Tinh Hoa NIKAYA - Nghệ Thuật Quán Chiếu 2 - TỨ THÁNH ĐẾ P2
Nghệ Thuật Quán Chiếu 2 - Tứ Thánh Đế P2
-THÍCH MINH THÀNH-
Con xin hỏi quý thầy, quý cô và đại chúng một câu hỏi trước khi vào chia sẻ:
“Biết cái gì là quan trọng nhất?”
Trả lời:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy và đại chúng.
Biết mình và biết chỗ an trú của phiền não, cũng như biết rõ ngũ uẩn là quan trọng nhất.
Biết tu tập giải thoát là quan trọng nhất tức là nhận diện rõ bản chất về ngay chính mình, sự thật về ngũ uẩn.”
Xin thưa đại chúng, rất là cần để chúng ta bắt chụp những thọ, tưởng, hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ bên trong. Các ác bất thiện pháp, cấu uế, cấu nhiễm, phải được phát giác ngay giây phút nó sanh khởi để làm cho nó sáng tỏ, đưa nó ra ánh sáng. Phải chiêm nghiêm câu Đức Thế Tôn là người đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho người có mắt nhìn thấy được những gì đang có mặt. Giáo pháp cũng vậy. Một khi mình bắt đầu đi trên con đường Chánh tri kiến, thấy đúng thì lúc đó những gì bị che giấu sẽ được phơi bày. Những gì bị uẩn khuất ngàn năm trong thân tâm của mình, từ trước đến nay mình chưa từng biết, chưa từng thấy thì bây giờ mình sẽ được thấy, được biết. Cho nên sự phát giác, phát hiện, thấy, biết này mà để đi được đến chỗ nhiếp phục, đoạn tận được nó là điều cần phải làm, cần phải cố gắng, cần phải nỗ lực. Đây gọi là lành thay, lành thay! Mình càng thấy ra được những cái lậu hoặc, những cái cấu nhiễm, những cái bất thiện pháp nó sanh khởi, nó tồn chỉ, nó ứ động thì mình càng hiểu rõ được chính mình nhiều hơn. Đây là con đường tất cả chúng ta nên đi, sự đến đích là tất cả cấu nhiễm được đào thải, được tẩy sạch, được đi đến chỗ thanh lương, tịch tịnh, mát lạnh, trong sạch, trong sáng.
Liên tục 6 tháng nay, Minh Thành tu tập và quán chiếu về Tứ Thánh Đế.
Này các Tỷ-kheo, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là nguyên nhân của khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết sự chấm dứt khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
Thật sự khi mình chiêm nghiệm những điều này, lấy đó làm đề mục quán chiếu và tu tập trong một thời gian dài thì mình sẽ thấy cái khổ tràn ngập tất cả mọi chỗ mọi nơi. Lúc nãy con hỏi điều gì quan trọng nhất mà chúng ta phải biết? Đó là khổ. Chữ “khổ” này nó không khác với nhận diện năm uẩn. Đừng tưởng nhận diện năm uẩn là khác, biết cái khổ là khác. Năm uẩn là khổ pháp.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ pháp? Sắc thủ uẩn là khổ pháp, thọ thủ uẩn là khổ pháp, tưởng thủ uẩn là khổ pháp, hành thủ uẩn là khổ pháp, thức thủ uẩn là khổ pháp. Sự bám chặt vào trong hình hài, sắc chất này là khổ. Sự bám chặt vào trong những cảm giác, nghĩ tưởng, rõ biết đó là khổ. Như vậy, khổ là cái các ông cần nỗ lực cố gắng để rõ biết, nguyên nhân của khổ cái thứ các ông cần phải đoạn dứt, sự chấm dứt khổ là chỗ các vị cần phải chứng nhập, chứng ngộ, con đường đưa đến chỗ diệt khổ là các ông cần phải tu. Khổ cần phải biết. Tập cần phải đoạn. Diệt cần phải chứng. Đạo cần phải tu, đạo đó là Bát Chánh Đạo.
Cho nên từ Tứ Thánh Đế soi lại, mình thấy mình đang đi ở trên con đường đó. Các vị từ cư sĩ đến tu sĩ, các vị nhìn thấy các dục tham ăn, tham nói, tham ái, nhìn thấy các cái dục, các cái tham, tham giường, tham chõng, tham nhà, tham thất. Nhiều khi tâm mình ghê lắm, khi mình chưa đến thì cái thất đó là của ai cũng được. Nhưng mình đến ở chừng 1 tuần, 2 tuần hay 1 tháng thì trong bụng mình “Thất này là thất của tôi”. Sự ái thủ của nó khiếp đảm lắm, thành ra mình phải nhìn lại. Khi mình nhìn thấy những thứ rác bẩn, cấu nhiễm, uế nhiễm đó, thì mình thấy khó chịu, mình muốn nó phải đi đến chỗ đoạn giảm, giảm thiểu và đoạn tận. Đó là thấy được khổ, thấy được những nguyên nhân của khổ, mà là thực sự “thấy” chứ không phải học trên chữ nghĩa. Hồi xưa là mình học trên chữ nghĩa, mình nói tham, sân, si, bản ngã. Nhưng bây giờ mình thấy nó sanh khởi, nó hoạt động, nó tác oai, tác quái, nó bành trướng, quậy phá mình trong thân tâm. Cho nên chỗ thấy này là chỗ trí tuệ của Chánh tri kiến, Thánh tri kiến. Bây giờ là mình thấy chứ không phải hồi xưa là mình nghe và mình học là nó khác. Cho nên thấy được những cảm xúc hổ thẹn, sợ hãi, xấu hổ, nhục nhã trong khi nó sanh khởi lên thì cái thấy đó là cái thấy của trí tuệ, cái thấy của Thánh tri kiến, cái thấy của Chánh tri kiến, cái thấy của thấy đúng. Từ chỗ mình thấy đúng như vậy thì bây giờ cái thấy đúng không còn ở trên chữ nghĩa nữa.
