Tinh Hoa Nikaya - Tu Trong Công Việc
Tinh Hoa NIKAYA – Cùng Nhau Nhắc Nhở
Tu Trong Công Việc
Thích Minh Thành
Ví dụ: mình làm việc chung với một người, mình thấy bực mình. Mai mình làm việc với chú kia thì mình lại bực. Mình kỹ lại vấn đề mình thấy mình làm việc chung với ai, là thường mình không hài lòng. Thì cái đó mình không nhìn người ta mà nhìn mình.
Mình làm với ông kia cũng thấy khó chịu, làm việc với ông này cũng thấy bực mình. Như vậy nhìn kỹ lại mình làm với ai cũng thấy không hài lòng. Thì mình phải coi lại bản ngã, cái kiến chấp, cái thói quen làm người lớn, làm chủ, làm lãnh đạo. Trong sự tu học này là gì? Là dù cho người kia có sai, mình không bực bội. Thì cái đó mới là tu trong khi làm việc. Còn mình có sân lên là mình sai. Dù mình có làm đúng, mình vẫn là sai.
Con nói cái này đại chúng có thông cảm được chỗ này không? Tại sao khi mình nghe pháp mình an lạc, khi mình ngồi thiền thì tâm mình tương đối được yên, nhưng khi ra làm việc là tâm mình động?
Tại vì nghe pháp thì tâm mình an trú theo lời pháp, ngồi thiền thì mình sử dụng trí tuệ quán chiếu để mình nhìn. Nãy là an trú trong pháp khi nghe pháp, khi ngồi thiền là an trú trong trí. Cho nên an trú trong pháp, trong trí thì không bị phiền não. Khi ra làm việc thì mình không an trú trong pháp, không an trú trong trí mà mình an trú trong công việc. An trú trong công việc là lúc đó bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí hoạt động, thói quen hoạt động, nghiệp hoạt động. Cho nên tại sao trong khi nghe pháp an lạc, ngồi thiền thấy yên tịnh mà trở ra làm việc là có chuyện? Khi mình làm việc mình tu giống như nghe pháp ngồi thiền thì cũng an giống như vậy. Đây là bí kíp.
Khi mình làm việc mình không trú trong pháp. Phải không? Đây mới là bài tập khó, mà ai giải được bài tập này thì người đó tu hành tiến bộ, vững chắc trong pháp và luật.
Con nhắc lại: Khi mình nghe giảng thì tâm mình an trú trong pháp, khi mình ngồi tu thì tâm mình an trú trong trí và khi mình ra làm việc thì an trú trong tự ngã, nó không an trú trong pháp trong trí. Chính vì vậy mà có tham sân si, bản ngã hoạt động. Khi mình làm việc mà an trú trong pháp trong trí thì sẽ giảm thiểu, giảm được phân nữa sân si, bản ngã.
Mà tu hay không tu thì chỗ này mới xét được người. Vì khi mình lên ngồi thiền mình an trú trong trí, hay là an trú bao nhiêu phần cũng không ai biết nữa, ngủ gục ở đó thì đâu ai cãi lộn được, ngồi vọng tưởng cũng là tự mình biết, ngủ ngục cũng tự mình hay, chỉ trừ khi ông giám thiền đánh. Vì hoàn cảnh bắt buộc phải ngồi yên đó. Còn có lúc ngồi yên cũng không được, thì cái đó hoàn cảnh bắt buộc, cái tâm phải như vậy. Còn khi đi ra rồi là đi theo tập khí, thói quen, đi theo nghiệp. Cho nên tại sao Linh Quy Pháp Ấn thời khoá tu rất nhiều, thời khoá học rất nhiều là vì muốn đại chúng an trú trong pháp và trí.
Minh Thành muốn đại chúng an trú trong chánh pháp và trí tuệ. Tại sao con không để buổi sáng làm việc rồi chiều mới tu? Bao nhiêu công việc con phải đi kiếm người làm, phải giờ người giúp việc, phải tốn tiền. Tại vì con thương đại chúng, con mong muốn tất cả những người về đây là an trú trong chánh pháp, an trú trong trí tuệ. Mà có nhiều người từ người tập sự xuất gia mà xin lùi lại làm công quả thôi, rớt xuống một bậc. Tại vì tu nhiều quá, tu không nổi.
Tại sao lại vậy? Vì cái hữu lậu bên trong vận hành, hoạt động không cho mình ngồi yên, ngồi yên chịu không nổi. Thà ra nhảy nhót, la lối mà khoẻ, mà vô nghe pháp ngồi thiền là bức rức lắm. Đó là hữu lậu hoạt động vận hành đó. Hữu lậu hoạt động là không chịu cho mình ngồi yên.
Ở Myanmar có cái chỗ hay là một tiếng ngồi, một tiếng đi suốt ngày như vậy, mà sao người ta vẫn chịu nổi. Lúc nào cũng có nhiều người lại ngồi tu hết. Chính chỗ con qua đó thấy vậy, khi về con mới tăng thêm thời khoá ở đây, tăng lên là mấy chú đi xuống núi.
Chính vì vậy chuyện khi mình làm việc mà có sự thực hành là tuyệt diệu, mà không phải dễ. Người không có tâm, không có sử dụng tứ như ý túc, thì người này rớt ngay thôi. Tức là người này tâm muốn tu không mãnh liệt. Sự nỗ lực không có nhiều, không để tâm vô sự tu, không tìm đủ mọi cách thành tựu sự tu, thì người này ra làm việc thì mất hết, rớt hết. Tức là không có tứ như ý túc, dục như ý túc, tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc.
Cho nên tại sao mấy chú thị giả, lâu lâu đi vô con làm việc vậy đó. Mà con con chỉ trong công việc đó ra, sự dụng tâm trong đó. Người tu không phải đi vô tu để làm việc, nhưng mà tu rồi thì làm việc rất tuyệt vời. Chứ không phải càng tu là càng không biết làm vì hết trơn, đó là không phải.
Mình đi tu không phải để làm việc, mà mình tu được rồi thì mình làm việc siêu làm, siêu việt. Đó là cái làm của người tu, làm mà không dính mắc, làm mà tốt, mà đẹp thậm chí còn hơn người bình thường, mà không bị dính mắc trong công việc đó. Thì cái đó mới là cái làm của người tu, cái đó gọi là vô tác. Nói theo danh từ chữ nho là vô tác diệu lực.
Thấy giống như nhẹ nhàng không có làm mà làm hơn hết đó. Đó là sử dụng trí tuệ để làm việc.
Mình thấy Đức Phật làm gì? Các bậc thánh chúng hồi xưa làm gì? Không có làm gì hết, chỉ đi khất thực, ngồi thiền, ai tới hỏi pháp thì Đức Phật giảng pháp, đâu có làm gì đâu. Mà bây giờ đạo Phật là tôn giáo đừng đầu tất cả tôn giáo trên thế giới, được tất cả nhà khoa học kính trọng bậc nhất. Thầy của chư thiên và loài người là không có làm gì hết. Mà cái đó là vô tác, siêu làm.
Các bậc thánh tăng không có làm gì nhiều hết, mình giỏi mình làm đủ thứ hết trơn. Cho nên mình chết rồi là không còn gì nhiều hết, chỉ còn một đống tham sân si, người ta nhắc lại tiếng thúi, tiếng nhơ.
Cho nên mình phải biết mục đích việc làm ở trong chùa làm để đi đến chỗ tích tụ thiện pháp, nhiếp phục tham sân si mình mới làm. Còn mình thấy trong đó là sân si, bản ngã, ganh tỵ thì tốt nhất đừng làm. Bỏ chỗ đó đi vô ngồi thiền, đi vô nghe pháp, dục nó đừng làm. Nếu mà làm mà hoan hỉ, làm mà an lạc, làm mà thấy hỉ lạc, tích tụ phước báu công phức thì làm. Làm mà thấy sân si bản ngã thì đừng làm, vô ngồi thiền đi. Tại ở đây không ai bắt làm hết đó. Nắm được chỗ này thì ra làm việc thì mới được an lạc. Làm tất cả cái gì cũng hướng đến mục đích là nhiếp phục, đoạn tận tham sân si, bản ngã. Làm bất cứ cái gì cũng hướng về mục đích đó.
Mình làm mà sân si lên thì làm, làm chi? làm mà bản ngã lên thì làm, làm chi? Làm mà lòng tham càng ngày càng tăng trưởng thì đi ngược lại sự tu tập, thì làm làm cái gì?
Cho nên trong khi làm phải nhìn lại tâm của mình. Đó là gì? Là quán tâm của trên tâm. Đó là tụng kinh tứ niệm xứ đó. Cho nên lên chánh điện mở kinh lên tụng là tụng ở trên chữ, còn khi làm việc là nhìn được tâm mình thì cái đó mới là tứ niệm xứ sống, tứ niệm xứ được vận dụng. Cái đó là tụng kinh sống.
Quán tâm trên tâm
Kinh Niệm Xứ, phần quán tâm trên tâm.
“Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nội tâm có tham, tuệ tri nội tâm tôi có tham. Hay nội tâm không tham, tuệ tri nội tâm tôi không tham. Hay nội tâm có sân, tuệ tri nội tâm tôi có sân. Hay nội tâm không sân, tuệ tri nội tâm tôi không sân. Hay nội tâm có si, tuệ tri nội tâm tôi có si. Hay nội tâm không si, tuệ tri nội tâm tôi không si. Hay nội tâm tán loạn, tuệ tri nội tâm tôi toán loạn. Hay nội tâm không tán loạn, tuệ tri nội tâm tôi không tán loạn. Hay nội tâm hữu hạn, tuệ tri nội tâm tôi hữu hạn. Hay nội tâm quảng đại, tuệ tri nội tâm tôi quảng đại. Hay nội tâm có định, tuệ tri nội tâm tôi có định. Hay nội tâm không định, tuệ tri nội tâm tôi không định. Hay nội tâm giải thoát, tuệ tri nội tâm tôi giải thoát. Hay nội tâm không giải thoát, tuệ tri nội tâm tôi không giải thoát. Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên nội tâm, hay sống quán tâm trên ngoại tâm, hay sống quán tâm trên cả nội tâm ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên tâm, hay quán tánh diệt tận trên tâm, hay sống quán tánh diệt tận trên tâm, hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. Có tâm đây, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy với hi vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo ấy sống quán tâm trên tâm.
Lúc trước con chưa đi vào dòng pháp này thì có một sư nam tông lên ngồi nói chuyện với con. Con mới trình bày muốn làm rừng thiền và này kia như vậy. Thì sư nói: Thầy phải là thiền sư, thầy mới làm rừng thiền được. Thầy mà tu rồi thì thầy không muốn làm gì nữa hết. Thì lúc đó con mới đáp lại: Con không làm thì chỗ đâu cho mấy thầy tu, mấy thầy ở.
Mình nghĩ theo kiểu trước đây là phải làm cái này, làm cái kia. Rồi sư mới nói lại: sao thầy sân quá vậy. Nhìn lại lúc đó là con có sân.
Thì sau này con đi vô dòng pháp này rồi thì con tính nhiều lần cảm ơn sư, bây giờ con không muốn làm. Sư đó có đi học bên Miến Diện mấy năm, bên rừng thiền. Mình thấy rằng lúc trước mình sai, mình nghĩ rằng mình làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ. Mình tu với cái tâm hướng ngoại. Mà mình không thấy bên trong là một núi rác thúi, bên trong bốc mùi.
Giờ con nhìn lại con thấy nhục, lúc đó là lúc nhục. Cái bản ngã của mình như vậy, cái sân si của mình như vậy mà mình không thấy mà mình lo làm cái này, làm cái kia. Thành ra nếu như tâm mình còn quá là giao động, quá là sân, quá là bản ngã thì hãy tập trung thật nhiều quán tâm trên tâm. Đó mới là công việc thật sự của người xuất gia. Đừng có chùi cái nồi mà thấy cái lọ nồi không thôi, hãy nhìn vô tâm của mình. Mình chỉ thấy cái lọ của nồi chứ không thấy cái lọ của tâm. Rửa cái chén chỉ thấy cái chén đó thôi mà không biết cái thứ đóng trong tâm là gấp một ngàn lần thứ đó.
Thành ra người khéo léo mà mượn công việc để tẩy rửa nội tâm, đó gọi là người có kế sống. Nói theo danh từ thời bây giờ là người có nghề nghiệp chứ không phải người thất nghiệp.
Còn bằng không mình là một người ăn không ngồi rồi ở trong đạo. Dù cho mình có làm đủ thứ bên ngoài vậy đó, mà lại gần mình là một đống. Làm với ai cũng không được, ai cũng không vừa lòng, làm với ai bản ngã cũng rầm rầm lên. Như vậy là nhục, quá nhục. Vô bếp là không ai lại nấu được với mình hết. Ra làm là không ai làm được với mình hết. Mà bất cứ trong lãnh vực nào cũng vậy.
Con nhìn lại con thấy xấu hổ lắm, cái này có nước vô thất đóng cửa lại rồi ngồi trong đó nhìn lại bản mặt xấu xa, thối tha. Soi gương nhìn lại cái mặt.
Do mình không quán tâm trên tâm, tối ngày lo quán người ta, không có quán tâm. Thành ra nghệ thuật tu tập ở trong công việc là phải phản tỉnh.
Thấy cầm cây chổi quét nhà như vậy nhưng mà cũng đang quét ở bên trong. Thầy đang chùi cái nồi, rửa cái nồi nhưng mà cũng đang chùi rửa nội tâm cấu nhiễm. Có như vậy mới không phải là người ăn không ngồi rồi trong đạo pháp, không phải là người ẩn dương ương Phật, không phải là cây chùm gởi, không phải là đồ ăn bám. Còn nếu mình không có sự quán tâm trên tâm, không có sự tẩy rửa, quét dọn, lau chùi như vậy thì mình là kẻ ăn bám ở trong tam bảo. Là người ăn không ngồi rồi, người không có nghề nghiệp. Giống như ngoài xã hội một người không có nghề nghiệp, cứ lang thang chỗ này, chỗ kia, ăn nhờ ở đậu, ăn bám như vậy. Thì trong đạo cũng vậy, mình phải quán tâm ở trên tâm, coi tham có khởi không? Lúc này có tham hay không tham? Lúc này có sân hay là không sân? Lúc nào có si hay là không có si? Có si thì si như thế nào? Có tham thì cái tham nó như thế nào? Có sân thì cái sân như thế nào? Có bản ngã hay không có bản ngã? Có bản ngã thì cái bản ngã như thế nào? Sau đó mình mới sử lí nó. Mình phải tuệ tri, biết bằng trí tuệ. Chính hai chữ này người ta đã hiểu lầm. Dịch ra là rõ biết, hoặc để tuệ tri, tức là tôi tham tôi biết tôi có tham vậy đó. Hồi xong tự nhiên cái tham nó hết, bây giờ toàn học tứ niệm xứ là vậy không. Đó là không phải.
Biết bằng trí tuệ là biết bằng chánh tri kiến để đánh phá nó, để mà như lý tác ý, để quán chiếu, để diệt tận đó. Cái đó mới là cái biết bằng trí tuệ. Còn cái biết mà biết rồi để vậy thì không phải. Cái đó chỉ là biết bằng nhận thức thôi, không phải biết bằng trí tuệ. Cái đó là thức tri.
Bây giờ đang ngủ mà con rắn hổ mang bò sát ở bên, mình chỉ biết vậy thôi hả. Thì cái biết đó là cái biết bình thường hay là cái biết bất bình thường? Người đó có bình thường không? Thấy nó nguy hiểm, độc hại thì mình phải nhảy lên, hoặc đuổi nó ra, hay làm sao đó. Thì cũng vậy, nếu mà biết mà còn y chang như vậy thì cái biết đó không phải là tuệ tri. Thành ra chữ “tuệ tri” là rất quan trọng trong bài kinh tứ niệm xứ đó.
Biết bằng trí tuệ là phải đánh đuổi, phải phá dẹp, phải đoạn tận, phải tẩy sạch, phải trừ diệt. Như vậy mới gọi tuệ tri, là biết bằng trí tuệ của chánh tri kiến. Nếu một người làm việc với tâm thái như vậy thì mình có sanh phiền não được không? Nếu nó có đi nữa cũng trong tầm kiểm soát. Đây là bí kíp chánh pháp trong làm việc.
Mình thấy nó quá mức thì nghĩ đừng làm, lúc nào bình thường rồi vô làm lại. Làm việc là phải cẩn thận, không được qua loa, không được cẩu thả, không được làm cho xong. Bất cứ việc gì mình làm phải bằng sự để tâm cửa tứ như ý túc. Hai chữ “để tâm” là hết sức quan trọng. Để tâm là mình đặt cả trái tim vô công việc đó, dù chuyện đó là chuyện hết sức nhỏ như bưng một chén trà thôi.
Cho nên tại sao uống một chén trà bên nhật là hơn tám trăm ngàn. Một chén trà để bưng lên uống là công phu lắm, là cả một sự để tâm trong đó. Rồi bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu văn hoá, bao nhiêu triết lí, đạo lí trong đó. Cho nên uống chén trà là hơn tám trăm ngàn, mà cách đây mấy năm rồi đó. Tại sao trà đạo đó lại vang dội trên thế giới. Tại vì để tâm, tại vì có tứ như ý túc ở trong đó. Người ta muốn đưa cái đó nó lên thành một văn hoá, một nghệ thuật, một đặc sắc của dân tộc. Người ta muốn, kế đó người ta nỗ lực làm điều đó, người ta để tâm trong điều đó, người ta suy nghĩ mọi cách để làm cho được điều đó. Vậy là tứ như ý túc trong đó. Chén trà đó không còn là chén trà bình thường nữa mà nó thêm chữ đạo. Thì con thường hay là cơm đạo, hành đạo, quét đạo, tụng đạo.
Hồi sáng nay con có chia sẽ về vấn đề đọc kinh đó. Đọc kinh là cảm một cảm thọ trong đó, cảm một cảm xúc trong đó, cả một cảm động trong đó, chấn động trong đó. Thì cái đó mới là đọc kinh, đọc kinh bằng cả trái tim. Thì cái đó là vận dụng tứ như ý túc vào đọc kinh Nikāya.
Khi mình để tâm vô thì cái gì cũng thành đạo, khi mình học hay làm việc cũng vậy. Không có làm ở đây mà để tâm ra chỗ khác. Làm phải để tâm vô chỗ đó tất cả mọi cái.
