Mười Cách Quán Tưởng Trị Bệnh 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
MƯỜI CÁCH QUÁN TƯỞNG TRỊ BỆNH 1
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của mùa An cư kiết hạ: PAGEREF _Toc53989878 \h 1
II. Quán xét bản thân: PAGEREF _Toc53989879 \h 3
III. Quán chiếu tưởng: PAGEREF _Toc53989880 \h 5
IV. Mười tưởng trị bệnh: PAGEREF _Toc53989881 \h 10
1. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc53989882 \h 11
2. Tưởng vô ngã: PAGEREF _Toc53989883 \h 12
3. Tưởng bất tịnh: PAGEREF _Toc53989884 \h 16
4. Tưởng nguy hại: PAGEREF _Toc53989885 \h 17
I. Tầm quan trọng của mùa An cư kiết hạ:
Kính thưa đại chúng, vừa rồi nước ta có diễn ra Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc gồm 113 quốc gia trở về Việt Nam ở chùa Tam Chúc Hà Nam, là lễ Phật đản, kỷ niệm ngày đản sanh của Đức Phật, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn. Buổi lễ này đạt được nhiều kỷ lục chưa từng có trên thế giới, vượt hơn cả những các nước quốc giáo như Thái Lan, Campuchia hay là các nước khác, số lượng các quốc gia tham dự đông nhất, người lên tới bốn năm chục ngàn người, rất nhiều kỷ lục. Đó là một niềm vinh hạnh rất lớn cho nước nhà cũng như cho Phật giáo Việt Nam chúng ta. Đất nước chúng ta không lớn, không phải là quốc giáo nhưng mà tổ chức một cái lễ hội kỷ niệm Phật đản sanh quy mô, tầm cỡ, vượt bậc với ngôi chùa 5.000 héc ta, mẫu. Đó là điểm thứ nhất chúng ta vui, hoan hỷ trong mùa lễ Phật đản năm nay.
Điểm thứ hai, chúng ta đã chính thức bước vào mùa an cư kiết hạ, Phật lịch năm 2563, Dương lịch năm 2019 . Kể từ ngày hôm qua, chúng ta đã vào mùa An cư kiết hạ và khi chúng ta vào mùa An cư kiết hạ, đây là thời điểm hết sức quan trọng đối với người xuất gia, cũng như người cư sĩ về đây tu học. Đặc biệt, mùa hạ năm nay là mùa hạ hạnh phúc nhất cuộc đời tu của riêng bản thân Minh Thành cũng như của đại chúng ở đây, chúng ta đã tìm được Chánh Pháp tối thượng của Đức Phật. Sau 30 năm gian khổ, tầm cầu, khắp đó đây du giang hải, thiệp sơn xuyên, tầm sư phỏng đạo, vị tham thiền - vượt sông núi, băng ngàn, tìm hỏi đạo suốt 30 năm và cuối cùng đã tìm được Chánh pháp tối thượng trong Tạng kinh Nikaya. Có thể nói đây là mùa An cư hạnh phúc nhất trong cuộc đời tu Minh Thành, và chính vì cái hạnh phúc cái vui đó không dừng lại mà mùa An cư này là một mùa An cư hết sức quan trọng đối với đại chúng chúng ta, chúng ta tìm ra được Chánh Pháp không phải tới đó là xong, chúng ta cần phải biết trân trọng, cung kính, nỗ lực, dốc hết sức mình. Bằng tất cả tấm lòng, trái tim nhiệt thành của một người cầu đạo, học đạo và hành đạo, để trong mùa an cư này chúng ta phải thành tựu, cái gì cần thành tựu, chính vì vậy trong mùa an cư này 90 ngày này, ngày nào cũng là khóa tu hết.
Trong suốt 90 ngày, chứ không phải đợi lúc nào mở khóa tu lúc đó mới là khóa tu. Thầy mong là đại chúng từ xuất gia đến cư sĩ, công quả, tập sự, tất cả những người về đây hãy trân trọng trân quý thời gian linh thiêng này, chúng ta còn được bao nhiêu thời gian nữa trong cuộc đời của mình, cho nên từ giây phút này, thầy mong là tất cả đại chúng đừng có lơ là, lãng quên, đừng thả lỏng các căn, buông lung phóng dật.
Có một bài kinh An cư Kiết hạ, Đức Phật nói trong mùa An cư đó có rất nhiều những vị chứng từ Sơ quả cho đến Tứ Thánh quả trong một mùa An cư, cho nên sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, nhiếp tâm, chánh niệm; biết sợ hãi, hổ thẹn, phòng hộ các căn, phòng hộ tâm. Nỗ lực thì có thể trong mùa An cư này sẽ có thành tựu lớn trong kiếp sống này, một giờ phút trôi qua, mỗi giờ phút trôi qua, mỗi ngày trôi qua,mỗi tuần trôi qua, mỗi tháng trôi qua, mỗi năm trôi qua và hàng chục nhiều chục năm đã trôi qua, và chúng ta đã làm được gì cho đời sống của chính mình.
Nếu mình không nắm bắt cơ hội hiếm có, hi hữu khó gặp này thì kiếp sống này của mình là lãng phí, trống rỗng, nếu ta không biết trân trọng giây phút, khoảnh khắc này. Cái sự tu không phải là ba năm, năm năm, mười năm, không phải ngày mai, tuần sau, tháng tới, mà sự tu là ngay khoảnh khắc bây giờ phải nắm bắt, cái sát na hiện tại, khoảnh khắc này, đừng lãng quên, đừng cho nó quên sau này hối hận. Sau này khi nằm trên giường bệnh hấp hối, lúc đó hối hận khi mạng chung sắp chết mình hối hận không kịp, muộn màng. Cho nên hết sức để tâm vào ba điều, tăng thượng, giới đức làm cho tâm mình thêm lớn lên trong sự tu tập và làm cho trí huệ mình phát triển.
II. Quán xét bản thân:
Hãy để ý giới hạnh của mình, làm sao mà mình phải luôn luôn dòm ngó, dò xét. Chính mình dò xét mình như lời nói, cử chỉ hành động, suy nghĩ có hiền thiện, thanh cao, rộng mở, đức hạnh không. Đó là dò xét, để ý tăng thượng giới học, những học pháp, giới mình đã thọ, mình để tâm đọc tụng chiêm nghiệm đem ra thực dụng, mỗi một ngày một ít, mỗi tuần một ít, làm tăng trưởng giới học. Chứ không cho phép mình sống đời sống lơ thơ, lững thững, lờ đờ, mờ mờ. sống vất vơ vất vưởng không có mục tiêu lý tưởng, không chỗ hướng tới. Năm tháng tóc càng ngày càng bạc, cơ thể ngày càng suy yếu mà trí huệ không tăng trưởng. Thì uổng, phải làm cho giới hạnh, thiền định, trí huệ của mình lớn mạnh, để tâm vào ba điều đó, để tâm, để ý, cả tấm lòng của mình vào trong những điều đó. Tại sao? Là thời khắc không còn bao nhiêu nữa hết. Chính như bản thân Minh Thành thật sự không biết mình sống được bao lâu, cho nên đối với những người lớn tuổi phải để tâm, để tâm thật nhiều vào nết hạnh, cử chỉ, lời nói của mình, để tâm những suy nghĩ, chiều hướng suy nghĩ trong nội tâm.
Hay lắm, điều chỉnh chiều hướng của tư tưởng, không có cho nó đi vào trong quỹ đạo của tiêu cực, bất thiện pháp, ác pháp. Tưới tẩm, chăm sóc làm cho nó tăng trưởng lớn mạnh trong thiền pháp, công đức trong thiền định ở trong trí huệ, không cho nó được thả lỏng, được tự do mà phải bắt nó vào pháp, vào luật, vào khuôn khổ, nề nếp, vào chuẩn vào tắc, đó là mình đang tăng thượng giới học; còn mình sống không để tâm gì hết, kệ nó, muốn nói gì nói, làm gì làm thì người đó là người hạ liệt ở trong giáo pháp của Như Lai. Người đó không để tâm, không tu Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, không nỗ lực để diệt tận các ác bất thiện pháp, không phát huy thiện pháp, không tăng trưởng thiện pháp. Một người như vậy là một đời sống vô tích sự, vô nghĩa, khi người đó ra đi ôm ác nghiệp, bất thiện pháp, để mà ra đi ở trong một trạng thái mà Đức Thế Tôn gọi là bất tựu, không tốt lành.
Cho nên mình phải biết lo lắng và sợ hãi nhất là những người lớn tuổi, càng lớn tuổi là phải biết lo lắng sợ hãi nhiều hơn. Mình không biết lo lắng, sợ hãi là xong rồi. Mình đi đâu, hoàn toàn không biết gì hết. Phải lo lắng và sợ hãi. Hãy nghĩ rằng mình không còn bao lâu thời gian nữa. Hôm qua hòa thượng chín mươi ba tuổi, Minh Thành được hầu chuyện với hòa thượng, hòa thượng nói chắc năm sau tui đi quá Minh Thành ơi. Minh Thành nói: Dạ bạch hòa thượng, mình đâu biết được hòa thương ơi, giờ khó tính từng năm lắm. tuổi này phải tính sát sao hơn nữa. Chín mươi mấy tuổi sao tính từng năm, khó tính từng tháng, khó tính mỗi tuần và có thể tính từng ngày, từng giờ. Thành ra, hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh hết sức quan trọng, chúng ta đã học nhiều về quán chiếu sắc và thọ. Hôm nay chúng ta học quán chiếu về tưởng.
III. Quán chiếu tưởng:
Có nhiều người tu nghĩ rằng ngồi thiền là đừng cho nghĩ tưởng gì hết, không phải, không đúng lời Đức Phật dạy, mà dùng cái tưởng của trí huệ, của sự thật, của chân lý, của thánh trí để phá những dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, vô minh tưởng, bất thiện pháp, ác pháp tưởng. Cho nên chúng ta nếu mà không khéo thì mình sẽ chết với những tư tưởng của mình. Đức Phật trong bài kinh Phạm Thiên trú ở Tăng Chi Bộ kinh Tập 4.
Này các Tỷ-kheo, con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo và được hiện hữu về sau".
Ở đây, câu quan trọng muốn nhấn mạnh là con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Câu nói có ý nghĩa là mình chết do những tư tưởng của chính mình, chính tư tưởng của mình giết mình chết, những tưởng trong nội tâm giết mình chết.
Ví dụ mình đang ngồi nghe pháp ở đây, mình thấy ngồi khó chịu, không được nhúc nhích, cục cựa, nói chuyện. Phải chi thôi ngồi chút xíu mình đi ra, ra ngoài pha nước đá chanh, cà phê sữa hay gì đó mình uống, cái tưởng đó giết mình chết, tới giờ ngồi thiền cái tưởng mình đi ra nằm, cái tưởng giết mình chết. Tới giờ mình đi ra làm công tác, mình nói mệt quá à bữa nay nghỉ đi, tưởng nó giết mình chết. Khi mình nghe pháp thâm sâu đánh thẳng vào bản chất của thân thể này thì lúc đó mình hoảng sợ, tu chi mà mạnh dữ vậy nè tu vừa vừa thôi, cái tư tưởng đó giết mình chết, cái hành và cái tưởng đó.
Lên chùa mình tu mình tưởng lẹ lẹ về nhà, xin thầy về, rồi cái tưởng nó hiện lên về tới nhà cái cảm giác đã làm sao nó nhảy lên võng, bắt tivi lên, ăn uống mấy cái món mà hổm rày thiếu, đi theo mấy cái tưởng đó giết mình chết.
Phải cẩn thận đối với các tưởng trong nội tâm của mình, cái tưởng nào là thiện pháp phải cho nó sinh trưởng phát triển, và tưởng nào là bất thiện pháp mình phải trừ diệt, đánh đuổi nó ra. Mình học về sắc thọ rồi, hôm nay chúng ta sẽ nói về tưởng, Đức Phật dạy mười pháp quán tưởng.
