưng đến khi nhìn lại nội tâm thì vẫn thấy vô cùng hổ thẹn, xấu hổ, tàm quý. Bởi do con vẫn chưa thật sự nhìn ra được thân và tâm của mình một cách chính xác, để tìm ra được một phương pháp chân chánh diệt tận các lậu hoặc.
Chính vì vậy, một đạo lộ tu tập, một đường lối hành trì, một phương pháp thực tập là một điều hết sức quan trọng cho người học Phật hiện nay. Từ khi cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu - bậc thầy lớn của Phật giáo Việt Nam, đã vượt trùng dương sang Ấn Độ tu học suốt mười mấy năm, sau khi trở về Việt Nam, Ngài đã dành cả cuộc đời của mình để phiên dịch đại tạng kinh Nikāya, lời dạy cội gốc, nguyên chất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy đại tạng kinh đã được dịch ra tiếng Việt, nhưng sự nghiên cứu, học hỏi hành trì và truyền bá những lời Phật dạy trong tạng kinh này chưa được phổ biến.
Đối với những người Phật tử, thậm chí là Tăng Ni xuất gia lâu năm ở trong chùa, vẫn bị ngỡ ngàng khi nghe đến từ “Nikāya”, và không biết đó là kinh gì, đây thật là một điều đau xót. Sau việc làm của cố hòa thượng Minh Châu, cố hòa thượng Chân Thiện cũng biên soạn và giảng giải kinh Nikāya, kế đó nữa là cố Ni Sư Trí Hải cũng tóm tắt những lời kinh. Và gần đây nhất là có thầy Quản Tánh, cũng gom nhặt lại những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật để in thành sách. Và qua đó cũng có một số Phật tử, một số đọc giả cảm nhận được phần nào giá trị cao quý của những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Kể từ khi xuất hiện những bản dịch thuật kinh Nikāya, của bậc tôn túc lớn của giáo hội Phật giáo Việt Nam là Hòa thượng Minh Châu cho tới nay đã hơn 40 năm.
Nhưng để người học Phật nắm được trọn vẹn, cốt lõi, tinh hoa, yếu chỉ tu tập của tạng kinh Nikāya vẫn là một điều thiên nan, vạn nan. Không khác gì một người đi vào trong khu rừng rậm rạp bạt ngàn, vô số cây cối, núi đồi chập chùng rất khó khăn để xác định được con đường thoát ra. Trong giữa khu rừng rậm rạp, bao la cây cối đó, bậc đại thiện tri thức, bậc đại hiền trí Chơn Tính Toàn đã không quản khó nhọc, đem hết tâm lực, sức lực, trí lực, nguyện lực của cuộc đời để nghiên cứu, tìm hiểu, suy tư, lắng nghe, học hỏi trong tạng Nikāya. Và cuối cùng Ngài cũng đã nhìn thấy rõ được một đạo lộ, hành trì minh bạch, sáng tỏ, thiết thực đó chính là Thánh trí năm uẩn.
Trí huệ này tóm thâu cả thế giới, thân tâm và vạn vật. Tất cả thân người, cảnh vật, mọi vật đều thuộc về sắc uẩn. Tất cả những cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu thuộc về thọ uẩn. Tất cả những hình bóng thô, tế trong tâm thuộc về tưởng uẩn. Tất cả những suy nghĩ, lời đó thầm trong tâm thuộc về hành uẩn. Sự rõ biết bên trong và bên ngoài sáu trần thuộc về thức uẩn. Như vậy năm uẩn tóm thâu tất cả con người, nhân sinh, vũ trụ và thế giới. Đức Thế Tôn xác nhận rằng: “Năm uẩn là thế giới, thế giới là năm uẩn”. Trong tấm thân cao một thước 8 này có đầy đủ thế giới, và cũng chính trong tấm thân một thước 8 này, Đức Thế Tôn tuyên bố về sự khổ đau và con đường chấm dứt đau khổ.
Đây là một phát hiện vĩ đại, một công trình tâm linh hy hữu, vỹ tầng hữu sau hơn 2.000 năm Chánh pháp bị mai một. Đây là một kỷ lục vĩ đại của Phật giáo, đây là một thành quả to lớn, một cống hiến vô giá của tác giả đối với Phật giáo trong thời đại ngày nay. Khi đọc quyển sách này, con đã không thể ngăn dòng lệ tuôn trào hạnh phúc, sung sướng. Vì nhìn thấy Chánh pháp từ ngàn xưa tưởng như bị mai một, giờ đây được thắp lên, được khơi dậy. “Thật là vi diệu thay! Như người dựng đứng lại bị quăn ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc”.
Bộ sách “Tinh Hoa Nikāya” này thực sự là ánh sáng, là kim chỉ nam, là đạo lộ tu hành chân sát theo tinh thần nguyên chất của Đức Phật dạy. Làm cho tất cả chúng ta có thể tận mắt chứng kiến những cảm giác dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã. Đã và đang thúc giục, điều khiển, khống chế ở bên trong, làm cho chúng sanh điên đảo, say đắm và khổ đau. Một khi đã nhận diện được năm uẩn, thực tập được sự xoay lại nhìn rõ thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng và tâm thức của mình. Chúng ta sẽ thấy rõ những cặn bã, cấu uế, tạp nhiễm, rác bẩn trà trộn, ẩn náo tiềm tàng, mai phục khắp mọi nơi trong thân và tâm này.
