Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa NIKAYA - Soi Sáng - Tại Sao Quán Vô Thường Không Thành Tựu A-B

2026-03-18 06:50:19
Mục lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi: PAGEREF _Toc49676129 \h 1

II. Vì sao quán vô thường không thành tựu: PAGEREF _Toc49676130 \h 3

1. Thái độ đối với pháp: PAGEREF _Toc49676131 \h 3

2. Cách quán: PAGEREF _Toc49676132 \h 5

3. Bền bỉ: PAGEREF _Toc49676133 \h 10

III. Chia sẻ: PAGEREF _Toc49676134 \h 13

1. Thầy Nguyên Thường PAGEREF _Toc49676135 \h 13

2. Phật tử 1: PAGEREF _Toc49676136 \h 17

IV. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc49676137 \h 17

V. Thánh trí ngũ uẩn: PAGEREF _Toc49676138 \h 19

VI. Bài kinh Các Pháp, hồi hướng: PAGEREF _Toc49676139 \h 26

TINH HOA NIKAYA – SOI SÁNG – TẠI SAO QUÁN VÔ THƯỜNG KHÔNG THÀNH TỰU?

-Thích Minh Thành-

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Đảnh lễ bốn Thánh Trí đưa đến ly tham, giải thoát.

Đảnh lễ Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh Tăng, ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Xin thưa đại chúng, khi con đi qua Thái Lan thăm viếng các trường thiền, con có đến trường đại học Phật giáo. Cũng nhờ các thầy là thầy Tâm Chánh và thầy Nguyên Thường, hướng dẫn con đi thăm các trường thiền ở Thái Lan.

Hôm nay có nhân duyên, thầy Nguyên Thường về thăm Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta có buổi pháp đàm, con mời thầy chia sẻ với đại chúng trong sự kinh nghiệm tu học bên đó, cũng như có câu hỏi gì về pháp hành.

“Mời thầy”.

I. Câu hỏi:

Thầy Nguyên Thường

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thầy trụ trì, kính thưa toàn thể đại chúng.

Con pháp danh là Nguyên Thường, chuyến vừa rồi thầy trụ trì có qua Thái Lan cũng cách đây gần hai năm rồi, nhân duyên đó con đã biết được thầy. Thật ra con đã biết về thầy trước đó, bởi vì con là học trò của thầy ở tại trường trung cấp Phật học tại quận Thủ Đức. Qua những bài dạy, bài chia sẻ của thầy trên trường, và con cũng xem qua trên mạng, thì con cũng có thực hành pháp Quán Vô Thường.

Lúc thầy mở video về một người phụ nữ, người phụ nữ này trải qua thời gian, thân thể của cô ấy thay đổi, biến đổi, trở thành một đống xương khô, mà thầy mở video cho chúng con xem bên Thái Lan. Sau ngày hôm đó, con ý thức được rõ ràng về pháp Vô Thường.

Khi thầy trở về Việt Nam, thầy cũng gửi về cho con những bài giảng pháp của thầy. Trong suốt thời gian con ở Thái Lan, mặc dù lịch trình học của con rất dày đặc, nhưng con cũng cố gắng thực hành pháp của thầy một thời gian về Quán Vô Thường (thật ra pháp của thầy rất nhiều). Nhưng theo pháp Quán Vô Thường thầy chỉ con ở trên đó, thì qua một thời gian, con cũng chia sẻ với thầy là, cái Quán Vô Thường của con cũng bị kẹt. Nó kẹt vào chỗ là khi con Quán Vô Thường, con tưởng tượng vào hình ảnh của người phụ nữ trong video đó thôi, chứ còn không có đề mục nào trước mặt con cả. Con chỉ tưởng tượng trong tâm, thì con tưởng tượng như vậy đó, cái tâm của con nó chỉ hình dung ra được cái vô thường ở khoảnh khắc đó thôi, còn sau đó con không cảm thấy vô thường nữa, mà con thấy nhìn mọi thứ như đang “là” vậy thôi, nó không còn biết cái tâm “mà” nhìn mọi thứ nó đang thay đổi, đang biến đổi trong từng Sát-na.

Con bạch lên thầy cho con hỏi, làm thế nào để duy trì những pháp vô thường, sự thay đổi mọi hiện vật diễn biến xung quanh con, suốt hành trình từ ngày này sang ngày khác.

 Dạ Mô Phật”.

II. Vì sao quán vô thường không thành tựu:

1. Thái độ đối với pháp:

Đây là vấn đề lớn của người tu chúng ta. Khi mình nghe pháp, mình đọc sách, thì lúc đó mình có thấm, có cảm nhận được. Nhưng khi mình trở về với đời sống thường nhật, thì lúc đó cái pháp nó bị phai nhòa hoặc bị cuốn trôi, nó bị ngọn gió của cảnh giới cuốn trôi. Mình không giữ được sự thực tập một cách thường xuyên, thường trực, thường hằng, thường ngày, thường luôn. Do sự học pháp của chúng ta giống như là một cái kiến thức, hiểu biết, về một chủ đề đó, về pháp đó, về nhà có khi lại trở thành kỷ niệm. Như vừa rồi các cô ở trường trung cấp Bình Định về đây dự khóa tu, các cô cũng có nói “các cô sợ sau khi trở về, thì đây sẽ trở thành những kỷ niệm”, đó là sự thật.

Tại sao chúng ta tu học mà sau khi xong khóa tu, hay sau khi xong buổi giảng thì chúng ta trở ra, chúng ta lại là một con người khác. Chúng ta không có lấy pháp làm thức ăn, không lấy pháp làm nước uống, không lấy pháp làm hơi thở cho mình. Làm sao để chúng ta lấy pháp làm thức ăn, làm nước uống, làm hơi thở hay làm sinh mạng? Chúng ta đói bụng một chút là chúng ta đi kiếm ăn, khát một chút là chúng ta đi tìm nước, chúng ta thấy đói, thiếu, khát cần phải có. Nhưng chúng ta có khi nào thấy mình đói pháp, khát pháp không? Có không? Ít lắm.

Lòng nhiệt thành, tha thiết, nóng bỏng đối với pháp của mình chưa đủ, “dục như ý túc” chưa đủ. Chúng ta phải có sự thao thức, bâng khuâng, ray rứt bên trong đối với pháp. Chúng ta chưa có ý thức một cách sâu sắc về giá trị thực sự của Chánh Pháp. Chúng ta chưa có tìm đủ mọi cách làm cho bằng được, “phải tìm tất cả mọi phương cách, làm sao phải thực hiện cho bằng được các phương pháp đó”, nếu chúng ta có được cái tâm này, chúng ta mới thực hành pháp có kết quả. Cái lòng mong muốn, khao khát, nỗ lực, lúc nào cũng tâm niệm, để tâm “làm sao mình phải thực hành cho bằng được phương pháp này?” nghĩ đủ mọi cách hết, thì mình sẽ thành được pháp. Tức là tiến bộ và có hiệu quả, đó là Tứ Như Ý Túc (nãy giờ con không có dùng từ chuyên môn, nói bằng tiếng Việt hết).

Mình phải mong muốn, cố gắng, để tâm, suy nghĩ tìm đủ mọi cách làm cho bằng được, thì chắc chắn người đó sẽ tìm ra được pháp, thực hành pháp một cách có hiệu quả. Trong tâm chúng ta chưa thấy pháp là một cái gì đó mà hết sức, tuyệt đối quan trọng, còn quan trọng hơn sanh mạng của mình nữa. Phải thấy được như vậy, thì cái học pháp của mình nó mới đi đến chỗ sâu sắc, vững chắc, thành công.