Nó tưởng theo chiều tham, ái, dục, chiều buông lung, làm biếng làm nhác, tưởng ăn tưởng ngủ tưởng chơi, cái tưởng không cho mình tu. Không cho phòng hộ các căn, hộ trì tâm, nó không cho mình ngồi yên, là mình sẽ chết với cái tưởng đó. Khi mình nhắm mắt những cái tưởng đó sẽ lôi đầu mình đi.
Bây giờ, mình không tập nhận ra, nhìn ra, kiểm soát và làm chủ nó, nhiếp phục nó thì khi mình chết chính những cái tưởng đó nó sẽ lôi kéo mình đi, mình đâu có biết nó, đâu có nhận rõ, đâu có nhiếp phục nó, mình đâu có làm chủ nó thì nó sẽ làm chủ mình. Nó sai khiến, áp đảo mình, quật ngã mình. chính những cái tưởng trong nội tâm. Nếu mình không trừng trị nó, không huấn luyện dạy dỗ giáo dục, không kiểm soát nó, cho nó qua mặt mình không chịu nhìn, nhìn kỹ mặt của nó, không coi những đặc tính tính chất của những tưởng là gì ở trong đó, là những sự yêu thích những cái êm ái, dễ chịu. Thúc dục mình đi theo những cái phàm tình thế gian, phàm tục phàm phu.
Trong ái, trong cái tưởng có ái, dục, tham, có bản ngã, cái tôi trong đó. Không nhìn ra, không khám phá, không huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục thì chính cái tưởng đó giết mình, giết thiện tháp. Lôi kéo mình không cho tu, học, làm công quả, nó kêu mình làm biếng đi, nghỉ ngơi. Mình phải nhìn ra, phát giác, phát hiện ra, đánh đuổi nó.
Cho nên trong bài kinh Niết Bàn, Tăng Chi bộ kinh tập 2.
“ Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất). Sau khi đến … ngồi xuống một bên. Tôn giả Ànanda nói với Tôn giả Sàriputta: - Do nhân gì, thưa Hiền giả Sàriputta, do duyên gì ở đây, một số chúng sanh ngay trong hiện tại không có chứng nhập Niết-bàn?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda, chúng sanh không như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thối đọa", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào an trú", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thù thắng", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thể nhập". Này Hiền giả Ànanda, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại, không chứng nhập Niết-bàn.
Như vậy câu này ý nói là chúng sanh không có như thật, quán sát một cách đúng sự thật để biết được rằng các tưởng này dự phần vào thối đọa, nãy giờ mình nói là tưởng dự phần vào thối đọa. Cái tưởng mà mình không còn biết thì làm sao biết cái tưởng nào là tưởng thối đọa, cho nên tại sao mình phải tập nhận diện năm uẩn; không nhận diện năm uẩn làm sao biết đó là tưởng. Cuối cùng mình nhập cuộc, đi theo nó luôn.
Cho nên mình phải nhận diện năm uẩn và thấy được những hình bóng trong nội tâm đó là tưởng uẩn. Tưởng, mi là ảo tưởng, mi là vọng tưởng, mi là những tưởng giả dối, ta không nghe theo mi, không làm theo mi, không di theo mi. Như vậy, mình có một trí huệ để biết đúng sự thật rằng tưởng này dự phần vào thối đọa tức là đưa mình lùi lại và rơi xuống. Những cái tưởng này, hình bóng trong nội tâm đưa mình rơi xuống vực sâu. Những hình bóng kêu mình ăn đi, ngủ đi, chơi đi, đừng tu. Chạy đi tìm dục lạc đi, đi kiếm, bấm điện thoại lên mở lên, lên youtube, trang web kiếm. Đó là các tưởng đưa mình rơi xuống vực sâu.
Phải biết những tưởng đó để phát giác, phát hiện ra, điểm mặt chỉ mặt nó, gặp mặt nó, đấm vào mặt nó. Chính ngươi đưa ta xuống vực, âm trì địa ngục, chỗ âm u tối tăm thống khổ, ác thú, đọa sứ , khổ cảnh là chính những cái tưởng đó, phải nhìn cho ra, không chấp nhận, đánh đuổi, trừ diệt, đoạn tận nó.
Bây giờ, do không có như thật quán tri, không biết được sự thật là các tưởng này dự phần vào an trú, thù thắng và thể nhập, tưởng nào là tưởng dự phần vào an trú. Ở đây, mình chỉ nói phương diện gọn ở trong đời sống tu tập, chứ cái này rộng lớn lắm, Thánh trí về tưởng uẩn không phải chuyện bình thường.
Tưởng nào là tưởng dự phần vào an trú vào trong pháp, mình phải biết. Ví dụ cái tưởng hiện ra bộ xương, cảnh khổ chết v.v. vô thường. Những cái tưởng đó giúp an trú tâm mình không chạy đi tìm dục nữa, an trú trong cái pháp; tưởng trong cảnh khổ, cảnh vô thường, đau bệnh, chết chóc. Những tưởng đó làm tâm mình an trú, dự vào phần thù thắng và đưa mình vào sự thể nhập cảnh giới bất tử, những tưởng đó mà mình đang thực tập.
Cho nên là Cửu Tưởng, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi, hoặc là cốt tưởng, quán tưởng về bộ xương, là những tưởng làm tâm mình an trú, làm cho nó dự vào thù thắng, đẹp đẽ, tốt đẹp và làm cho mình thể nhập đi vào được cảnh giới bất tử của Thánh Trí, mình phải biết và phát huy những tưởng đó lên. Đánh gục, đánh đuổi những tưởng thối đọa, dự phần vào thối đọa, đánh đuổi những tưởng đưa mình xuống vực sâu, không chấp nhận.
Những tưởng nào giúp tâm mình an trú, thân mình an trú để cho mình thấy biết được sự thật của cuộc đời này, để cho mình thể nhập cái tâm hoàn toàn thanh tịnh, lìa tham sân si, thì đó là những tưởng giúp mình đi đến Niết bàn.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại có chứng nhập Niết-bàn?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda, chúng sanh như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thối đọa", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào an trú", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thù thắng", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thể nhập". Do nhân này, do duyên này, này Hiền giả Ànanda, ở đây có các chúng sanh ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn.
Ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn, chứ không phải ở xa, cho nên người nào cứ giữ hoài một hình ảnh giòi ăn như vậy, bộ xương như vậy, cửu tưởng như vậy thì sớm muộn người đó cũng chứng nhập Niết-bàn. Đó là tưởng an trú, thù thắng, thể nhập. Đánh tan sự dục tham, tầm cầu, đam mê, đuổi tìm sẽ dừng lại, tâm sẽ được an trú. Mình tưởng từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng tâm mình được an trú, trở thành tâm thù thắng, tâm thể nhập trong vô lượng, vô biên, vô tận. Còn tâm bình thường là một tâm rất nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nếu không tu tập thì cái tâm nhỏ lắm. Vì miếng ăn chút xíu thôi cũng có chuyện, dòm nhau chút thôi cũng có chuyện, một câu nói thôi là cũng có chuyện à, chuyện không phải chuyện thường mà ở ngoài tới chuyện hình sự luôn. Đó là một cái tâm rất là nhỏ hẹp không tu tập, không huấn luyện.
Cho nên người tu là cái tâm là vô lượng, vô biên, không hận không sân, biến mạng một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, trên dưới bề dọc bề ngang, cùng khắp vô biên qua tam giới, đó là tu tập tưởng vô lượng, thọ vô lượng, thức vô lượng.
Phải tu tập, huấn luyện tâm như vậy, làm tâm cho nó vô lượng; khi mà tu tập tâm vô lượng thì tâm nhỏ đó bị phá vỡ. Tối ngày cứ để ý chuyện nhỏ nhặt rồi buồn, giận hờn, ganh tỵ. Đó là một cái tâm nhỏ hẹp nhỏ mọn, nhỏ bé, cái tâm đó làm sao đi vào Thánh Pháp được, Thánh Pháp lớn lao vô biên. Giữ cái tâm nhỏ hẹp đó thì không đi vào được, và cánh cửa đóng lại. Cánh cửa bất tử đóng lại, tâm nhỏ hẹp làm sao mà tương ưng được.
Cho nên người mà nói là giận người này, buồn người này, bực người kia, ghét người nọ, đủ thứ chuyện hết, ngồi từ trên chánh điện xuống nhà bếp là chuyện nào cũng bực bội hết, khó chịu hết. Vô bếp là khó chịu bếp, lên chùa là khó chịu chùa, vô phòng phim là khó chịu phòng phim, gặp người tu lâu cũng khó chịu, gặp người mới tu cũng khó chịu gặp người mới vô chùa cũng thấy khó chịu, cái người này thôi.
Nếu không tu tập tâm thì đọa, đọa vào những thân rất nhỏ bé trùng kiến, sâu bọ, rệp, sán lãi, ruồi muỗi ghê gớm lắm, cái tâm nhỏ hẹp, tham lam ích kỷ sân si đố kỵ, tật đố, nhân ngã; thì sẽ đi vào những thân, nếu mà hung hăng sân hận sẽ vô loài rắn độc, chưa nói là địa ngục còn nặng hơn. Cho nên mình phải biết được cái tưởng nào là đưa xuống vực thẳm, cái tưởng nào là đưa mình thể nhập. Phải biết được điều đó thì mình mới đến được Niết-bàn.
IV. Mười tưởng trị bệnh:
Chính thức mình đi vào mười tưởng, bài kinh này là bài kinh trị bệnh rất tuyệt diệu, bài kinh này để trị bệnh cho những người có bệnh. Ở đây, ai có bệnh phải học kỹ bài kinh này để trị bệnh. Nó không giống như thuốc bình thường, thuốc bình thường trị bớt bớt hoặc hết rồi vài bữa bệnh lại, còn thuốc này trị rồi vĩnh viễn hết bệnh luôn, bất tử.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Girimànanda bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Tôn giả Girimànanda, bạch Thế Tôn, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, nếu Thế Tôn đi đến Tôn giả Girimànanda, vì lòng từ mẫn.
- Này Ananda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng, thời sự kiện này có thể xảy ra: Tỷ-kheo Girimànanda sau khi được nghe mười tưởng, bệnh của vị ấy có thể được thuyên giảm ngay lập tức!”
Hồi giờ mình chưa nghe cái này, Đức Phật dùng pháp để trị bệnh, thầy chỉ cần tới đọc mười tưởng này thì Đức Phật nói có thể xảy ra vị tỷ-kheo sau khi nghe 10 tưởng này thì bệnh của vị đó có thể thuyên giảm ngay lập tức, mà xin thưa 10 tưởng này Minh Thành thường thực hành lắm, cho nên là nhiều người hỏi sao thầy khỏe vậy, nhờ mười tưởng này, chưa thực tập hết mười tưởng chỉ vài tưởng trong đây thôi nhưng có thể vượt qua cơn bệnh, bệnh ít thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành không bệnh, mà bệnh nhiều thành bệnh nhẹ.
Mười tưởng là gì, tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, tưởng đoạn tận, tưởng từ bỏ, tưởng đoạn diệt – chấm dứt, tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới, và tưởng vô thường trong tất cả các hành, tưởng niệm hơi thở vô hơi thở ra.
1. Tưởng vô thường:
Thế nào là tưởng vô thường, học kỹ mười pháp quán tưởng này là bảo bối, khi mình bệnh chỉ cần đem cái tưởng này thực hành là sẽ giảm bệnh, thậm chí thân bệnh cái tâm không bệnh.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường.” Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thủ uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường.
Bây giờ, Pháp An, Bà Diệu Hiền, Út Sáu, Thiếm Một... học thuộc câu, niệm lên “Sắc là vô thường, cảm thọ là vô thường, các tưởng hình bóng trong nội tâm là vô thường, những suy nghĩ hành uẩn là vô thường, nhận thức rõ biết là vô thường”. Đó là tưởng vô thường, 5 uẩn, học thuộc câu đó. Sắc thân này và mọi thứ là vô thường, những cảm giác này là vô thường, những hình bóng nội tâm là vô thường, khi nhớ con nhớ cháu thì niệm câu đó lên, khi muộn phiền phiền não niệm câu đó lên, khi giận ai niệm câu đó lên để quán chiếu; những suy nghĩ này là vô thường, rồi biến đổi, không có như vậy hoài, niệm lên rồi quán chiếu. Như vậy là thuốc trị bệnh đó, thuốc này đi đến bất diệt bất tử. Giận ai, buồn ai, bực ai tức ai, tham muốn, bản ngã cái gì thì niệm lên. Khi mà nó mạnh quá niệm lớn lên luôn, đọc lớn lên ra tiếng luôn.