Sau khi đã nhìn thấy được rõ những cặn bã, cấu uế ẩn núp trong năm uẩn rồi, chúng ta sẽ có phương pháp “Bát chánh”, tuyệt chiêu của bậc Thánh, đó là: Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Để điều chỉnh cách nhìn nhận về thân tâm, cuộc đời, để rời bỏ những ham muốn, nóng giận, những suy nghĩ hại mình hại người và chúng ta sẽ có những lời nói hiền hòa, từ ái, chân chính, có những hành động phù hợp với đạo lý. Đời sống sẽ được nuôi dưỡng bởi những nghề nghiệp chân chính, sự tinh tấn, chân chánh được thân tâm, dần dần sẽ đến chỗ thanh lọc, trong sạch. Từ đó chúng ta sẽ có được sự quan sát sâu sắc về bản chất của cuộc đời, không còn nhìn nhận sai lầm trong vô minh, si ám. Và cuối cùng là thành tựu được một nội tâm tịch tịnh, an định thật sự từ phương pháp tuyệt diệu, gọi là Thánh chánh định.
Đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại và vị lai đã, đang và sẽ đi qua để đến được hành trì Niết-bàn, an lạc, hạnh phúc tối thượng. Đây là đạo lộ độc nhất mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi, và những người học Phật chân chánh nơi hiện tại và vị lai sẽ đi, để đến được ngôi thành trì an lạc tối thượng. Mục đích của đạo Phật là gì? Tại sao có sự chứng ngộ của Đức Phật? Tại sao đạo Phật lại xuất hiện ở trong cuộc đời này? Sứ mệnh thật sự của đạo Phật ở trong cuộc đời này là gì? Chúng ta nhớ lại lịch sử của Đức Phật là sau khi chứng kiến cảnh trạng già nua, bệnh tật, chết chóc. Từ trong tâm của Ngài đã có một sự thúc giục mãnh liệt, là làm sao để tìm ra được con đường thoát khỏi cái bị sanh, thoát khỏi cái bị già, thoát khỏi cái bị bệnh, thoát khỏi cái bị chết, thoát khỏi cái bị sầu, bi, khổ, ưu não.
Ngài đã trải qua một quá trình nỗ lực tu tập không ngừng nghỉ, Ngài đã thành tựu được mục đích tối thượng của mình là thoát ly sinh tử, diệt tận khổ đau và chứng nhập cảnh giới bất tử. Vậy làm thế nào để đạt được mục đích đó? Đức Phật đã dạy rõ ràng là: “Chỉ khi có được sự thấy biết chơn chánh, mới có thể xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn, làm giảm thiểu và dần dần đưa đến sự chấm dứt khát ái đối với sự chấp thủ ở nơi năm uẩn này”. Có nhìn thấy rõ mục đích của đạo Phật, người tu mới có phương hướng hành trì. Có thấy được đích đến của mình là gì, người tu mới có thể tiến thẳng đến mục đích đó. Trái lại, nếu người tu không thấy đúng, như vậy sẽ đặt tâm sai hướng và sẽ đi lệch hướng vào nhiều ngã rẽ, hay là lối tẻ.
Cuối cùng một đời tu hành của chúng ta ở giây phút sau cùng, chỉ là sự hối hận và tiếc nuối. Thật là đau đớn cho chúng ta, nếu không sát quyết rõ ràng mục đích của sự tu. Nội dung trong quyển sách này là trình bày cho chúng ta thấy được tinh hoa, trí tuệ của Đức Phật, tinh hoa Phật trí. Cũng như là lộ trình tu tập về giới, định, huệ được thực thi như thế nào. Và cũng thấy được đầy đủ một cách sâu sắc, về toàn diện lời dạy của Đức Phật. Những ai không có điều kiện trực tiếp đọc hết đại tạng Nikāya, chúng tôi cũng xin giới thiệu nội dung quyển sách này, để giúp rút ngắn thời gian tự tìm kiếm. Để có thể trực tiếp cảm nhận được tinh hoa, cốt lõi thật sự của giáo pháp.
Có thể nói quyển sách này là tiểu tạng kinh Nikāya, tất cả những gì thuộc về lời dạy tinh hoa, những giáo pháp thiết yếu, thâm sâu được biên tập một cách gọn gàng, đầy đủ, chi tiết. Trong phần nội dung của quyển sách này, sẽ giúp cho chúng ta thấy rõ con đường hành trì đúng theo lời dạy của Đức Phật. Bằng tất cả tấm lòng, con xin tri ân vô lượng đến bậc thiện tri thức Chơn Tính Toàn, người đã dùng tất cả tấm lòng và trí tuệ của mình để biên soạn thành một bộ sách có giá trị vô giá. Tóm thâu được toàn bộ những yếu nghĩa, yếu chỉ, yếu lý mà Đức Thế Tôn muốn truyền trao trong kinh tạng Nikāya.
Con xin thay mặt tất cả Tăng Ni và Phật tử nói lên tấm lòng thành kính, biết ơn vô tận đối với bậc đại trí tuệ, bậc đại hiền trí đã đem ánh sáng Chánh pháp chân chính, soi rọi trở lại cuộc đời đầy vô minh, si ám này. Quyển sách này có thể làm giáo trình quan trọng trong tất cả trường Phật học, các học viện Phật giáo, cho đến các tu viện, thiền viện. Dù là Phật giáo nguyên thủy, phát triển, hay là bất cứ tông phái nào cũng đều có thể lấy đây làm giáo trình, làm kim chỉ nam, làm đạo lộ hành trì. Bộ sách này là chiếc chìa khóa, là mật mã dùng để mở ra cánh cửa Thánh trí của Đức Phật, đã gần như bị lãng quên sau hơn 2.000 năm.
Kính mong những người hữu duyên sẽ đón nhận, xem đọc, học tập và hành trì với một tấm lòng trân quý vô hạn. Để không phụ công ơn to lớn của bậc đại hiền trí thức trong thời đại mạt pháp này. Kính nguyện Thánh pháp này sẽ là thần dược mở mắt cho trời, người, chúng sanh, muôn loài. “Để tất cả chúng ta chứng kiến chân lý tối thượng, siêu diệt, thời không, thiết thực, hiện tại có hiệu quả tức thời được người trí tự mình giác hiểu”.