Tại sao chúng ta ngồi thiền hay ngủ gục? Ngồi thiền bị đau chân? Tại sao chúng ta nghe pháp chúng ta thấy nhức mỏi? Tại vì cái tâm cầu pháp chưa có mãnh liệt, nếu nó tha thiết, mãnh liệt bằng tất cả tấm lòng, thì tất cả những cái đó chúng ta có thể vượt qua, có thể nhiếp phục, dẫu cái thân bị đau. Bằng chứng là ở đây có những vị bị thoái hóa cột sống, có những vị bệnh rất nhiều, nhưng mà tu học một lần là bốn, năm tiếng, từ bốn giờ sáng đến chín giờ sáng (như bà cụ trước mặt này bảy mươi chín tuổi). Tại sao chúng ta làm được mà chúng ta vẫn hoan hỉ? Tại vì cái tâm tha thiết cầu pháp, nó làm cho vượt qua cảm thọ đau, nhức mỏi, đói lạnh của thân. Đó là Dục Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc và Tư Duy Như Ý Túc.

Cho nên làm sao mà mình có được cái tâm thái cầu pháp mạnh mẽ, nhiệt thành, nóng bỏng, xem pháp còn hơn cả sanh mạng của mình? Mình phải thành tựu Chánh Kiến, thì mình mới có được cái này. Tức là mình phải thấy được chân giá trị của Chánh Pháp, thấy được sự lợi lạc, lợi ích to lớn và vĩ đại của pháp, thì mình sẽ vượt qua những cái buồn ngủ, mệt mỏi hiện tại, cái đau nhức, đói lạnh. Ngày hôm qua mình có học, ở thời Đức Thế Tôn và các vị thảo luận về pháp sáng đêm. Tại sao các vị có thể làm được? Tại vì đối với các Ngài, cái pháp đó là thức ăn, tinh thần, là tối tôn, tối thượng. Đối với các Ngài, ngoài pháp ra không còn có gì trên cuộc đời quan trọng nữa hết, các vị chỉ có thấy pháp thôi, đó là cái nguyên nhân sâu xa thứ nhất.

2. Cách quán:

Cái thứ hai, là khi chúng ta quán tưởng về Bất Tịnh, Vô Thường, Tứ Đại, Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi, thì chúng ta lúc đầu mượn hình ảnh, nhưng khi đi vào tu là mình quán chính thân của mình, chứ không phải với hình ảnh bên ngoài. Mình quán cô gái đó vô thường, chứ mình không vô thường, mình quán người kia chết, chứ mình còn ngồi đây. Cho nên cái quán đó là phải quán ngay thân mình. Mà muốn quán ngay thân mình một cách đầy đủ, chính xác, trọn vẹn (những ngày có thầy Nguyên Thường còn ở đây, quý thầy chia sẻ thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn), mình phải biết thân tâm của mình là cái gì trước đã. Không phải là nghe, là hiểu, là biết những gì người khác nói, mà mình thấy biết bằng mắt tâm của mình.

Về phần quán chiếu mà Đức Phật dạy trong bài kinh “Thân Hành Niệm”, bài kinh này là tuyệt đối quan trọng đối với người xuất gia. Nếu người xuất gia mà không biết, không học, không có thực tập bài kinh này, thì chỉ có xác mà không có hồn, (ở bên trường mình có được học bài kinh này chưa? Trung bộ kinh tập 3, bài kinh số 119, bài kinh là tuyệt đối quan trọng).

Đây là pháp hành lúc Đức Thế Tôn còn tại thế, đã dạy tất cả các Tỳ-kheo mỗi ngày đều phải thực tập. Đức Thế Tôn không biết đã dùng bao nhiêu ví dụ, để ca ngợi pháp hành này, pháp hành Sáu Phương Diện Niệm Thân ( thầy còn nhớ Sáu Phương Diện Niệm Thân không?) là: Niệm hơi thở, Niệm oai nghi, Niệm hành động, Niệm tứ đại, Niệm ba mươi hai thể trược, Niệm chín giai đoạn tử thi. Sáu cái này là mình phải thực tập thường xuyên, sáu cái này gọi là Thân Hành Niệm. “Hành” là sự vận hành của thân, “Niệm” là mình quán xét, quán niệm, nghĩ nhớ sự vận hành của thân.

Chúng ta thường sống trong lãng quên, rất là thương sống trong lãng quên. Chúng ta đâu có biết hơi thở nó đang vô ra, cho nên cái đầu tiên của đức Phật dạy là Niệm hơi thở để quay trở về thân của mình, quay trở về cái thực tại nó đang diễn ra ở nơi tự thân của mình. Chúng ta nhiều khi cũng quên là mình đang ngồi hay mình đang đi nữa. Nhiều khi mình quét nhà, rửa chén hay đang làm cái gì đó, mà mình cũng quên mình đang làm điều đó. Vì ở bên trong những suy nghĩ, cảm giác, những cái tưởng, hoặc là cái miệng nói uyên thuyên, khi làm, khi nói cái gì đó, thì nó dẫn đi như vậy. Thành ra cầm chén thì rớt chén, bưng tô là bể tô, nấu đồ ăn, nấu thuốc thì cháy nồi. Tại sao? Tại vì cái tâm nó đi lang thang, cái tâm vất vơ, vất vưởng. Không có Niệm hành động, tức mà nó không nhớ nó đang làm gì hết.

Thành ra những cái này là tuyệt đối quan trọng, vì nếu mình chưa làm cái này, thì mình không thể nào Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi thành công được hết. Đức Phật là một bậc tối thượng đạo sư, cho nên sự giáo dục, giáo pháp của Ngài có những thứ tự, trình tự, đạo lộ, không phải nhảy vô một cái là mình Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi liền được, không phải. Vì những cái hết sức đơn giản, bình thường ở ngay chỗ đang diễn ra, trong hành động, oai nghi, mà mình không kiểm soát được, thì làm sao mình có thể quán những cái trí huệ sâu sắc, thâm sâu, cho nên Ngài dẫn từ từ đi vào. Phải cảm nhận được hơi thở, phải cảm nhận được bước chân, cảm nhận con mắt, cánh tay, bàn chân, thân thể của mình, phải cảm nhận đó là Niệm oai nghi, Niệm hành động.

Có nhiều người ở trong pháp hội, họ ngồi một hồi là lưng dựa vào vách, hai cái chân họ bẹt đưa ra, có người ngủ luôn, tại vì họ không biết họ đang làm gì hết. Đó là một sự vô minh, si ám. Ví dụ đi vào trong chùa mà nói giống như ngoài chợ, đó cũng là một trạng thái của vô minh, không biết mình đang ở đâu, mình đang làm gì. Cho nên Thân Hành Niệm này nó tuyệt diệu lắm, đó là phép lạ, vi diệu, mầu nhiệm, là sự quay về tự thân, phải Niệm hơi thở, Niệm oai nghi, Niệm hành động. Mình làm gì mình không biết gì hết, mình không có Niệm oai nghi, hành động, mình sống trong si ám, trong vô minh, trong quên lãng, mình cứ phóng ra ngoài, cái tâm mình cứ hướng ngoại, những cái này tu hay lắm.

Tại sao người ta đi người ta trượt chân té đập đầu xuống? Do mải miết nhìn cảnh bên ngoài. Thành ra tu cái này mình mới biết điều gì? Hôm trước mình có học bài kinh “Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò”. Trong kinh ông giữ vườn nói với Đức Thế Tôn làm sao? “Các vị này ái tự ngã”. Mình tu cái này là mình thương mình lắm, mình thật sự biết thương mình, mình không tu cái này mình không có thương mình. Ví dụ mình “Niệm oai nghi, hành động”, mình nói ra gì mình nghe rất rõ lời nói đó. Mà trước khi nói mình phải xét, trong khi đang nói mình xét, sau khi nói mình cũng quán xét nữa. Nên khi lời nói mình nói ra rồi mình không có hối hận, mình không bị “hố”, mình không có làm đau khổ cho mình, đau khổ cho người, cho nên ba cái pháp này là quan trọng của bước đầu.

Nhiều khi mình chưa có thực tập gì hết, mình nhảy vô mình Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi thì làm sao thành công? Thí vụ mình bước lên cầu thang, mình không thể bước một bước mà mình lên tới bậc thứ mười được. Cho nên Đức Phật dạy mình từ từ, đó là trở về tự thân, rồi sau khi đó mình mới tới Quán Tứ Đại. Khi mình trở về cảm nhận được hơi thở, đi, đứng, ngồi, nằm mình biết, rồi những hành động, cử chỉ mình bắt đầu để ý, bắt đầu mình phát giác, phát hiện ra là “cục thịt nó đang di động”, bắt đầu mình mới Quán Địa Đại.