Xác thân này là vô thường, cảm giác này là vô thường, trống rỗng. Suy nghĩ, tưởng, những nhận thức rõ biết này là vô thường, trống rỗng, thay đổi, có gì đâu. Buông xuống, bỏ đi, quăng nó đi, chấp thủ bám chắc vô làm chi cho nó khổ, buông xuống, hết bệnh, bớt bệnh, hết bệnh.
Cho nên tự nhiên mình nghe cuộc điện thoại là mình mệt lên, điện thoại nghe chửi mắng, có chuyện gì là mình mệt lên. Đọc cái này lên coi cái cảm giác này, đọc lên quán chiếu thì tự nhiên giảm bệnh. Tại vì bệnh ảnh hưởng từ trong ngũ uẩn ra mà, không thấy không biết ngũ uẩn. Mình thấy biết bản chất tự nhiên cảm giác lắng dịu xuống, cái tưởng lắng xuống, suy nghĩ an tịnh từ từ xuống, thức an tịnh. Như vậy là giảm bớt bệnh ngay lập tức. Cái này học dễ không bà Diệu Hiền, thuộc câu này dễ không? Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Trống rỗng, không có gì là thật. Cứ niệm câu này lên, đọc câu này còn hơn niệm Phật nữa đó, cái này là mẹ của Phật, Phật chứng ngộ cái này thành Phật, mà mình niệm cái này là cha, mẹ, thầy của Phật, đọc lên là mình phải quán tưởng nhìn thấy, cái sắc này vô thường.
Những cảm giác này đổi thay hoài, bữa nay đâu có sao tự nhiên giờ giận vậy, không có sao tự nhiên giờ buồn vậy, nãy không có sao giờ tự nhiên nhớ cháu ngoại muốn đi về, phải không. ờ đúng, niệm lên liền. Vô thường, những hình bóng cháu ngoại hiện lên trong tâm là vô thường, tưởng này vô thường, thân này vô thường, suy nghĩ vô thường, trống rỗng. Khi cái ý muốn đi về nhà cũng vô thường, suy nghĩ mai mốt được đi về, nó vô thường. Suy nghĩ là vô thường, những hình bóng hiện lên làm gì dẹp qua một bên, tưởng này dẹp đi lúc nào về lúc đó tính, không suy nghĩ linh tinh lang tang. Bây giờ đang ở đây là trú tâm ngay ở đây, thực tại ngay đây.
Đó là trị bệnh, là diệu, thần dược, thánh dược, Phật dược, Pháp dược, vô thượng linh dược. Cho nên đọc cái này là vị Tỷ-kheo bớt bệnh ngay lập tức. Còn không là cứ nhớ đau rồi rên, không thấy sắc thấy mình thôi. Cho nên đây là phương pháp trị bệnh tuyệt diệu mà chính Đức Phật dạy. Phải thực tập khi mình thiền quán, ngồi thiền, làm việc bất cứ, khi mình học. Những cái gì khởi lên những tưởng bất thiện, ác tưởng, phi pháp tưởng. Đọc cái câu này lên, đánh tan nó.
2. Tưởng vô ngã:
Và này Ananda, thế nào là tưởng vô ngã?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Mắt là vô ngã...
Con mắt này không chắc chắn, không có gì là mắt thiệt hết, khi lọt mấy hạt cát vào là không thấy đường, nhậm, rồi ghèn, thậm chí là mù. Hay xảy ra tai nạn lọt tròng con mắt ra luôn. Con mắt là vô ngã, không có như vậy hoài.
Cho nên Martin bước vô là thầy nhìn thấy cái vô thường hiện ra, đợt trước nhìn giống như thiên thần, bữa nay lên mắt sưng chù vù sưng một cục vậy. hỏi sao vậy, không biết sao trời nắng quá. Con mắt là vô ngã, nó không giữ như vậy hoài; biết đâu bữa nào thầy chột, con mắt này làm từ những thứ vô thường, vô ngã mà làm sao nó có ngã được; đồ làm bằng đất sét làm sao cứng chắc được, thì con mắt này làm từ những thứ dễ vỡ, dễ tan, dễ hoại, dễ nát, dễ bại hoại, chính vì vậy nó không có lõi chắc, con mắt này là vô ngã. Đem tấm hình lúc mình hai mươi tuổi so với bây giờ, mình để cái kiếng nhìn hai con mắt, nó khác. Mắt vô ngã không giữ được sự long lanh, trong sáng khi còn trẻ, bây giờ phải mang mắt kiếng còn không thấy đường, nhìn loạng choạng, nhìn người này ra người kia, nhiều khi người thân đi tới mà hỏi ai vậy, không thấy. nó vô ngã, biến đổi.
Trong cuộc thi Tìm kiếm tài năng của Việt Nam, chú này bị mù lên hát bài “Cõng mẹ đi chơi”, mù lúc nhỏ xíu. Chú hát này mọi người xúc động khóc, chú nói là mong muốn sáng mắt được nhìn mẹ chút xíu thôi cũng được mà suốt đời không nhìn được khuôn mặt mẹ ra sao nhưng mẹ mất rất là sớm, đôi mắt này không có gì trong đây, trống rỗng, nó được các duyên kết hợp tạm, xài tạm thời gian tới lúc quá đát, hóa đá đục thủy tinh thể, ông Năm bà Năm, có người đi 1 lần 2 lần, quá đát, đừng có tin cậy vào con mắt này, đừng hy vọng, dựa vào con mắt này, con mắt này không có gì hết. Chú đi làm thợ mộc, đóng đinh sao mà văng vô con mắt, cây đinh dài lớn đâm vô, rút cây đinh ra là hết thấy đường.
...các sắc là vô ngã; tai là vô ngã, các tiếng là vô ngã; mũi là vô ngã, các hương là vô ngã; lưỡi là vô ngã, các vị là vô ngã; thân là vô ngã, xúc là vô ngã; ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.” Này Ananda, đây gọi là tưởng vô ngã.
Chẳng những con mắt này là vô ngã, không chắc chắn mà những sắc để nhìn thấy cũng là đồ vô ngã hết, tạm bợ hết; nhìn thấy đẹp khen rồi sống vài bữa chết rồi quăng, đốt cũng không được. Các sắc là vô ngã, thầy dặn đốt đèn bàn Phật nhớ có người không rồi thổi rớt xuống một cái rồi xong, đây thành một đống tro tàn, không còn gì ở đây hết mà có khi nó còn quay thêm mấy người nữa, nó không quay heo mà nó quay người. Có những căn nhà ở thành phố mình, ngủ xong 12 giờ đêm chết hết trơn 5,6 người; ngủ không hay chập điện cháy.
Như vậy, các sắc là vô ngã, trống rỗng. Mình nhìn tưởng đâu cái này chắc tốt lắm, bền lắm, còn quài, không có. Vài tiếng đồng hồ đây trở thành đống tro, rồi mấy người ở đây đựng bằng hũ hết. Không có gì hết, tất cả pháp là vô ngã, mà phải thường thường nhìn thấy như vậy, quán chiếu như vậy, quán tưởng như vậy, suy xét như vậy thì mới tháo gỡ được cái tâm tham ái luyến chấp; không phải nghĩ một lần, hai lần, mười lần mà phải nghĩ trăm lần, ngàn lần, vạn lần, trăm chục ngàn vạn lần, suy nghĩ quán tưởng như vậy luôn suy nghĩ như vậy, liên tục suy nghĩ như vậy. nó đưa mình đến giải thoát tất cả.
Tai cũng như vậy, tiếng cũng như vậy. Mình nghe tiếng bực mình quá, mình nghĩ lỗ tai này vô ngã, âm thanh này vô ngã trống rỗng; trước khi nghe cái tiếng mình có bực không, đâu có. Nếu ở Quán Chiếu Đường mình không có nghe có bực không, hay mình đang ngủ có người nói kế bên mình không nghe có bực không, không có. Cái lỗ tai, các tiếng, sự rõ biết các tiếng, cảm thọ khi nghe được tiếng đó, thọ do nhĩ xúc sanh đều là trống rỗng hết, vô ngã. Cho nên đây là chiến thuật tâm linh của Đức Phật, Thập Bát mình đồng La Hán Trận, nghĩa là Phật đánh không còn cái gì nữa hết, Thánh Trí chiếu hết, soi hết tất cả các ngõ ngách, làm cho vô minh không còn chỗ ẩn nấp, tận diệt, tàn diệt, ruồng tận hang ổ vô minh tham ái và chấp đối với năm uẩn, Thập nhị sứ, Thập bát giới; chỗ này là chỗ thể hiện sự kinh khiếp của Thánh trí; còn mà tu phớt phớt mà ngồi, hoa này vô thường quá hen, người kia tội nghiệp nay chết rồi.
Có chút xíu ở ngoài sắc uẩn sao mà đánh nổi, cái này tất cả mọi ngõ ngách: Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thinh hương vị xúc pháp. Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức, 18 giới đánh hết, các cảm giác đánh tan hết, đánh vậy vô minh còn một đống, tham ái chưa gỡ ra nổi. Nếu mà đánh nhẹ thì làm sao, cho nên mình tu được cái này, quán tưởng được cái này hay lắm, tuyệt vời lắm. Từ từ không phải một ngày bữa đâu, từ từ thấm nhập, từ từ thấm vô, dòng Pháp sẽ đưa người về phía trước. Thấm vô riết rồi mình thấy hết tất cả cuộc đời này mọi sự mọi vật nhẹ tênh, dùng Thánh Trí soi rọi, đừng nhìn bằng con mắt thường, phải dùng trí của Đức Phật, mượn cái trí của Đức Phật để mình soi, từ từ nó trở thành trí của mình, khi nó trở thành trí của mình thì khi đó mình nhập lưu rồi.
Đó gọi là Thể nhập Thánh Tri Kiến, cái thấy biết của Đức Phật, mình được thể nhập vào cái thấy biết đó, đó còn gọi là Chánh Tri Kiến, gọi là tri kiến của bậc thánh, gọi là pháp nhãn, tuệ nhãn, còn gọi là đắc pháp nhãn tịnh, còn nhiều danh từ điều chỉ về cái đó hết. Lúc đầu, còn trong kinh của Đức Phật, mình nghe hoài chiêm nghiệm hoài, quán tưởng, suy xét hoài rồi mình thâm nhập vô, đó là nhập lưu. Không còn ở ngoài nữa mà đó là cái thấy biết của chính mình. Như vậy, gọi là tuệ tri, tri kiến như thật, thể nhập Thánh Trí, Chánh Tri Kiến - thấy biết của bậc Thánh.
Cho nên không phải chuyện, thầy ơi hổm rày cái này nghe rồi bữa nay nghe nữa, nghe 100 lần, 1 ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm vạn lần, một tỷ lần, nghe đến khi nào chứng nhập tri kiến, tư duy hoài, quán tưởng hoài, quán chiếu hoài. Nó ngấm vào xương, vô da, vô thịt, vô xương tủy, trở thành cái thấy biết của chính mình, đó gọi là thánh thể nhập - sự thể nhập của bậc Thánh, thể nhập vào trí huệ của bậc Thánh. Đó là Thánh quả thứ nhất của Bát Chánh Đạo. Mới đi có bước một của Bát Chánh Đạo thôi đó, mà vô được cái này nó tuyệt diệu lắm, kì diệu, huyền diệu lắm, vi diệu lắm.