Cho nên tại sao thầy Pháp Từ được người ta quý mến, người ta thương. Tại vì người ta hương dẫn là thầy hướng dẫn bằng cái tâm. Cho nên ai cũng mến, ai cũng quý hết. Tuy rằng không học cao, không hiểu rộng nhưng mà nắm được căn bản tu tập, chia sẽ bằng cả trái tim, tâm lòng của mình thì người ta cảm nhận được. Thì sự chia sẽ đó là cả một tấm lòng. Đó là vận dụng tứ như ý túc. Mà như vậy là chắc chắn thành tựu. Trong tất cả mọi lãnh vực có vận dụng tứ như ý túc thì thành tựu. Cái đó là chánh đẳng chánh giác chỉ cho mình đâu phải là bình thường. Cái đó là báu vật, chìa khoá vàng để thành công mà mình đọc rồi, học rồi mình để trong cuốn sách mình cất, còn mình làm việc thì cứ làm việc theo thói quen của mình.
Thành ra phải để tâm từng bước thiền hành, từ khi bưng chén trà, từ khi uống trà. Từ khi ngồi nghe pháp, từ khi lễ lạy, từ khi nồi thiền tất cả mọi cái để trọn tâm mình vô trong đó.
Khi mình trồng một cây trúc phải có trái tim của mình trong đó.
Cho nên nhiều khi con làm, mấy chú làm chung là không thích. Tại vì khi con làm là con chỉnh tới, chỉnh lui. Cũng như làm nhà thiền này, hay công trình gì đó. Con phải để tâm vô nhiều, con coi tới coi lui, con chỉnh tới chỉnh lui, lúc đầu rất là khó mà con sửa xong rồi là coi như được rồi, không thay đổi nữa. Cũng như nhà này cũng vậy, phải sửa tới sửa lui cả tháng, khi ổn định rồi là xong. Chứ không phải vài bữa sửa cái này, vài bữa sửa cái kia, vài bữa mở cửa này, vài bữa đập vách kia. Con không phải như vậy.
Thành ra mình phải để tâm vô mọi chuyện. Mình nấu cơm mà mình để tâm vô việc nấu cơm, mình có tu trong đó. Thì cái đó trở thành cơm đạo, cái bếp thiền. Cái này khó lắm mà làm được là siêu.
Hồi xưa, thời Đức Phật có một vị cư sĩ, nấu cơm cho chồng cô ăn. Lúc đó xào đồ ăn thì lửa phực lên cháy chảo đồ ăn. Thì lúc đó cô đang quán về các hạnh vô thường. Lửa phực lên như vậy, thì cô chứng ngộ, ngay lúc đó cô chứng tam quả. Tham sân là diệt tận, chứng thánh quả thứ ba ngay lúc xào đồ ăn.
Đó là nghệ thuật tu tập tối thượng trong khi làm việc. Mình phải biết rằng tâm của người đang làm việc, họ chuyên chú thiền quán tới mức độ nào để họ đốt hết lậu quặc. Tham sân không còn nữa, chứng bất lai thánh quả. Đang cầm chảo đồ chiên xoà trên bếp mà cháy khét đen hết như vậy, ngay tại đó chứng ngộ chân lí vô thường. Mình tu phải hướng tâm đến như vậy. Còn đằng này vô làm là sân si không, đụng đâu sân đó, đụng đâu bực nấy, làm với ai là có chuyện với người đó. Mà không thấy lỗi mình, lỗi người ta không thôi. Tại người kia thế này, tại người kia thế khác. Như vậy mình tu bao nhiêu kiếp rồi nó cũng như vậy. Tại vì nguyên nhân thật sự tập đế nó không nhìn thấy. Đức Phật nói: Này các Tỷ-kheo, là một nỗ lực cần cố gắng để làm, để rõ biết và thấy được nguyên nhân của khổ. Còn mình không thấy nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của bực bội, sân hận, bản ngã ở đâu mình không thấy. Vì mình hướng ngoại thì sao mà thấy. Không quán thân, không quán thọ, không quán pháp thì sao mà thấy. Không thấy thân hành, khẩu hành, ý hành của mình. Không thấy thân thể, hành động, lời nói, suy nghĩ của mình. Không thấy cảm giác, không thấy nội tâm, không thấy cái gì đang vận hành trong nội tâm.
Cho nên mình thấy tứ niệm xứ tuyệt diệu không? Đôi khi mình nói từ tứ niệm xứ thì khó hiểu. Mình đọc quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp rồi mình giải ra một bài dài như vậy. Như mà thật sự là gì? Là luôn luôn nhìn lại thân thể, hành động, cảm giác và những gì vận hành trong nội tâm của mình. Mà cái gì trong đó? Dục, tham, ái, sân, si, bản ngã chứ cái gì? Cho nên cái này tuyệt diệu lắm.
Mấy cô trong nhà bếp cũng vậy, phải tu tập. Đừng có ý hành mình làm cực khổ, cho mình thoải mái đi. Ý hành đó là chết, mình phải giết ý hành đó đi. Suy nghĩ đó là đưa mình đi xuống vực. Một suy nghĩ đó là nó phá hỏng hết tất cả sự tu tập của mình, nó không cho mình tu. Ý hành đó là ma, là ác ma. Này các Tỷ-kheo, sắc là ác ma, thọ là ác ma, tưởng là ác ma, hành là ác ma, tưởng là ác ma. Mình phải nhiếp niệm trong khi làm việc.
Cho nên nhiều khi con nghe dưới bếp la lối là con không có vui. Mình phải tập từ từ.
Khi làm là săn tay áo lên, la lối rồi chạy, cho người ta thấy mình làm việc. Làm như vậy chi vậy? Điều đó không cần thiết. Mình làm trong chánh niệm, trong thiền, đó là sức mạnh. Còn chuyện nhà cháy hay cấp cứu mình mới chạy. Mình giữ được tâm mình, đó là báu vật tối thượng, thế gian chí bảo. Mình giữ được cái này là trời đất có sụp đổ thì không có hề hấn gì mình hết.
Mình phải cẩn thận, phải kĩ lưỡng, phải chu đáo, phải nhỏ nhiệm, phải sâu sắc. Tầm nhìn của mình phải vượt ra ngoài những cái mình đang thấy, đang nghe, đang làm. Không phải chỉ thấy chuyện mình đang làm thôi, mà vượt qua cái đó nữa. Trong khi học pháp cũng vậy. Mình phải chí tâm, Đức Phật dùng từ chí tâm trong tu tập. Còn mình sử dụng chí tâm trong cầu pháp. Học giống như đói được ăn, khát được uống. Học giống như một chút nữa mình sẽ chết, mình không được nghe pháp. Mỗi một lời kinh mình đọc mình phải thấy huyết lệ của Đức Thế Tôn, mình tấy sương máu của các bậc thánh tăng trong lời kinh đó. Mình cầm cuốn kinh đó lên phải đội trên đầu, phải trân trọng, trân quý, trân kính. Mình phải nhìn ra được suốt ba ngàn năm của thánh giáo trong mỗi lời kinh. Tập cho mình có một cái thấy xuyên thấu như vậy. Tập cho mình có tâm cung kính, hiếm có, khó được, khó gặp, khó nghe, khó hiểu. Tập cho mình không biết mệt mỏi trong sự cầu pháp.
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế thường có những vị Tỷ-kheo giảng pháp suốt đêm, điều đó là thường lắm. Như Lai lúc đó bảy chục tuổi rồi, mỏi lưng rồi.
Sau khi ngủ một đêm dài con lên thấy mấy chú có người vẫn buồn ngủ khi học pháp, khi thiền. Sức của con một ngày giảng ba thời là được, một ngày hai thời là đều được. Mà con thấy người nghe, nghe không nổi.
Mình học pháp cũng giống như sinh viên đại học vậy đó. Một ngày phải lên lớp bốn tiếng. Con có kể cho mấy thầy nghe rồi, con học tám tiếng liên tục mười năm mà. Còn bây giờ mấy thầy học bốn tiếng có nhằm nhò gì đâu. Phải học không biết mệt mỏi, không biết đầu đủ, không biết nhàm chán trong chánh pháp, thì người đó mới có cơ hội đi đến pháp tánh, thâm nhập được thánh tri kiến.
Còn thấy đầy đủ rồi, nhàm chán học pháp thì người đó không thâm nhập thánh tri kiến được.
Những lúc bậc thiện tri thức chia sẽ pháp cho con, nói mà con giật mình hết trơn, chấn động hết trơn. Hỏi con cái này thầy nghe rồi phải không? Con nói nghe rồi. Rồi nói con nghe thêm một ngàn lần nữa. Con mới rúng động, khai ngộ. Nói con rằng: Cho dù thầy nghe một ngàn lần nữa mà cũng giống như lúc mới nghe thì thầy mới thành tựu pháp. Thì cái đó quá trúng ý con, con rúng động hết.
Kẻ phàm phu thì nghe hai ba lần là nói biết rồi, có gì đâu phải nghe nữa. Mình nghe một ngàn lần mà mình có thấy được vô thường chưa, chứng đắc được vô thường chưa? Chừng nào mình chứng đắc được vô thường thì đừng nghe. Giờ nhìn thấy bất tịnh không? Chưa nhìn thấy. Nghe thêm một triệu lần bất tịnh nữa, chừng nào thấy bất tịnh thì khi đó không nghe. Chừng nào nhìn vô thân xác thấy bất tịnh hết thì lúc đó không nghe.
