Hồng Tâm Của Đạo Phật
HỒNG TÂM CỦA ĐẠO PHẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích của tu hành PAGEREF _Toc67664524 \h 1
II. Sáu căn vô thường PAGEREF _Toc67664525 \h 2
III. Nỗ lực quán chiếu PAGEREF _Toc67664526 \h 5
IV. Pháp của Đức Thế Tôn, nhất hướng nhàm chán - ly tham PAGEREF _Toc67664527 \h 7
V. Thánh trí về Sắc PAGEREF _Toc67664528 \h 9
VI. Khuyến tấn tu hành, con đường giác ngộ PAGEREF _Toc67664529 \h 11
VII. Chân nhân PAGEREF _Toc67664530 \h 14
VIII. Giải đáp PAGEREF _Toc67664531 \h 17
I. Mục đích của tu hành
Trong kiếp sống con người mà gặp được giáo pháp tối thượng là một điều vô cùng quý báu, gọi là hiếm có khó gặp. Chánh Pháp thật sự không giống như mình đã hiểu, mà rất thâm sâu và vi diệu, những cái mà mình nghe, mình thấy, mình đang thực tập là những bước đệm gọi là tiền phương tiện, là những bước ban đầu. Khi mở kinh ra đọc, lạy Phật, niệm danh hiệu Phật là những bước căn bản, đầu tiên chứ chưa phải thật sự là hồng tâm của giáo pháp, trái tim của Đức Phật.
Quý vị có biết tại sao thái tử Tất-đạt-đa xuất gia không? Đang là con vua, đang có vợ đẹp con ngoan, đang ở đỉnh cao nhất của danh vọng, địa vị, quyền thế mà ngài lại bỏ hết? Gọi là “thanh sơn đoạn phát, phỏng đạo tầm sư” nghĩa là non xanh cắt tóc, tìm thầy hỏi đạo. Tại sao lại như vậy? Có một cô nói: khi thái tử ra bốn cửa thành thấy người già, người bệnh, người chết. Như vậy động cơ để thái tử bỏ cung điện đi vào rừng tu hành để tìm cái gì? Giải thoát cái gì? Giải thoát sanh tử luân hồi. Cho nên hồng tâm, cốt lõi của Phật giáo là làm sao để không còn sanh, già, bệnh, chết nữa.
“Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh,
Già,
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện,
(VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng)
Mọi người thấy những người tu bây giờ có ai đạt được cái này chưa? Đây là chỗ rất quan trọng, chúng ta tu học là chúng ta cũng phải hướng đến chỗ này, nếu không hướng đến chỗ này thì không giải quyết được vấn đề đau khổ vì từ đâu có khổ? Từ có cái thân này mới có bệnh, mới có lo, mới có sầu, bi, khổ, ưu, não. Từ đâu cái thân này có ra? Do có sanh mới có cái thân này, từ thân này sanh ra già, bệnh, chết, có chết nên mới có khổ. Như vậy sanh, già, bệnh, chết là cái mà người học Phật phải giải quyết.
Quý vị có biết từ đâu mình sanh ra đây không? Lúc mình nằm trên gường bệnh chuẩn bị ra đi thì có biết mình đi đâu không? Tất cả đều không biết, đó là nỗi khổ, khổ trong vô minh không biết gì hết. Quý vị có bao giờ suy nghĩ đều này không hay chỉ nghĩ mai ăn gì, mốt làm được nhiêu tiền hay tháng sau hốt được bao nhiêu bạc? Mình chỉ thấy được trước mắt chứ không thấy cái sâu xa của Phật pháp.
Quý vị nghĩ mình tụng được bao nhiêu bộ, niệm được bao nhiêu xâu chuỗi hay làm được bao nhiêu chuyện rồi kể công nhưng cái đó vẫn chưa chạm tới hồng tâm, đó chỉ là những cái ban đầu để mình tập từ từ.
II. Sáu căn vô thường
Hôm nay Minh Thành chỉ cho quý vị hồng tâm của đạo Phật, ít nhất mình chưa làm được nhưng mình phải thấy, phải biết, phải hiểu và biết mình đang tu tới đâu. Hôm nay Minh Thành giới thiệu cho quý vị bài kinh số 149 với tựa đề Đại Kinh Sáu Xứ nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III. Sáu xứ là sáu chỗ rất quen thân với mình, đó là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Trong bài kinh này Đức Phật nói về sáu chỗ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đây cũng gọi là sáu căn hay sáu xứ.
“Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.”
(Trung Bộ Kinh, 149. Ðại kinh Sáu xứ)
Do mình không thấy không biết đúng sự thật về con mắt cho nên mình yêu thích con mắt, do yêu thích con mắt nên vị ấy luôn chú ý đến vị ngọt của con mắt, bị ái luyến đối với vị ngọt con mắt, bị hệ lụy, tham đắm đối với vị ngọt con mắt nên đau khổ. Mọi người ở đây có bị con mắt của chồng/vợ làm cho điên đảo không? Lúc thương có phải do thương người ấy có đôi mắt đẹp, ướt át không? Vì không biết sự thật về con mắt, nghĩ nó là đẹp, bền, là thường còn như vậy hoài, nên ưa thích con mắt. Đôi mắt thường được ví như cửa sổ tâm hồn nên khi hai người nhìn nhau, mắt chạm mắt sẽ có sức hút, gọi là tiếng sét ái tình đánh trúng.
Đức Phật nói con mắt này là tứ đại. Tại sao lại có con mắt này? Do tinh cha huyết mẹ tạo thành, do thức ăn, do cơm cháo tác thành, do đất; nước; gió; lửa tạo thành. Chính vì con mắt này là vô thường, con mắt này là tứ đại, con mắt này là biến hoại, nhất định nó sẽ bị đổi khác nên đến một lúc nào đó mình sẽ nhắm mắt rồi không thể mở ra được nữa nên mình phải biết như thật về con mắt, phải quán con mắt này là vô thường, Đức Phật đã nói trong bài kinh Con Mắt nếu ai tin tưởng xác quyết rằng con mắt này là vô thường, tai; mũi; lưỡi; thân; ý là vô thường thì người này đã vượt khỏi địa vị của phàm phu, chuẩn bị bước vào thánh quả.
Này các Tỳ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
-- Này các Tỳ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương IV. Tương Ưng Nhập, I. Con Mắt)
Mình không thể hiểu qua loa mà phải thấy bằng trí tuệ, người nào thật sự tin chắc và xác quyết con mắt này là vô thường thì dù là chưa nhập thánh nhưng đã là siêu phàm. Ở bên nước Nga rất lạnh, những người lính do đặc thù công việc phải đứng gác ngoài trời lạnh âm hàng chục độ nên bị đông đá lỗ tai, người khác va quẹt trúng là rớt luôn lỗ tai. Trong những vụ tai nạn giao thông thương tâm, cán nát óc văng tai ra một nơi, lúc đó gương mặt biến dạng nhận không ra ai là ai, lỗ mũi không biết ở chỗ nào, nghe thì sợ nhưng đó là sự thật cần phải quán chiếu.
Con mắt này là vô thường, lỗ tai này là vô thường, cái miệng này là vô thường, cái thân này là vô thường. Phải biết như thật như vậy thì mới bớt khổ, vì từ trước giờ mình không biết như thật mà mình chỉ biết giả, biết như giả, con mắt đẹp này đến một lúc sẽ trở thành mắt mờ tai điếc lưng còng gối mỏi. Hãy nhìn những lão làng ngồi trước mình, nhìn cho kĩ sự thật này, một ngày kia chúng ta sẽ đi đến như vậy, không có xa mà rất gần.
Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống.
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)
Mọi người ngồi tươi tỉnh vậy mà hỏi ra ai cũng có bệnh trong người, Đức Phật đã nói thân này là nơi nhóm họp tất cả các chứng bệnh, nhóm bất tịnh, đổ vỡ chứ không sạch sẽ mà mình lầm tưởng nó là đẹp, là sạch, là tốt, chết là chấm dứt mạng sống. Nhìn thấy đẹp đẽ, đi đứng nói cười vậy mà vài bữa lại nghe minh tinh điện ảnh tự tử chết, diễn viên Hàn Quốc nhảy lầu, diễn viên màn bạc cạo đầu đi tu.
Cho nên Đức Phật dạy đầu tiên là phải thấy rõ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường. Mọi người có thấy tấm thân này là vô thường không? Nó sanh diệt như thế nào? Đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-kheo, các ông đang ngồi tại đây cũng sanh cũng già, cũng bệnh cũng chết, mình phải thấy được cho sâu sắc sự sanh diệt của thân này, chỉ cần một mạch máu vào tim hay não bị tắt cũng có nguy cơ chết sớm, chỉ cần đi vấp té ngã là chảy máu, đang chạy xe không cẩn thận gây tai nạn là hết đời.