Linh Quy Pháp Ấn, ngày 28 tháng 9 năm 2019 (nhằm ngày 30 tháng 8 năm kỷ hợi)
Con, trò Thích Minh Thành cúi lạy.”
Dạ thưa đó là lời cảm nhận khi đọc bộ sách, từ lúc đó là bộ đó mới có một cuốn thôi, thì con đã cảm xúc khi đọc và viết ra lời cảm nhận đó. Trước khi đi vào bộ sách “Tinh Hoa Nikāya” thì con muốn chia sẻ, để quý thầy quý cô thấy được tầm vóc, giá trị để mình không có nhìn sai, không có xem thường. Để mình có một cái tâm thái chuẩn bị, sửa soạn, để đi vào học bộ sách có thể nói là “không tiền tuyệt hậu”. Tức là trước nay chưa từng có một bộ sách như vậy viết về tạng kinh Nikāya trên toàn cầu, không phải chỉ trong nước Việt Nam mình. Chưa có một tác giả mà có thể soạn ra bộ sách nói lên hết tinh hoa, cốt lõi, toàn bộ Thánh pháp tạng kinh Nikāya đầy đủ, tường tận.
II. Con đường tu học chân chánh
Mà nhất là bộ này là khai triển về “Bát Thánh đạo”, 8 đúng của bậc Thánh. Trước nay chưa từng có ai giải thích “Bát Thánh đạo” như vậy, chúng ta học, chúng ta đọc đi rồi sẽ thấy. Đây là sự triển khai của bậc đã thành tựu Thánh tri kiến, không phải là của dạng tầm thường. Đầu tiên cái ý con nói là gì à? “Một điều thao thức, tìm kiếm, tầm cầu của tất cả người học Phật là một phương pháp hành trì”. Bây giờ con xin hỏi các thầy, các cô, hiện tại pháp hành của mình là gì ạ? Sao im ru hết trơn vậy, cái này quan trọng à. Con nói về pháp hành hiện tại của Phật giáo thời hiện đại bây giờ nè, là gì thưa cô? Mình nhìn một chút về cái mà mình đang thực hành, chưa có nói về cái pháp mình đang được học. Hiện tại pháp hành của mình bây giờ là cái gì?
Sư cô 1:
“- Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hiện tại pháp hành của toàn bộ Phật giáo trong nước Việt Nam này, chủ yếu là thực hành về tịnh độ, tụng kinh, trì chú, niệm Phật. Và sau đó là đến đời sống đời thường của người dân là đi từ thiện, và cứu trợ này kia. Chứ không có thực hành pháp kinh Nikāya, trong thời Đức Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Thầy: Mà người xuất gia của mình phát hành quan trọng nhất là cái gì? Người tu mình đó.
- Dạ thưa thầy, thưa đại chúng, pháp hành quan trọng nhất của người xuất gia theo lời Đức Phật dạy là thực hành diệt trừ tham, sân, si trong tâm và ngoài tâm của mình. Đối với hiện tại thời bây giờ thì nó đi sai lệch rất là nhiều, ví dụ như là trong mùa xuân này, thì hiện tại rất là nhiều chùa, chiếm khoảng 80% là cúng sao giải hạn và giải tam tai, là đi lệch với nhà lời Phật dạy rất là nhiều. Còn đối với đi sâu vào pháp hành của lời Đức Phật dạy nguyên thủy, thì rất là ít, hầu như là ít có trong hiện tại ngày nay.”
Bây giờ cái chuyện bên ngoài mình không có bàn, mình nói về chính mình đi. Mình tu làm sao từ ngày xuất gia tới bây giờ? Câu hỏi đó là đại công án, là một chuyên đề vĩ đại cho tất cả chúng ta thiền quán. Chính vì đó mà ở đây đầu tiên con nói liền: “Đây là một sự thao thức tìm kiếm, tầm cầu”. Bây giờ một người bác sĩ, thì việc làm của bác sĩ hàng ngày là cái gì ạ? Và trước khi trở thành bác sĩ thì phải học ngành gì ạ? Một người tài xế thì trước đó phải học phải không? Phải có bằng lái, rồi phải chạy thực tế, rồi lâu ngày mới trở thành thuần thục. Rồi bây giờ người tu của mình là học cái gì và làm cái gì? Cái đó là để câu hỏi cho chúng ta tự suy nghiệm.
Nếu chúng ta học đúng, chúng ta làm đúng, có kết quả đúng. Nhớ chữ “học đúng” này rất quan trọng à “học đúng, làm đúng, có kết quả đúng”. Chính vì vậy mà mình muốn học đúng thì mình phải có một lý thuyết đúng, chính xác, để cho mình học chứ. Nếu không có một lý thuyết đúng, thì mình làm sao học đúng được? Đầu tiên là mình phải có lý thuyết trước. Bây giờ chúng ta thấy ở đây con dùng cái từ như ở đây: “Với sự truyền thừa suốt 26 thế kỷ, Đạo Phật đã lan tỏa cùng khắp toàn thế giới những cành lá, những màu sắc rất đa dạng, phong phú. Đa dạng, phong phú cho đến nỗi mà bây giờ muốn tìm lại cái gốc của Đức Phật thật sự, là không phải dễ”.