Bây giờ hương, đối với lỗ mũi hay các mùi hương, hay lưỡi, các vị cũng vậy, phải quán chiếu lỗ mũi, các mùi hương, lưỡi các vị khi ăn, phải để ý để tâm thật nhiều. Cũng như bữa đó, Minh Thành đang ăn ổ bánh mì, bánh mì Hoa Sen, Đà Lạt rất ngon, đang ăn ngon lành như vậy, cắn vô một cái chảy nước mắt, ớt xanh ở trong đó, ớt xanh tiệp với màu ngò mình không biết. Thường thường ớt đỏ cắn vô một cái nước mắt chảy ra, hả họng, mình thấy cái lưỡi, vị, cảm giác, cảm thọ là vô ngã, trống rỗng, vô thường biến đổi, mới hồi nãy ngon khoan khoái thích thú ăn, nhai lia nhai lịa, cắn cái trúng ớt rồi, vô ngã, trống rỗng. Rủi đang nhai trúng cây đinh dài một tấc trong ổ bánh mì, thì lúc đó sao thì mình thấy đỏ hoét trong miệng mình, thấy chưa?
Nhiều cái để cho mình quán, phải dùng những trường hợp như vậy để mình quán chiếu, để bớt cái đam mê thích thú trong cái ăn, tham ăn rồi đời sau đầu thai lại để ăn chứ mình không giải thoát được đâu.
Thân cũng vậy, ý cũng vậy, càng ngày càng sâu sắc, cái thân này vô ngã, sự xúc chạm vô ngã. Thấy mới đi đứng nói cười nhảy nhót, ca hát lên sân khấu bao nhiêu ánh đèn, bao nhiêu tràng vỗ tay, rồi xong xuống nằm đột quỵ chết mà còn trẻ không phải lớn tuổi, bốn mươi mấy tuổi thôi, thậm chí ba mươi mấy, hai mươi mấy, mười mấy tuổi cũng có; thậm chí năm bảy tuổi cũng có, vô nước biển xong ra chết luôn. Cái thân này vô ngã, không có gì chắc chắn trong này hết, mình quán như vậy gọi là quán tưởng về vô ngã. An trú vô tưởng này là giảm bệnh, bớt bệnh, hết bệnh. Bệnh gì cũng không còn quan trọng hết, bởi có thân thiệt nên bệnh chút mình lo lắng đủ thứ, thân này vô ngã, tự nhiên tâm mình buông nhẹ nhả ra bệnh theo đó, không để ý nhiều vô nữa mà thâm nhập vô trí huệ.
3. Tưởng bất tịnh:
Và này, Ananda thế nào là tưởng bất tịnh?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ananda, đây gọi là tưởng bất tịnh.
Ba mươi hai thể trược, nặng cái thân này quá, chấp cái thân này quá, mê cái thân này quá, ngồi quán từng cái, tóc lông móng da thịt , phổi ruột phân nước tiểu, mủ máu mồ hôi mỡ nước miếng, quán từng cái từng cái, tháo gỡ sự tham đắm, mê chấp, khốn khổ về hình hài này, trau chuốt, bám chắc quá nặng vào thân xác này. Dùng tưởng bất tịnh quán chiếu.
4. Tưởng nguy hại:
Đây là chỗ hết sức quan trọng cho các đối tượng ngồi đây, tưởng nguy hại.
Và này Ananda, thế nào là tưởng nguy hại?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Nhiều khổ là thân này, nhiều sự nguy hại. Như vậy trong thân này, nhiều loại bệnh khởi lên. Ví như bệnh đau mắt, bệnh đau về tai, bệnh đau mũi, bệnh đau lưỡi, bệnh đau thân, bệnh đau đầu, bệnh đau vành tai, bệnh đau miệng, bệnh đau răng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh đau bụng quặn, bệnh thổ tả, bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh ghẻ lở, bệnh ho lao, bệnh trúng gió, bệnh da, bệnh ngứa, bệnh da đóng vảy, bệnh hắc lào lang ben, bệnh ghẻ, bệnh huyết đảm (mật trong máu), bệnh đái đường, bệnh trĩ, bệnh mụt nhọt, bệnh ung nhọt ung loét, các bệnh khởi lên do mật, bệnh khởi lên từ đàm, niêm dịch, các bệnh khởi lên từ gió; bệnh do hòa hợp các thể dịch sinh ra; các bệnh do thời tiết sinh ra, các bệnh do làm việc quá độ sanh, các bệnh do sự trùng hợp các sự kiêng; các bệnh do nghiệp thuần thục, lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện”. Như vậy, vị ấy sống, quán sự nguy hại trong thân này. Này Ananda, đây gọi là các tưởng nguy hại.
Quán cái này hay lắm, cách đây có một hai ngày thôi, ở ngoài miền Trung có chú đó thu hoạch đậu lạc, bị sốc nhiệt rồi chết trên đường đến bệnh viện 50 tuổi, nhiệt độ trong cơ thể là 41 độ. Bởi vậy, Minh Thành đọc tin tức quán chiếu mình thấy xấu hổ, người ta vì miếng cơm manh áo, công ăn chuyện làm mà trời nắng gắt chói chang như vậy, tia cực tím mạnh như vậy vì miếng cơm manh áo, công ăn chuyện làm người ta xả thân ra đồng áng làm như vậy, mình ngồi ở trong nhà mát rượi, mát mẻ ngồi ở trên đây nữa ngồi tu ở đây mà không chịu tu học, đó là một sự xấu hổ nhục nhã vô cùng.
Nếu mình làm biếng phải đem những hình ảnh đó ra để quán chiếu, người ta chết vì miếng cơm manh áo trên rẫy, đồng lúa, chết trên đường lượm ve chai, lông vịt, lượm những phế liệu, mà mình ngồi ở trong chùa mát mẻ, ăn có người nấu dọn, tu không chịu tu; mà cái này nguy hại trên tất cả sự nguy hại.
Cho nên những chú vô tu học làm biếng là Minh Thành không có nhận, đại kị những người làm biếng, không có ý chí, phấn đấu, nỗ lực. Một cái nhỏ mình thấy xấu hổ vô cùng, nhục nhã và sợ hãi. Bây giờ, người ta không biết nóng sao, không biết mệt sao, nhưng mà tại vì miếng ăn, thu hoạch mấy hột đậu rồi chết luôn sốc nhiệt chết luôn trên đường đưa đi bệnh viện, mà không phải một người nhiều lắm. Đưa ra một trường hợp cho mình quán chiếu thôi.
Mà mình ngồi tu, tụng kinh, thiền quán, nghe pháp một chút vậy mệt, ngồi không nổi rồi làm sao, cho nên nhiều khổ là thân này, nhiều sự nguy hại là quán thân này. Nhiều khổ đau, sự nguy hiểm và tác hại vô cùng. Mới ngày hôm qua cô kia lại nói, bà kia đi cầu thang còn bốn bậc nữa mới xuống tới, bước một cái đập đầu xuống chết luôn. Còn bốn bậc nữa mới xuống tới, bà ấy nhìn tưởng tới rồi bước một cái rồi tuột đập đầu xuống đất chết. Nguy hại không, quá nguy hiểm, thân này quá nguy hiểm.
Có một thầy đi ra dự hội xong bị đột quỵ liệt nửa người, có một cô trẻ theo đoàn chụp hình quay phim, xong ngủ sáng dậy chết luôn, mới đây nè. Chỗ nào cũng thấy ẩn tàng nguy hiểm cho thân xác này mà không ai để ý, lo lắng, sợ hãi gì hết, mà hễ mình nói thì nói tiêu cực, yếm thế, tối ngày nói chết,bệnh hoài, phải không, đó là sự vô minh, mê lầm, chối bỏ sự thật, không dám nhìn nhận, cho nên quán tưởng nguy hại hết sức là hay. Trong thân này nhiều bệnh khởi lên, mắt cũng đau được, tai, mũi, lưỡi, thân đau, cái gì cũng đau được, đầu cũng đau, vành tai, miệng cũng đau, ung thư miệng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh thổ tả, bệnh hủi, mình diễn tả tưởng tượng người bệnh cùi thấy sao. Có một em bé có mẹ, có chuyện bất đồng mâu thuẫn trong gia đình bị ba nó đổ xăng lên người đốt, xong rồi cô này nằm người lở loét, rớt từng miếng thịt xuống vậy, đứa con gái mười mấy tuổi ở đó lo cho mẹ nó không cầm nước mắt được, chứng kiến cảnh mẹ nó chịu đựng cảnh như vậy mỗi ngày. Bữa hôm cho coi bệnh giòi chạy hết phải không. Đó là nguy hiểm, tấm thân này là tấm thân nguy hiểm, một ổ chứa bệnh hoạn, mới nhìn thấy cái ổ chứa mình chạy rồi mà mình rơi vào đó sao chịu nổi, cái đó sự thật đó quay lại . Cái đầu, chân cẳng như vậy giòi nó tuôn tuôn, nó nhúc nhích trong đó, đó tấm thân nguy hại không. Mình ở đây có phước không biết lo tu, rơi vào trường hợp đó rồi sao, cũng phải chịu chứ sao. Hết sức nguy hại, rồi đui điếc câm mù chột ung thư, què quặt.
Bao nhiêu những cảnh cụt giò, cụt tay, cụt chân, không có lỗ mũi, có người bị bệnh khủng khiếp lắm, nó ăn hết không còn mũi miệng gì hết, lủng lỗ thấy ở bên trong. Những bệnh khủng hoảng kinh khiếp lắm mình không tưởng tượng nổi đâu, nghiệp quả nó ghê gớm như vậy, cho nên thân này nguy hiểm lắm, nguy lắm, hiểm nguy vô cùng, nó không phải là chỗ an tọa; bệnh da, bệnh ngứa, bệnh trúng gió, ung nhọt, bệnh ho lao, bệnh da lang ben, bệnh ghẻ, bệnh đái đường, bệnh trĩ, ung thư, lở loét..cho nên mình vô bệnh viện, đủ thứ bệnh viện, không đủ chỗ có khi nằm ngoài hành lang vậy đó. Bệnh viện Chợ Rẫy vô nhìn thấy trong đó.
Đó là bản chất của thân này, ổ chứa chất bệnh hoạn. Bây giờ thân mình tương đối không phải không bệnh mà ít bệnh chút, thì mình cố gắng, còn mình rơi vào những thân đó làm sao, cho nên mình phải quán ở chỗ là có những thân như vậy nên mình cố gắng, cố gắng lên. Thấy cái nguy hại không, học nè, thấy nè, không học đâu có thấy tưởng đâu như vậy hoài thôi, phải không? Nguy hiểm vô cùng thân này, ổ chứa chất các bệnh hoạn, rồi thấy thân giòi có sợ không, mấy cô có sợ không, chạy, mà không chịu tu là vậy đó, mà nó còn tệ hơn không được như vậy đâu.
Chưa nói cảnh súc sanh, địa ngục còn hơn cái đó gấp vạn lần. Cái đó là loài người chỉ chịu quả bệnh thôi. Mình ngồi đây học ba tháng chưa hết mấy cái bệnh đó, nhớ vậy để mình lo tu, thực tập, nghe pháp, hành trì. Phải quán cái này, ngồi lại quán, nó sẽ đến với mình bất cứ lúc nào . Nó trợt một cái rồi xong nằm một chỗ, liệt nửa thân người, ngồi ỉa đái một chỗ. Hôm trước chú Tịnh Hòa, mẹ nằm một chỗ mấy năm mà giòi sanh ra, đỡ lên là dòi rớt ra. Ngồi tại chỗ đây chứ có nói ai xa xôi đâu, trong phim nào đâu, ngồi đây chứng kiến đây. Nằm có mấy năm một chỗ là rớt giòi ra, sợ không.
Sợ vậy là cố gắng nỗ lực lên tu, bao nhiêu tiền của này nọ kia, tất cả không cứu mình được, Tam Bảo mới cứu mình giúp mình. Những cái này là tư lương để dành cho đời sau, cho phút lâm chung nó được hiền thiện tốt lành. Không lo cái này tới lúc đó mình không biết, rồi đời sau đâu còn ai với ai là bà con nữa đâu, theo nghiệp hết rồi. Đâu phải đời sau sanh ra làm cô cháu giống vậy đâu, cha mẹ con cái như vậy, không có. Đường ai nấy đi, cái nghiệp dẫn mình đi chứ đừng tưởng đời sau y chang như vậy nữa không có, thành ra mình quán cái nguy hại này hết sức là hay, để cho mình sợ hãi lo lắng, cố gắng nỗ lực tu tập để mình hành trì, tiến lên.