III. Nỗ lực quán chiếu
Cho nên thân này rất mong manh, mọi người đừng nghĩ chỉ có già mới vô thường. Khi mọi chuyện bất thình lình đến với mình thì mình có đỡ kịp không? Không ai biết trước khi nào mình chết và chết như thế nào, khi nào cái chết đến là đến nhưng không biết nó đến lúc nào, mình không chủ động được đối với cái chết.
Cho nên mỗi hơi thở phải tư duy quán chiếu, mỗi khi ăn cơm phải quán chiếu sự sanh diệt, mỗi khi đi đứng, co tay duỗi chân phải quán chiếu bước này sanh bước kia diệt, mỗi lời nói của Minh Thành là mỗi tiếng sanh mỗi tiếng diệt, phong đại trong người không đủ sẽ không phát ra tiếng, nếu lạnh ngắt không còn ấm là đã chết, ăn không được phải đút ống thẳng vào ruột xay thức ăn đổ vào. Mọi người có quán chiếu đến những cảnh này không hay chỉ nghĩ mình tốt đẹp hoài, đó là chuyện của người khác không phải mình? Có ai nghĩ cảnh tượng này sẽ đến với mình không? Có sợ không?
Phải sợ, nhất định phải sợ đối với bệnh, già, chết để tu học, tu là làm như nãy giờ Minh Thành đã nói, tức là phải quán chiếu sắc thân này vì đây là trí huệ của bậc thánh, trí huệ của Đức Phật trao cho mình. Ngoài việc niệm Phật, tụng kinh thì mọi người phải quán chiếu cái này chứ không phải vào tụng niệm ào ào rồi trở ra cũng sân si ầm ầm, tụng niệm thôi vẫn chưa đủ, trí huệ không phát sanh, từ bi không tăng trưởng, phiền não không tiêu trừ thì đó là tu sơ sơ. Còn cái miệng của mình khi ăn mà sơ suất làm chảy máu thì lúc đó còn đẹp không? Nếu bị rách da sẽ chảy máu, trong kinh nói rằng Đức Thế Tôn phơi bày ra những gì bị che giấu, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những người có mắt có thể thấy rõ được, đó là công đức của Đức Thế Tôn.
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”
(Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Mọi người có biết đằng sau lớp da này là sự lừa gạt khủng khiếp không? Chỉ cần một đường dao rọc từ đầu xuống bụng sẽ lộ ra ruột gan, phèo phổi, bao tử, lá lác, dạ dày, tỳ phế thận, máu mủ, phân, nước tiểu… đó là bản chất của thân này và chính cái này là cái mà mình say mê đắm đuối, yêu thích cả một đời rồi đau khổ vì nó, mình bị đày đọa bởi vì nó, bản thân mình bị còn chưa đủ mà còn đi tìm thêm một người nữa về ở chung để cùng nhau bị đày đọa.
Đức Thế Tôn dạy mình phương pháp nhìn cho thấu suốt bản chất của thân này chính là phương pháp bất tịnh quán. Có một ông thầy hơn 70 tuổi lên núi nói với Minh Thành mình già cả rồi, không còn nhiều thời gian nữa nên thầy chỉ cho phương pháp nào tu nhanh để mau đắc đạo. Minh Thành nói ông đem tấm hình lúc mình 17-18 tuổi ra, đem thêm tấm hình lúc chụp X-quang ra xương sọ, xương sườn, và tấm hình lúc hiện tại 70 tuổi. Bây giờ ông đem ba tấm hình, một tấm lúc đôi mươi, một tấm lúc chụp X-quang và một tấm hiện giờ rồi ngồi quán từ sáng đến chiều thì thế nào cũng đắc đạo.