Có một sự việc mà con nhớ hoài không quên. Mỗi lần thầy cho bài kiểm tra bài từ Hán. Thầy vô dặn từ chút, từ chút, làm xong là ngồi yên đó không đi xuống đi lên gì hết. Bài thì đưa cho người đầu bàn. Thầy chỉ đi vô giữa đưa hai tay ra lấy bài. Thì có mấy người nói: Thầy ơi cái này con biết rồi, thầy nói rồi, học tới năm thứ tư rồi mà lần nào kiểm tra thầy cũng nói. Thầy mới nói: Dạ. đúng rồi thưa mấy chú. Mấy chú biết rồi, con cũng nói nhiều lần rồi mà làm chưa được, cho nên giờ con nói lại. Chừng nào làm được thì lúc đó con không nói.
Con nghe câu này là quát nhiên đại ngộ. Mình đã chứng nhập thánh trí vô thường chưa? Mình chứng nhập được thánh trí vô ngã chưa? Mình có chứng nhập được cái khổ chưa? Giờ mình nói tứ thánh đế mình biết rồi là khổ tập diệt đạo. Nói như vậy vĩnh kiếp là phàm phu.
Hằng mình nghe cái khổ vậy đó, hằng ngày mình nghe cái sân ác độc vậy đó, hằng ngày mình nghe cái sân vô mình vậy đó. Mà tới chừng có chuyện thì mình cũng nổi bản ngã ình ình lên vậy. Mình nghe mỗi ngày mà như vậy?
Ăn có đủ không? Có khi nào nói tôi ăn ba chục năm rồi, giờ tôi không ăn nữa không? Tại sao nghe pháp mà nói đủ rồi, giờ tôi không nghe? Đó là cái vô minh của mình.
Còn ăn là con nghe pháp, còn ăn là còn ngồi thiền, còn ăn là còn tu. Mình ăn cái này là đàn na tính thí, mình thiếu nợ người ta nè. Không chịu ráng lo học, không chịu ráng lo tu. Mình toàn lo những suy nghĩ phi như lý tác ý, suy nghĩ theo phàm phu vô mình không thôi.
Người ta nữa vòng trái đất về đây nghe pháp, thậm chí người ta khóc nước mắt tràn trụa rồi quỳ lạy. Mình ở kế bên mà không thèm nghe, xem thường. Tức là mình tự huỷ bỏ cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội thể nhập thánh tri kiến.
Thấy có một buổi hai buổi như vậy, nhưng tích tập lâu ngày.
Tích tập mà, tích tập vô thường tưởng, tích tập nguy hại tưởng, tích tập bất tịnh tưởng, tích tập li tham, thích tập đoạn diệt tưởng.
Có ai đi ra làm mấy bữa thành triệu phú không? Mỗi ngày họ phải cất một chút, cất một chút rồi từ từ mới nhiều lên. Thì tu học cũng như vậy, mỗi ngày nghe một chút tích tập thực hành.
Cho nên cái nghe pháp là không được cho là đầy đủ, Cho nên mới gọi mình là đa văn thánh đệ tử. Đệ tử của bậc thánh là bậc nghe rất là nhiều. Nghe cái gì nhiều? Nghe thánh pháp, nghe chánh pháp. Nghe thật là nhiều.
Cô Toàn là nghe thủng cái màng nhĩ, nghe điếc cãi lỗ tai.
Mình phải lấy tấm gương đó, gương sống ở trước mắt mình. Cô không phải được rảnh để ngồi nghe mà vừa đi làm vừa nghe. Cho nên mình phát tâm cung kính, tôn trọng cô. Cô là người khó gặp.
Một vạn kiếp sau chưa chắc mình được nghe cái pháp này nữa. Pháp này sắp diệt rồi, mai mốt không còn ai biết về pháp này nữa. Thành ra đó là cái thứ hai con nói là trong tinh thần học.
Mình phải tha thiết học hỏi. Không phải chỉ quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Mà nếu vị ấy học hỏi mới là đệ tử tối tượng, Tỷ-kheo tối thượng của ta. Đức Phật nói như vậy.
Con thưa với đại chúng là: con học pháp mà con cầm điện thoại con học từ xa. Học ba tiếng mà tay con tê cứng như vậy. Con cầm điện thoại không dám nhúc nhích, không dám bước ra chỗ khác. Vì trên rừng, bước ra chỗ khác là nó mất sóng. Mỗi ngày xã thiền ra là con hướng về bậc thiện tri thức con quỳ con lạy. Mỗi ngày là vậy đó. Chứ không phải con xem cái pháp này bình thường mà tiếp nhận được cái pháp. Thậm chí phải dám hi sinh cả thân mạng để cầu thánh pháp này, phải có một thái độ tu học như vậy. Chứ không phải dễ mà đắc pháp.
Một người xem thường pháp, không cung kính pháp, không tha thiết đối với pháp, không để tâm ở trong pháp thì làm sao người đó đắc được thánh pháp. Pháp này không phải pháp bình thường. Pháp này là pháp ngược đời, pháp li tham mà. Nó đảo lộn hết thế giới này, đi tới chỗ nhám chán, li tham, từ bỏ, chấm dứt. Thì sao mà dễ nghe, dễ hiểu, dễ thực hành.
Thánh pháp này có công năng phá tung quả địa cầu này. Mà trong khi vô minh, dục ái, khát ái của mình kinh khủng, khủng khiếp. Nếu với một cái tâm sơ xuất, cẩu thả, qua loa, hời hợt, thiển cận, cạn cợt, máy móc, hình thức, làm cho có thì không thể nào đi vào hướng dự lưu chứ đừng nói nhập lưu.
Bằng chúng là pháp này hai ngàn năm bị mai một. Tại sao vậy? Người ta chỉ muốn cái đơn giản, niệm một câu thôi, ngồi thở vô ra thôi. Hay là như lý tác ý cho khoẻ, học làm chi cho nhiều. Có những người khác ở đây bỏ đi rồi đó, kiếm thầy khác dạy Nikāya cho dễ, còn ở đây dạy khó quá. Không thiết tha, không cung kính, không tôn trọng, không có để cả tâm lòng vào pháp là văng ra liền, bát chánh đào thải.
Cho nên mình sẽ học tiếp chưng của ngài Ca-diếp là biết lo sợ. Không lo sợ, không hỗ thẹn, không có niềm tin thì người đó không đạt được pháp.
Họ lo sợ cái gì? Người xưa nói lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Đi trên băng mỏng xảy chân là lọt xuống, bước trên kiếm bén trợ chân là tan da nát thịt. Thì cái này cũng vậy, mình chỉ cần sơ xảy một chút thôi là mình văng ra khỏi dòng thánh pháp này. Mình trở lại phàm phu, phàm ngu, phàm mê, phàm tục, phàm dục, phàm ái, phàm tham, phàm sân, phàm si. Nếu mình không lo lắng, sợ hãi, mình không nỗ lực mình nhắp mắt một cái rồi là mình đi đâu? Mình chưa nhập lưu là hoàn toàn còn trong phạm trù nguy hiểm và tai hoạ.
Bây giờ con hỏi nè. Mấy ngàn người chết vì dịch đó, giờ mấy người đó đi đâu? Mấy người đó đang ở đâu?
Cho nên con nói thiệt sự. Bản thân cuộc đời con, giờ cho đến lúc nhắm mắt không còn cái gì mà có thể quan trọng hơn pháp nữa hết. Tuyên bố một câu vang dội giữa đất trời này là: không có cái gì quan trọng hơn thánh pháp này nữa hết.
Cha mẹ rồi cũng vô thường, anh chị em rồi cũng vô thường, đệ tử rồi cũng vô thường. Chùa chiềng, đất trời này rồi cũng tan vỡ hết. Mà chỉ có pháp mới cứu mình, mới cứu được người thân của mình. Cho nên mình thương người thân là đưa cái pháp này cho họ. Đó là cứu độ.
Mình thương mình là mình bám chặt cái pháp này, mình cầu cái pháp này, mình kính cái pháp này, mình tôn trọng cái pháp này. Mình tha thiết bằng tất cả tấm lòng của mình với cái pháp này. Đó là mình thương mình, mình cứu mình.
Chính vì vậy mà con rất là quan trọng đối với cái pháp. Với một thái độ như vậy, thì mình có khả năng tiếp nhận và thể nhập được thánh tri kiến. Chắc chắn một trăm phần trăm.
Nghe bằng tâm cung kính, nghe bằng tâm khát ngưỡng, nghe bằng tâm tôn trọng. Nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như chút xíu nữa mình không được nghe, đây là lần nghe cuối cùng. Mồi lần nghe pháp phải tác ý như vậy.
Thành ra mình phải cố gắng. Ngoài cái pháp này ra những âm thanh khác không có gì đang nghe hết, đều có thể bỏ qua được. Nhưng đối với cái pháp này là cái đáng nghe nhất trong kiếp người của mình. Ngoài cái pháp này ra không có gì đáng nghe hết, nghe mấy cái khác tham sân si, phiền não không thôi. Nghe cái khác biết nhiều càng thêm sân si, bản ngã thôi. Chỉ có biết pháp này mới diệt tận được vô minh, mới phá được lậu quặc, mới làm khô kiệt được khát ái. Tuyệt vời như vậy tại sao mình không chịu nghe, không chịu học. Tại sao mình không chịu nỗ lực, không chịu để tâm, không chịu quyết lòng, không chịu hi sinh, không chịu dấn thân.