Chỗ này là mức độ sâu sắc. Cái thấy của mình là thấy được sự hoạt động của ngũ uẩn, thấy được sự vận hành và sanh khởi của lậu hoặc. Mình đang đi trên con đường bốn Thánh trí ngũ uẩn và bốn Thánh trí lậu hoặc. Mình học chữ nghĩa từng chương trên kinh sách là chuyện ở bên ngoài. Còn bây giờ là mình đọc ngũ uẩn, đọc lậu hoặc trong mỗi khi tiếp xúc, mỗi khi nghe nhìn, mỗi khi ứng xử. Đọc được sự vận hành của dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Cho nên mỗi ngày chúng ta đều kính đảnh lễ bốn Thánh trí. Bốn Thánh trí này là tổng cương lĩnh của Thánh giáo, của pháp bảo. Nếu mà không từ Thánh trí này thì mình không thấy được. Chẳng những mình không thấy, không biết mà mình còn nuôi dưỡng, tăng trưởng và phát triển nó nữa. Cho nên sau đây là chỗ rất là hay trong bài kinh hôm trước chúng ta học về ngũ uẩn. Từ chỗ này quý vị mới thấy được chỗ sâu sắc mà đọc kinh mới hiểu, mà không tu cái này thì mình đọc vô mình không hiểu. Nó giải mã hết thân tâm của mình. Đức Phật nói là giảm thiểu chứ không được tăng trưởng, phân tán chứ không huân tập. Minh Thành muốn đọc Chánh kinh để quý vị nhớ và về quý vị học.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc..., giảm thiểu, không tăng trưởng thọ...tưởng...các hành...giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc...thọ... tưởng... các hành... từ bỏ, không chấp thủ thức.
Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc... thọ... tưởng... các hành... xa lánh, không thân cận thức.
Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc... thọ... tưởng... các hành... phân tán, không huân tập thức.
Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
(Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 3, Chương I, Phẩm Những gì được ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Mình thấy được dục, tham, ái, vô minh, bản ngã nằm ở trong ngũ uẩn. Ở đây nói “giảm thiểu, không tăng trưởng sắc, thọ, tưởng, hành, thức”, mình phải hiểu rằng là giảm thiểu, không tăng trưởng dục, ái, tham, sân, si, bản ngã đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một khi một người đã thành tựu Thánh tri kiến, thấy biết đúng về thân tâm của mình thì người này sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, không tăng trưởng dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã đối với ngũ uẩn. Người này không muốn phát triển, tăng trưởng, chấp thủ, thân cận, huân tập đối với những vật chất, cảm giác, những hình bóng, tưởng, suy nghĩ, các hành. Người này giảm thiểu, từ bỏ, xa lánh, phân tán, người này không còn phát triển, tăng trưởng, chấp thủ, thân cận, huân tập. Nó đi đến kết quả như vậy. Tùy theo sự nỗ lực tinh tấn của mình nhiều hay ít, nhanh hay chậm, miên mật hay không miên mật, tinh tấn hay là phóng dật thì kết quả tương ứng theo sự thực hành của mình, cho nên đây là hệ quả tất yếu. “Dòng pháp đưa người về phía trước” là ở chỗ này.
Nhìn liên tục, soi liên tục, rọi liên tục để thấy được ngũ uẩn, khi thấy được ngũ uẩn thì thấy được lậu hoặc, thấy được lậu hoặc thì tự động có công năng đào thải. Do sức Như lý tác ý mạnh mẽ, quyết liệt, nỗ lực thì sự đào thải đó diễn ra nhanh, lẹ, mau đi đến chỗ sạch sẽ. Khi mà những ganh tỵ, đố kị, phiền não ở trong sanh khởi thì lúc đó mình thấy khó chịu không? Mình có muốn nó tồn tại lâu dài không? Mình có muốn giữ nó trong thân tâm của mình không? Nếu không thì đó là mình không có chấp thủ, đó là mình muốn xa lánh, đó là mình muốn cho nó phân tán chứ không huân tập, mình muốn từ bỏ chứ không muốn lấy những thứ này. Đó là công năng và tác dụng của Chánh tri kiến. Ngày xưa mình không biết, khi sanh khởi một cái sân, cái bực lên là lúc đó mình đi theo cái đó, mình sống chung, ôm ấp cái đó luôn, đó gọi là chấp thủ. Bây giờ mình biết rồi, mình thấy rồi, biết nó là những nguyên nhân của khổ, mình muốn đoạn dứt, từ bỏ, xa lánh, mình muốn cho nó phân tán, tan rã ra. Chữ phân tán ở đây là tan rã ra. Chữ huân tập là nhóm họp lại. Mình muốn cho những thứ này tan ra, rã ra, nát ra, vỡ ra, bể ra, tan biến khỏi tâm ta. Những từ đó là pháp lệnh, những từ đó cũng gọi là khẩu quyết, là mục tiêu hành trì – pháp hành. Phải nắm vững những pháp lệnh này, phải nhớ kỹ để vận dụng.
“Vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng”. Làm cho cái ái, cái tham, cái dục giảm xuống, không cho nó tăng lên, càng ngày càng giảm xuống. Lúc trước ăn là phải thế này, thế kia, còn bây giờ có gì ăn cũng được, đơn giản. Lúc trước phải làm như thế này, như thế kia mới vừa ý bây giờ thì tùy duyên. Điều quan trọng để hộ trì cảm giác gọi là yên tịnh, lắng dịu. Thí dụ, mình thấy người ta đi không đúng theo quy định, lúc đó khó chịu thì mình nói sao, có tác ý không? “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu”. Đừng coi thường hai câu này, đó là pháp hành thường trực. Mình nói “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu. Lắng dịu. Dễ chịu”. Không riêng một cá nhân ai đâu, chung hết, bản thân Minh Thành cũng bị chứ không phải nói là riêng một người, ai cũng bị. Mà người có trách nhiệm nhiều chừng nào thì bị nhiều chừng đó, nếu người này chấp thủ nhiều thì bị càng nhiều. Cho nên khi nó khó chịu lên thì “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu. Hiền nè. Ngoan nè. Nhẹ nhàng đi. Mày vô đây để làm gì? Lên núi này để làm gì đây”. Lúc đó hóa giải cảm giác đó, hóa giải các hành và suy nghĩ đó, hóa giải những cái tưởng để trở về chỗ tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương. Đó là công năng của Như lý tác ý, đây là mình tác ý nhẹ, nếu mà nó mạnh hơn nữa thì mình tác ý mạnh. Nếu nó cứng đầu hơn nữa thì mình đập vô đầu nó, mình dùng những cái đao to búa lớn, tác ý mãnh liệt đánh vô. Tùy theo bệnh mà liều thuốc nó gia giảm, bệnh nặng tăng thuốc lên, bệnh vừa thuốc vừa vừa, bệnh nhẹ thuốc ít thôi. Có những cái mình chỉ cần tác ý nhẹ thôi là nó tan biến liền. Có những cái mình tác ý trong một thời gian 10 phút, 15 phút, có khi nửa tiếng, 1 tiếng. Nhưng có những cái mình tác ý hàng tháng trời, nhiều tháng chứ đâu phải chừng nào nó có mình mới tác ý. Tác ý từ xa những bệnh nặng trong người, thí dụ những cái dục, ái mình tác ý khiếp đảm. Đâu phải tác ý mấy tháng là nó hết, phải luôn liên tục, tiếp tục quán chiếu, tác ý. Bản ngã cũng vậy, hở ra là đập, hở ra là đánh. Phải tác ý mạnh, mãnh liệt, giống như sấm sét, vũ bão, giống như trời giáng, giống như địa chấn, động đất. Làm cho các cảm thọ trong người của mình bị rúng động, hoảng sợ chứ không phải tác ý sơ sơ, trơ trơ. Làm sao tác ý mà sanh ra được cảm thọ, cảm giác mới có hiệu ứng, hiệu năng, hiệu quả, hiệu nghiệm. Chứ còn tác ý nói như vậy mà cứ ngơ ngơ, trơ trơ như vậy thì không được. Có những lúc mình phải khủng bố bọn lậu hoặc. Trong thất nhiều khi Minh Thành cụng cái đầu dô tường chứ không phải giỡn. Có những cái mạnh là mình phải làm mạnh, chứ không phải nói tự nó sanh rồi nó diệt. Cho nên phải làm cho nó giảm thiểu, đừng để cho nó tăng thêm. Làm cho tập đế đi đến chỗ đoạn giảm, nó chưa đoạn thì nó giảm trước. Phải cho nó giảm rồi mới đi tới đoạn. Tu cái này hay lắm! Trong thân tâm mình có gì là mình thấy hết!