Chứ bây giờ mình không quay về tự thân, kêu quán thì mình quán cái đất ở ngoài, mình quán người này, người kia, mình Quán Tứ Đại là Quán Tứ Đại ở đây “cục thịt nó đang di chuyển, nó đang di động, nó đang vận hành”. Cái này con có chia sẻ trong trường trung cấp Phật học nhiều bài về Quán Tứ Đại lắm, mà trong đó có một bài lấy cái tựa là của thầy Nguyên Thường nói “Cú Lừa Ngoạn Mục” (đó là câu mà thầy Nguyên Thường trình pháp với con bên Thái Lan, con lấy câu đó làm chủ đề). Tức là mình bị tứ đại này nó lừa, bị cục thịt này nó lừa, bị lớp da mặt, tim, gan, phèo, phổi, đóng phân, nước tiểu này lừa mình.

Cho nên chúng ta thấy, tuần tự là từ hơi thở, xong đến đi, đứng, nằm, ngồi, rồi vô tới những hành động “mình đang làm gì?”, bắt đầu mới đưa vô tới từ cái gió bên ngoài, hơi thở xong rồi, tới cử chỉ hay oai nghi, hành động trên thân, đó là biểu hiện bên ngoài. Bắt đầu tới đưa vô trong mình mới thấy tứ đại, nó trở về từng bước, từng bước, giống như mình muốn quẹo cua, thì mình phải bẻ lái từ từ, chứ mình không có thể đẩy ngang một cái được.

Thì cũng vậy, từ một cái hướng ngoại, mà Đức Phật quay trở về để hướng nội, nên vận chuyển đó là từ hơi thở, từ oai nghi, hành động, rồi mới vô tứ đại. Phải nhìn thấy được các yếu tố cấu tạo thành thân thể, vật chất này, bắt đầu mình cảm nhận “khi mình đi là cục thịt này nó đi nè, cục thịt này nó quơ tay, múa chân nè, cục thịt này nó ngồi một đống nè”. Trong cục thịt này là gì trong đó? Ba Mươi Hai Thể Trược từng bộ phận, từng chi tiết, trong này có những chất nước gì? Những động chuyển gì của gió? Những hơi ấm gì của lửa? Không những là sự tưởng tượng, mà là sự cảm nhận bằng trí tuệ.

Tim mình đập mình có cảm nhận được không? Trong người mình hơi ấm mình có cảm nhận được không? Hơi thở mình khì khịt có cảm nhận được không? Đó là cảm thọ nữa, chứ không phải chỉ ngồi đó tưởng, không có liên hệ đến sự thật, không phải. Đó là hiện thực, sự thật đang diễn ra trong hiện tại, gọi là hiện thực. Chẳng qua vì sự thật nó hết sức là sâu sắc, sâu kín, sâu mầu, cho nên chúng sanh không nhìn thấy được, chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới cùng tận bản chất của sự thật.

Nên có rất nhiều ví dụ khen ngợi về pháp tu này lắm.

Đức Phật nói: “Ai mà tu tập, làm cho sung mãn Thân Hành Niệm này, thì các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về trí tuệ (minh phần). Giống như là biển lớn, thì các con sông đều đi vào. Vị Tỳ-kheo nào làm cho sung mãn Thân Hành Niệm, thì các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về trí tuệ. Người nào mà tu tập Thân Hành Niệm này thì ma không có cơ hội. Người nào không có tu tập Thân Hành Niệm này thì ma vương có cơ hội.

Giống như có người quăng một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt nhuyễn. Thì có phải hòn đá nặng đó có cơ hội lún sâu vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy hay không?

- Bạch Thế Tôn: Dạ vâng.

Cũng vậy, đối với ai không tu tập Thân Hành Niệm, không làm cho sung mãn, thì ma vương có cơ hội, có cơ duyên đối với vị ấy”.

“Này vị Tỳ-kheo, giống như một cái cây khô không có nhựa. Có người đến cầm phần phía trên của đồ quay lửa và nói: Tôi sẽ làm cho ngọn lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên.

Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ như thế nào? Người ấy mang đến phần phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sinh ra hay không? Có làm cho sức nóng hiện ra không?

- Bạch Thế Tôn là có

Thì cũng vậy, đối với ai mà không tu tập Thân Hành Niệm thì ma có cơ hội”.

“Có người quăng một trái banh vào cánh cửa bằng cây, thì trái banh đó sẽ bị dội ra. Cũng vậy, người có tu tập Thân Hành Niệm thì ma không có cơ hội để làm hại, để xâm nhập được”.

(Trích Kinh Trung Bộ - Kinh Thân Hành Niệm – Sống Quán Thân Trên Thân)

Có một ví dụ nữa trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật ví dụ “Có một cái chai đựng nước mà có cái nắp đậy thật chặt lại, thì không phải ai muốn đổ cái gì vô thì đổ. Cũng vậy, người mà có hành trì, có pháp Thân Hành Niệm, Tứ Niệm Xứ, thì giống như cái chai đựng đầy nước mà có nắp đậy, vặn siết chặt lại. Còn người không có thực hành thì giống như người có một cái chai trống rỗng, trống không, ai muốn đổ gì vô cũng được hết”.

“Vậy cái tâm của mình giống như cái chai có nắp đậy chặt lại, trong đó có nước đàng hoàng hay là cái chai không có nắp đậy, trống không?”. Nếu mình có thực hành pháp, thì cái tâm này giống như cái chai có đổ nước trong đó và có nắp đậy siết chặt lại, không phải ai muốn đổ gì vô thì đổ. Cho nên, cái Thân Hành Niệm này là mình phải học thật kỹ bài kinh này, thường thường thực tập, từng pháp, từng pháp vậy đó.

Đây là cũng chỉ nói khái quát thôi, sau sự cảm nhận về hơi thở, về oai nghi, hành động, Chánh niệm tỉnh giác, rõ biết, bắt đầu mình mới đi sâu vào trong Tứ Đại quán chiếu, sau khi quán chiếu Tứ Đại rồi, mình Ba Mươi Hai Thể Trược từng bộ phận. Vì chúng ta thực tập, không phải thực tập trong một tuần mười ngày, một tháng hay ba tháng là mình có thể chứng nhập trí bất tịnh, mà mình phải thực tập dài lâu, kiên trì.

3. Bền bỉ:

Bình thường mình có kiên trì ăn cơm không? Mình có nhẫn nại uống nước không? Mình có cảm thấy mệt đối với hơi thở này không? Nhưng mà pháp thì mình không kiên trì như vậy. Mình thực tập một tuần lễ, mười ngày, nửa tháng, một tháng, là mình nói “thôi được rồi, kiếm cái mới”. Cho nên không có cái nào mình tu tới nơi đến chốn hết, không có cái nào mình tu đến với cứu cánh viên mãn hết, tại vì không có kiên trì. Cái Quán Bất Tịnh cũng vậy, lúc đầu có khi từ trong tâm mình có chống cự, nó nói “quán này làm chi vậy? Thân thể mình đang ngon lành như vậy, tự nhiên đem đi chẻ ra, giải phẫu, phanh phui máu mủ tim gan ra làm chi, ghê quá”. Có mấy chú Phật tử với mấy cô nói “thưa thầy, có pháp tu thiền nào đừng có coi mấy cái đó không, con sợ?”(Ở đây mình cho coi Ba Mươi Hai Thể Trược). Có một chú ở nước ngoài về, cũng chưa biết dòng pháp Nikāya, chú đó vô tình được lên ngồi nghe pháp, mà tim ổng đập, ổng run sợ hết trơn, mặt mày mất máu hết, ổng nói “ấn tượng đó là chắc suốt đời ông không quên được” (xem lúc mình giải phẫu cơ thể đó).