Chỗ này là chỗ chúng ta thấy không ạ? Vì nó quá đa dạng, vì nó quá phát triển, vì nó quá phong phú đi. Cho nên muốn tìm lại cái bản sắc, cái bản chất, gốc cội đó là không phải dễ. Nội người nghiên cứu mà nghiên cứu ra được cái phạm Phật pháp gốc, nguyên chất, là có khi hết cuộc đời chưa nghiên cứu ra nữa. Chúng ta có thấy cái này không ạ? Mình không biết thực sự là hồi đó Đức Phật dạy cái gì, tu cái gì và mình có đúng như vậy không? Mình có học đúng theo Đức Phật, làm đúng theo Đức Phật và các bậc Thánh làm không? Mà để học được cái đó thôi là có khi suốt cuộc đời chưa có tìm ra được, vì nó quá phát triển.
Thì như vậy con mới nói rằng là: “Dường như không biết manh mối từ đâu, đây là điều cay đắng, xót xa cho tất cả người học Phật”. Mọi người nói một kiểu, mạnh ai muốn nói sao thì nói, Tông phái mọc lên như nấm. Khi Đức Phật vừa nhập diệt thì đã chia ra bao nhiêu Tông phái rồi? Bao nhiêu bộ phái? Hai bộ phái. Rồi sau chia ra bao nhiêu? Hai mươi bộ phái. Rồi sang Trung Quốc chia ra bao nhiêu Tông nữa? Sơ sơ là mười Tông. Rồi qua Nhật Bản là bao nhiêu Tông nữa? Rồi cứ như vậy, qua bên Miến Điện, qua bên Triều Tiên... Cho nên nhiều nhánh, nhiều cành, nhiều lá như vậy, cho nên dần dần người ta không biết cái gốc ở đâu nữa hết.
Có khi mình đang học, mình tưởng mình học hay, mình tu giỏi, nhưng thật sự đó không phải là cái gốc của Đức Phật, nó không đưa đến đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Cho nên có khi mình ở suốt cuộc đời ở trong chùa, nhưng mình vẫn sầu, bi, khổ, ưu não. Thậm chí là cái tôi nó lớn hơn là cái lúc còn làm chú tiểu, còn làm cư sĩ còn dễ thương hơn. Như con bây giờ được tấn phong lên thượng tọa là con sợ lắm. Con nghe kêu thượng tọa là con sợ, con cúi cái đầu xuống, mấy cái đó nó giết mình chết. Cho nên ở đây con mới nói là hiện tại có rất nhiều đường lối tu tập, nhưng mà rất khó tìm ra được đường lối tu tập rõ ràng, cụ thể, trực tiếp, trực chỉ, trực diện mà có khả năng nhìn thẳng vào sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si, vô minh, bản ngã và khát ái.
Rất là khó có một phương pháp nhìn thẳng vô nội tâm, thấy được tham, sân, si, dục, ái, bản ngã mà nhiếp phục, đoạn tận nó. Đa số là cầu xin, hướng ra bên ngoài không à, cầu chỗ này rồi cầu chỗ kia. Bên nhà nho có câu này cũng hay lắm:
“Cầu chư nhân, bất như cầu chư kỷ”, cầu ở nơi người khác chẳng bằng cầu ở chính mình. Cho nên khi mình học trong Nikāya rồi mới phát hiện ra, là giáo lý nguyên chất của Đức Phật hết sức là đơn giản. Chỉ quay trở lại nhận diện thân tâm của mình và nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, vô minh thôi. Có bao nhiêu đó à, nó không có nhiều thứ, hết sức là đơn giản và thuần túy.
Như vậy thì người ta tu mới được chứ, mới đạt được kết quả chứ, mới có ra các bậc Thánh chứ. Mình bây giờ chắc giỏi hơn người xưa, cho nên mình làm rất là nhiều “phận sự đa đoan”, mình phải dùng cái từ đó đó. Đa đoan là cũng đa sân, đa tham, thành ra mình chiêm nghiệm cái này hay lắm. Làm sao mà phải tìm ra được một phương pháp, để mà có thể là nhìn thẳng vô tâm, phát hiện ra cái sào huyệt, cái căn cứ địa, những cái hang ổ của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó. Thì cái phương pháp đó, là tất cả người tu mình đang cần, chỉ có cái đó thì mới cứu khổ được chúng sanh.
Bây giờ mình khổ là vì những cái thứ đó mà, bây giờ cái tham, cái dục làm cho mình khổ nè! Cái sân hận làm cho mình khổ nè! Cái si ám, vô minh, không thấy, không biết, làm cho mình khổ nè! Cái tôi, cái ta, cái bản ngã làm cho mình khổ nè! Bây giờ mình muốn hết khổ, thì mình phải diệt những thứ này cho nó hết khổ. Bây giờ mình không chịu quay trở lại để tìm diệt nó, mà mình cứ hướng ra ngoài, kiếm ai đó để làm cho mình hết khổ, thì điều đó là không thể xảy ra được “sự kiện ấy không thể xảy ra”, đó là lời nói của Đức Phật trong kinh Nikāya đó. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô cái giận trong con người mình đó, có ai làm cho hết được không? Cái tham ở trong con người mình đó, có ai làm cho nó hết được không? Cái tôi, ta ở trong con người mình đó, có ai làm cho nó hết được không?
Vậy tại sao mình không chịu quay vô, để mình làm cho nó hết? Hết cái đó là mình hết khổ. Đó là cái nhân quả rất là rõ ràng, nó rất là thiết thực, rất là cụ thể. Mà mình không chịu, mình thấy nó nhạt nhẽo, không màu sắc. Một phần quan trọng nhất, là tại vì mình chưa có thấy được thật sự lời dạy gốc của Đức Phật, chưa có người hướng dẫn, chưa có hành trì. Nếu như mình học đúng pháp, gặp đúng thầy, cộng với sự tinh cần, tinh tấn của mình chắc chắn mình sẽ có được kết quả như nguyện. Chính vì vậy hồi xưa biết bao nhiêu các bậc hiền Thánh Tăng, biết bao nhiêu các vị đắc đạo chứng quả, chúng ta thấy không?