Cho nên khi mình thấy đúng thì tự nhiên suy nghĩ đúng của mình sanh khởi. Rồi tự nhiên mình có những lời nói ra, mình phát lồ sám hối thì đó là lời nói đúng. Rồi có những hành động đúng và nó sẽ từ từ sanh khởi tiếp tục. Mình cứ siêng năng nỗ lực và quán chiếu liên tục nữa thì từ từ sẽ đi đến chỗ thành công, là đi đến tâm tịch tĩnh hoàn toàn. Bát Chánh Đạo này tối thượng, tối diệu lắm, phải đi từng bước. Đầu tiên phải củng cố thật viên mãn Chánh tri kiến. Sau đó mình mới nỗ lực tu tập Chánh tư duy, tác ý. Tu tập Chánh ngữ, chia sẻ nói những lời pháp. Bắt đầu từng bước mình mới tiến tới những cái Chánh nghiệp, Chánh mạng – hành động đúng, nuôi sống đúng. Mình mới siêng đúng, quán đúng, định đúng, phải từng bước, từng bước. Trong giai đoạn bắt đầu, phần Chánh tri kiến và Chánh tư duy hết sức là quan trọng. Hai cái đó có thì tự động có Chánh ngữ. Cho nên phải phối hợp và phải biết mình đang ở vị trí nào để mình nỗ lực.
Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 3, bài kinh Khổ:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.
Mình nhớ Đức Phật nói là năm thủ uẩn, cho nên cô Chơn Tín Toàn rất dày công để từ Bốn Thánh Đế mà chuyển qua ngôn ngữ phối hợp với ngũ uẩn là điều hết sức thâm sâu, trước nay chưa có ai làm điều này hết. Phối hợp ngũ uẩn với Tứ Thánh Đế là điều chưa từng có. Người mà thẩm thấu hết vô phần nghiên cứu và tu tập mới thấy hết được giá trị vĩ đại của nó. Người bình thường, ngay cả những học giả cũng không hiểu nổi được chỗ này. Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau – là giải thích từ ngũ thủ uẩn. Đó là Thánh trí thứ nhất. Mình nói Khổ Thánh Đế, người ta giải thích là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu mà xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp gỡ là khổ. Giải thích theo Bắc Truyền là năm ấm lẫy lừng là khổ – ngũ ấm xí thạnh, mình không hiểu gì hết. Bên tạng Nikāya tóm lại năm thủ uẩn là khổ, câu này làm nên lịch sử. Công đức của cô Chơn Tín Toàn là ở chỗ đó, nếu không nhìn được năm uẩn thì không bao giờ có ai làm hiển bày được Thánh đạo hết. Thánh đạo không hiển bày thì làm sao Thánh quả thành tựu.
Cho nên bốn Thánh trí về ngũ uẩn này phải nói là mỗi ngày mình phải lạy, mỗi ngày phải quán chiếu, mỗi giờ phải quán chiếu. Sự chấp thủ vào ngũ uẩn này là phiền não và khổ đau. Thí dụ, họ làm trúng cái món đồ của mình, mình nói đó là đồ của mình, ai làm gì xơ xiểng, hư hao làm mình bực lên thì mình niệm câu “Sự chấp thủ vào sắc uẩn là phiền não và khổ đau”. Niệm câu đó lên, cái này phải thuộc lòng và phải được quán chiếu liên tục. Mình niệm lên “Sự bám chấp, sự chấp thủ, sự bám chặt vào sắc uẩn này là phiền não và khổ đau” thì Thánh trí thứ nhất được vận dụng, được hiển bày, phơi bày, được triển hiện và tỏa sáng. Ở trong sinh hoạt thường nhật, niệm câu đó lên. Ai làm gì đó khiến mình có cảm giác bực mình thì niệm lên “Sự chấp thủ vào cảm giác này, thọ uẩn này là phiền não và khổ đau. Buông xả đi”. Tuyệt diệu không? Đây chính là pháp hành. Đó là lí do tại sao Bốn Thánh Trí ngũ uẩn này nằm ở trang đầu, trong khung đỏ, tóm thâu hết đại tạng Nikāya thì không phải điều bình thường. Bây giờ mình tiếp xúc với cái gì mà sanh khởi lên cảm giác bực mình hay là bản ngã sanh khởi lên cảm giác khó chịu thì mình đọc lên “ Sự chấp thủ vào cảm giác này, sự bám chấp vô cảm giác này là phiền não và khổ đau”. Đó là niệm Thánh trí, mà mình niệm Thánh trí là mình đánh phá phàm tình, chuyển hóa phàm tình, đập tan vỡ phàm tình. Một tỉ thần chú cũng không so sánh được với câu này, đem hết thần chú trên thế giới cũng không so sánh nổi với câu đó, vì đây là Thánh trí. Những hình bóng dục, ái, tham khởi lên trong tâm quậy mình, niệm lên “Sự chấp thủ, sự bám chấp, sự nắm chặt, sự ưa thích những hình bóng này là phiền não, khổ đau. Sự chấp thủ, sự bám chấp vô cái tưởng này là phiền não, khổ đau”. Khi gặp hay nghe chuyện gì đó bắt đầu nó suy nghĩ lung tung, lang thang hết cái này tới cái kia, buồn cái này, bực cái nọ, giận cái kia, hờn cái nọ, ganh tỵ, đố kị, tôi, ta, mình, người, cao, thấp, phải, quấy, mình đúng, người kia sai. Niệm lên “Sự chấp thủ vào hành uẩn này là phiền não, khổ đau, buông xuống đi”. Sự bám chặt, bám víu vô suy nghĩ, lời nói lầm thầm của tham, sân, si, bản ngã thì lấy bửu bối quán chiếu năm uẩn “Sự chấp thủ, sự thân cận, sự huân tập của thứ này là phiền não, khổ đau”. Tất cả trong Nikāya này là pháp hành hết, điều quan trọng là mình biết hành hay là không, chứ không phải đi tìm pháp hành ở đâu nữa. Những suy nghĩ lăng xăng trong đầu, mệt mỏi niệm lên “Sự chấp thủ vào hành uẩn này là phiền não là khổ đau. Đây không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”. Đánh tan, đánh vỡ, đánh sập những cảm giác nghĩ tưởng này đi.