MƯỜI CÁCH QUÁN TƯỞNG TRỊ BỆNH 1
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của mùa An cư kiết hạ: PAGEREF _Toc53989878 \h 1
II. Quán xét bản thân: PAGEREF _Toc53989879 \h 3
III. Quán chiếu tưởng: PAGEREF _Toc53989880 \h 5
IV. Mười tưởng trị bệnh: PAGEREF _Toc53989881 \h 10
1. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc53989882 \h 11
2. Tưởng vô ngã: PAGEREF _Toc53989883 \h 12
3. Tưởng bất tịnh: PAGEREF _Toc53989884 \h 16
4. Tưởng nguy hại: PAGEREF _Toc53989885 \h 17
I. Tầm quan trọng của mùa An cư kiết hạ:
Kính thưa đại chúng, vừa rồi nước ta có diễn ra Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc gồm 113 quốc gia trở về Việt Nam ở chùa Tam Chúc Hà Nam, là lễ Phật đản, kỷ niệm ngày đản sanh của Đức Phật, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn. Buổi lễ này đạt được nhiều kỷ lục chưa từng có trên thế giới, vượt hơn cả những các nước quốc giáo như Thái Lan, Campuchia hay là các nước khác, số lượng các quốc gia tham dự đông nhất, người lên tới bốn năm chục ngàn người, rất nhiều kỷ lục. Đó là một niềm vinh hạnh rất lớn cho nước nhà cũng như cho Phật giáo Việt Nam chúng ta. Đất nước chúng ta không lớn, không phải là quốc giáo nhưng mà tổ chức một cái lễ hội kỷ niệm Phật đản sanh quy mô, tầm cỡ, vượt bậc với ngôi chùa 5.000 héc ta, mẫu. Đó là điểm thứ nhất chúng ta vui, hoan hỷ trong mùa lễ Phật đản năm nay.
Điểm thứ hai, chúng ta đã chính thức bước vào mùa an cư kiết hạ, Phật lịch năm 2563, Dương lịch năm 2019 . Kể từ ngày hôm qua, chúng ta đã vào mùa An cư kiết hạ và khi chúng ta vào mùa An cư kiết hạ, đây là thời điểm hết sức quan trọng đối với người xuất gia, cũng như người cư sĩ về đây tu học. Đặc biệt, mùa hạ năm nay là mùa hạ hạnh phúc nhất cuộc đời tu của riêng bản thân Minh Thành cũng như của đại chúng ở đây, chúng ta đã tìm được Chánh Pháp tối thượng của Đức Phật. Sau 30 năm gian khổ, tầm cầu, khắp đó đây du giang hải, thiệp sơn xuyên, tầm sư phỏng đạo, vị tham thiền - vượt sông núi, băng ngàn, tìm hỏi đạo suốt 30 năm và cuối cùng đã tìm được Chánh pháp tối thượng trong Tạng kinh Nikaya. Có thể nói đây là mùa An cư hạnh phúc nhất trong cuộc đời tu Minh Thành, và chính vì cái hạnh phúc cái vui đó không dừng lại mà mùa An cư này là một mùa An cư hết sức quan trọng đối với đại chúng chúng ta, chúng ta tìm ra được Chánh Pháp không phải tới đó là xong, chúng ta cần phải biết trân trọng, cung kính, nỗ lực, dốc hết sức mình. Bằng tất cả tấm lòng, trái tim nhiệt thành của một người cầu đạo, học đạo và hành đạo, để trong mùa an cư này chúng ta phải thành tựu, cái gì cần thành tựu, chính vì vậy trong mùa an cư này 90 ngày này, ngày nào cũng là khóa tu hết.
Trong suốt 90 ngày, chứ không phải đợi lúc nào mở khóa tu lúc đó mới là khóa tu. Thầy mong là đại chúng từ xuất gia đến cư sĩ, công quả, tập sự, tất cả những người về đây hãy trân trọng trân quý thời gian linh thiêng này, chúng ta còn được bao nhiêu thời gian nữa trong cuộc đời của mình, cho nên từ giây phút này, thầy mong là tất cả đại chúng đừng có lơ là, lãng quên, đừng thả lỏng các căn, buông lung phóng dật.
Có một bài kinh An cư Kiết hạ, Đức Phật nói trong mùa An cư đó có rất nhiều những vị chứng từ Sơ quả cho đến Tứ Thánh quả trong một mùa An cư, cho nên sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, nhiếp tâm, chánh niệm; biết sợ hãi, hổ thẹn, phòng hộ các căn, phòng hộ tâm. Nỗ lực thì có thể trong mùa An cư này sẽ có thành tựu lớn trong kiếp sống này, một giờ phút trôi qua, mỗi giờ phút trôi qua, mỗi ngày trôi qua,mỗi tuần trôi qua, mỗi tháng trôi qua, mỗi năm trôi qua và hàng chục nhiều chục năm đã trôi qua, và chúng ta đã làm được gì cho đời sống của chính mình.
Nếu mình không nắm bắt cơ hội hiếm có, hi hữu khó gặp này thì kiếp sống này của mình là lãng phí, trống rỗng, nếu ta không biết trân trọng giây phút, khoảnh khắc này. Cái sự tu không phải là ba năm, năm năm, mười năm, không phải ngày mai, tuần sau, tháng tới, mà sự tu là ngay khoảnh khắc bây giờ phải nắm bắt, cái sát na hiện tại, khoảnh khắc này, đừng lãng quên, đừng cho nó quên sau này hối hận. Sau này khi nằm trên giường bệnh hấp hối, lúc đó hối hận khi mạng chung sắp chết mình hối hận không kịp, muộn màng. Cho nên hết sức để tâm vào ba điều, tăng thượng, giới đức làm cho tâm mình thêm lớn lên trong sự tu tập và làm cho trí huệ mình phát triển.
II. Quán xét bản thân:
Hãy để ý giới hạnh của mình, làm sao mà mình phải luôn luôn dòm ngó, dò xét. Chính mình dò xét mình như lời nói, cử chỉ hành động, suy nghĩ có hiền thiện, thanh cao, rộng mở, đức hạnh không. Đó là dò xét, để ý tăng thượng giới học, những học pháp, giới mình đã thọ, mình để tâm đọc tụng chiêm nghiệm đem ra thực dụng, mỗi một ngày một ít, mỗi tuần một ít, làm tăng trưởng giới học. Chứ không cho phép mình sống đời sống lơ thơ, lững thững, lờ đờ, mờ mờ. sống vất vơ vất vưởng không có mục tiêu lý tưởng, không chỗ hướng tới. Năm tháng tóc càng ngày càng bạc, cơ thể ngày càng suy yếu mà trí huệ không tăng trưởng. Thì uổng, phải làm cho giới hạnh, thiền định, trí huệ của mình lớn mạnh, để tâm vào ba điều đó, để tâm, để ý, cả tấm lòng của mình vào trong những điều đó. Tại sao? Là thời khắc không còn bao nhiêu nữa hết. Chính như bản thân Minh Thành thật sự không biết mình sống được bao lâu, cho nên đối với những người lớn tuổi phải để tâm, để tâm thật nhiều vào nết hạnh, cử chỉ, lời nói của mình, để tâm những suy nghĩ, chiều hướng suy nghĩ trong nội tâm.
Hay lắm, điều chỉnh chiều hướng của tư tưởng, không có cho nó đi vào trong quỹ đạo của tiêu cực, bất thiện pháp, ác pháp. Tưới tẩm, chăm sóc làm cho nó tăng trưởng lớn mạnh trong thiền pháp, công đức trong thiền định ở trong trí huệ, không cho nó được thả lỏng, được tự do mà phải bắt nó vào pháp, vào luật, vào khuôn khổ, nề nếp, vào chuẩn vào tắc, đó là mình đang tăng thượng giới học; còn mình sống không để tâm gì hết, kệ nó, muốn nói gì nói, làm gì làm thì người đó là người hạ liệt ở trong giáo pháp của Như Lai. Người đó không để tâm, không tu Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, không nỗ lực để diệt tận các ác bất thiện pháp, không phát huy thiện pháp, không tăng trưởng thiện pháp. Một người như vậy là một đời sống vô tích sự, vô nghĩa, khi người đó ra đi ôm ác nghiệp, bất thiện pháp, để mà ra đi ở trong một trạng thái mà Đức Thế Tôn gọi là bất tựu, không tốt lành.
Cho nên mình phải biết lo lắng và sợ hãi nhất là những người lớn tuổi, càng lớn tuổi là phải biết lo lắng sợ hãi nhiều hơn. Mình không biết lo lắng, sợ hãi là xong rồi. Mình đi đâu, hoàn toàn không biết gì hết. Phải lo lắng và sợ hãi. Hãy nghĩ rằng mình không còn bao lâu thời gian nữa. Hôm qua hòa thượng chín mươi ba tuổi, Minh Thành được hầu chuyện với hòa thượng, hòa thượng nói chắc năm sau tui đi quá Minh Thành ơi. Minh Thành nói: Dạ bạch hòa thượng, mình đâu biết được hòa thương ơi, giờ khó tính từng năm lắm. tuổi này phải tính sát sao hơn nữa. Chín mươi mấy tuổi sao tính từng năm, khó tính từng tháng, khó tính mỗi tuần và có thể tính từng ngày, từng giờ. Thành ra, hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh hết sức quan trọng, chúng ta đã học nhiều về quán chiếu sắc và thọ. Hôm nay chúng ta học quán chiếu về tưởng.
III. Quán chiếu tưởng:
Có nhiều người tu nghĩ rằng ngồi thiền là đừng cho nghĩ tưởng gì hết, không phải, không đúng lời Đức Phật dạy, mà dùng cái tưởng của trí huệ, của sự thật, của chân lý, của thánh trí để phá những dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, vô minh tưởng, bất thiện pháp, ác pháp tưởng. Cho nên chúng ta nếu mà không khéo thì mình sẽ chết với những tư tưởng của mình. Đức Phật trong bài kinh Phạm Thiên trú ở Tăng Chi Bộ kinh Tập 4.
Này các Tỷ-kheo, con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo và được hiện hữu về sau".
Ở đây, câu quan trọng muốn nhấn mạnh là con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Câu nói có ý nghĩa là mình chết do những tư tưởng của chính mình, chính tư tưởng của mình giết mình chết, những tưởng trong nội tâm giết mình chết.
Ví dụ mình đang ngồi nghe pháp ở đây, mình thấy ngồi khó chịu, không được nhúc nhích, cục cựa, nói chuyện. Phải chi thôi ngồi chút xíu mình đi ra, ra ngoài pha nước đá chanh, cà phê sữa hay gì đó mình uống, cái tưởng đó giết mình chết, tới giờ ngồi thiền cái tưởng mình đi ra nằm, cái tưởng giết mình chết. Tới giờ mình đi ra làm công tác, mình nói mệt quá à bữa nay nghỉ đi, tưởng nó giết mình chết. Khi mình nghe pháp thâm sâu đánh thẳng vào bản chất của thân thể này thì lúc đó mình hoảng sợ, tu chi mà mạnh dữ vậy nè tu vừa vừa thôi, cái tư tưởng đó giết mình chết, cái hành và cái tưởng đó.
Lên chùa mình tu mình tưởng lẹ lẹ về nhà, xin thầy về, rồi cái tưởng nó hiện lên về tới nhà cái cảm giác đã làm sao nó nhảy lên võng, bắt tivi lên, ăn uống mấy cái món mà hổm rày thiếu, đi theo mấy cái tưởng đó giết mình chết.
Phải cẩn thận đối với các tưởng trong nội tâm của mình, cái tưởng nào là thiện pháp phải cho nó sinh trưởng phát triển, và tưởng nào là bất thiện pháp mình phải trừ diệt, đánh đuổi nó ra. Mình học về sắc thọ rồi, hôm nay chúng ta sẽ nói về tưởng, Đức Phật dạy mười pháp quán tưởng.
Nó tưởng theo chiều tham, ái, dục, chiều buông lung, làm biếng làm nhác, tưởng ăn tưởng ngủ tưởng chơi, cái tưởng không cho mình tu. Không cho phòng hộ các căn, hộ trì tâm, nó không cho mình ngồi yên, là mình sẽ chết với cái tưởng đó. Khi mình nhắm mắt những cái tưởng đó sẽ lôi đầu mình đi.