Đó là con nói về tinh thần học.
Tu Trong Công Việc
Thích Minh Thành
Ví dụ: mình làm việc chung với một người, mình thấy bực mình. Mai mình làm việc với chú kia thì mình lại bực. Mình kỹ lại vấn đề mình thấy mình làm việc chung với ai, là thường mình không hài lòng. Thì cái đó mình không nhìn người ta mà nhìn mình.
Mình làm với ông kia cũng thấy khó chịu, làm việc với ông này cũng thấy bực mình. Như vậy nhìn kỹ lại mình làm với ai cũng thấy không hài lòng. Thì mình phải coi lại bản ngã, cái kiến chấp, cái thói quen làm người lớn, làm chủ, làm lãnh đạo. Trong sự tu học này là gì? Là dù cho người kia có sai, mình không bực bội. Thì cái đó mới là tu trong khi làm việc. Còn mình có sân lên là mình sai. Dù mình có làm đúng, mình vẫn là sai.
Con nói cái này đại chúng có thông cảm được chỗ này không? Tại sao khi mình nghe pháp mình an lạc, khi mình ngồi thiền thì tâm mình tương đối được yên, nhưng khi ra làm việc là tâm mình động?
Tại vì nghe pháp thì tâm mình an trú theo lời pháp, ngồi thiền thì mình sử dụng trí tuệ quán chiếu để mình nhìn. Nãy là an trú trong pháp khi nghe pháp, khi ngồi thiền là an trú trong trí. Cho nên an trú trong pháp, trong trí thì không bị phiền não. Khi ra làm việc thì mình không an trú trong pháp, không an trú trong trí mà mình an trú trong công việc. An trú trong công việc là lúc đó bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí hoạt động, thói quen hoạt động, nghiệp hoạt động. Cho nên tại sao trong khi nghe pháp an lạc, ngồi thiền thấy yên tịnh mà trở ra làm việc là có chuyện? Khi mình làm việc mình tu giống như nghe pháp ngồi thiền thì cũng an giống như vậy. Đây là bí kíp.
Khi mình làm việc mình không trú trong pháp. Phải không? Đây mới là bài tập khó, mà ai giải được bài tập này thì người đó tu hành tiến bộ, vững chắc trong pháp và luật.
Con nhắc lại: Khi mình nghe giảng thì tâm mình an trú trong pháp, khi mình ngồi tu thì tâm mình an trú trong trí và khi mình ra làm việc thì an trú trong tự ngã, nó không an trú trong pháp trong trí. Chính vì vậy mà có tham sân si, bản ngã hoạt động. Khi mình làm việc mà an trú trong pháp trong trí thì sẽ giảm thiểu, giảm được phân nữa sân si, bản ngã.
Mà tu hay không tu thì chỗ này mới xét được người. Vì khi mình lên ngồi thiền mình an trú trong trí, hay là an trú bao nhiêu phần cũng không ai biết nữa, ngủ gục ở đó thì đâu ai cãi lộn được, ngồi vọng tưởng cũng là tự mình biết, ngủ ngục cũng tự mình hay, chỉ trừ khi ông giám thiền đánh. Vì hoàn cảnh bắt buộc phải ngồi yên đó. Còn có lúc ngồi yên cũng không được, thì cái đó hoàn cảnh bắt buộc, cái tâm phải như vậy. Còn khi đi ra rồi là đi theo tập khí, thói quen, đi theo nghiệp. Cho nên tại sao Linh Quy Pháp Ấn thời khoá tu rất nhiều, thời khoá học rất nhiều là vì muốn đại chúng an trú trong pháp và trí.
Minh Thành muốn đại chúng an trú trong chánh pháp và trí tuệ. Tại sao con không để buổi sáng làm việc rồi chiều mới tu? Bao nhiêu công việc con phải đi kiếm người làm, phải giờ người giúp việc, phải tốn tiền. Tại vì con thương đại chúng, con mong muốn tất cả những người về đây là an trú trong chánh pháp, an trú trong trí tuệ. Mà có nhiều người từ người tập sự xuất gia mà xin lùi lại làm công quả thôi, rớt xuống một bậc. Tại vì tu nhiều quá, tu không nổi.
Tại sao lại vậy? Vì cái hữu lậu bên trong vận hành, hoạt động không cho mình ngồi yên, ngồi yên chịu không nổi. Thà ra nhảy nhót, la lối mà khoẻ, mà vô nghe pháp ngồi thiền là bức rức lắm. Đó là hữu lậu hoạt động vận hành đó. Hữu lậu hoạt động là không chịu cho mình ngồi yên.
Ở Myanmar có cái chỗ hay là một tiếng ngồi, một tiếng đi suốt ngày như vậy, mà sao người ta vẫn chịu nổi. Lúc nào cũng có nhiều người lại ngồi tu hết. Chính chỗ con qua đó thấy vậy, khi về con mới tăng thêm thời khoá ở đây, tăng lên là mấy chú đi xuống núi.
Chính vì vậy chuyện khi mình làm việc mà có sự thực hành là tuyệt diệu, mà không phải dễ. Người không có tâm, không có sử dụng tứ như ý túc, thì người này rớt ngay thôi. Tức là người này tâm muốn tu không mãnh liệt. Sự nỗ lực không có nhiều, không để tâm vô sự tu, không tìm đủ mọi cách thành tựu sự tu, thì người này ra làm việc thì mất hết, rớt hết. Tức là không có tứ như ý túc, dục như ý túc, tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc.
Cho nên tại sao mấy chú thị giả, lâu lâu đi vô con làm việc vậy đó. Mà con con chỉ trong công việc đó ra, sự dụng tâm trong đó. Người tu không phải đi vô tu để làm việc, nhưng mà tu rồi thì làm việc rất tuyệt vời. Chứ không phải càng tu là càng không biết làm vì hết trơn, đó là không phải.
Mình đi tu không phải để làm việc, mà mình tu được rồi thì mình làm việc siêu làm, siêu việt. Đó là cái làm của người tu, làm mà không dính mắc, làm mà tốt, mà đẹp thậm chí còn hơn người bình thường, mà không bị dính mắc trong công việc đó. Thì cái đó mới là cái làm của người tu, cái đó gọi là vô tác. Nói theo danh từ chữ nho là vô tác diệu lực.
Thấy giống như nhẹ nhàng không có làm mà làm hơn hết đó. Đó là sử dụng trí tuệ để làm việc.
Mình thấy Đức Phật làm gì? Các bậc thánh chúng hồi xưa làm gì? Không có làm gì hết, chỉ đi khất thực, ngồi thiền, ai tới hỏi pháp thì Đức Phật giảng pháp, đâu có làm gì đâu. Mà bây giờ đạo Phật là tôn giáo đừng đầu tất cả tôn giáo trên thế giới, được tất cả nhà khoa học kính trọng bậc nhất. Thầy của chư thiên và loài người là không có làm gì hết. Mà cái đó là vô tác, siêu làm.
Các bậc thánh tăng không có làm gì nhiều hết, mình giỏi mình làm đủ thứ hết trơn. Cho nên mình chết rồi là không còn gì nhiều hết, chỉ còn một đống tham sân si, người ta nhắc lại tiếng thúi, tiếng nhơ.
Cho nên mình phải biết mục đích việc làm ở trong chùa làm để đi đến chỗ tích tụ thiện pháp, nhiếp phục tham sân si mình mới làm. Còn mình thấy trong đó là sân si, bản ngã, ganh tỵ thì tốt nhất đừng làm. Bỏ chỗ đó đi vô ngồi thiền, đi vô nghe pháp, dục nó đừng làm. Nếu mà làm mà hoan hỉ, làm mà an lạc, làm mà thấy hỉ lạc, tích tụ phước báu công phức thì làm. Làm mà thấy sân si bản ngã thì đừng làm, vô ngồi thiền đi. Tại ở đây không ai bắt làm hết đó. Nắm được chỗ này thì ra làm việc thì mới được an lạc. Làm tất cả cái gì cũng hướng đến mục đích là nhiếp phục, đoạn tận tham sân si, bản ngã. Làm bất cứ cái gì cũng hướng về mục đích đó.
Mình làm mà sân si lên thì làm, làm chi? làm mà bản ngã lên thì làm, làm chi? Làm mà lòng tham càng ngày càng tăng trưởng thì đi ngược lại sự tu tập, thì làm làm cái gì?
Cho nên trong khi làm phải nhìn lại tâm của mình. Đó là gì? Là quán tâm của trên tâm. Đó là tụng kinh tứ niệm xứ đó. Cho nên lên chánh điện mở kinh lên tụng là tụng ở trên chữ, còn khi làm việc là nhìn được tâm mình thì cái đó mới là tứ niệm xứ sống, tứ niệm xứ được vận dụng. Cái đó là tụng kinh sống.
Quán tâm trên tâm
Kinh Niệm Xứ, phần quán tâm trên tâm.
“Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nội tâm có tham, tuệ tri nội tâm tôi có tham. Hay nội tâm không tham, tuệ tri nội tâm tôi không tham. Hay nội tâm có sân, tuệ tri nội tâm tôi có sân. Hay nội tâm không sân, tuệ tri nội tâm tôi không sân. Hay nội tâm có si, tuệ tri nội tâm tôi có si. Hay nội tâm không si, tuệ tri nội tâm tôi không si. Hay nội tâm tán loạn, tuệ tri nội tâm tôi toán loạn. Hay nội tâm không tán loạn, tuệ tri nội tâm tôi không tán loạn. Hay nội tâm hữu hạn, tuệ tri nội tâm tôi hữu hạn. Hay nội tâm quảng đại, tuệ tri nội tâm tôi quảng đại. Hay nội tâm có định, tuệ tri nội tâm tôi có định. Hay nội tâm không định, tuệ tri nội tâm tôi không định. Hay nội tâm giải thoát, tuệ tri nội tâm tôi giải thoát. Hay nội tâm không giải thoát, tuệ tri nội tâm tôi không giải thoát. Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên nội tâm, hay sống quán tâm trên ngoại tâm, hay sống quán tâm trên cả nội tâm ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên tâm, hay quán tánh diệt tận trên tâm, hay sống quán tánh diệt tận trên tâm, hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. Có tâm đây, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy với hi vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo ấy sống quán tâm trên tâm.
Lúc trước con chưa đi vào dòng pháp này thì có một sư nam tông lên ngồi nói chuyện với con. Con mới trình bày muốn làm rừng thiền và này kia như vậy. Thì sư nói: Thầy phải là thiền sư, thầy mới làm rừng thiền được. Thầy mà tu rồi thì thầy không muốn làm gì nữa hết. Thì lúc đó con mới đáp lại: Con không làm thì chỗ đâu cho mấy thầy tu, mấy thầy ở.
Mình nghĩ theo kiểu trước đây là phải làm cái này, làm cái kia. Rồi sư mới nói lại: sao thầy sân quá vậy. Nhìn lại lúc đó là con có sân.
Thì sau này con đi vô dòng pháp này rồi thì con tính nhiều lần cảm ơn sư, bây giờ con không muốn làm. Sư đó có đi học bên Miến Diện mấy năm, bên rừng thiền. Mình thấy rằng lúc trước mình sai, mình nghĩ rằng mình làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ. Mình tu với cái tâm hướng ngoại. Mà mình không thấy bên trong là một núi rác thúi, bên trong bốc mùi.
Giờ con nhìn lại con thấy nhục, lúc đó là lúc nhục. Cái bản ngã của mình như vậy, cái sân si của mình như vậy mà mình không thấy mà mình lo làm cái này, làm cái kia. Thành ra nếu như tâm mình còn quá là giao động, quá là sân, quá là bản ngã thì hãy tập trung thật nhiều quán tâm trên tâm. Đó mới là công việc thật sự của người xuất gia. Đừng có chùi cái nồi mà thấy cái lọ nồi không thôi, hãy nhìn vô tâm của mình. Mình chỉ thấy cái lọ của nồi chứ không thấy cái lọ của tâm. Rửa cái chén chỉ thấy cái chén đó thôi mà không biết cái thứ đóng trong tâm là gấp một ngàn lần thứ đó.
Thành ra người khéo léo mà mượn công việc để tẩy rửa nội tâm, đó gọi là người có kế sống. Nói theo danh từ thời bây giờ là người có nghề nghiệp chứ không phải người thất nghiệp.
Còn bằng không mình là một người ăn không ngồi rồi ở trong đạo. Dù cho mình có làm đủ thứ bên ngoài vậy đó, mà lại gần mình là một đống. Làm với ai cũng không được, ai cũng không vừa lòng, làm với ai bản ngã cũng rầm rầm lên. Như vậy là nhục, quá nhục. Vô bếp là không ai lại nấu được với mình hết. Ra làm là không ai làm được với mình hết. Mà bất cứ trong lãnh vực nào cũng vậy.
Con nhìn lại con thấy xấu hổ lắm, cái này có nước vô thất đóng cửa lại rồi ngồi trong đó nhìn lại bản mặt xấu xa, thối tha. Soi gương nhìn lại cái mặt.
Do mình không quán tâm trên tâm, tối ngày lo quán người ta, không có quán tâm. Thành ra nghệ thuật tu tập ở trong công việc là phải phản tỉnh.
Thấy cầm cây chổi quét nhà như vậy nhưng mà cũng đang quét ở bên trong. Thầy đang chùi cái nồi, rửa cái nồi nhưng mà cũng đang chùi rửa nội tâm cấu nhiễm. Có như vậy mới không phải là người ăn không ngồi rồi trong đạo pháp, không phải là người ẩn dương ương Phật, không phải là cây chùm gởi, không phải là đồ ăn bám. Còn nếu mình không có sự quán tâm trên tâm, không có sự tẩy rửa, quét dọn, lau chùi như vậy thì mình là kẻ ăn bám ở trong tam bảo. Là người ăn không ngồi rồi, người không có nghề nghiệp. Giống như ngoài xã hội một người không có nghề nghiệp, cứ lang thang chỗ này, chỗ kia, ăn nhờ ở đậu, ăn bám như vậy. Thì trong đạo cũng vậy, mình phải quán tâm ở trên tâm, coi tham có khởi không? Lúc này có tham hay không tham? Lúc này có sân hay là không sân? Lúc nào có si hay là không có si? Có si thì si như thế nào? Có tham thì cái tham nó như thế nào? Có sân thì cái sân như thế nào? Có bản ngã hay không có bản ngã? Có bản ngã thì cái bản ngã như thế nào? Sau đó mình mới sử lí nó. Mình phải tuệ tri, biết bằng trí tuệ. Chính hai chữ này người ta đã hiểu lầm. Dịch ra là rõ biết, hoặc để tuệ tri, tức là tôi tham tôi biết tôi có tham vậy đó. Hồi xong tự nhiên cái tham nó hết, bây giờ toàn học tứ niệm xứ là vậy không. Đó là không phải.
Biết bằng trí tuệ là biết bằng chánh tri kiến để đánh phá nó, để mà như lý tác ý, để quán chiếu, để diệt tận đó. Cái đó mới là cái biết bằng trí tuệ. Còn cái biết mà biết rồi để vậy thì không phải. Cái đó chỉ là biết bằng nhận thức thôi, không phải biết bằng trí tuệ. Cái đó là thức tri.
Bây giờ đang ngủ mà con rắn hổ mang bò sát ở bên, mình chỉ biết vậy thôi hả. Thì cái biết đó là cái biết bình thường hay là cái biết bất bình thường? Người đó có bình thường không? Thấy nó nguy hiểm, độc hại thì mình phải nhảy lên, hoặc đuổi nó ra, hay làm sao đó. Thì cũng vậy, nếu mà biết mà còn y chang như vậy thì cái biết đó không phải là tuệ tri. Thành ra chữ “tuệ tri” là rất quan trọng trong bài kinh tứ niệm xứ đó.
Biết bằng trí tuệ là phải đánh đuổi, phải phá dẹp, phải đoạn tận, phải tẩy sạch, phải trừ diệt. Như vậy mới gọi tuệ tri, là biết bằng trí tuệ của chánh tri kiến. Nếu một người làm việc với tâm thái như vậy thì mình có sanh phiền não được không? Nếu nó có đi nữa cũng trong tầm kiểm soát. Đây là bí kíp chánh pháp trong làm việc.
Mình thấy nó quá mức thì nghĩ đừng làm, lúc nào bình thường rồi vô làm lại. Làm việc là phải cẩn thận, không được qua loa, không được cẩu thả, không được làm cho xong. Bất cứ việc gì mình làm phải bằng sự để tâm cửa tứ như ý túc. Hai chữ “để tâm” là hết sức quan trọng. Để tâm là mình đặt cả trái tim vô công việc đó, dù chuyện đó là chuyện hết sức nhỏ như bưng một chén trà thôi.
Cho nên tại sao uống một chén trà bên nhật là hơn tám trăm ngàn. Một chén trà để bưng lên uống là công phu lắm, là cả một sự để tâm trong đó. Rồi bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu văn hoá, bao nhiêu triết lí, đạo lí trong đó. Cho nên uống chén trà là hơn tám trăm ngàn, mà cách đây mấy năm rồi đó. Tại sao trà đạo đó lại vang dội trên thế giới. Tại vì để tâm, tại vì có tứ như ý túc ở trong đó. Người ta muốn đưa cái đó nó lên thành một văn hoá, một nghệ thuật, một đặc sắc của dân tộc. Người ta muốn, kế đó người ta nỗ lực làm điều đó, người ta để tâm trong điều đó, người ta suy nghĩ mọi cách để làm cho được điều đó. Vậy là tứ như ý túc trong đó. Chén trà đó không còn là chén trà bình thường nữa mà nó thêm chữ đạo. Thì con thường hay là cơm đạo, hành đạo, quét đạo, tụng đạo.
Hồi sáng nay con có chia sẽ về vấn đề đọc kinh đó. Đọc kinh là cảm một cảm thọ trong đó, cảm một cảm xúc trong đó, cả một cảm động trong đó, chấn động trong đó. Thì cái đó mới là đọc kinh, đọc kinh bằng cả trái tim. Thì cái đó là vận dụng tứ như ý túc vào đọc kinh Nikāya.
Khi mình để tâm vô thì cái gì cũng thành đạo, khi mình học hay làm việc cũng vậy. Không có làm ở đây mà để tâm ra chỗ khác. Làm phải để tâm vô chỗ đó tất cả mọi cái.