Lại gần Đức Phật chút xíu thôi, Ngài nói pháp rồi ngộ đạo, ở thời gian ngắn là diệt tận hết tham, sân, si, đạt thành các quả dị. Tại vì Ngài ấy dạy đúng, làm đúng, có một bậc thầy sáng suốt chỉ thành công. Thì bây giờ chúng ta chưa có nói gì nhiều, chúng ta chỉ cần nói là tìm cho đúng pháp để mình học. Chỉ bao nhiêu đó thôi, kế đó mình thực hành đúng pháp. Ở đây con có nói là: “Khi cố hòa thượng Minh Châu, bậc đại sư của Phật giáo Việt Nam chúng ta vượt trùng dương đi sang Ấn Độ mà tu học, suốt mười mấy năm như vậy, trở về Ngài dịch kinh cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời”. Tuy tạng kinh đã được dịch ra rồi, cũng có các vị giảng giải, biên soạn, nhưng mà cái sự ảnh hưởng để người ta hiểu về tạng kinh Nikāya đó là cũng chưa có thấy được nhiều, trước nay đó chúng ta có thấy như vậy không?
Thường là mình bị một cái định kiến cho rằng cái đó là tiểu thừa. Mình không biết ai đưa ra cái từ đó đâu, khủng khiếp lắm. Những người đưa ra cái từ đó, là những người đó là muốn cho Phật giáo không có còn nguyên chất nữa. Họ đưa ra những cái từ đó, họ nói ra những lời thật sự của Đức Phật lại là sai. Họ soạn ra những lời khác thì họ nói cái lời đó mới đúng, họ cho họ là đại, là lớn. Và chính vì vậy, những thế hệ sau bị hư tư tưởng. Nghe những cái đó, huân tập những cái đó, rồi cuối cùng lời dạy gốc thật sự của Đức Phật bị mọi người xem thường. Đó là lý do tại sao mà sau 500 năm, thì bắt đầu tới thời kỳ tượng pháp. Thời kỳ chánh pháp chỉ có 500 năm, tại vì sau 500 năm đó rất là nhiều sách vở chước tát ra, phát triển ra nhiều hệ thống tư tưởng mới.
Và cho rằng đây là hay hơn, lớn hơn những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, đó là lý do tượng pháp xuất hiện. Chừng nữa chúng ta học vô cái bộ này chúng ta sẽ thấy, tưởng pháp xuất hiện từ lúc đó, là sau 500 năm. Cho nên một đường lối tu học, một đạo lộ hành trì, một phương pháp thực hành là cấp thiết cấp thiết và cấp thiết, không có gì quan trọng bằng cái này hết. Ở trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật nói với Ngài Ananda: “Nếu mà ở trong Tăng chúng có sự bất hòa về những cái học giới nhỏ nhặt, thì điều đó không có đáng nói. Nhưng nếu như mà có những sự bất hòa về Pháp hành, về đạo lộ hành trì, thì đây là bất an cho chúng sanh, cho chư thiên, cho loài người, là tai họa to lớn cho nhân thiên”. Nếu có những bất hòa về giới đều thứ yếu thì chuyện này không có đáng, đó là chuyện nhỏ.
Nhưng mà nếu trong chúng Tỳ-kheo mà có sự bất hòa về pháp hành, về đạo lộ, về con đường dẫn tới Thánh quả, thì đây là bất an, bất hạnh, tai họa cho chư thiên và loài người. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng, cho nên Đức Phật rất là quan trọng về pháp hành. Nhưng mà ngày hôm nay chúng ta tu không có quan trọng về pháp hành, cho nên không có Thánh đạo. Mà không có Thánh đạo thì không có Thánh trí. Mà không có Thánh trí thì không có Thánh quả. Bây giờ câu hỏi các thầy các cô, một người bác sĩ mà họ đứng những ca phẫu thuật, đại phẫu như vậy. Thì cái cách mà họ mổ, cái cách mà họ xử lý trong ca mổ nó có quan trọng không? Nếu mà chỉ cần họ dốt nát, họ bị trật một cái gì đó hoặc họ lẫn lộn một cái gì đó thì sao? Thì chết người.
Thì đó là pháp hành của bác sĩ đó, tức là cách làm có đúng không, có chính xác không, có thích hợp, có phù hợp không trong trường hợp đó. Thì như vậy pháp hành có quan trọng không? Mà người tu của mình là cái pháp hành đưa từ phàm thành Thánh, từ tâm cấu nhiễu đạt tới tâm thanh tịnh, từ tâm vô minh mà đạt đến Thánh trí huệ. Mà có cách để làm cho được như vậy, mà bây giờ mình không quan trọng cái cách đó, không cần tìm cái cách đó. Thì cuối cùng là không có Thánh pháp, không có Thánh đạo, không có Thánh trí, thì không có Thánh quả. Không có Thánh pháp, tức là không có học tới cái lời dạy gốc của Đức Phật, mà đi học những lời dạy của những người sau này, của những tư tưởng khác, thì Thánh pháp bị mất rồi.
Không học được Thánh pháp, thì làm sao mình thấy được đạo lộ ở trong Thánh pháp đó? Con đường ở trong đó, con đường tức là pháp hành đó. Là cái cách như mình vừa học cái bài kinh “Toán Số Mục Kiền Liên”, thứ tự tu tập, cái đó là đạo lộ, tuần tự đó. Mà bây giờ mình không có gặp được đúng giáo pháp của Đức Phật, mình không thấy được con đường tu hành, cách thức hành trì, đạo lộ hành trì, tuần tự hành trì, thứ tự hành trì, thì làm sao mình thành tựu được trí huệ của bậc Thánh. Thánh trí không thể thành tựu được, mà Thánh trí không có thì làm sao có thể mà diệt tận được vô minh, để cho minh sanh khởi. Nếu mà không diệt tận được vô minh, thì khát ái không thể chấm dứt. Vô minh, khát ái mà còn, thì làm sao đạt được tâm thanh tịnh của Thánh quả? Thánh quả là thành quả của sự tu học chân chánh thôi, chứ không có gì hết.