Bây giờ, mình không tập nhận ra, nhìn ra, kiểm soát và làm chủ nó, nhiếp phục nó thì khi mình chết chính những cái tưởng đó nó sẽ lôi kéo mình đi, mình đâu có biết nó, đâu có nhận rõ, đâu có nhiếp phục nó, mình đâu có làm chủ nó thì nó sẽ làm chủ mình. Nó sai khiến, áp đảo mình, quật ngã mình. chính những cái tưởng trong nội tâm. Nếu mình không trừng trị nó, không huấn luyện dạy dỗ giáo dục, không kiểm soát nó, cho nó qua mặt mình không chịu nhìn, nhìn kỹ mặt của nó, không coi những đặc tính tính chất của những tưởng là gì ở trong đó, là những sự yêu thích những cái êm ái, dễ chịu. Thúc dục mình đi theo những cái phàm tình thế gian, phàm tục phàm phu.
Trong ái, trong cái tưởng có ái, dục, tham, có bản ngã, cái tôi trong đó. Không nhìn ra, không khám phá, không huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục thì chính cái tưởng đó giết mình, giết thiện tháp. Lôi kéo mình không cho tu, học, làm công quả, nó kêu mình làm biếng đi, nghỉ ngơi. Mình phải nhìn ra, phát giác, phát hiện ra, đánh đuổi nó.
Cho nên trong bài kinh Niết Bàn, Tăng Chi bộ kinh tập 2.
“ Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất). Sau khi đến … ngồi xuống một bên. Tôn giả Ànanda nói với Tôn giả Sàriputta: - Do nhân gì, thưa Hiền giả Sàriputta, do duyên gì ở đây, một số chúng sanh ngay trong hiện tại không có chứng nhập Niết-bàn?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda, chúng sanh không như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thối đọa", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào an trú", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thù thắng", không có như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thể nhập". Này Hiền giả Ànanda, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại, không chứng nhập Niết-bàn.
Như vậy câu này ý nói là chúng sanh không có như thật, quán sát một cách đúng sự thật để biết được rằng các tưởng này dự phần vào thối đọa, nãy giờ mình nói là tưởng dự phần vào thối đọa. Cái tưởng mà mình không còn biết thì làm sao biết cái tưởng nào là tưởng thối đọa, cho nên tại sao mình phải tập nhận diện năm uẩn; không nhận diện năm uẩn làm sao biết đó là tưởng. Cuối cùng mình nhập cuộc, đi theo nó luôn.
Cho nên mình phải nhận diện năm uẩn và thấy được những hình bóng trong nội tâm đó là tưởng uẩn. Tưởng, mi là ảo tưởng, mi là vọng tưởng, mi là những tưởng giả dối, ta không nghe theo mi, không làm theo mi, không di theo mi. Như vậy, mình có một trí huệ để biết đúng sự thật rằng tưởng này dự phần vào thối đọa tức là đưa mình lùi lại và rơi xuống. Những cái tưởng này, hình bóng trong nội tâm đưa mình rơi xuống vực sâu. Những hình bóng kêu mình ăn đi, ngủ đi, chơi đi, đừng tu. Chạy đi tìm dục lạc đi, đi kiếm, bấm điện thoại lên mở lên, lên youtube, trang web kiếm. Đó là các tưởng đưa mình rơi xuống vực sâu.
Phải biết những tưởng đó để phát giác, phát hiện ra, điểm mặt chỉ mặt nó, gặp mặt nó, đấm vào mặt nó. Chính ngươi đưa ta xuống vực, âm trì địa ngục, chỗ âm u tối tăm thống khổ, ác thú, đọa sứ , khổ cảnh là chính những cái tưởng đó, phải nhìn cho ra, không chấp nhận, đánh đuổi, trừ diệt, đoạn tận nó.
Bây giờ, do không có như thật quán tri, không biết được sự thật là các tưởng này dự phần vào an trú, thù thắng và thể nhập, tưởng nào là tưởng dự phần vào an trú. Ở đây, mình chỉ nói phương diện gọn ở trong đời sống tu tập, chứ cái này rộng lớn lắm, Thánh trí về tưởng uẩn không phải chuyện bình thường.
Tưởng nào là tưởng dự phần vào an trú vào trong pháp, mình phải biết. Ví dụ cái tưởng hiện ra bộ xương, cảnh khổ chết v.v. vô thường. Những cái tưởng đó giúp an trú tâm mình không chạy đi tìm dục nữa, an trú trong cái pháp; tưởng trong cảnh khổ, cảnh vô thường, đau bệnh, chết chóc. Những tưởng đó làm tâm mình an trú, dự vào phần thù thắng và đưa mình vào sự thể nhập cảnh giới bất tử, những tưởng đó mà mình đang thực tập.
Cho nên là Cửu Tưởng, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi, hoặc là cốt tưởng, quán tưởng về bộ xương, là những tưởng làm tâm mình an trú, làm cho nó dự vào thù thắng, đẹp đẽ, tốt đẹp và làm cho mình thể nhập đi vào được cảnh giới bất tử của Thánh Trí, mình phải biết và phát huy những tưởng đó lên. Đánh gục, đánh đuổi những tưởng thối đọa, dự phần vào thối đọa, đánh đuổi những tưởng đưa mình xuống vực sâu, không chấp nhận.
Những tưởng nào giúp tâm mình an trú, thân mình an trú để cho mình thấy biết được sự thật của cuộc đời này, để cho mình thể nhập cái tâm hoàn toàn thanh tịnh, lìa tham sân si, thì đó là những tưởng giúp mình đi đến Niết bàn.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại có chứng nhập Niết-bàn?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda, chúng sanh như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thối đọa", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào an trú", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thù thắng", như thật quán tri: "Các tưởng này dự phần vào thể nhập". Do nhân này, do duyên này, này Hiền giả Ànanda, ở đây có các chúng sanh ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn.
Ngay trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn, chứ không phải ở xa, cho nên người nào cứ giữ hoài một hình ảnh giòi ăn như vậy, bộ xương như vậy, cửu tưởng như vậy thì sớm muộn người đó cũng chứng nhập Niết-bàn. Đó là tưởng an trú, thù thắng, thể nhập. Đánh tan sự dục tham, tầm cầu, đam mê, đuổi tìm sẽ dừng lại, tâm sẽ được an trú. Mình tưởng từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng tâm mình được an trú, trở thành tâm thù thắng, tâm thể nhập trong vô lượng, vô biên, vô tận. Còn tâm bình thường là một tâm rất nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nếu không tu tập thì cái tâm nhỏ lắm. Vì miếng ăn chút xíu thôi cũng có chuyện, dòm nhau chút thôi cũng có chuyện, một câu nói thôi là cũng có chuyện à, chuyện không phải chuyện thường mà ở ngoài tới chuyện hình sự luôn. Đó là một cái tâm rất là nhỏ hẹp không tu tập, không huấn luyện.
Cho nên người tu là cái tâm là vô lượng, vô biên, không hận không sân, biến mạng một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, trên dưới bề dọc bề ngang, cùng khắp vô biên qua tam giới, đó là tu tập tưởng vô lượng, thọ vô lượng, thức vô lượng.
Phải tu tập, huấn luyện tâm như vậy, làm tâm cho nó vô lượng; khi mà tu tập tâm vô lượng thì tâm nhỏ đó bị phá vỡ. Tối ngày cứ để ý chuyện nhỏ nhặt rồi buồn, giận hờn, ganh tỵ. Đó là một cái tâm nhỏ hẹp nhỏ mọn, nhỏ bé, cái tâm đó làm sao đi vào Thánh Pháp được, Thánh Pháp lớn lao vô biên. Giữ cái tâm nhỏ hẹp đó thì không đi vào được, và cánh cửa đóng lại. Cánh cửa bất tử đóng lại, tâm nhỏ hẹp làm sao mà tương ưng được.
Cho nên người mà nói là giận người này, buồn người này, bực người kia, ghét người nọ, đủ thứ chuyện hết, ngồi từ trên chánh điện xuống nhà bếp là chuyện nào cũng bực bội hết, khó chịu hết. Vô bếp là khó chịu bếp, lên chùa là khó chịu chùa, vô phòng phim là khó chịu phòng phim, gặp người tu lâu cũng khó chịu, gặp người mới tu cũng khó chịu gặp người mới vô chùa cũng thấy khó chịu, cái người này thôi.
Nếu không tu tập tâm thì đọa, đọa vào những thân rất nhỏ bé trùng kiến, sâu bọ, rệp, sán lãi, ruồi muỗi ghê gớm lắm, cái tâm nhỏ hẹp, tham lam ích kỷ sân si đố kỵ, tật đố, nhân ngã; thì sẽ đi vào những thân, nếu mà hung hăng sân hận sẽ vô loài rắn độc, chưa nói là địa ngục còn nặng hơn. Cho nên mình phải biết được cái tưởng nào là đưa xuống vực thẳm, cái tưởng nào là đưa mình thể nhập. Phải biết được điều đó thì mình mới đến được Niết-bàn.
IV. Mười tưởng trị bệnh:
Chính thức mình đi vào mười tưởng, bài kinh này là bài kinh trị bệnh rất tuyệt diệu, bài kinh này để trị bệnh cho những người có bệnh. Ở đây, ai có bệnh phải học kỹ bài kinh này để trị bệnh. Nó không giống như thuốc bình thường, thuốc bình thường trị bớt bớt hoặc hết rồi vài bữa bệnh lại, còn thuốc này trị rồi vĩnh viễn hết bệnh luôn, bất tử.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Girimànanda bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Tôn giả Girimànanda, bạch Thế Tôn, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, nếu Thế Tôn đi đến Tôn giả Girimànanda, vì lòng từ mẫn.
- Này Ananda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng, thời sự kiện này có thể xảy ra: Tỷ-kheo Girimànanda sau khi được nghe mười tưởng, bệnh của vị ấy có thể được thuyên giảm ngay lập tức!”
Hồi giờ mình chưa nghe cái này, Đức Phật dùng pháp để trị bệnh, thầy chỉ cần tới đọc mười tưởng này thì Đức Phật nói có thể xảy ra vị tỷ-kheo sau khi nghe 10 tưởng này thì bệnh của vị đó có thể thuyên giảm ngay lập tức, mà xin thưa 10 tưởng này Minh Thành thường thực hành lắm, cho nên là nhiều người hỏi sao thầy khỏe vậy, nhờ mười tưởng này, chưa thực tập hết mười tưởng chỉ vài tưởng trong đây thôi nhưng có thể vượt qua cơn bệnh, bệnh ít thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành không bệnh, mà bệnh nhiều thành bệnh nhẹ.
Mười tưởng là gì, tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, tưởng đoạn tận, tưởng từ bỏ, tưởng đoạn diệt – chấm dứt, tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới, và tưởng vô thường trong tất cả các hành, tưởng niệm hơi thở vô hơi thở ra.
1. Tưởng vô thường:
Thế nào là tưởng vô thường, học kỹ mười pháp quán tưởng này là bảo bối, khi mình bệnh chỉ cần đem cái tưởng này thực hành là sẽ giảm bệnh, thậm chí thân bệnh cái tâm không bệnh.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường.” Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thủ uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường.
Bây giờ, Pháp An, Bà Diệu Hiền, Út Sáu, Thiếm Một... học thuộc câu, niệm lên “Sắc là vô thường, cảm thọ là vô thường, các tưởng hình bóng trong nội tâm là vô thường, những suy nghĩ hành uẩn là vô thường, nhận thức rõ biết là vô thường”. Đó là tưởng vô thường, 5 uẩn, học thuộc câu đó. Sắc thân này và mọi thứ là vô thường, những cảm giác này là vô thường, những hình bóng nội tâm là vô thường, khi nhớ con nhớ cháu thì niệm câu đó lên, khi muộn phiền phiền não niệm câu đó lên, khi giận ai niệm câu đó lên để quán chiếu; những suy nghĩ này là vô thường, rồi biến đổi, không có như vậy hoài, niệm lên rồi quán chiếu. Như vậy là thuốc trị bệnh đó, thuốc này đi đến bất diệt bất tử. Giận ai, buồn ai, bực ai tức ai, tham muốn, bản ngã cái gì thì niệm lên. Khi mà nó mạnh quá niệm lớn lên luôn, đọc lớn lên ra tiếng luôn.