Cho nên tại sao thầy Pháp Từ được người ta quý mến, người ta thương. Tại vì người ta hương dẫn là thầy hướng dẫn bằng cái tâm. Cho nên ai cũng mến, ai cũng quý hết. Tuy rằng không học cao, không hiểu rộng nhưng mà nắm được căn bản tu tập, chia sẽ bằng cả trái tim, tâm lòng của mình thì người ta cảm nhận được. Thì sự chia sẽ đó là cả một tấm lòng. Đó là vận dụng tứ như ý túc. Mà như vậy là chắc chắn thành tựu. Trong tất cả mọi lãnh vực có vận dụng tứ như ý túc thì thành tựu. Cái đó là chánh đẳng chánh giác chỉ cho mình đâu phải là bình thường. Cái đó là báu vật, chìa khoá vàng để thành công mà mình đọc rồi, học rồi mình để trong cuốn sách mình cất, còn mình làm việc thì cứ làm việc theo thói quen của mình.
Thành ra phải để tâm từng bước thiền hành, từ khi bưng chén trà, từ khi uống trà. Từ khi ngồi nghe pháp, từ khi lễ lạy, từ khi nồi thiền tất cả mọi cái để trọn tâm mình vô trong đó.
Khi mình trồng một cây trúc phải có trái tim của mình trong đó.
Cho nên nhiều khi con làm, mấy chú làm chung là không thích. Tại vì khi con làm là con chỉnh tới, chỉnh lui. Cũng như làm nhà thiền này, hay công trình gì đó. Con phải để tâm vô nhiều, con coi tới coi lui, con chỉnh tới chỉnh lui, lúc đầu rất là khó mà con sửa xong rồi là coi như được rồi, không thay đổi nữa. Cũng như nhà này cũng vậy, phải sửa tới sửa lui cả tháng, khi ổn định rồi là xong. Chứ không phải vài bữa sửa cái này, vài bữa sửa cái kia, vài bữa mở cửa này, vài bữa đập vách kia. Con không phải như vậy.
Thành ra mình phải để tâm vô mọi chuyện. Mình nấu cơm mà mình để tâm vô việc nấu cơm, mình có tu trong đó. Thì cái đó trở thành cơm đạo, cái bếp thiền. Cái này khó lắm mà làm được là siêu.
Hồi xưa, thời Đức Phật có một vị cư sĩ, nấu cơm cho chồng cô ăn. Lúc đó xào đồ ăn thì lửa phực lên cháy chảo đồ ăn. Thì lúc đó cô đang quán về các hạnh vô thường. Lửa phực lên như vậy, thì cô chứng ngộ, ngay lúc đó cô chứng tam quả. Tham sân là diệt tận, chứng thánh quả thứ ba ngay lúc xào đồ ăn.
Đó là nghệ thuật tu tập tối thượng trong khi làm việc. Mình phải biết rằng tâm của người đang làm việc, họ chuyên chú thiền quán tới mức độ nào để họ đốt hết lậu quặc. Tham sân không còn nữa, chứng bất lai thánh quả. Đang cầm chảo đồ chiên xoà trên bếp mà cháy khét đen hết như vậy, ngay tại đó chứng ngộ chân lí vô thường. Mình tu phải hướng tâm đến như vậy. Còn đằng này vô làm là sân si không, đụng đâu sân đó, đụng đâu bực nấy, làm với ai là có chuyện với người đó. Mà không thấy lỗi mình, lỗi người ta không thôi. Tại người kia thế này, tại người kia thế khác. Như vậy mình tu bao nhiêu kiếp rồi nó cũng như vậy. Tại vì nguyên nhân thật sự tập đế nó không nhìn thấy. Đức Phật nói: Này các Tỷ-kheo, là một nỗ lực cần cố gắng để làm, để rõ biết và thấy được nguyên nhân của khổ. Còn mình không thấy nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của bực bội, sân hận, bản ngã ở đâu mình không thấy. Vì mình hướng ngoại thì sao mà thấy. Không quán thân, không quán thọ, không quán pháp thì sao mà thấy. Không thấy thân hành, khẩu hành, ý hành của mình. Không thấy thân thể, hành động, lời nói, suy nghĩ của mình. Không thấy cảm giác, không thấy nội tâm, không thấy cái gì đang vận hành trong nội tâm.
Cho nên mình thấy tứ niệm xứ tuyệt diệu không? Đôi khi mình nói từ tứ niệm xứ thì khó hiểu. Mình đọc quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp rồi mình giải ra một bài dài như vậy. Như mà thật sự là gì? Là luôn luôn nhìn lại thân thể, hành động, cảm giác và những gì vận hành trong nội tâm của mình. Mà cái gì trong đó? Dục, tham, ái, sân, si, bản ngã chứ cái gì? Cho nên cái này tuyệt diệu lắm.
Mấy cô trong nhà bếp cũng vậy, phải tu tập. Đừng có ý hành mình làm cực khổ, cho mình thoải mái đi. Ý hành đó là chết, mình phải giết ý hành đó đi. Suy nghĩ đó là đưa mình đi xuống vực. Một suy nghĩ đó là nó phá hỏng hết tất cả sự tu tập của mình, nó không cho mình tu. Ý hành đó là ma, là ác ma. Này các Tỷ-kheo, sắc là ác ma, thọ là ác ma, tưởng là ác ma, hành là ác ma, tưởng là ác ma. Mình phải nhiếp niệm trong khi làm việc.
Cho nên nhiều khi con nghe dưới bếp la lối là con không có vui. Mình phải tập từ từ.
Khi làm là săn tay áo lên, la lối rồi chạy, cho người ta thấy mình làm việc. Làm như vậy chi vậy? Điều đó không cần thiết. Mình làm trong chánh niệm, trong thiền, đó là sức mạnh. Còn chuyện nhà cháy hay cấp cứu mình mới chạy. Mình giữ được tâm mình, đó là báu vật tối thượng, thế gian chí bảo. Mình giữ được cái này là trời đất có sụp đổ thì không có hề hấn gì mình hết.
Mình phải cẩn thận, phải kĩ lưỡng, phải chu đáo, phải nhỏ nhiệm, phải sâu sắc. Tầm nhìn của mình phải vượt ra ngoài những cái mình đang thấy, đang nghe, đang làm. Không phải chỉ thấy chuyện mình đang làm thôi, mà vượt qua cái đó nữa. Trong khi học pháp cũng vậy. Mình phải chí tâm, Đức Phật dùng từ chí tâm trong tu tập. Còn mình sử dụng chí tâm trong cầu pháp. Học giống như đói được ăn, khát được uống. Học giống như một chút nữa mình sẽ chết, mình không được nghe pháp. Mỗi một lời kinh mình đọc mình phải thấy huyết lệ của Đức Thế Tôn, mình tấy sương máu của các bậc thánh tăng trong lời kinh đó. Mình cầm cuốn kinh đó lên phải đội trên đầu, phải trân trọng, trân quý, trân kính. Mình phải nhìn ra được suốt ba ngàn năm của thánh giáo trong mỗi lời kinh. Tập cho mình có một cái thấy xuyên thấu như vậy. Tập cho mình có tâm cung kính, hiếm có, khó được, khó gặp, khó nghe, khó hiểu. Tập cho mình không biết mệt mỏi trong sự cầu pháp.
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế thường có những vị Tỷ-kheo giảng pháp suốt đêm, điều đó là thường lắm. Như Lai lúc đó bảy chục tuổi rồi, mỏi lưng rồi.
Sau khi ngủ một đêm dài con lên thấy mấy chú có người vẫn buồn ngủ khi học pháp, khi thiền. Sức của con một ngày giảng ba thời là được, một ngày hai thời là đều được. Mà con thấy người nghe, nghe không nổi.
Mình học pháp cũng giống như sinh viên đại học vậy đó. Một ngày phải lên lớp bốn tiếng. Con có kể cho mấy thầy nghe rồi, con học tám tiếng liên tục mười năm mà. Còn bây giờ mấy thầy học bốn tiếng có nhằm nhò gì đâu. Phải học không biết mệt mỏi, không biết đầu đủ, không biết nhàm chán trong chánh pháp, thì người đó mới có cơ hội đi đến pháp tánh, thâm nhập được thánh tri kiến.
Còn thấy đầy đủ rồi, nhàm chán học pháp thì người đó không thâm nhập thánh tri kiến được.
Những lúc bậc thiện tri thức chia sẽ pháp cho con, nói mà con giật mình hết trơn, chấn động hết trơn. Hỏi con cái này thầy nghe rồi phải không? Con nói nghe rồi. Rồi nói con nghe thêm một ngàn lần nữa. Con mới rúng động, khai ngộ. Nói con rằng: Cho dù thầy nghe một ngàn lần nữa mà cũng giống như lúc mới nghe thì thầy mới thành tựu pháp. Thì cái đó quá trúng ý con, con rúng động hết.
Kẻ phàm phu thì nghe hai ba lần là nói biết rồi, có gì đâu phải nghe nữa. Mình nghe một ngàn lần mà mình có thấy được vô thường chưa, chứng đắc được vô thường chưa? Chừng nào mình chứng đắc được vô thường thì đừng nghe. Giờ nhìn thấy bất tịnh không? Chưa nhìn thấy. Nghe thêm một triệu lần bất tịnh nữa, chừng nào thấy bất tịnh thì khi đó không nghe. Chừng nào nhìn vô thân xác thấy bất tịnh hết thì lúc đó không nghe.