Như bây giờ mình trồng cây thì nó ra trái có lạ không hay là bình thường? Bây giờ mình trồng cây sầu riêng mà nó ra trái sầu riêng là lạ hay mình thường? Bây giờ mình đi chùa, mà mình qua khỏi cổng chùa, mình đến chùa Hòa Khánh là mình đến đây bình thường hay là lạ? Bình thường hay là bất thường? Nói lớn lên nghe coi. Mình ăn cơm mà một hồi nó no thì là bình thường hay bất thường? Mình uống nước mà nó đã khát, nó giải khát là bình thường hay bất thường? Mình may cái áo mà từ cái vải nó thành cái áo là bình thường hay bất thường? Mình tu mà mình thành Thánh quả là bình thường hay bất thường? Bây giờ hiện tại chúng ta toàn là bất thường không à.
Tu không có Thánh đạo, Thánh quả, không có thành tựu Thánh trí, cho nên đó là bất thường. Thì bất thường đó tức là mạt pháp, không có “Bốn đôi tám chúng”, hiền Thánh xuất hiện. Không thấy, không gặp, kiếm đỏ con mắt không ra. Mà gặp đâu cũng toàn tham, sân, si, bản ngã không, thì đó là bất thường. Vì từ cái bước đầu Thánh pháp đã không có, học không có đúng. Giờ vô đầu tiên dạy sao ạ? “Con phải ráng học, con phải lấy bằng cấp, con phải lên trụ trì, con phải làm giảng sư, kinh sư hay là thiền sư hay là cái gì sư đó không biết”. Dạy như vậy đó, tức là không có dạy Thánh phápm dạy phàm phu pháp. Tức là người học từ ban đầu, đã được hướng dẫn đi vào lối tẻ rồi, không có đi chánh đạo. Tu chánh đạo phải đạt Thánh quả chứ. Như vậy Thánh pháp là nói cái gì? Thánh pháp là dạy cái gì?
Thầy này nói: “Đoạn trừ tham, sân, si”, cho một tràng pháo tay lớn thật lớn đi. Nhưng mà làm sao để đoạn trừ tham sân si? Là nhận diện ngũ uẩn (cho tràng pháo tay lớn nữa). Làm sao để nhận diện ngũ uẩn? Làm sao nhìn ra được ngũ uẩn, năm uẩn? Mình phải gặp được người hướng dẫn đúng cách. Đó là cái trình tự của nó đó. Cho nên mình không gặp được người hướng dẫn đúng, là toàn bộ phía sau này không có. Cho nên cuộc đời của con hạnh phúc nhất là con gặp được bậc Chánh kiến, đây là hạnh phúc mà lấy cả quả địa cầu này để đổi cũng không đổi, là gặp được cái bậc này, người thành tựu Chánh kiến. Chỉ có người đó mới chỉ cho mình được năm uẩn.
Từ chỗ mình nhận diện được năm uẩn, thì mình thấy được tham sân si. Từ chỗ mình thấy được tham sân si, thì mình mới nhiếp phục và đoạn tận. Mà nhiếp phục và đoạn tận bằng cái gì? Bằng Thánh đạo. Và khi mình nhiếp phục, đoạn tận lần lần sẽ có được Thánh trí huệ này để nhiếp phục nó. Khi mình thành tựu được Chánh kiến thì mình sẽ có Thánh trí tuệ, thánh trí để mình biết được nó, mình thấy được nó, mình có được những cách để mình đoạn tận nó. Thì lần lần mình sẽ đi đến kết quả. Chúng ta thấy nó có rõ ràng không? Sao rồi im ru hết trơn vậy? Tỏ không? Sáng không? Tu phải như vậy đó, chứ không phải là tu lờ mờ. Bây giờ tự nhiên mình chạy ngoài đường, người ta hỏi chứ cô đi đâu? Trả lời tôi không biết đi đâu. Rồi cứ chạy như vậy, người ta hỏi đi đâu cũng không biết đi đâu, tới đâu thì tới à.
Như vậy người đó có bình thường không? Có vấn đề không? Mà mình bây giờ cũng giống như vậy đó. Mình tu bây giờ là có vấn đề, tại vì mình không biết mình đi đâu hết trơn á. Tại vì một khi mình không thấy được ngũ uẩn, thì làm sao mình biết? Không biết ngũ uẩn tức là mình không thấy mình một cách đầy đủ. Mà mình không biết mình một cách đầy đủ, thì tu tới đâu làm sao mình biết. Cho nên hôm qua là chúng ta giải chữ “hướng dự lưu”, chúng ta có nhớ không ạ? Nghe lại cái bài đó rất quan trọng. Thật ra bài kinh ngày hôm qua là tổng cương lĩnh của tạng kinh Nikāya đó. Toàn bộ sự tu hành của chúng ta, chỉ là thanh lọc tâm cấu nhiễm thôi, tẩy sạch cái tâm cấu uế chừng nào nó hết là xong. Sự tu hành có bao nhiêu đó thôi bốn chữ “thanh lọc nội tâm”, “thanh lọc tâm cấu nhiễm”.