Xác thân này là vô thường, cảm giác này là vô thường, trống rỗng. Suy nghĩ, tưởng, những nhận thức rõ biết này là vô thường, trống rỗng, thay đổi, có gì đâu. Buông xuống, bỏ đi, quăng nó đi, chấp thủ bám chắc vô làm chi cho nó khổ, buông xuống, hết bệnh, bớt bệnh, hết bệnh.
Cho nên tự nhiên mình nghe cuộc điện thoại là mình mệt lên, điện thoại nghe chửi mắng, có chuyện gì là mình mệt lên. Đọc cái này lên coi cái cảm giác này, đọc lên quán chiếu thì tự nhiên giảm bệnh. Tại vì bệnh ảnh hưởng từ trong ngũ uẩn ra mà, không thấy không biết ngũ uẩn. Mình thấy biết bản chất tự nhiên cảm giác lắng dịu xuống, cái tưởng lắng xuống, suy nghĩ an tịnh từ từ xuống, thức an tịnh. Như vậy là giảm bớt bệnh ngay lập tức. Cái này học dễ không bà Diệu Hiền, thuộc câu này dễ không? Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Trống rỗng, không có gì là thật. Cứ niệm câu này lên, đọc câu này còn hơn niệm Phật nữa đó, cái này là mẹ của Phật, Phật chứng ngộ cái này thành Phật, mà mình niệm cái này là cha, mẹ, thầy của Phật, đọc lên là mình phải quán tưởng nhìn thấy, cái sắc này vô thường.
Những cảm giác này đổi thay hoài, bữa nay đâu có sao tự nhiên giờ giận vậy, không có sao tự nhiên giờ buồn vậy, nãy không có sao giờ tự nhiên nhớ cháu ngoại muốn đi về, phải không. ờ đúng, niệm lên liền. Vô thường, những hình bóng cháu ngoại hiện lên trong tâm là vô thường, tưởng này vô thường, thân này vô thường, suy nghĩ vô thường, trống rỗng. Khi cái ý muốn đi về nhà cũng vô thường, suy nghĩ mai mốt được đi về, nó vô thường. Suy nghĩ là vô thường, những hình bóng hiện lên làm gì dẹp qua một bên, tưởng này dẹp đi lúc nào về lúc đó tính, không suy nghĩ linh tinh lang tang. Bây giờ đang ở đây là trú tâm ngay ở đây, thực tại ngay đây.
Đó là trị bệnh, là diệu, thần dược, thánh dược, Phật dược, Pháp dược, vô thượng linh dược. Cho nên đọc cái này là vị Tỷ-kheo bớt bệnh ngay lập tức. Còn không là cứ nhớ đau rồi rên, không thấy sắc thấy mình thôi. Cho nên đây là phương pháp trị bệnh tuyệt diệu mà chính Đức Phật dạy. Phải thực tập khi mình thiền quán, ngồi thiền, làm việc bất cứ, khi mình học. Những cái gì khởi lên những tưởng bất thiện, ác tưởng, phi pháp tưởng. Đọc cái câu này lên, đánh tan nó.
2. Tưởng vô ngã:
Và này Ananda, thế nào là tưởng vô ngã?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Mắt là vô ngã...
Con mắt này không chắc chắn, không có gì là mắt thiệt hết, khi lọt mấy hạt cát vào là không thấy đường, nhậm, rồi ghèn, thậm chí là mù. Hay xảy ra tai nạn lọt tròng con mắt ra luôn. Con mắt là vô ngã, không có như vậy hoài.
Cho nên Martin bước vô là thầy nhìn thấy cái vô thường hiện ra, đợt trước nhìn giống như thiên thần, bữa nay lên mắt sưng chù vù sưng một cục vậy. hỏi sao vậy, không biết sao trời nắng quá. Con mắt là vô ngã, nó không giữ như vậy hoài; biết đâu bữa nào thầy chột, con mắt này làm từ những thứ vô thường, vô ngã mà làm sao nó có ngã được; đồ làm bằng đất sét làm sao cứng chắc được, thì con mắt này làm từ những thứ dễ vỡ, dễ tan, dễ hoại, dễ nát, dễ bại hoại, chính vì vậy nó không có lõi chắc, con mắt này là vô ngã. Đem tấm hình lúc mình hai mươi tuổi so với bây giờ, mình để cái kiếng nhìn hai con mắt, nó khác. Mắt vô ngã không giữ được sự long lanh, trong sáng khi còn trẻ, bây giờ phải mang mắt kiếng còn không thấy đường, nhìn loạng choạng, nhìn người này ra người kia, nhiều khi người thân đi tới mà hỏi ai vậy, không thấy. nó vô ngã, biến đổi.
Trong cuộc thi Tìm kiếm tài năng của Việt Nam, chú này bị mù lên hát bài “Cõng mẹ đi chơi”, mù lúc nhỏ xíu. Chú hát này mọi người xúc động khóc, chú nói là mong muốn sáng mắt được nhìn mẹ chút xíu thôi cũng được mà suốt đời không nhìn được khuôn mặt mẹ ra sao nhưng mẹ mất rất là sớm, đôi mắt này không có gì trong đây, trống rỗng, nó được các duyên kết hợp tạm, xài tạm thời gian tới lúc quá đát, hóa đá đục thủy tinh thể, ông Năm bà Năm, có người đi 1 lần 2 lần, quá đát, đừng có tin cậy vào con mắt này, đừng hy vọng, dựa vào con mắt này, con mắt này không có gì hết. Chú đi làm thợ mộc, đóng đinh sao mà văng vô con mắt, cây đinh dài lớn đâm vô, rút cây đinh ra là hết thấy đường.
...các sắc là vô ngã; tai là vô ngã, các tiếng là vô ngã; mũi là vô ngã, các hương là vô ngã; lưỡi là vô ngã, các vị là vô ngã; thân là vô ngã, xúc là vô ngã; ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.” Này Ananda, đây gọi là tưởng vô ngã.
Chẳng những con mắt này là vô ngã, không chắc chắn mà những sắc để nhìn thấy cũng là đồ vô ngã hết, tạm bợ hết; nhìn thấy đẹp khen rồi sống vài bữa chết rồi quăng, đốt cũng không được. Các sắc là vô ngã, thầy dặn đốt đèn bàn Phật nhớ có người không rồi thổi rớt xuống một cái rồi xong, đây thành một đống tro tàn, không còn gì ở đây hết mà có khi nó còn quay thêm mấy người nữa, nó không quay heo mà nó quay người. Có những căn nhà ở thành phố mình, ngủ xong 12 giờ đêm chết hết trơn 5,6 người; ngủ không hay chập điện cháy.
Như vậy, các sắc là vô ngã, trống rỗng. Mình nhìn tưởng đâu cái này chắc tốt lắm, bền lắm, còn quài, không có. Vài tiếng đồng hồ đây trở thành đống tro, rồi mấy người ở đây đựng bằng hũ hết. Không có gì hết, tất cả pháp là vô ngã, mà phải thường thường nhìn thấy như vậy, quán chiếu như vậy, quán tưởng như vậy, suy xét như vậy thì mới tháo gỡ được cái tâm tham ái luyến chấp; không phải nghĩ một lần, hai lần, mười lần mà phải nghĩ trăm lần, ngàn lần, vạn lần, trăm chục ngàn vạn lần, suy nghĩ quán tưởng như vậy luôn suy nghĩ như vậy, liên tục suy nghĩ như vậy. nó đưa mình đến giải thoát tất cả.
Tai cũng như vậy, tiếng cũng như vậy. Mình nghe tiếng bực mình quá, mình nghĩ lỗ tai này vô ngã, âm thanh này vô ngã trống rỗng; trước khi nghe cái tiếng mình có bực không, đâu có. Nếu ở Quán Chiếu Đường mình không có nghe có bực không, hay mình đang ngủ có người nói kế bên mình không nghe có bực không, không có. Cái lỗ tai, các tiếng, sự rõ biết các tiếng, cảm thọ khi nghe được tiếng đó, thọ do nhĩ xúc sanh đều là trống rỗng hết, vô ngã. Cho nên đây là chiến thuật tâm linh của Đức Phật, Thập Bát mình đồng La Hán Trận, nghĩa là Phật đánh không còn cái gì nữa hết, Thánh Trí chiếu hết, soi hết tất cả các ngõ ngách, làm cho vô minh không còn chỗ ẩn nấp, tận diệt, tàn diệt, ruồng tận hang ổ vô minh tham ái và chấp đối với năm uẩn, Thập nhị sứ, Thập bát giới; chỗ này là chỗ thể hiện sự kinh khiếp của Thánh trí; còn mà tu phớt phớt mà ngồi, hoa này vô thường quá hen, người kia tội nghiệp nay chết rồi.
Có chút xíu ở ngoài sắc uẩn sao mà đánh nổi, cái này tất cả mọi ngõ ngách: Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thinh hương vị xúc pháp. Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức, 18 giới đánh hết, các cảm giác đánh tan hết, đánh vậy vô minh còn một đống, tham ái chưa gỡ ra nổi. Nếu mà đánh nhẹ thì làm sao, cho nên mình tu được cái này, quán tưởng được cái này hay lắm, tuyệt vời lắm. Từ từ không phải một ngày bữa đâu, từ từ thấm nhập, từ từ thấm vô, dòng Pháp sẽ đưa người về phía trước. Thấm vô riết rồi mình thấy hết tất cả cuộc đời này mọi sự mọi vật nhẹ tênh, dùng Thánh Trí soi rọi, đừng nhìn bằng con mắt thường, phải dùng trí của Đức Phật, mượn cái trí của Đức Phật để mình soi, từ từ nó trở thành trí của mình, khi nó trở thành trí của mình thì khi đó mình nhập lưu rồi.
Đó gọi là Thể nhập Thánh Tri Kiến, cái thấy biết của Đức Phật, mình được thể nhập vào cái thấy biết đó, đó còn gọi là Chánh Tri Kiến, gọi là tri kiến của bậc thánh, gọi là pháp nhãn, tuệ nhãn, còn gọi là đắc pháp nhãn tịnh, còn nhiều danh từ điều chỉ về cái đó hết. Lúc đầu, còn trong kinh của Đức Phật, mình nghe hoài chiêm nghiệm hoài, quán tưởng, suy xét hoài rồi mình thâm nhập vô, đó là nhập lưu. Không còn ở ngoài nữa mà đó là cái thấy biết của chính mình. Như vậy, gọi là tuệ tri, tri kiến như thật, thể nhập Thánh Trí, Chánh Tri Kiến - thấy biết của bậc Thánh.
Cho nên không phải chuyện, thầy ơi hổm rày cái này nghe rồi bữa nay nghe nữa, nghe 100 lần, 1 ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm vạn lần, một tỷ lần, nghe đến khi nào chứng nhập tri kiến, tư duy hoài, quán tưởng hoài, quán chiếu hoài. Nó ngấm vào xương, vô da, vô thịt, vô xương tủy, trở thành cái thấy biết của chính mình, đó gọi là thánh thể nhập - sự thể nhập của bậc Thánh, thể nhập vào trí huệ của bậc Thánh. Đó là Thánh quả thứ nhất của Bát Chánh Đạo. Mới đi có bước một của Bát Chánh Đạo thôi đó, mà vô được cái này nó tuyệt diệu lắm, kì diệu, huyền diệu lắm, vi diệu lắm.