Một cái thâm sâu nữa là thức, nếu tu không có thiền định, không có sự nhận diện các pháp một cách tinh tường, minh bạch thì không nhìn thấy nổi thức uẩn. Thí dụ, người đó nói một câu nghe bực mình, thì mình không thèm nghe câu nói đó nữa, mở rộng nhĩ thức của mình ra trùm hư không, nghe tiếng chim hót. Đó là nói theo cách gọi là không thọ, hoặc là lấy thức diệt thức, tức là mình diệt cái biết ở nơi âm thanh này, mình cho nó sanh cái thức qua cái biết bên kia. Nếu trong Bốn Thánh trí ở đây thì nói “Sự chấp thủ vô cái biết của nhĩ thức này là phiền não, khổ đau”. Niệm lên như vậy. Cho nên có những khi mình không ở lại trên cái thức đó, mà mình gạch bỏ nó và chuyển qua cái thức khác, mình cho nó diệt cái này, chuyển qua cái khác. Đây là lấy thức diệt thức, dùng danh từ khác là tập không thọ. Chẳng hạn bây giờ mình nhìn thấy một hình sắc, một con người đẹp thì nó sanh khởi lên cái dục, tham, ái. Mình chuyển cái thức biết cảnh ở ngoài quay trở lại nhìn hình bóng bộ xương hiện ra, giòi ăn hiện ra, 9 giai đoạn một tử thi hiện ra trong thân tâm của mình. Đó là không chạy theo cái biết kia, để cho cái biết kia nó diệt, làm cho cái biết này nó sanh. Thành ra người tu phải thiện xảo lắm, nghệ thuật lắm, tinh vi, tinh anh, một trí huệ khủng khiếp. Không cho nó chạy theo cái thức biết cái sắc ở bên ngoài, diệt cái thức đó, cho nó quay trở lại để biết hình bóng bộ xương, hình bóng dịch bệnh ở Vũ Hán – nCoV, hình bóng những người ngã ra giữa đường chết, đang ngồi té xuống chết, đang làm việc ngồi trên bàn vi tính bật ngửa ra mất mạng.
Thành ra phải vận dụng khéo léo, tinh xả và thiện nghệ. Từ thiện nghệ mới đi tới Thiện Thệ. Sử dụng món nghề của mình giống như một người thợ hết sức nhuần nhuyễn, khéo. Thợ khéo là người làm những việc ở bên ngoài. Nhưng mà người khéo tu thì khéo sử dụng tâm thức của mình, khéo sử dụng cảm giác, khéo sử dụng hình bóng, khéo sử dụng các suy nghĩ, khéo sử dụng sự rõ biết trong tâm của mình. Cực kỳ thiện xảo để mà sử dụng ngũ uẩn. Dùng sắc diệt sắc, dùng hình của bộ xương để diệt hình bóng người đẹp hấp dẫn kia. Dùng hình bóng của ngọn lửa thiêu đốt để làm dập tắt cơn sân hận. Hoặc dùng hình ảnh nước mát của tình thương để dập ngọn lửa sân hận. Đó là hình bóng diệt hình bóng, cảm giác diệt cảm giác, suy nghĩ diệt suy nghĩ. Tức là lấy suy nghĩ của thiện pháp, của Thánh trí để diệt suy nghĩ của phàm tình, của mê vọng, của bản ngã. Thấy được chỗ dùng ngũ uẩn diệt ngũ uẩn, dùng trí để diệt cái mê, dùng tâm giác để diệt cái mê, dùng cái tỉnh để diệt cái mơ, cái mộng, cái mớ. Ngồi đây thấy bình an như vậy mà đang đánh trận bên trong. Nhiều khi thấy cười nhẹ nhẹ, mắt nhìn xuống nhưng trong này thật sự đang đánh giặc lớn, khiếp không? Cho nên đừng nghỉ ngồi đó im re rồi 49 ngày là bừng lên. Không phải! Đó là một cuộc chiến công vĩ đại ở bên trong. Bức hình Phật ngồi dưới cội bồ đề, mình quỳ xuống mình lạy, mình phải biết rằng đây là Đấng Chiến Thắng. Tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây của mình là nội chiến, thấy một cái thôi là phải đề phòng, nghe một cái thôi là phải cẩn thận, tiếp xúc một cái thôi là phải có rào chắn còn bằng không là nó dẫn đi tuốt. Cho nên không phải đóng cửa thất lại là ngon. Có những lúc cần là mình đóng, nhưng có những lúc mình đóng mà tập khí vô minh, tham, sân, si, bản ngã của mình y nguyên trong đó. Nó giống như nước lắng xuống có cặn dưới hồ, chỉ cần lấy cây quậy hay khều một cái là nó trồi lên.
Cho nên tinh thần tu theo trí huệ năm uẩn này là linh động. Có những cái duyên tiếp xúc là mình tiếp xúc để mình dò xét, kiểm tra tâm của mình. Quý sư cô có thấy giờ này mà ở trong thất ngồi thiền chưa chắc có những cảm giác như ngồi đây nghe pháp. Nhiều khi mình dễ bị trên hình thức lắm, mình nghĩ phải như thế này, như thế kia mới được nhưng không phải vậy. Cho nên mình phải vận dụng cái trí.
Ngũ uẩn sanh khởi là vô minh và tham, ái. Lúc nãy là khổ, bây giờ là tập. Vô minh và tham ái – cái này mà mình không nắm vững thì giải thích một hồi là không biết đường ra. Vô minh đối với cái gì và tham ái đối với cái gì?