Thành ra sự thực tập về quán chiếu này phải bền bỉ, giống như ăn cơm, uống nước, cho đến khi mình chứng nhập trí huệ bất tịnh mới thôi. Giống như mình đi trị bệnh vậy, mình trị hoài, uống thuốc hoài, không biết là ba tháng, một năm, ba năm hay bảy năm, trị cho đến chừng nào hết bệnh. Cái tu quán của mình cũng giống vậy, mình thấy khó, không được rồi bỏ qua “quá dễ dàng bỏ cuộc, quá là dễ dàng hài lòng với những kết quả nhỏ bé”, bằng lòng với những thành quả hết sức là nhỏ.

Vì vậy, dù trong tâm mình có chống đối, mình diệt cái chống đối đó, mình tiếp tục tu Quán Bất Tịnh (nhất định nó sẽ chống đối đó), cái dục, cái ái nó nói “ngồi quán làm chi, quán làm chi mấy cái này, làm gì cho khổ sở vậy nè, ghê gớm quá à, tại sao phải quán mấy cái này?” 

“Hỏi cô Thông Tuệ: Ý hành nó có nói vậy không? Có không?

-Trả lời: Dạ không”

Không là lúc mới đó, lâu lâu mình không cẩn thận, thì nó vẫn nói à. Chứ không phải mới vô mình vượt qua được, rồi sau này nó không nói nữa đâu, nó vẫn nói, đó là thô tuế, có những ý niệm đó. Cho nên mình cần diệt tâm chống đối trước trong sự tu tập. Cũng như mình thấy, bây giờ dịch bệnh ở bên nước ngoài, có bốn, năm triệu người nhiễm, chết mấy trăm ngàn người vậy đó, mà đi chơi cứ việc đi, tắm biển cứ việc tắm “mình suy nghĩ mấy chuyện đó làm chi cho mệt vậy? Chừng nào mình tới hả hay”, mình hay cái kiểu vậy đó. Rồi kiểu mình tu cũng giống như vậy “bây giờ mình còn sống mà mình quán cho chết hoài vậy? Giờ thân mình còn nguyên vẹn mà giải phẫu ra làm gì?”.

“Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu”, người không có suy nghĩ xa, thì sẽ có cái lo gần. Tầm nhìn mình không xa, thì khi nó ập đến là mình bàng hoàng, hoảng loạn. Ví dụ tám người nhiễm dịch bệnh trong nước mình mới chết đó, mấy người đó họ đâu nghĩ rằng họ chết, họ càng không nghĩ rằng họ nhiễm dịch bệnh, họ đâu có nghĩ, họ nghĩ “chuyện đó của ai ở nước ngoài, mình dễ gì, nó không bao giờ đến với mình”, cuối cùng nó vẫn đến, lúc đó họ hoảng loạn, sợ hãi, đau khổ. Cho nên, mình thường xuyên nhớ nghỉ, Niệm tử, Niệm vô thường, Niệm bất tịnh, Niệm sự tan hoại của thân xác này.

Mới đây, một thành phố bên nước ngoài xảy ra vụ nổ trong một công ty nhà máy hóa chất, chết hơn một trăm người, bị thương bốn ngàn người, hủy hoại gần nửa thành phố. Mấy người đó họ bàng hoàng, khi chết mà họ không biết tại sao mình chết, thì làm sao họ siêu thoát được. Có những người chết, họ không biết mình chết, họ không tin mình chết, họ ở trong trạng thái của cô hồn, bất thình lình như vậy thì làm sao?

Nên mỗi ngày mình lên trên giường, mình nằm ngủ, mình quán “mình chui vô mùng hay là chui vô hòm? Giấc ngủ này có thể mình sẽ không thức nữa”. Mỗi ngày mình thấy tin tức tai nạn giao thông mình nghĩ rằng “có khả năng mình sẽ rơi vào những trường hợp đó”, tất cả những cái đó để làm gì? Làm một động lực khích lệ, cho mình tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực thực tập, tu hành, tăng thượng các thiện pháp. Còn nếu không, mình sẽ sống buông lung, sống trong quên lãng, sống trong nhởn nhơ, sống trong sự vô tư, vô cảm, sống trong sự không thấy, không biết gì hết “người nào chết thì chết tới, tai nạn thì tại nạn tới, mình không biết gì hết”, Đức Phật gọi là bị vô minh che đậy. Chạy theo những yêu thích, chạy theo những thèm muốn, đi tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, những khao khát, là đang bị tham ái trói buộc, bị vô minh che đậy, “sống sai chết mộng”.

Ở Trung Quốc, một hôm trong cơn bão lớn, có một cô đó, cố gắng ra ngoài để đóng cánh cửa sổ lại. Không may, gió thổi cổ rớt xuống mười mấy tầng lầu. Làm sao người đó có thể tưởng tượng được họ bị cái chết như vậy, không thể nào họ tưởng tượng nổi. Tất cả cái đó đều có thể xảy ra, bất cứ chỗ nào, bất cứ người nào, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Đang đi trên đường, đi ngang tới chỗ công trình đang thi công, tòa nhà mấy chục tầng lầu, tự nhiên đồ phía trên rớt xuống, chết ngay tại chỗ. Như vậy mới gọi là vô thường, nhưng mà nhiều khi mình không tin, mình không chịu cái đó. Cho nên là phải Niệm tử, mà niệm là không phải niệm người ta tử đâu, mà niệm mình. Nhớ, tất cả pháp tu, là tu ở ngay nơi mình.

“Con mời thầy Nguyên Thường chia sẻ sự tu học bên đó, cho đại chúng có động lực, tinh tấn tu thêm. Bên đó mấy thầy, mấy sư cô tu học như thế nào? Thời khóa ở trường có cái gì?”.

III. Chia sẻ:

1. Thầy Nguyên Thường

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch thượng tọa, kính thưa toàn thể đại chúng.

Chúng con du học tại Thái Lan, truyền thống ở bên đó là truyền thống theo Theravada là Nam Tông, các sư bên đó chủ yếu thiền là chính và đi khất thực. Tụi con cũng có học theo cách thiền của trường phái Nam Tông và cũng có đi khất thực. Nhưng tụi con không có đủ cơ duyên để đi hằng ngày, tại vì chỉ có các sư nào mặc y Nam Tông mới được đi khất thực, còn mặc như tụi con thì không được đi. Một năm trường tụi con có tổ chức chương trình thiền ở trong núi thời gian mười lăm ngày, tất cả các sinh viên, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và kể cả người đời cũng được tham gia. Trong lần thiền đó, tụi con thức dậy vào lúc ba giờ ba mươi sáng, và hành thiền Vipassana (thiền Tứ Niệm Xứ)”

“Thầy có thể chia sẻ tổng quát về phương pháp thực tập trong khi mình hành thiền ở đó”.

“Dạ khi hành thiền, các sư có chia sẻ cho con quán bốn đề mục “thân, thọ, tâm, pháp”, nhưng thật ra con không quán được, mà con chỉ có quán theo hơi thở thôi. Con không hành thiền “minh sát” mà con thực hành “thiền định”. Trong bốn đề mục có pháp quán hơi thở, thì con thực tập pháp này. Con cứ quán hơi thở ra, thì con biết hơi thở ra, quán hơi thở vào, thì con biết hơi thở vào. Khi nào con bị mất Chánh Niệm, con đếm lại, con đếm liên tục như vậy, con đếm từ một đến mười, sau đó con quay trở lại.

Thứ hai là con quan sát sự phồng xẹp của bụng mình, khi hít thở ra, khi hít thở vào, có cái sự phòng xẹp lên xuống, nhưng mà khi trong thời gian hành thiền có rất nhiều suy nghĩ, rất nhiều phiền não khởi lên. Trong những lúc đó con rất mệt mỏi, trạng thái của tâm mình vô cùng bấn loạn, xao động, bị tác động nhiều thứ, nào là những chuyện quá khứ, nào là những chuyện tương lai, mà chuyện hiện tại là chuyện là con đang ngồi thiền thì con không có biết.