Có một sự việc mà con nhớ hoài không quên. Mỗi lần thầy cho bài kiểm tra bài từ Hán. Thầy vô dặn từ chút, từ chút, làm xong là ngồi yên đó không đi xuống đi lên gì hết. Bài thì đưa cho người đầu bàn. Thầy chỉ đi vô giữa đưa hai tay ra lấy bài. Thì có mấy người nói: Thầy ơi cái này con biết rồi, thầy nói rồi, học tới năm thứ tư rồi mà lần nào kiểm tra thầy cũng nói. Thầy mới nói: Dạ. đúng rồi thưa mấy chú. Mấy chú biết rồi, con cũng nói nhiều lần rồi mà làm chưa được, cho nên giờ con nói lại. Chừng nào làm được thì lúc đó con không nói.
Con nghe câu này là quát nhiên đại ngộ. Mình đã chứng nhập thánh trí vô thường chưa? Mình chứng nhập được thánh trí vô ngã chưa? Mình có chứng nhập được cái khổ chưa? Giờ mình nói tứ thánh đế mình biết rồi là khổ tập diệt đạo. Nói như vậy vĩnh kiếp là phàm phu.
Hằng mình nghe cái khổ vậy đó, hằng ngày mình nghe cái sân ác độc vậy đó, hằng ngày mình nghe cái sân vô mình vậy đó. Mà tới chừng có chuyện thì mình cũng nổi bản ngã ình ình lên vậy. Mình nghe mỗi ngày mà như vậy?
Ăn có đủ không? Có khi nào nói tôi ăn ba chục năm rồi, giờ tôi không ăn nữa không? Tại sao nghe pháp mà nói đủ rồi, giờ tôi không nghe? Đó là cái vô minh của mình.
Còn ăn là con nghe pháp, còn ăn là còn ngồi thiền, còn ăn là còn tu. Mình ăn cái này là đàn na tính thí, mình thiếu nợ người ta nè. Không chịu ráng lo học, không chịu ráng lo tu. Mình toàn lo những suy nghĩ phi như lý tác ý, suy nghĩ theo phàm phu vô mình không thôi.
Người ta nữa vòng trái đất về đây nghe pháp, thậm chí người ta khóc nước mắt tràn trụa rồi quỳ lạy. Mình ở kế bên mà không thèm nghe, xem thường. Tức là mình tự huỷ bỏ cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội thể nhập thánh tri kiến.
Thấy có một buổi hai buổi như vậy, nhưng tích tập lâu ngày.
Tích tập mà, tích tập vô thường tưởng, tích tập nguy hại tưởng, tích tập bất tịnh tưởng, tích tập li tham, thích tập đoạn diệt tưởng.
Có ai đi ra làm mấy bữa thành triệu phú không? Mỗi ngày họ phải cất một chút, cất một chút rồi từ từ mới nhiều lên. Thì tu học cũng như vậy, mỗi ngày nghe một chút tích tập thực hành.
Cho nên cái nghe pháp là không được cho là đầy đủ, Cho nên mới gọi mình là đa văn thánh đệ tử. Đệ tử của bậc thánh là bậc nghe rất là nhiều. Nghe cái gì nhiều? Nghe thánh pháp, nghe chánh pháp. Nghe thật là nhiều.
Cô Toàn là nghe thủng cái màng nhĩ, nghe điếc cãi lỗ tai.
Mình phải lấy tấm gương đó, gương sống ở trước mắt mình. Cô không phải được rảnh để ngồi nghe mà vừa đi làm vừa nghe. Cho nên mình phát tâm cung kính, tôn trọng cô. Cô là người khó gặp.
Một vạn kiếp sau chưa chắc mình được nghe cái pháp này nữa. Pháp này sắp diệt rồi, mai mốt không còn ai biết về pháp này nữa. Thành ra đó là cái thứ hai con nói là trong tinh thần học.
Mình phải tha thiết học hỏi. Không phải chỉ quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Mà nếu vị ấy học hỏi mới là đệ tử tối tượng, Tỷ-kheo tối thượng của ta. Đức Phật nói như vậy.
Con thưa với đại chúng là: con học pháp mà con cầm điện thoại con học từ xa. Học ba tiếng mà tay con tê cứng như vậy. Con cầm điện thoại không dám nhúc nhích, không dám bước ra chỗ khác. Vì trên rừng, bước ra chỗ khác là nó mất sóng. Mỗi ngày xã thiền ra là con hướng về bậc thiện tri thức con quỳ con lạy. Mỗi ngày là vậy đó. Chứ không phải con xem cái pháp này bình thường mà tiếp nhận được cái pháp. Thậm chí phải dám hi sinh cả thân mạng để cầu thánh pháp này, phải có một thái độ tu học như vậy. Chứ không phải dễ mà đắc pháp.
Một người xem thường pháp, không cung kính pháp, không tha thiết đối với pháp, không để tâm ở trong pháp thì làm sao người đó đắc được thánh pháp. Pháp này không phải pháp bình thường. Pháp này là pháp ngược đời, pháp li tham mà. Nó đảo lộn hết thế giới này, đi tới chỗ nhám chán, li tham, từ bỏ, chấm dứt. Thì sao mà dễ nghe, dễ hiểu, dễ thực hành.
Thánh pháp này có công năng phá tung quả địa cầu này. Mà trong khi vô minh, dục ái, khát ái của mình kinh khủng, khủng khiếp. Nếu với một cái tâm sơ xuất, cẩu thả, qua loa, hời hợt, thiển cận, cạn cợt, máy móc, hình thức, làm cho có thì không thể nào đi vào hướng dự lưu chứ đừng nói nhập lưu.
Bằng chúng là pháp này hai ngàn năm bị mai một. Tại sao vậy? Người ta chỉ muốn cái đơn giản, niệm một câu thôi, ngồi thở vô ra thôi. Hay là như lý tác ý cho khoẻ, học làm chi cho nhiều. Có những người khác ở đây bỏ đi rồi đó, kiếm thầy khác dạy Nikāya cho dễ, còn ở đây dạy khó quá. Không thiết tha, không cung kính, không tôn trọng, không có để cả tâm lòng vào pháp là văng ra liền, bát chánh đào thải.
Cho nên mình sẽ học tiếp chưng của ngài Ca-diếp là biết lo sợ. Không lo sợ, không hỗ thẹn, không có niềm tin thì người đó không đạt được pháp.
Họ lo sợ cái gì? Người xưa nói lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Đi trên băng mỏng xảy chân là lọt xuống, bước trên kiếm bén trợ chân là tan da nát thịt. Thì cái này cũng vậy, mình chỉ cần sơ xảy một chút thôi là mình văng ra khỏi dòng thánh pháp này. Mình trở lại phàm phu, phàm ngu, phàm mê, phàm tục, phàm dục, phàm ái, phàm tham, phàm sân, phàm si. Nếu mình không lo lắng, sợ hãi, mình không nỗ lực mình nhắp mắt một cái rồi là mình đi đâu? Mình chưa nhập lưu là hoàn toàn còn trong phạm trù nguy hiểm và tai hoạ.
Bây giờ con hỏi nè. Mấy ngàn người chết vì dịch đó, giờ mấy người đó đi đâu? Mấy người đó đang ở đâu?
Cho nên con nói thiệt sự. Bản thân cuộc đời con, giờ cho đến lúc nhắm mắt không còn cái gì mà có thể quan trọng hơn pháp nữa hết. Tuyên bố một câu vang dội giữa đất trời này là: không có cái gì quan trọng hơn thánh pháp này nữa hết.
Cha mẹ rồi cũng vô thường, anh chị em rồi cũng vô thường, đệ tử rồi cũng vô thường. Chùa chiềng, đất trời này rồi cũng tan vỡ hết. Mà chỉ có pháp mới cứu mình, mới cứu được người thân của mình. Cho nên mình thương người thân là đưa cái pháp này cho họ. Đó là cứu độ.
Mình thương mình là mình bám chặt cái pháp này, mình cầu cái pháp này, mình kính cái pháp này, mình tôn trọng cái pháp này. Mình tha thiết bằng tất cả tấm lòng của mình với cái pháp này. Đó là mình thương mình, mình cứu mình.
Chính vì vậy mà con rất là quan trọng đối với cái pháp. Với một thái độ như vậy, thì mình có khả năng tiếp nhận và thể nhập được thánh tri kiến. Chắc chắn một trăm phần trăm.
Nghe bằng tâm cung kính, nghe bằng tâm khát ngưỡng, nghe bằng tâm tôn trọng. Nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như chút xíu nữa mình không được nghe, đây là lần nghe cuối cùng. Mồi lần nghe pháp phải tác ý như vậy.
Thành ra mình phải cố gắng. Ngoài cái pháp này ra những âm thanh khác không có gì đang nghe hết, đều có thể bỏ qua được. Nhưng đối với cái pháp này là cái đáng nghe nhất trong kiếp người của mình. Ngoài cái pháp này ra không có gì đáng nghe hết, nghe mấy cái khác tham sân si, phiền não không thôi. Nghe cái khác biết nhiều càng thêm sân si, bản ngã thôi. Chỉ có biết pháp này mới diệt tận được vô minh, mới phá được lậu quặc, mới làm khô kiệt được khát ái. Tuyệt vời như vậy tại sao mình không chịu nghe, không chịu học. Tại sao mình không chịu nỗ lực, không chịu để tâm, không chịu quyết lòng, không chịu hi sinh, không chịu dấn thân.
Đó là con nói về tinh thần học.