./.
-THÍCH MINH THÀNH-
Con xin hỏi quý thầy, quý cô và đại chúng một câu hỏi trước khi vào chia sẻ:
“Biết cái gì là quan trọng nhất?”
Trả lời:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy và đại chúng.
Biết mình và biết chỗ an trú của phiền não, cũng như biết rõ ngũ uẩn là quan trọng nhất.
Biết tu tập giải thoát là quan trọng nhất tức là nhận diện rõ bản chất về ngay chính mình, sự thật về ngũ uẩn.”
Xin thưa đại chúng, rất là cần để chúng ta bắt chụp những thọ, tưởng, hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ bên trong. Các ác bất thiện pháp, cấu uế, cấu nhiễm, phải được phát giác ngay giây phút nó sanh khởi để làm cho nó sáng tỏ, đưa nó ra ánh sáng. Phải chiêm nghiêm câu Đức Thế Tôn là người đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho người có mắt nhìn thấy được những gì đang có mặt. Giáo pháp cũng vậy. Một khi mình bắt đầu đi trên con đường Chánh tri kiến, thấy đúng thì lúc đó những gì bị che giấu sẽ được phơi bày. Những gì bị uẩn khuất ngàn năm trong thân tâm của mình, từ trước đến nay mình chưa từng biết, chưa từng thấy thì bây giờ mình sẽ được thấy, được biết. Cho nên sự phát giác, phát hiện, thấy, biết này mà để đi được đến chỗ nhiếp phục, đoạn tận được nó là điều cần phải làm, cần phải cố gắng, cần phải nỗ lực. Đây gọi là lành thay, lành thay! Mình càng thấy ra được những cái lậu hoặc, những cái cấu nhiễm, những cái bất thiện pháp nó sanh khởi, nó tồn chỉ, nó ứ động thì mình càng hiểu rõ được chính mình nhiều hơn. Đây là con đường tất cả chúng ta nên đi, sự đến đích là tất cả cấu nhiễm được đào thải, được tẩy sạch, được đi đến chỗ thanh lương, tịch tịnh, mát lạnh, trong sạch, trong sáng.
Liên tục 6 tháng nay, Minh Thành tu tập và quán chiếu về Tứ Thánh Đế.
Này các Tỷ-kheo, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là nguyên nhân của khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết sự chấm dứt khổ, một sự thật mà các ông cần cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
Thật sự khi mình chiêm nghiệm những điều này, lấy đó làm đề mục quán chiếu và tu tập trong một thời gian dài thì mình sẽ thấy cái khổ tràn ngập tất cả mọi chỗ mọi nơi. Lúc nãy con hỏi điều gì quan trọng nhất mà chúng ta phải biết? Đó là khổ. Chữ “khổ” này nó không khác với nhận diện năm uẩn. Đừng tưởng nhận diện năm uẩn là khác, biết cái khổ là khác. Năm uẩn là khổ pháp.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ pháp? Sắc thủ uẩn là khổ pháp, thọ thủ uẩn là khổ pháp, tưởng thủ uẩn là khổ pháp, hành thủ uẩn là khổ pháp, thức thủ uẩn là khổ pháp. Sự bám chặt vào trong hình hài, sắc chất này là khổ. Sự bám chặt vào trong những cảm giác, nghĩ tưởng, rõ biết đó là khổ. Như vậy, khổ là cái các ông cần nỗ lực cố gắng để rõ biết, nguyên nhân của khổ cái thứ các ông cần phải đoạn dứt, sự chấm dứt khổ là chỗ các vị cần phải chứng nhập, chứng ngộ, con đường đưa đến chỗ diệt khổ là các ông cần phải tu. Khổ cần phải biết. Tập cần phải đoạn. Diệt cần phải chứng. Đạo cần phải tu, đạo đó là Bát Chánh Đạo.
Cho nên từ Tứ Thánh Đế soi lại, mình thấy mình đang đi ở trên con đường đó. Các vị từ cư sĩ đến tu sĩ, các vị nhìn thấy các dục tham ăn, tham nói, tham ái, nhìn thấy các cái dục, các cái tham, tham giường, tham chõng, tham nhà, tham thất. Nhiều khi tâm mình ghê lắm, khi mình chưa đến thì cái thất đó là của ai cũng được. Nhưng mình đến ở chừng 1 tuần, 2 tuần hay 1 tháng thì trong bụng mình “Thất này là thất của tôi”. Sự ái thủ của nó khiếp đảm lắm, thành ra mình phải nhìn lại. Khi mình nhìn thấy những thứ rác bẩn, cấu nhiễm, uế nhiễm đó, thì mình thấy khó chịu, mình muốn nó phải đi đến chỗ đoạn giảm, giảm thiểu và đoạn tận. Đó là thấy được khổ, thấy được những nguyên nhân của khổ, mà là thực sự “thấy” chứ không phải học trên chữ nghĩa. Hồi xưa là mình học trên chữ nghĩa, mình nói tham, sân, si, bản ngã. Nhưng bây giờ mình thấy nó sanh khởi, nó hoạt động, nó tác oai, tác quái, nó bành trướng, quậy phá mình trong thân tâm. Cho nên chỗ thấy này là chỗ trí tuệ của Chánh tri kiến, Thánh tri kiến. Bây giờ là mình thấy chứ không phải hồi xưa là mình nghe và mình học là nó khác. Cho nên thấy được những cảm xúc hổ thẹn, sợ hãi, xấu hổ, nhục nhã trong khi nó sanh khởi lên thì cái thấy đó là cái thấy của trí tuệ, cái thấy của Thánh tri kiến, cái thấy của Chánh tri kiến, cái thấy của thấy đúng. Từ chỗ mình thấy đúng như vậy thì bây giờ cái thấy đúng không còn ở trên chữ nghĩa nữa.