Những lúc đó con mở mắt ra luôn, thì có vị hòa thượng thấy chân của con đưa ra, thì thầy đi lại vỗ vào chân con nói “không được, cứ quan sát tâm mình, quán sát tiếp một lúc sau tự nhiên tất cả phiền não nó sẽ biến mất. Ví dụ mình đang ngứa, mình đừng lấy tay gãi liền, mà mình ráng chịu đựng cơn ngứa đó. Có nghĩa là mình nhìn được cơn ngứa đó chỉ là thoáng qua thôi, thì sau đó sẽ hết ngứa, đừng có dễ bị mất cái niệm, làm mình cử động chân tay”. Thì con cũng thực hành theo lời của hòa thượng nói, con không có cử động khi mình mệt mỏi. Con ráng chịu đựng thêm chút xíu nữa, thời gian đầu con rất là mệt mỏi, con không có làm được. Nhưng mà qua ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thì con dần dần quán được điều đó. Cho nên con thấy, mình thực hành thiền mười lăm ngày như vậy, đem lại kết quả cho con là cái định tâm thôi. Chứ còn để phát triển trí tuệ, nhận diện tất cả các pháp xung quanh, thì con chưa có đủ nội lực để đi sâu vào những cái đó. Đó là trong mười lăm ngày thực tập tại rừng thiền.

Ngoài ra như lúc này con chia sẻ, tụi con cũng có đi khất thực, cầm bình bát, đi chân không, như các sư vậy. Con mới cảm nhận rằng mình đang đi quay lại thời Đức Phật, con cảm nhận rằng “mình là người tu sĩ, thì mình không có tài sản gì cả, mình phải đi xin ăn, phải đi khất thực”, cái pháp như vậy làm cho con hạ được các tâm bản ngã của mình, cái tâm “mình người có tài sản, người có này, có kia. Thật ra mình không có gì hết trơn”. Cho nên khi đi như vậy, con quán sát thấy cái thân, cái tâm, bước đi của mình, mường tượng lại hình ảnh ngày xưa Đức Phật cùng với Tăng đoàn đi khất thực, cho gì thì ăn đó.

Trong một chuyến đi khất thực, khi con đi vào làng, con nhận ra còn rất nhiều người rất khổ, mà họ lại dành dụm tất cả những thức ăn đó để cúng dường cho mình. Con cảm thấy rằng “đời sống tu sĩ của mình phải tu tập làm sao cho xứng đáng với những thức ăn đó của Phật tử”. Mỗi lần con đi khất thực như vậy con điều nhìn lại, phản diện lại tâm của mình “mình là tu sĩ, mình có tu tập xứng đáng để có được sự cúng dường của các Phật tử hay không?”.

Sau thời gian con tu tập mười lăm ngày đó, con có phỏng vấn cho những sinh viên mới và những người đã thực tập lâu năm, con chia sẻ trên đó, và hòa thượng có dạy bảo rằng “mỗi một ngày con tu tập thì về trình pháp, vì không biết con tu tập sai hay đúng”. Cho nên con thấy phương pháp trình pháp là vô cùng đúng đắn, khi mà hàng ngày con quan sát cái tâm, con tu tập đi, đứng, nằm, ngồi, hơi thở, cử chỉ như thế nào đó? Và con đạt được gì trong ngày đó thì phải trình.

Trong mười lăm ngày tu luyện đó, nhiệt độ trong rừng rất lạnh, chỉ có tám, chín độ thôi, không có được ngủ trong phòng, mà phải ngủ trong lều nằm dưới đất, muỗi rừng thì rất nhiều, xung quanh có rất nhiều rắn, rết, thậm chí là bò cạp. Nhưng mà qua mười lăm ngày, con còn sống sót, con thấy rất hạnh phúc, thấy mình cũng đủ mạnh mẽ.

Đó là một phần tu khi con thực tập bên Thái Lan, khi quay về đời sống hàng ngày (thật ra nhà trường không có thời gian. công phu thời khóa cụ thể, mỗi sinh viên, mỗi nước, tự có thời khóa riêng) trường con có sinh viên đến từ Myanmar, có quý thầy đến từ Myanmar, Sri Lanka, Bhutan, Tây Tạng, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Úc... mỗi nước có pháp môn riêng. Còn bên Việt Nam thì đến trường tụi con thực ra chỉ có hành thiền và tụng kinh là chính, chỉ có làm hai việc đó hàng ngày, thời gian còn lại thì tụi con dành thời gian cho việc học hành.

Khi đi du học, tụi con lại quên mất rằng tụi con xa sư phụ sớm như vậy, là mình rất dễ bị đi sai đường. Thời gian tu học đó, con thấy nếu mà không có người hướng dẫn, không có môi trường cộng đồng tu tập thì mình rất dễ bị buông lung, lối sống lệch chuẩn. Cho nên con thấy, mình sống trong chùa, trong môi trường tu tập như vậy rất hạnh phúc, có một năng lượng, từ trường của thiền, của sự tu tập tỏa ra, cảm nhận được như vậy, con thấy được mình vô cùng may mắn. Khi con trở về Việt Nam lần này, con nguyện trong tâm rằng “con phát nguyện lên đây, con tu tập trong tháng an cư này, để cho mình tăng trưởng đạo lực, tăng trưởng nội tâm, để cho mình có thêm hành trang để bước tiếp thời gian sắp tới khi trở về Thái Lan”.

Đó là những chia sẻ, những góp nhặt của con ở bên Thái Lan, con xin thưa đại chúng. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Con mời sư cô mới đến, có hỏi hay chia sẻ gì không?”.

2. Phật tử 1:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng

Con cảm thấy con có được phước duyên biết đến thầy, con cũng có nghe pháp của thầy mới đây. Con lên đây được hai ngày, thì ngày hôm nay con tu tập, hành thiền, con cảm thấy an lạc vô cùng. Con biết rõ ba pháp: thứ nhất là biết rõ trước mắt, thứ hai là cảm giác toàn thân, thứ ba là nội tâm tịnh giác. Con theo dõi hơi thở trong lúc hành thiền, con cũng có những vọng tưởng khởi lên.

Con kính trên thầy hướng dẫn cho con, để con có được sự bình an khi con tu tập.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

IV. Thực hành ba pháp:

Chúng ta quen trong sự thực tập của mình. Ví dụ như mình ngồi thiền, mình chỉ quen đếm hơi thở, hoặc là mình quen vô ngồi là mình nhắm mắt lại. Cái nhắm mắt của mình là mình đối diện với tưởng, những hình bóng ở trong nó hiện ra, của quá khứ, của tương lai, hoặc mình cảm nhận chỗ phồng xẹp của bụng, thì mình rất dễ rơi vào trạng thái hôn trầm. Bởi vì mình vô ngồi, mình nhắm mắt, mà cái giờ mình thức khuya nữa, ba giờ mấy sáng mà ngồi nhắm mắt, thì thường thường mình ngồi là bị ngủ, cho nên ở đây, ngồi thiền tuyệt đối phải mở mắt. Sự thực tập của chúng ta quen làm một cái duy nhất, một cái gì đó là một cái thôi. Nhưng mình thực tập như vậy thì nó không có đủ sức, bằng chứng là cái hôn trầm nó tới mình không đủ sức để đánh phá nó. Dầu cho mình ngồi thiền năm năm, bảy năm hay mười năm, cái hôn trầm mình không vượt qua được.

Cho nên thầy Nghĩa sẽ chia sẻ với quý thầy về thực hành ba pháp, mình phải biết được ở trước mình, tỉnh táo, sáng suốt. Khi nói cái này nó cũng đau lòng, mà nó là sự thật, nhiều khi mình ngồi thiền mình còn mê hơn là lúc mình không có ngồi nữa, phải không? Ở bên ngoài mình còn tỉnh hơn, mình vô mình ngồi thiền mình còn si mê hơn, nếu như vậy ngồi thiền làm chi? Thiền mà nó si mê hơn là không thiền, thì mình ngồi thiền làm chi? Đa số chúng ta hay bị cái này không? Ngồi thiền mà nó còn mê hơn là không ngồi thiền nữa? “Con thưa các cô, cái này có không? Sao trúng ý cười nhiều vậy?”.