Bây giờ hương, đối với lỗ mũi hay các mùi hương, hay lưỡi, các vị cũng vậy, phải quán chiếu lỗ mũi, các mùi hương, lưỡi các vị khi ăn, phải để ý để tâm thật nhiều. Cũng như bữa đó, Minh Thành đang ăn ổ bánh mì, bánh mì Hoa Sen, Đà Lạt rất ngon, đang ăn ngon lành như vậy, cắn vô một cái chảy nước mắt, ớt xanh ở trong đó, ớt xanh tiệp với màu ngò mình không biết. Thường thường ớt đỏ cắn vô một cái nước mắt chảy ra, hả họng, mình thấy cái lưỡi, vị, cảm giác, cảm thọ là vô ngã, trống rỗng, vô thường biến đổi, mới hồi nãy ngon khoan khoái thích thú ăn, nhai lia nhai lịa, cắn cái trúng ớt rồi, vô ngã, trống rỗng. Rủi đang nhai trúng cây đinh dài một tấc trong ổ bánh mì, thì lúc đó sao thì mình thấy đỏ hoét trong miệng mình, thấy chưa?
Nhiều cái để cho mình quán, phải dùng những trường hợp như vậy để mình quán chiếu, để bớt cái đam mê thích thú trong cái ăn, tham ăn rồi đời sau đầu thai lại để ăn chứ mình không giải thoát được đâu.
Thân cũng vậy, ý cũng vậy, càng ngày càng sâu sắc, cái thân này vô ngã, sự xúc chạm vô ngã. Thấy mới đi đứng nói cười nhảy nhót, ca hát lên sân khấu bao nhiêu ánh đèn, bao nhiêu tràng vỗ tay, rồi xong xuống nằm đột quỵ chết mà còn trẻ không phải lớn tuổi, bốn mươi mấy tuổi thôi, thậm chí ba mươi mấy, hai mươi mấy, mười mấy tuổi cũng có; thậm chí năm bảy tuổi cũng có, vô nước biển xong ra chết luôn. Cái thân này vô ngã, không có gì chắc chắn trong này hết, mình quán như vậy gọi là quán tưởng về vô ngã. An trú vô tưởng này là giảm bệnh, bớt bệnh, hết bệnh. Bệnh gì cũng không còn quan trọng hết, bởi có thân thiệt nên bệnh chút mình lo lắng đủ thứ, thân này vô ngã, tự nhiên tâm mình buông nhẹ nhả ra bệnh theo đó, không để ý nhiều vô nữa mà thâm nhập vô trí huệ.
3. Tưởng bất tịnh:
Và này, Ananda thế nào là tưởng bất tịnh?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ananda, đây gọi là tưởng bất tịnh.
Ba mươi hai thể trược, nặng cái thân này quá, chấp cái thân này quá, mê cái thân này quá, ngồi quán từng cái, tóc lông móng da thịt , phổi ruột phân nước tiểu, mủ máu mồ hôi mỡ nước miếng, quán từng cái từng cái, tháo gỡ sự tham đắm, mê chấp, khốn khổ về hình hài này, trau chuốt, bám chắc quá nặng vào thân xác này. Dùng tưởng bất tịnh quán chiếu.
4. Tưởng nguy hại:
Đây là chỗ hết sức quan trọng cho các đối tượng ngồi đây, tưởng nguy hại.
Và này Ananda, thế nào là tưởng nguy hại?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Nhiều khổ là thân này, nhiều sự nguy hại. Như vậy trong thân này, nhiều loại bệnh khởi lên. Ví như bệnh đau mắt, bệnh đau về tai, bệnh đau mũi, bệnh đau lưỡi, bệnh đau thân, bệnh đau đầu, bệnh đau vành tai, bệnh đau miệng, bệnh đau răng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh đau bụng quặn, bệnh thổ tả, bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh ghẻ lở, bệnh ho lao, bệnh trúng gió, bệnh da, bệnh ngứa, bệnh da đóng vảy, bệnh hắc lào lang ben, bệnh ghẻ, bệnh huyết đảm (mật trong máu), bệnh đái đường, bệnh trĩ, bệnh mụt nhọt, bệnh ung nhọt ung loét, các bệnh khởi lên do mật, bệnh khởi lên từ đàm, niêm dịch, các bệnh khởi lên từ gió; bệnh do hòa hợp các thể dịch sinh ra; các bệnh do thời tiết sinh ra, các bệnh do làm việc quá độ sanh, các bệnh do sự trùng hợp các sự kiêng; các bệnh do nghiệp thuần thục, lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện”. Như vậy, vị ấy sống, quán sự nguy hại trong thân này. Này Ananda, đây gọi là các tưởng nguy hại.
Quán cái này hay lắm, cách đây có một hai ngày thôi, ở ngoài miền Trung có chú đó thu hoạch đậu lạc, bị sốc nhiệt rồi chết trên đường đến bệnh viện 50 tuổi, nhiệt độ trong cơ thể là 41 độ. Bởi vậy, Minh Thành đọc tin tức quán chiếu mình thấy xấu hổ, người ta vì miếng cơm manh áo, công ăn chuyện làm mà trời nắng gắt chói chang như vậy, tia cực tím mạnh như vậy vì miếng cơm manh áo, công ăn chuyện làm người ta xả thân ra đồng áng làm như vậy, mình ngồi ở trong nhà mát rượi, mát mẻ ngồi ở trên đây nữa ngồi tu ở đây mà không chịu tu học, đó là một sự xấu hổ nhục nhã vô cùng.
Nếu mình làm biếng phải đem những hình ảnh đó ra để quán chiếu, người ta chết vì miếng cơm manh áo trên rẫy, đồng lúa, chết trên đường lượm ve chai, lông vịt, lượm những phế liệu, mà mình ngồi ở trong chùa mát mẻ, ăn có người nấu dọn, tu không chịu tu; mà cái này nguy hại trên tất cả sự nguy hại.
Cho nên những chú vô tu học làm biếng là Minh Thành không có nhận, đại kị những người làm biếng, không có ý chí, phấn đấu, nỗ lực. Một cái nhỏ mình thấy xấu hổ vô cùng, nhục nhã và sợ hãi. Bây giờ, người ta không biết nóng sao, không biết mệt sao, nhưng mà tại vì miếng ăn, thu hoạch mấy hột đậu rồi chết luôn sốc nhiệt chết luôn trên đường đưa đi bệnh viện, mà không phải một người nhiều lắm. Đưa ra một trường hợp cho mình quán chiếu thôi.
Mà mình ngồi tu, tụng kinh, thiền quán, nghe pháp một chút vậy mệt, ngồi không nổi rồi làm sao, cho nên nhiều khổ là thân này, nhiều sự nguy hại là quán thân này. Nhiều khổ đau, sự nguy hiểm và tác hại vô cùng. Mới ngày hôm qua cô kia lại nói, bà kia đi cầu thang còn bốn bậc nữa mới xuống tới, bước một cái đập đầu xuống chết luôn. Còn bốn bậc nữa mới xuống tới, bà ấy nhìn tưởng tới rồi bước một cái rồi tuột đập đầu xuống đất chết. Nguy hại không, quá nguy hiểm, thân này quá nguy hiểm.
Có một thầy đi ra dự hội xong bị đột quỵ liệt nửa người, có một cô trẻ theo đoàn chụp hình quay phim, xong ngủ sáng dậy chết luôn, mới đây nè. Chỗ nào cũng thấy ẩn tàng nguy hiểm cho thân xác này mà không ai để ý, lo lắng, sợ hãi gì hết, mà hễ mình nói thì nói tiêu cực, yếm thế, tối ngày nói chết,bệnh hoài, phải không, đó là sự vô minh, mê lầm, chối bỏ sự thật, không dám nhìn nhận, cho nên quán tưởng nguy hại hết sức là hay. Trong thân này nhiều bệnh khởi lên, mắt cũng đau được, tai, mũi, lưỡi, thân đau, cái gì cũng đau được, đầu cũng đau, vành tai, miệng cũng đau, ung thư miệng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh thổ tả, bệnh hủi, mình diễn tả tưởng tượng người bệnh cùi thấy sao. Có một em bé có mẹ, có chuyện bất đồng mâu thuẫn trong gia đình bị ba nó đổ xăng lên người đốt, xong rồi cô này nằm người lở loét, rớt từng miếng thịt xuống vậy, đứa con gái mười mấy tuổi ở đó lo cho mẹ nó không cầm nước mắt được, chứng kiến cảnh mẹ nó chịu đựng cảnh như vậy mỗi ngày. Bữa hôm cho coi bệnh giòi chạy hết phải không. Đó là nguy hiểm, tấm thân này là tấm thân nguy hiểm, một ổ chứa bệnh hoạn, mới nhìn thấy cái ổ chứa mình chạy rồi mà mình rơi vào đó sao chịu nổi, cái đó sự thật đó quay lại . Cái đầu, chân cẳng như vậy giòi nó tuôn tuôn, nó nhúc nhích trong đó, đó tấm thân nguy hại không. Mình ở đây có phước không biết lo tu, rơi vào trường hợp đó rồi sao, cũng phải chịu chứ sao. Hết sức nguy hại, rồi đui điếc câm mù chột ung thư, què quặt.
Bao nhiêu những cảnh cụt giò, cụt tay, cụt chân, không có lỗ mũi, có người bị bệnh khủng khiếp lắm, nó ăn hết không còn mũi miệng gì hết, lủng lỗ thấy ở bên trong. Những bệnh khủng hoảng kinh khiếp lắm mình không tưởng tượng nổi đâu, nghiệp quả nó ghê gớm như vậy, cho nên thân này nguy hiểm lắm, nguy lắm, hiểm nguy vô cùng, nó không phải là chỗ an tọa; bệnh da, bệnh ngứa, bệnh trúng gió, ung nhọt, bệnh ho lao, bệnh da lang ben, bệnh ghẻ, bệnh đái đường, bệnh trĩ, ung thư, lở loét..cho nên mình vô bệnh viện, đủ thứ bệnh viện, không đủ chỗ có khi nằm ngoài hành lang vậy đó. Bệnh viện Chợ Rẫy vô nhìn thấy trong đó.
Đó là bản chất của thân này, ổ chứa chất bệnh hoạn. Bây giờ thân mình tương đối không phải không bệnh mà ít bệnh chút, thì mình cố gắng, còn mình rơi vào những thân đó làm sao, cho nên mình phải quán ở chỗ là có những thân như vậy nên mình cố gắng, cố gắng lên. Thấy cái nguy hại không, học nè, thấy nè, không học đâu có thấy tưởng đâu như vậy hoài thôi, phải không? Nguy hiểm vô cùng thân này, ổ chứa chất các bệnh hoạn, rồi thấy thân giòi có sợ không, mấy cô có sợ không, chạy, mà không chịu tu là vậy đó, mà nó còn tệ hơn không được như vậy đâu.
Chưa nói cảnh súc sanh, địa ngục còn hơn cái đó gấp vạn lần. Cái đó là loài người chỉ chịu quả bệnh thôi. Mình ngồi đây học ba tháng chưa hết mấy cái bệnh đó, nhớ vậy để mình lo tu, thực tập, nghe pháp, hành trì. Phải quán cái này, ngồi lại quán, nó sẽ đến với mình bất cứ lúc nào . Nó trợt một cái rồi xong nằm một chỗ, liệt nửa thân người, ngồi ỉa đái một chỗ. Hôm trước chú Tịnh Hòa, mẹ nằm một chỗ mấy năm mà giòi sanh ra, đỡ lên là dòi rớt ra. Ngồi tại chỗ đây chứ có nói ai xa xôi đâu, trong phim nào đâu, ngồi đây chứng kiến đây. Nằm có mấy năm một chỗ là rớt giòi ra, sợ không.
Sợ vậy là cố gắng nỗ lực lên tu, bao nhiêu tiền của này nọ kia, tất cả không cứu mình được, Tam Bảo mới cứu mình giúp mình. Những cái này là tư lương để dành cho đời sau, cho phút lâm chung nó được hiền thiện tốt lành. Không lo cái này tới lúc đó mình không biết, rồi đời sau đâu còn ai với ai là bà con nữa đâu, theo nghiệp hết rồi. Đâu phải đời sau sanh ra làm cô cháu giống vậy đâu, cha mẹ con cái như vậy, không có. Đường ai nấy đi, cái nghiệp dẫn mình đi chứ đừng tưởng đời sau y chang như vậy nữa không có, thành ra mình quán cái nguy hại này hết sức là hay, để cho mình sợ hãi lo lắng, cố gắng nỗ lực tu tập để mình hành trì, tiến lên.