Chỗ này là mức độ sâu sắc. Cái thấy của mình là thấy được sự hoạt động của ngũ uẩn, thấy được sự vận hành và sanh khởi của lậu hoặc. Mình đang đi trên con đường bốn Thánh trí ngũ uẩn và bốn Thánh trí lậu hoặc. Mình học chữ nghĩa từng chương trên kinh sách là chuyện ở bên ngoài. Còn bây giờ là mình đọc ngũ uẩn, đọc lậu hoặc trong mỗi khi tiếp xúc, mỗi khi nghe nhìn, mỗi khi ứng xử. Đọc được sự vận hành của dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Cho nên mỗi ngày chúng ta đều kính đảnh lễ bốn Thánh trí. Bốn Thánh trí này là tổng cương lĩnh của Thánh giáo, của pháp bảo. Nếu mà không từ Thánh trí này thì mình không thấy được. Chẳng những mình không thấy, không biết mà mình còn nuôi dưỡng, tăng trưởng và phát triển nó nữa. Cho nên sau đây là chỗ rất là hay trong bài kinh hôm trước chúng ta học về ngũ uẩn. Từ chỗ này quý vị mới thấy được chỗ sâu sắc mà đọc kinh mới hiểu, mà không tu cái này thì mình đọc vô mình không hiểu. Nó giải mã hết thân tâm của mình. Đức Phật nói là giảm thiểu chứ không được tăng trưởng, phân tán chứ không huân tập. Minh Thành muốn đọc Chánh kinh để quý vị nhớ và về quý vị học.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc..., giảm thiểu, không tăng trưởng thọ...tưởng...các hành...giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc...thọ... tưởng... các hành... từ bỏ, không chấp thủ thức.
Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc... thọ... tưởng... các hành... xa lánh, không thân cận thức.
Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc... thọ... tưởng... các hành... phân tán, không huân tập thức.
Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
(Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 3, Chương I, Phẩm Những gì được ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Mình thấy được dục, tham, ái, vô minh, bản ngã nằm ở trong ngũ uẩn. Ở đây nói “giảm thiểu, không tăng trưởng sắc, thọ, tưởng, hành, thức”, mình phải hiểu rằng là giảm thiểu, không tăng trưởng dục, ái, tham, sân, si, bản ngã đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một khi một người đã thành tựu Thánh tri kiến, thấy biết đúng về thân tâm của mình thì người này sẽ đi đến chỗ giảm thiểu, không tăng trưởng dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã đối với ngũ uẩn. Người này không muốn phát triển, tăng trưởng, chấp thủ, thân cận, huân tập đối với những vật chất, cảm giác, những hình bóng, tưởng, suy nghĩ, các hành. Người này giảm thiểu, từ bỏ, xa lánh, phân tán, người này không còn phát triển, tăng trưởng, chấp thủ, thân cận, huân tập. Nó đi đến kết quả như vậy. Tùy theo sự nỗ lực tinh tấn của mình nhiều hay ít, nhanh hay chậm, miên mật hay không miên mật, tinh tấn hay là phóng dật thì kết quả tương ứng theo sự thực hành của mình, cho nên đây là hệ quả tất yếu. “Dòng pháp đưa người về phía trước” là ở chỗ này.
Nhìn liên tục, soi liên tục, rọi liên tục để thấy được ngũ uẩn, khi thấy được ngũ uẩn thì thấy được lậu hoặc, thấy được lậu hoặc thì tự động có công năng đào thải. Do sức Như lý tác ý mạnh mẽ, quyết liệt, nỗ lực thì sự đào thải đó diễn ra nhanh, lẹ, mau đi đến chỗ sạch sẽ. Khi mà những ganh tỵ, đố kị, phiền não ở trong sanh khởi thì lúc đó mình thấy khó chịu không? Mình có muốn nó tồn tại lâu dài không? Mình có muốn giữ nó trong thân tâm của mình không? Nếu không thì đó là mình không có chấp thủ, đó là mình muốn xa lánh, đó là mình muốn cho nó phân tán chứ không huân tập, mình muốn từ bỏ chứ không muốn lấy những thứ này. Đó là công năng và tác dụng của Chánh tri kiến. Ngày xưa mình không biết, khi sanh khởi một cái sân, cái bực lên là lúc đó mình đi theo cái đó, mình sống chung, ôm ấp cái đó luôn, đó gọi là chấp thủ. Bây giờ mình biết rồi, mình thấy rồi, biết nó là những nguyên nhân của khổ, mình muốn đoạn dứt, từ bỏ, xa lánh, mình muốn cho nó phân tán, tan rã ra. Chữ phân tán ở đây là tan rã ra. Chữ huân tập là nhóm họp lại. Mình muốn cho những thứ này tan ra, rã ra, nát ra, vỡ ra, bể ra, tan biến khỏi tâm ta. Những từ đó là pháp lệnh, những từ đó cũng gọi là khẩu quyết, là mục tiêu hành trì – pháp hành. Phải nắm vững những pháp lệnh này, phải nhớ kỹ để vận dụng.
“Vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng”. Làm cho cái ái, cái tham, cái dục giảm xuống, không cho nó tăng lên, càng ngày càng giảm xuống. Lúc trước ăn là phải thế này, thế kia, còn bây giờ có gì ăn cũng được, đơn giản. Lúc trước phải làm như thế này, như thế kia mới vừa ý bây giờ thì tùy duyên. Điều quan trọng để hộ trì cảm giác gọi là yên tịnh, lắng dịu. Thí dụ, mình thấy người ta đi không đúng theo quy định, lúc đó khó chịu thì mình nói sao, có tác ý không? “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu”. Đừng coi thường hai câu này, đó là pháp hành thường trực. Mình nói “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu. Lắng dịu. Dễ chịu”. Không riêng một cá nhân ai đâu, chung hết, bản thân Minh Thành cũng bị chứ không phải nói là riêng một người, ai cũng bị. Mà người có trách nhiệm nhiều chừng nào thì bị nhiều chừng đó, nếu người này chấp thủ nhiều thì bị càng nhiều. Cho nên khi nó khó chịu lên thì “Tâm lắng chịu. Tâm dễ chịu. Hiền nè. Ngoan nè. Nhẹ nhàng đi. Mày vô đây để làm gì? Lên núi này để làm gì đây”. Lúc đó hóa giải cảm giác đó, hóa giải các hành và suy nghĩ đó, hóa giải những cái tưởng để trở về chỗ tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương. Đó là công năng của Như lý tác ý, đây là mình tác ý nhẹ, nếu mà nó mạnh hơn nữa thì mình tác ý mạnh. Nếu nó cứng đầu hơn nữa thì mình đập vô đầu nó, mình dùng những cái đao to búa lớn, tác ý mãnh liệt đánh vô. Tùy theo bệnh mà liều thuốc nó gia giảm, bệnh nặng tăng thuốc lên, bệnh vừa thuốc vừa vừa, bệnh nhẹ thuốc ít thôi. Có những cái mình chỉ cần tác ý nhẹ thôi là nó tan biến liền. Có những cái mình tác ý trong một thời gian 10 phút, 15 phút, có khi nửa tiếng, 1 tiếng. Nhưng có những cái mình tác ý hàng tháng trời, nhiều tháng chứ đâu phải chừng nào nó có mình mới tác ý. Tác ý từ xa những bệnh nặng trong người, thí dụ những cái dục, ái mình tác ý khiếp đảm. Đâu phải tác ý mấy tháng là nó hết, phải luôn liên tục, tiếp tục quán chiếu, tác ý. Bản ngã cũng vậy, hở ra là đập, hở ra là đánh. Phải tác ý mạnh, mãnh liệt, giống như sấm sét, vũ bão, giống như trời giáng, giống như địa chấn, động đất. Làm cho các cảm thọ trong người của mình bị rúng động, hoảng sợ chứ không phải tác ý sơ sơ, trơ trơ. Làm sao tác ý mà sanh ra được cảm thọ, cảm giác mới có hiệu ứng, hiệu năng, hiệu quả, hiệu nghiệm. Chứ còn tác ý nói như vậy mà cứ ngơ ngơ, trơ trơ như vậy thì không được. Có những lúc mình phải khủng bố bọn lậu hoặc. Trong thất nhiều khi Minh Thành cụng cái đầu dô tường chứ không phải giỡn. Có những cái mạnh là mình phải làm mạnh, chứ không phải nói tự nó sanh rồi nó diệt. Cho nên phải làm cho nó giảm thiểu, đừng để cho nó tăng thêm. Làm cho tập đế đi đến chỗ đoạn giảm, nó chưa đoạn thì nó giảm trước. Phải cho nó giảm rồi mới đi tới đoạn. Tu cái này hay lắm! Trong thân tâm mình có gì là mình thấy hết!