Nhiều khi mình trật lất mà mình không thấy, không biết luôn, mà mình cứ làm như vậy. Rồi để hết tháng này tới tháng kia, hết năm này đến năm nọ, cứ leo lên đó ngồi nhắm mắt. Cái này sao? Mình không có tâm huyết trong sự tu học, không có để tâm, cho nên mới có nên tình trạng như vậy. Nếu mình có để tâm, thì ví dụ như người ta bán đồ lỗ vốn là người ta nghỉ, người ta chuyển qua nghề khác, người ta đổi cách khác, chứ không thể nào mà cứ để lỗ vốn, ngày nào, tháng nào, năm nào, rồi mười năm bán cũng lỗ hết vậy thì làm sao? Như vậy mình tu là mình thua với mấy người mua buôn bán ở ngoài chợ, ở ngoài đời nữa.

Mấy điều này lại là điều đau lòng diễn ra nhiều, lâu dài, mà chính bản thân mình bị bao nhiêu năm, hàng chục năm mà mình không để ý. Mình ngồi là mình phải tỉnh táo, rõ biết ở bên ngoài, là “Cảnh”. Thân thể cảm giác và cái rõ biết, là “Căn”. Nội tâm của mình phải rõ biết cái gì nó đang sanh khởi bên trong, là “Thức”. “Căn Trần Thức Mười Tám Giới. Thực hành ba pháp này thậm thâm, vi diệu lắm, nó không phải là chuyện đơn giản mà mình nói “à người mới vô nên mới học ba pháp, còn tu ở đây lâu rồi, vượt qua cái đó rồi”, là không phải. Ba pháp này là thực hiện khắp mọi lúc, mọi nơi. Bất cứ người nào, lúc nào cũng phải rõ biết Căn Trần, Thức, Cảnh, Thân, Tâm.

V. Thánh trí ngũ uẩn:

Mình ngồi nhắm mắt, người ta đứng kế bên nhìn thấy cái mặt mình nhiễu xệ xuống, mà mình không biết, người ta đứng kế bên người ta cười, còn mình cứ việc vô cảnh giới của mình, đáng thương. Lúc đó phải đánh một cái “bốp”, đánh thiền bảng một cái “chát” như trời giáng (bên đó có đánh thiền bản không? bên Thiền Viện Trúc Lâm thì có). Ngồi thiền phải tỉnh hơn lúc bình thường, thiền là để thức tỉnh. Cho nên nhắc lại một ngàn lần cũng phải nhắc “tuyệt đối khi ngồi thiền không được nhắm mắt”. Phải tỉnh để coi các pháp đang thiền hành trong thân tâm của mình.

Tại vì bình thường mình không thiền cái tâm hướng ngoại của mình, mắt mình chạy theo sắc, tai mình chạy theo âm thanh, mũi theo mùi, lưỡi theo vị, thân là đụng chạm, tiếp xúc. Mình ngồi thiền là mình để cái thời giờ để mình hướng nội, để mình soi rọi, siêu âm, citi, nội soi, để coi có bệnh gì để mình trị. Vì cái tâm này là một thứ bệnh trầm kha, nan y, vô lượng kiếp, mà bây giờ tu mình cứ trên hình thức, trên bề ngoài, trên dáng vẻ, trên màu sắc không thôi. Trong khi cái tâm bệnh đó là vô tỉ kiếp, mà lại không động đậy gì tới nó, vì mình có thấy đâu, mình không thấy. Mình không thấy được thân tâm của mình, nó sanh khởi lên cái gì, là mình nhập cuộc vô cái đó hết, rồi xong rồi mình bung ra, lắc đầu “thôi thôi, không muốn ngồi thiền, ngồi nó mệt mỏi quá à” bao nhiêu cái gì nó đang diễn ra như trong phim vậy đó “bung chân, tung ra, bỏ ra, quăng bồ đoàn chạy ra ngoài” mình đối diện không nổi với chính mình.

Cho nên tại sao người ta ngồi thiền không được là vậy đó, đâu phải chuyện dễ, đối diện với chính mình là cả một vấn đề, dục trong này nó vận hành, bao nhiêu những kỷ niệm, bao nhiêu những sắc tưởng quá khứ, thọ quá khứ, hành quá khứ, những cái tưởng quá khứ hiện về, rồi cuốn trôi mình trong dòng thác lũ trong đó, nó cuốn trôi mình. Cho nên, chính chỗ ngồi yên như vậy để mình nhìn thấy “những gì đang diễn ra trên thân tâm này? Có cảm thọ gì? Có hình bóng gì trong tâm? Có những suy nghĩ gì?” Mà thấy ác bất thiện pháp là phải tác ý, đánh đuổi, diệt tận, rượt đuổi, truy sát nó.

Khi một cái suy nghĩ, hình bóng sanh khởi lên (không phải tự nhiên mà có hình bóng đó) là do nó chất chứa ở trong cảm thọ, cái kho chứa đó là do nó tích tụ ở trong cảm thọ. Cho nên cái thọ ở trong đó nó dâng lên, nó làm cho những hình ảnh, suy nghĩ hiện lên. Giống như mình nấu nước, lửa dưới này, mình cứ cho củi vô, vặn ga lên, thì nước nó sôi, nước nó sôi là do lửa, củi hay than ở dưới.

Cũng vậy, dòng cảm thọ ở dưới mình nó nung lên, cho tưởng, hành nó vận hành, nó vận động, hình bóng nó sanh khởi ra những hình bóng quá khứ, những cảm giác xưa kia, những suy nghĩ bắt đầu. Ba cái này quắn với nhau, xoắn với nhau, siết chặt với nhau, rồi mình ở trong mê hồn trận, bát quái trận, cái tam độc trận. Mình không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là dục, cái nào là ái, cái nào là tham, mình không biết, mình không phân biệt được cái bản ngã của mình, cái nào là ác bất thiện pháp mình cũng không phân biệt được.

Nếu mình không nhận diện ngũ uẩn, thì mình cũng không biết chính xác cái nào là bất thiện, cái nào là thiện. Đó không phải chuyện đơn giản, không phải mình tưởng mình tu ba chục năm rồi mà thiện ác mình không biết? Thực sự không thành tựu Chánh Tri Kiến thì không biết chính xác được, cái này rất là sâu sắc. Cho nên giờ ngồi thiền của mình là giờ thần thánh, tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất trong tất cả các giờ, là giờ hành thiền, là giờ thiền quán, là giờ nghe pháp. Nhìn lại, soi rọi lại, nội soi lại, rà lại, kiểm tra hết, thậm chí bây giờ người ta còn có cắt lớp mấy chục lần, để coi thận, gan, túi mật trong đó là như thế nào? Có nhiều hướng, nhiều góc cạnh, nhiều phương diện, để phát giác, phát hiện ở chỗ nào? Bệnh gì? Bệnh thế nào? Mình phải trị ngay chính chỗ bệnh đó, đưa thuốc là phải đưa thuốc ngay chỗ đó, cắt là cắt ngay chỗ đó, không có được cắt chỗ khác, cắt chỗ khác hư rồi sao? Chết rồi sao?”.

Thì nội tâm của mình cần nội soi như vậy, giờ ngồi thiền chính là giờ nội soi, mà lên mình nhắm mắt, hả họng, thì soi cái gì? Cho nên mình ngồi hoài, trí huệ nó không phát sanh. Cái để gọi là nội soi thì cũng phải biết phương pháp nội soi, chứ không phải nói nội soi là cứ ngồi lại nhìn vô nghe tim nó đập, mạch nó nhảy, không phải. Phải biết cái nào là thọ, mà cái thọ đó là thọ gì? Cái thọ đó từ đâu phát sanh khởi lên? Phải biết cái nào là tưởng, tưởng đó là tư tưởng gì? Thiện hay bất thiện? Tưởng này thuộc về tham, sân hay thuộc về si? Mà tưởng này từ đâu sanh khởi? Nguyên nhân đó là như thế nào? Tại sao nó có cái tưởng này?