Mà bây giờ làm sao để thanh lọc tâm cấu nhiễm? Phải thấy cái tâm trước, thấy cái tâm rồi mới thấy nó cấu nhiễm, rồi mới có phương pháp thanh lọc, tẩy sạch. Đối với một người thấy được tâm cấu nhiễm, thì người đó mới tu được. Người đó sẽ có một cái năng lực, Đức Phật gọi là: “Dòng chảy đưa người về phía trước”, cái dòng nước đó nó đẩy người đó đi về phía trước, tự động. Khi một người đã nhập lưu, đã vào dòng trí tuệ rồi, thì người này bất thoái chuyển, không có còn lùi lại nữa. Tại vì khi người này thấy được cái tâm cấu nhiễm, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, dơ bẩn, bẩn thỉu, cấu nhiễm, dơ uế như vậy thì người này không có chịu nổi, người này sẽ ray rứt, thao thức, đau khổ ở trong lòng.
Khi mà nhìn thấy cái nội tâm của mình như vậy, thì người này tự nhiên có một cái động lực để làm sạch, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch. Thì cái sức mạnh đó là sức mạnh của bậc hữu học, của bậc thành tựu Chánh tri kiến, chúng ta phải nỗ lực lắm mới đi tới đó. Như là lớp chúng ta thật sự là hy hữu, hiếm có và khó gặp. Con nói thật các thầy cô, tất cả các trường trong nước Việt Nam luôn, không phải dễ mà được học nhận diện ngũ uẩn này. Mà chúng ta được học nhưng mà hỏi lại không có để ý, chú ý nhiều, thì cái đó là sự tổn thất của chính mình. Chúng ta được một cái nhân duyên hết sức là hy hữu, hiếm có cho tất cả các Tăng Ni của cả nước Việt Nam. Lớp này có thể là lớp lâu nhất trong tất cả các lớp, được hướng dẫn một cách đầy đủ nhất trong tất cả các lớp.
Chỉ cần người chịu khó, để ý, siêng năng một chút là đã nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si. Và có khả năng hướng dự lưu và nhập lưu trong cái lớp này. Tức là vào “Bốn đôi tám chúng” đó, chính thức làm đệ tử của Phật thật sự. Bây giờ thật là khó, không phải dễ mà được nghe những cái này. Mà càng rất là khó để được cho chúng ta làm bài tập, để nhận diện ngũ uẩn. Và cho chúng ta chia sẻ, trình pháp những cái tâm mà nó vận hành như thế nào, mình thấy được hết trơn, mình đứng mình nhìn mà. Hồi xưa mình có biết không? Chưa học nhận diện ngũ uẩn thì mình biết cái gì đâu. Ngồi thiền rồi nhắm mắt đơ đơ ra, giỏi lắm thì được yên yên một chút là đi ra mừng húm rồi.
Tu ở trong cái mờ tối, hành trì ở trong cái vô minh. Không thấy được ngũ uẩn, là mình không biết cái gì tu hết, mình chỉ làm được một chút thiện pháp ở bên ngoài thôi. Cho nên ngoại đạo là thành tựu cái khổ hạnh, thiền định, rất là thâm sâu. “Tứ thiền bát định”, nhưng mà vẫn gọi là phàm phu định, phàm phu thiền. Sanh lên được các thiên giới, thành chư thiên, thậm chí là thành các bậc phạm thiên nhưng mà không thể thoát ly khỏi sanh tử, không đi ra khỏi ngũ uẩn được. Tại vì còn vô minh đối với ngũ uẩn, còn tham ái, khát ái đối với năm thủ uẩn. Cho nên là tu cho đến mức độ nào cũng là phàm phu thôi, nếu không gặp bậc Chánh đẳng chánh giác hoặc là đệ tử của Ngài hướng dẫn.
Đó là chỗ quý báu mà một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện ở trên cuộc đời này. Tại vì chỉ có Ngài mới là bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, chỉ có Ngài mới là bậc liên thuyết đạo lộ xuất ly, chỉ cho người ta đi ra khỏi đường năm thủ uẩn, không có thể có một người thứ hai. Trừ ra Ngài, các bậc Thánh chúng, hay là những vị đã được nghe Ngài hoặc là các bậc Thánh chúng đó nói, thì mới biết được con đường thoát ra. Còn ngoài ra tất cả chúng sanh là điều trong u mê, vô minh hết. Chỗ đó là một chỗ quý báu khi một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện trên cuộc đời và chỗ quý báu mà khi một bậc Chánh đẳng giác xuất hiện ở trên cuộc đời, chỗ quý báu mà chúng ta gặp được câc bậc Thánh, các bậc thành tựu Chánh tri kiến.
Còn nếu không gặp các bậc đó, thì mình tu 1 tỷ kiếp, cho mình tu cùng cực khổ hạnh, cùng cực thiền định luôn cũng là phàm phu thôi à. Giỏi thì sanh lên các cõi trời sắc giới, hay là vô sắc giới, ở trong tam giới chứ không đi ra được. Tại vì còn nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình, của mình. Còn yêu, còn thích sắc, thọ, tưởng, hành thức. Thí vụ như các vị ở cõi vô sắc là yêu thích một cái cảm giác trống rỗng, thanh tịnh như vậy. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở vô xứ. Không có thích cái thân này nữa, dơ dáy, bẩn thỉu, thấp hèn, xấu hổ, nhục nhã, không thích. Mà thích thân trống rỗng, mênh mông, bao la, không có thân và chứng đắc được ở trong đó luôn.