Cho nên khi mình thấy đúng thì tự nhiên suy nghĩ đúng của mình sanh khởi. Rồi tự nhiên mình có những lời nói ra, mình phát lồ sám hối thì đó là lời nói đúng. Rồi có những hành động đúng và nó sẽ từ từ sanh khởi tiếp tục. Mình cứ siêng năng nỗ lực và quán chiếu liên tục nữa thì từ từ sẽ đi đến chỗ thành công, là đi đến tâm tịch tĩnh hoàn toàn. Bát Chánh Đạo này tối thượng, tối diệu lắm, phải đi từng bước. Đầu tiên phải củng cố thật viên mãn Chánh tri kiến. Sau đó mình mới nỗ lực tu tập Chánh tư duy, tác ý. Tu tập Chánh ngữ, chia sẻ nói những lời pháp. Bắt đầu từng bước mình mới tiến tới những cái Chánh nghiệp, Chánh mạng – hành động đúng, nuôi sống đúng. Mình mới siêng đúng, quán đúng, định đúng, phải từng bước, từng bước. Trong giai đoạn bắt đầu, phần Chánh tri kiến và Chánh tư duy hết sức là quan trọng. Hai cái đó có thì tự động có Chánh ngữ. Cho nên phải phối hợp và phải biết mình đang ở vị trí nào để mình nỗ lực.
Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 3, bài kinh Khổ:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.
Mình nhớ Đức Phật nói là năm thủ uẩn, cho nên cô Chơn Tín Toàn rất dày công để từ Bốn Thánh Đế mà chuyển qua ngôn ngữ phối hợp với ngũ uẩn là điều hết sức thâm sâu, trước nay chưa có ai làm điều này hết. Phối hợp ngũ uẩn với Tứ Thánh Đế là điều chưa từng có. Người mà thẩm thấu hết vô phần nghiên cứu và tu tập mới thấy hết được giá trị vĩ đại của nó. Người bình thường, ngay cả những học giả cũng không hiểu nổi được chỗ này. Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau – là giải thích từ ngũ thủ uẩn. Đó là Thánh trí thứ nhất. Mình nói Khổ Thánh Đế, người ta giải thích là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu mà xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp gỡ là khổ. Giải thích theo Bắc Truyền là năm ấm lẫy lừng là khổ – ngũ ấm xí thạnh, mình không hiểu gì hết. Bên tạng Nikāya tóm lại năm thủ uẩn là khổ, câu này làm nên lịch sử. Công đức của cô Chơn Tín Toàn là ở chỗ đó, nếu không nhìn được năm uẩn thì không bao giờ có ai làm hiển bày được Thánh đạo hết. Thánh đạo không hiển bày thì làm sao Thánh quả thành tựu.
Cho nên bốn Thánh trí về ngũ uẩn này phải nói là mỗi ngày mình phải lạy, mỗi ngày phải quán chiếu, mỗi giờ phải quán chiếu. Sự chấp thủ vào ngũ uẩn này là phiền não và khổ đau. Thí dụ, họ làm trúng cái món đồ của mình, mình nói đó là đồ của mình, ai làm gì xơ xiểng, hư hao làm mình bực lên thì mình niệm câu “Sự chấp thủ vào sắc uẩn là phiền não và khổ đau”. Niệm câu đó lên, cái này phải thuộc lòng và phải được quán chiếu liên tục. Mình niệm lên “Sự bám chấp, sự chấp thủ, sự bám chặt vào sắc uẩn này là phiền não và khổ đau” thì Thánh trí thứ nhất được vận dụng, được hiển bày, phơi bày, được triển hiện và tỏa sáng. Ở trong sinh hoạt thường nhật, niệm câu đó lên. Ai làm gì đó khiến mình có cảm giác bực mình thì niệm lên “Sự chấp thủ vào cảm giác này, thọ uẩn này là phiền não và khổ đau. Buông xả đi”. Tuyệt diệu không? Đây chính là pháp hành. Đó là lí do tại sao Bốn Thánh Trí ngũ uẩn này nằm ở trang đầu, trong khung đỏ, tóm thâu hết đại tạng Nikāya thì không phải điều bình thường. Bây giờ mình tiếp xúc với cái gì mà sanh khởi lên cảm giác bực mình hay là bản ngã sanh khởi lên cảm giác khó chịu thì mình đọc lên “ Sự chấp thủ vào cảm giác này, sự bám chấp vô cảm giác này là phiền não và khổ đau”. Đó là niệm Thánh trí, mà mình niệm Thánh trí là mình đánh phá phàm tình, chuyển hóa phàm tình, đập tan vỡ phàm tình. Một tỉ thần chú cũng không so sánh được với câu này, đem hết thần chú trên thế giới cũng không so sánh nổi với câu đó, vì đây là Thánh trí. Những hình bóng dục, ái, tham khởi lên trong tâm quậy mình, niệm lên “Sự chấp thủ, sự bám chấp, sự nắm chặt, sự ưa thích những hình bóng này là phiền não, khổ đau. Sự chấp thủ, sự bám chấp vô cái tưởng này là phiền não, khổ đau”. Khi gặp hay nghe chuyện gì đó bắt đầu nó suy nghĩ lung tung, lang thang hết cái này tới cái kia, buồn cái này, bực cái nọ, giận cái kia, hờn cái nọ, ganh tỵ, đố kị, tôi, ta, mình, người, cao, thấp, phải, quấy, mình đúng, người kia sai. Niệm lên “Sự chấp thủ vào hành uẩn này là phiền não, khổ đau, buông xuống đi”. Sự bám chặt, bám víu vô suy nghĩ, lời nói lầm thầm của tham, sân, si, bản ngã thì lấy bửu bối quán chiếu năm uẩn “Sự chấp thủ, sự thân cận, sự huân tập của thứ này là phiền não, khổ đau”. Tất cả trong Nikāya này là pháp hành hết, điều quan trọng là mình biết hành hay là không, chứ không phải đi tìm pháp hành ở đâu nữa. Những suy nghĩ lăng xăng trong đầu, mệt mỏi niệm lên “Sự chấp thủ vào hành uẩn này là phiền não là khổ đau. Đây không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”. Đánh tan, đánh vỡ, đánh sập những cảm giác nghĩ tưởng này đi.