Cũng như có người kể, đang ngồi thiền yên, thanh tịnh, bỗng nhiên có cái hình bóng một em bé tầm ba, bốn tuổi hiện về, hình bóng nó sanh khởi lên. Thì người này mới lắng tâm, lần lần nhiều ngày, chị này mới nhớ ra “cái này là thấy hồi bốn chục năm trước”. Mà cái thọ nó đi vô như vậy đó, cái thọ nó lưu trú ở trong này từ hồi xưa “mình rất là thích em bé này, nó dễ thương”, rồi nói đi vô thọ lưu trú ở trong đó. Thì đừng nói chi những cái mới gần đây, những cái nóng bỏng, thiêu đốt, dính mắc, tham ái, thì nó quậy mình sao chịu nổi? Cho nên mình phải rà soát những hành sanh khởi, những suy nghĩ. Coi những suy nghĩ này là suy nghĩ gì? Cái này là suy nghĩ triền phược, kiết sử hay là tinh tấn tu tập? Nó nói “thôi mệt, nay ở nhà ngủ, khỏi lên công phu”, phải thấy được liền, bắt chụp được liền “mày chết mày nha mạy”, chứ không là mình còn suy nghĩ, và mình đi theo nó luôn, đi theo nó tức là mình nhận cái hành đó là mình, rồi đi theo nó, thì nói dẫn. Thấy không?

Không thôi mình có suy nghĩ “thôi xuống núi, đi mình đi chợ mua đồ nữa”, sanh khởi lên suy nghĩ đó, mình không biết là hành, thì mình suy nghĩ “cái này mua đồ được à nha, hôm rày mình tu cũng mưa bão, lạnh lẽo quá rồi” mình đi theo sau nó, mình đọc được tất cả những suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng. Sự đọc đó là gì? Là công phu của thiền định, công phu của tỉnh giác và Chánh Niệm, đọc được hết tất cả, không thế nào qua được mình. Đây là cả một công trình đó, không phải chuyện đơn giản đâu, một ngày của mình sót không biết bao nhiêu nữa, gọi là lậu hoặc. Nó sót nó nhanh lắm, nó siêu tốc luôn, nó là nhanh nhất trong tất cả các sự nhanh. Thọ, tưởng, hành nó nhanh lắm, từng Sát-na, từng Sát-na dịch chuyển, biến thiên, nó vận hành, nó sanh diệt, mà nó sanh diệt ở trong tham, sân, si, bản ngã thôi, rất hiếm mà nói được trí tuệ soi chiếu.

Ví dụ như mình đang đi thoải mái đánh tay, đánh chân, nhìn trời mây. Bỗng nhiên mình giật mình, thấy có năm người mắt tròn xoe đang nhìn mình. Tự nhiên mình sửa tướng lại, đi chậm lại, đi đàng hoàng lại, vì nãy giờ thấy thoải mái quá. Cũng vậy, cái trí tuệ của mình nhìn vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thì nó làm cho năm cái thằng này bớt quậy, bớt buông lung, bớt tháo động, bởi vì các trí tuệ ở đây nhìn qua năm uẩn, nó kiểm soát, cho nên mới tu Thánh Trí năm uẩn là vậy đó. Cái trí huệ này nó soi năm uẩn “sắc giờ đang làm sao? Thân hành giờ đang làm sao? Phải kiểm tra”. Còn lúc mình không có trí huệ để soi năm uẩn, thì để nó nhập cuộc vô hết, nó hoàn toàn nhận sắc là tôi là của tôi, thọ là tôi là của tôi, tưởng, hành, thức là của tôi hết.

Nên khi mình có trí quán chiếu, soi rọi năm uẩn thường xuyên, thường trực, thì ngay cả cái biết, mắt thấy tai nghe, mình cũng không chấp thủ vô cái biết đó. Tại vì trí huệ năm uẩn nó soi, nó biết “chỉ là cái biết của nhà ngươi thôi, biết của cái thức uẩn này thôi, chứ chưa phải là cái biết của trí tuệ”. Cho nên “biết thì biết như vậy, chứ chưa chắc là đúng, đừng chấp thủ vô cái biết này”. Thành ra khi có một cái trí mà nhìn vô năm thằng quậy đó, năm cái con nhỏ quậy đó (gọi là ngũ long công chúa, mấy ông con trai thì kêu bằng năm thằng ngũ uẩn), nhìn nó hoài “cái sắc nó đang làm gì? Cái cảm thọ mày đang rục rịch cái gì đây? Mày muốn ăn, muốn ngủ, muốn chơi phải không? Tao kiểm soát mày rồi. Hồi xưa tao chưa có nhận diện năm uẩn thì mày muốn làm gì thì làm, mày tự tung tự tác. Bây giờ thì không được, bây giờ thì tao tròng cái vòng kim cô vô đầu mày, tao niệm chú à, đừng hòng mày quậy tao nữa nghe không?”.

Thì đó là sự tu học của mình, kiểm soát từ cái suy nghĩ, cảm giác, hành vi, ý niệm, hình bóng trong tâm, kiểm soát hết. Sự tu như vậy tuyệt diệu không? Tuyệt vời không? Đó mới gọi là Thánh Trí tuệ chứ, trí huệ của bậc Thánh. Đức Phật mới truyền lại cho mình, để mình thấy hết tất cả thân tâm của mình, toàn diện của ngũ uẩn. Đây là trí huệ tối thượng, trí huệ viên mãn, đầy đủ tất cả mọi phương diện, góc cạnh của thân tâm mình, thấy tuyệt vời không? Sự tập khởi của sắc, sự đoạn diệt của sắc, sự tập khởi các cảm thọ và sự đoạn diệt các cảm thọ, sự tập khởi của hình bóng trong tâm, từ đâu nó sanh khởi? Làm sao nó chấm dứt? Tất cả các suy nghĩ này? Từ đâu nó sanh khởi? Mình biết được hết. Làm sao cho suy nghĩ này chấm dứt? Mình biết được. Tại sao có nhận thức này? Từ đâu nó sanh khởi lên? Mình biết được, thức tập khởi và thức chấm dứt.

Cho nên “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định thấy được sự thật khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, làm cho toàn bộ khổ uẩn này được lắng dịu, chấm dứt”. Vì dục, tham đối với sắc uẩn mình thấy được liền, mình điểm mặt được liền. Nhiều khi nó mạnh quá, mình chưa vượt qua, nhưng mình cũng biết “cái này thua trận rồi, xấu hổ, nhục, vì miếng ăn đó mà lúc nãy mình sân lên, giờ thấy nhục rồi”. Hồi xưa mình không thấy cái đó là tội, nhưng bây giờ mình thấy, ví dụ như mình đang ngủ, có người kêu “dậy lên nghe pháp kìa” là mình sân lên, cái đó mình sai. Mình tu mà người ta kêu sao mình giận? Đúng ra mình phải cảm ơn chứ? “Thôi đi lại xin lỗi người ta”.

Bây giờ bắt đầu được Thánh Trí Huệ kiểm soát ngũ uẩn của mình, còn lúc trước là nó nhập cuộc là một. Cho nên mới gọi là vô văn phàm phu, thấy sắc là mình, là của mình, thọ, tưởng, hành, thức là mình, là của mình. Bây giờ có một cái nhìn lại năm cái này, để nói kiểm soát, quản lý, dạy dỗ, huấn luyện, giáo dục, đó là giá trị, công năng của sự nhận diện ngũ uẩn. Như có một ông chủ, một người giám sát, một vị giám luật ở trong chúng. Mình coi phim “Hư Vân Hòa Thượng”, mình thấy có ông thầy giám luật cầm cái thiền bảng đi giám sát, mình ngủ hay chạy nhảy gì đó là ông vỗ cho một cái “bốp”, phải dừng lại liền. Thì nó cũng giống như vậy đó, mình tu nó giống như vậy đó. Trong tâm mình có vị giám luật, vị giám tự, vị quản diện, đó là thầy của mình, trí huệ năm uẩn là thầy, đạo sư của mình.