Cho nên trú trong những cái thiền định đó là những cái đại kiếp, thành hoại của trái đất ở trong đó. Nhưng mà hết cái thiền định đó rồi là lọt xuống, rơi xuống địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, rồi tiếp tục khổ đau, tham, sân, si, bản ngã nữa. Thành ra cái quý vô cùng, vô cực là Chánh tri kiến, Thánh tri kiến, là cái thấy đúng của bậc Thánh, cái này không bao giờ trả ơn được. Đức Phật nói có ba bậc không bao giờ mình lễ lạy, cúng dường bằng tất cả sinh mạng của mình mà có thể đền ơn được. Thứ nhất: Người hướng dẫn mình quy y Tam Bảo trong Tăng Chi Bộ kinh, quy y ở đây không phải là buổi lễ đơn sơ như mình đâu, mà bằng tất cả tấm lòng thật sự suốt đời quy ngưỡng Phật – Pháp - Tăng đó, chứ không phải chỉ hình thức nha. Mà thật sự mình đem cả sinh mạng của mình quay về nương tựa Phật – Pháo – Tăng mà được người hướng dẫn. Thì người hướng dẫn đó là đại ân nhân, không thể nào mình trả hết. Dù cho mình có giặt giũ, nấu nướng, đem thâm làm giường tọa cho vị đó ngồi, hay dùng cả cuộc đời mình cung phụng mình cũng khồng báo ơn hết vị hướng dẫn mình 3 pháp quy y đúng Chánh pháp.
Người thứ 2 là bậc chỉ cho mình, dạy cho mình thành tựu Chánh tri kiến, không thể nào mình đem cái gì mình báo ơn hết cho vị đó hết. Là bậc chỉ cho mình Chánh tri kiến, thấy đúng về ngũ uẩn, về tự thân tâm của mình. Và bậc thứ 3 là người giúp cho mình dạy dỗ, giáo dục, hướng dẫn cho mình đoạn tận các lậu hoặc để mình thành tựu Thánh quả, đó là ân nhân vĩ đại thứ 3. Ba vị này là không bao giờ mình có thể đáp ơn hết được. Cho nên ở trong đây cho mới nói là: “Khi đọc bộ sách này con đã không thể ngăn được dòng lệ tuôn trào hạnh phúc, sung sướng. Khi nhìn thấy Chánh pháp từ ngàn xưa tưởng như đã bị mai một, giờ đây đã được thắp lên, được khơi dậy.
Bộ sách này: “Thật là vi diệu thay! Thật là vi diệu thay!” Bộ sách này thật là ánh sáng, kim chỉ nam, là đạo lộ tu hành chân xác với tinh thần nguyên chất của Đức Phật. Để cho chúng sanh đoạn tận được đảo điên, say đắm và khổ đau. Chúng ta nhớ lịch sử của Đức Phật là Ngài thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết, rồi Ngài thấy một người đi xuất gia, Ngài xúc động mạnh nên Ngài mới đi tu, đi tầm đạo. Và cuối cùng Ngài chứng nhập được cảnh giới Niết – bàn, bất tử. Như vậy mình phải thấy rõ được mục đích của đạo Phật, thì người tu của mình mới có một phương hướng, mới có mục đích, mục tiêu tiến thẳng.
Còn nếu mình tu mà mình không thấy được con đường, không thấy mục đích, không thấy mục tiêu, chỗ nhắm của mình, thì mình sẽ đi lệch hướng, tâm mình đặc sai hướng. Sự hành trì của mình đi lệch hướng vào nhiều cái ngã rẽ, lối tẻ. Và cuối cùng một đời tu của mình trong những giây phúc cuối cùng trong cuộc đời, trong giường bệnh là mình sẽ hối tiếc. Thật là đau đớn cho chúng ta, nếu không sát quyết, rõ ràng mục đích của sự tu. Đúng ra là giờ này con không có ở đây, vì một sư bà nằm trên giường bệnh ở bên Mỹ giao chùa cho con. Sư bà là lớp học đầu tiên ở Chân Không. Chúng ta biết thiền viện Chân Không không ạ? Là thời là đại đệ tử của hòa thượng Trúc Lâm.
Lúc đó con chưa vào dòng pháp Nikāya này nữa, mới có tiến gần tới thôi chứ chưa đi vào trọn vẹn 100% như bây giờ. Thì thiền viện Trúc Lâm có mời con về chia sẻ cho trong đại chúng 4 tháng về kinh A-hàm, con rất là xoáy sâu về vô thường, khổ, vô ngã. Lúc đó sư bà phát hiện ra mình bị ung thư giai đoạn cuối ở bên Mỹ, thì lúc đó sư bà mới nghe bài của con 4 tháng con chia sẻ trong thiền viện Trúc Lâm, đào sâu nhiều phương diện, khía cạnh về vô thường, khổ, vô ngã. Sư bà thấm thía và điện thoại cho con ở trong nước mắt, sư bà xưng con, con rất là xúc động “Tới bây giờ con mới cảm nhận được những lời thầy, con mới thấm thía được chữ vô thường, khổ, vô ngã khi nằm trên giường bệnh, sắp sửa kết thúc đời sống”.
Sư bà mới kêu con đi qua đặng giao, nhưng mà con thì trọn đời là làm một chú tiểu, làm một người ăn xin, vô sản. Dù ở trên hình thức là con có đảm nhận trách nhiệm ở đây ở kia. Nhưng trong tâm con là cái nùi giẻ rách, một kẻ ăn xin, hoàn toàn vô sở hữu. Vả chăng nếu con sở hữu thì duy nhất đó là Thánh pháp tối thượng cúa Đức Phật, ngoài ra con không có bất cứ một vật gì ở trên đời. Cho nên con thấy cái mầm mống ở trong đó, là bà con của sư bà không có hoan hỉ nên con không có qua. Mà con có qua thì con chỉ giảng pháp xong thì con về thôi, không có nhận ngôi chùa. Thì như thế các vị đó càng quý kính. Mình thấy những mầm mống tai họa mình tránh sớm, mình được an ổn. Cho nên ngày giờ này mới vô được Nikāya, chứ nếu lúc đó nhận là giờ xong rồi.