Một cái thâm sâu nữa là thức, nếu tu không có thiền định, không có sự nhận diện các pháp một cách tinh tường, minh bạch thì không nhìn thấy nổi thức uẩn. Thí dụ, người đó nói một câu nghe bực mình, thì mình không thèm nghe câu nói đó nữa, mở rộng nhĩ thức của mình ra trùm hư không, nghe tiếng chim hót. Đó là nói theo cách gọi là không thọ, hoặc là lấy thức diệt thức, tức là mình diệt cái biết ở nơi âm thanh này, mình cho nó sanh cái thức qua cái biết bên kia. Nếu trong Bốn Thánh trí ở đây thì nói “Sự chấp thủ vô cái biết của nhĩ thức này là phiền não, khổ đau”. Niệm lên như vậy. Cho nên có những khi mình không ở lại trên cái thức đó, mà mình gạch bỏ nó và chuyển qua cái thức khác, mình cho nó diệt cái này, chuyển qua cái khác. Đây là lấy thức diệt thức, dùng danh từ khác là tập không thọ. Chẳng hạn bây giờ mình nhìn thấy một hình sắc, một con người đẹp thì nó sanh khởi lên cái dục, tham, ái. Mình chuyển cái thức biết cảnh ở ngoài quay trở lại nhìn hình bóng bộ xương hiện ra, giòi ăn hiện ra, 9 giai đoạn một tử thi hiện ra trong thân tâm của mình. Đó là không chạy theo cái biết kia, để cho cái biết kia nó diệt, làm cho cái biết này nó sanh. Thành ra người tu phải thiện xảo lắm, nghệ thuật lắm, tinh vi, tinh anh, một trí huệ khủng khiếp. Không cho nó chạy theo cái thức biết cái sắc ở bên ngoài, diệt cái thức đó, cho nó quay trở lại để biết hình bóng bộ xương, hình bóng dịch bệnh ở Vũ Hán – nCoV, hình bóng những người ngã ra giữa đường chết, đang ngồi té xuống chết, đang làm việc ngồi trên bàn vi tính bật ngửa ra mất mạng.
Thành ra phải vận dụng khéo léo, tinh xả và thiện nghệ. Từ thiện nghệ mới đi tới Thiện Thệ. Sử dụng món nghề của mình giống như một người thợ hết sức nhuần nhuyễn, khéo. Thợ khéo là người làm những việc ở bên ngoài. Nhưng mà người khéo tu thì khéo sử dụng tâm thức của mình, khéo sử dụng cảm giác, khéo sử dụng hình bóng, khéo sử dụng các suy nghĩ, khéo sử dụng sự rõ biết trong tâm của mình. Cực kỳ thiện xảo để mà sử dụng ngũ uẩn. Dùng sắc diệt sắc, dùng hình của bộ xương để diệt hình bóng người đẹp hấp dẫn kia. Dùng hình bóng của ngọn lửa thiêu đốt để làm dập tắt cơn sân hận. Hoặc dùng hình ảnh nước mát của tình thương để dập ngọn lửa sân hận. Đó là hình bóng diệt hình bóng, cảm giác diệt cảm giác, suy nghĩ diệt suy nghĩ. Tức là lấy suy nghĩ của thiện pháp, của Thánh trí để diệt suy nghĩ của phàm tình, của mê vọng, của bản ngã. Thấy được chỗ dùng ngũ uẩn diệt ngũ uẩn, dùng trí để diệt cái mê, dùng tâm giác để diệt cái mê, dùng cái tỉnh để diệt cái mơ, cái mộng, cái mớ. Ngồi đây thấy bình an như vậy mà đang đánh trận bên trong. Nhiều khi thấy cười nhẹ nhẹ, mắt nhìn xuống nhưng trong này thật sự đang đánh giặc lớn, khiếp không? Cho nên đừng nghỉ ngồi đó im re rồi 49 ngày là bừng lên. Không phải! Đó là một cuộc chiến công vĩ đại ở bên trong. Bức hình Phật ngồi dưới cội bồ đề, mình quỳ xuống mình lạy, mình phải biết rằng đây là Đấng Chiến Thắng. Tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây của mình là nội chiến, thấy một cái thôi là phải đề phòng, nghe một cái thôi là phải cẩn thận, tiếp xúc một cái thôi là phải có rào chắn còn bằng không là nó dẫn đi tuốt. Cho nên không phải đóng cửa thất lại là ngon. Có những lúc cần là mình đóng, nhưng có những lúc mình đóng mà tập khí vô minh, tham, sân, si, bản ngã của mình y nguyên trong đó. Nó giống như nước lắng xuống có cặn dưới hồ, chỉ cần lấy cây quậy hay khều một cái là nó trồi lên.
Cho nên tinh thần tu theo trí huệ năm uẩn này là linh động. Có những cái duyên tiếp xúc là mình tiếp xúc để mình dò xét, kiểm tra tâm của mình. Quý sư cô có thấy giờ này mà ở trong thất ngồi thiền chưa chắc có những cảm giác như ngồi đây nghe pháp. Nhiều khi mình dễ bị trên hình thức lắm, mình nghĩ phải như thế này, như thế kia mới được nhưng không phải vậy. Cho nên mình phải vận dụng cái trí.
Ngũ uẩn sanh khởi là vô minh và tham, ái. Lúc nãy là khổ, bây giờ là tập. Vô minh và tham ái – cái này mà mình không nắm vững thì giải thích một hồi là không biết đường ra. Vô minh đối với cái gì và tham ái đối với cái gì?
./.