Đó mới gọi là nương tựa chính mình, nương tựa trí huệ, thắp ngọn đèn là thắp trí huệ đó lên, nhìn thấy năm uẩn, lúc nào cũng nhìn thấy năm uẩn hết lúc. Đừng có nhìn thấy một uẩn, thấy một uẩn là lúc đó bản ngã nó sanh ra, phải thấy năm uẩn, thấy đống khổ uẩn này. Mỗi ngày nó cứ dục, tham, ái, nó cứ sanh khởi, hơn thua, bản ngã, đố kỵ, ganh tị, thị phi, nhân ngã, tật đố, so đo, tính toán, cao thấp, hơn thua tối ngày, “nhàm chán quá đi, mày cứ nói lầm thầm hoài chi vậy? Mày không mệt hay sao?”. Khi ngồi thiền nó vọng tưởng, mình tác ý như vậy đó “mày nói cái này để làm cái gì? Suy nghĩ hơn thua để làm cái gì? Mày không biết chán hay sao? Mày không biết ngán, không biết mệt mỏi hay sao? Mày cứ chui đầu vào chỗ tăm tối, đau khổ này làm cái gì?”.

Mỗi khi suy nghĩ hơn thua, huynh đệ hay là cái gì đó phiền não, “mày vừa vừa phải phải thôi, mày ngu vô lượng kiếp rồi, bây giờ mày còn muốn ngu nữa hả?”. Tác ý cho mãnh liệt, mạnh mẽ, đánh đuổi những suy nghĩ, những cảm thọ, hình bóng đó, đánh tan, đánh sập, đánh vỡ, đánh tung, đánh nát nó ra. Đó là tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, mình phải Như lý tác ý. Còn mình ngồi đó, cái gì đó nó khởi lên cũng rồi xong, nhìn thấy vậy thôi, vậy không được. Nếu nó là ác bất thiện pháp, phải tác ý, đánh đuổi nó, lấy chổi chà quét nó ra. Cho nên Như lý tác ý là gì? Là cây chổi thần quét rác nội tâm.

Mình ngồi đó, mình trơ trơ, thấy nó khởi lên, mình biết vậy thôi, không phải, phải quét nó ra. “Tại sao mình đi xuất gia rồi, mà mình lại có những ý niệm hơn thua giống người đời vậy”, xử nó liền, đập nó, đánh nó, kí đầu nó, làm cho nó cảm thấy nhục nhã, xấu hổ, tội lỗi. Tác ý, tác ý hoài hoài, tác ý tới mức mà bứng luôn gốc rễ, rồi chặt cành, mé nhánh, chặt ra từng khúc, từng khúc, đốt cho nó thành tro bụi, rồi đem tro bụi đó đổ xuống biển, xuống sông, cho nó trống không, không còn gì nữa, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, đó là pháp hành của Đức Thế Tôn trong kinh Nikāya.

Lúc trước ai có làm mình khó chịu, thì từ đây trở về sau, nghĩ về người đó thì hoàn toàn bình thường, không còn một chút cảm xúc khó chịu nào nữa hết, như vậy gọi là bứng gốc rễ, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Đối với cái dục, cái sân, cái ái, vô minh, thùy miên cũng vậy. Mình diệt tận, hoàn toàn không còn chút xíu nào mơ hồ trong khi ngồi thiền nữa hết. Mình phải diệt tận nó, đến lúc nào ngồi thiền cũng không còn một chút xíu nào hôm trầm, thùy miên, mà cái “mờ mờ” cũng không còn nữa. Nên có khi nguyên một buổi ngồi thiền, con hay nói mình cứ tác ý từ đầu cho tới cuối giờ, tác ý hoài hoài cho đến lúc nào không còn buồn ngủ, không còn hôn trầm nữa. Như vậy gọi là tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần trong pháp và luật của Như Lai.

Phải tác ý, phải tác ý, phải Như lý tác ý, chứ không để nó cho nó trơ trơ như vậy, để cho chơi là nguyên đống rác còn y nguyên. Con ví dụ, có một người mù năm chục năm, hôm nay được mở ra mắt ra, người ấy thấy trong nhà rác bốn chục năm, hôi thối, dơ bẩn, một đống như vậy. Người này mở mắt ra được, rồi cứ ngồi hoài thì rác có sạch không? Đống rác đó còn y nguyên, mà mình cứ ngồi trơ như vậy hoài đâu có được, phải hốt, phải dọn, phải chùi, phải rửa, phải lau, phải tẩy, thì cái quét, dọn, lau chùi, tẩy rửa đó là Như lý tác ý, là thiền quán.

Mình quát nó “mày có nhục không? Mày dục, mày tham, mày sân si, bản ngã vậy, mày có nhục không? Mày có thấy tồi bại, hèn hạ không? Mày đi tu mấy chục năm, để mày được một cái tôi vênh váo, kiêu căng, ngạo mạn, hơn thua vậy, mày nhục không? Tồi bại quá đi, nhục nhã, xấu hổ quá đi, úp mặt xuống đất đi”. Mình dùng những từ cho nó thật nặng (con hay chia sẻ đó) “nhục quá rồi, cứ tham, sân, si, hơn thua hoài, lột cái y trên đầu xuống, đội cái quần lên, xấu hổ quá, thành ra của đời tu nhà mi là đống bản ngã to lớn ngút trời như vậy đó hả?”. Tác ý, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, cứ ngồi trơ trơ đó hoài, thì cái đống rác đó, một ngàn năm thì cũng là một cái đống rác thôi.

“Ngồi thiền cứ yên lặng, thích yên lặng như vậy, không có muốn suy nghĩ gì hết, suy nghĩ là sai à, ngồi thì phải yên lặng à”, không phải. Cái đó là một phần về con chỉ thiền định. Còn muốn dọn sạch cái đống rác đó, phải tác ý, phải quán chiếu, phải làm phát sanh những cảm thọ, đau khổ, day dứt, nhắc nhở trong tâm “tại sao đời tu của mình lại trở thành như thế này? Ngày tháng trôi qua ta đã trở thành như thế nào?”.

VI. Bài kinh Các Pháp, hồi hướng:

“Con mời các cô, các thầy, mình đọc bài kinh “Các Pháp”, cúng dường cho thầy Nguyên Thường”.

Phật tử 2:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép đọc bài kinh “Các Pháp”

Này các Tỳ-kheo, có mười pháp này, người xuất gia cần phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?

Một, ta nay đi đến tình trạng không có giai cấp mất hết giai cấp

Hai, đời sống của ta tùy thuộc vào người khác 

Ba, nay cử chỉ, oai nghi của ta cần phải thay đổi 

Bốn, không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?

Năm, không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu có chỉ trích ta về giới hạnh không?

Sáu, mọi sự vật khả ái, khả ý của ta đều bị đổi khác, bị biến hoại

Bảy, ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy

Tám, đêm ngày trôi qua bên ta, và nay ta đã thành người như thế nào?

Chín, ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống hay không?

Mười, ta có chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không? Để đến những ngày cuối cùng các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ.

Này các Tỳ-kheo, mười Pháp này, người xuất gia cần phải luôn luôn quán sát”.

“Tiếp theo mời đọc bài Rải Tâm Từ”

Phật tử 3:

“Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng chân thành, luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn của chính mình.

Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe, hiểu được âm thanh này, cùng chư vị hữu tình trong khắp trời đất rộng lớn này.

Mong tất cả đều được tâm thương này, thấm nhuần mà dễ chịu,

tìm được hạnh phúc cho mình.

Lòng yêu thương tự thân mình thật nhiều,

và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ để hiểu được sự vô thường của đời sống này,

mà thân tâm chán ngán.

Từ bỏ những xác thân ngũ uẩn, vô thường này,

để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch và trầm lặng,

giải thoát khỏi biển sanh tử, chấm dứt hết mọi khổ đau.

Lòng chân thành tha thiết cầu nguyện sự an lạc, an ổn, bình an, trí tuệ và giải thoát,

đến với cùng khắp tất cả.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Mời đại chúng nghỉ”.