IV. Pháp của Đức Thế Tôn, nhất hướng nhàm chán - ly tham
Nhìn lại sự thật bản chất của thân này, đó là trí tuệ, là thánh trí, là đại giác ngộ, là sự giải thoát mở ra tất cả sự trói buộc tham đắm về thân này. Tôn giả Upàli đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn dạy cho phương pháp vắn tắt, sau khi Thế Tôn dạy con sẽ ở yên một mình, độc cư thiền định quán chiếu. Đức Phật nói những pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh thắng trí giác ngộ Niết-bàn thì ông nên thọ trì những pháp đó là pháp và luật của Như Lai đã nói, còn nếu những lời nào không liên hệ đến điều này thì ông phải biết đó không phải là lời của Như Lai, bài kinh này có tên Thông Điệp và là bài kinh rất quan trọng.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Ðiệp)
Những pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn thì đó là pháp của Phật. Nhất hướng nhàm chán, do mình không hiểu bản chất sự thật của thân này nên mình mới yêu thích nó, mình đam mê trong cuộc đời này, còn nếu mình hiểu thật sự thân này vô thường, bất tịnh, tạm bợ như vậy thì nhất định mình sẽ nhàm chán, nhàm chán nghĩa là không còn say đắm, trau chuốt cho thân này, không còn lo ăn ngon, mặc cho đẹp, ở chỗ sang, đi xe đời mới, ăn chơi rồi cuối cùng chết đi còn tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp. Có phải suốt cuộc đời này mình lo chăm sóc cho thân này phải không? Mình không thấy được nó là vô thường, nó nhất định sẽ tan rã, mình quên mất mà cứ nghĩ nó sẽ như vậy hoài, chuyện chết là chuyện của người ta chứ không phải chuyện của mình, nếu mình thường nhớ cái này thì mình sẽ bớt tham đắm.
Làm sao để diệt trừ tham đắm? Mọi người nghĩ người giàu nhất thế giới có tham không hay là tham nhất? Mình nghèo, thiếu thốn thì mới tìm thêm còn người đã đầy đủ tràn ngập thì kiếm thêm gì nữa? Đây là chỗ quan trọng, đây là cội gốc vấn đề, vì người ta nghĩ thân này là thật, là bền chắc, người ta muốn phát huy cái tôi và cái của tôi, người ta muốn thêm hoài đến khi nào chết thì thôi, mà tới lúc chết đã muộn màn rồi, chết trong sự hối hận và hối tiếc.
Chỉ có bậc trí huệ, gọi là đa văn thánh đệ tử là đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều Chánh Pháp một bề nhàm chán đối với tất cả sắc pháp của thế gian. Mọi người thử nghĩ bây giờ có cái gì trên đời này bền vững với thời gian, không thay đổi biến chuyển không? Không bao giờ có được, mà nhất định nó sẽ hoại diệt, không sớm thì muộn vấn đề chỉ là thời gian, nếu đã hoại diệt thì mình còn tham đắm để làm gì?
Ngược lại mình phải giải thoát khỏi nó, đây mới chính là hồng tâm của Đức Phật. Quý vị có bao giờ cảm thấy ngán ngẩm cuộc đời này không? Chán ngán được vài hôm lại yêu đời trở lại, lâu lâu có chuyện xảy ra lại thấy chán rồi muốn đi tu, đến khi hết chuyện giải quyết êm xuôi thì yêu đời trở lại, mình cứ đi vào đi ra hoài mà không thể đi ra khỏi hoàn toàn được, giống như con kiến bò vòng quanh miệng chén không biết đường ra.
V. Thánh trí về Sắc
Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật chỉ cho mình con đường vượt thoát ra. Muốn thoát ra mình phải biết:
Vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc.
Sự xuất ly khỏi sắc.
Nói đầy đủ sẽ có bảy trí nhưng Minh Thành chỉ nói gọn ba trí thôi. Thế nào là vị ngọt của sắc? Do mình khởi lên sự vui thích thì cái vui thích là vị ngọt của sắc, điều này không cần nói nhiều vì ai cũng biết, ai cũng nếm vị ngọt này. Từ nhỏ đến lớn mình đã bị vị ngọt này làm khổ không biết bao nhiêu lần và mình cứ đi tìm hoài. Mình nếm vị ngọt này như vài giọt mật còn lại trên lưỡi dao, vị ngọt thì ít và sự nguy hiểm thì nhiều.
Mình chỉ biết vị ngọt chứ không biết sự nguy hiểm và tác hại của sắc, Đức Phật đã chỉ cho mình biết sự nguy hại của sắc là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, đó là nguy hại của sắc. Vô thường là hay bệnh bao tử, viêm xoang, viêm tai, vô thường là răng rụng phải gắn răng giả vào rồi để quên trong toilet, vào giờ ăn mà ăn không được vì tìm không ra hàm răng giả, đó là vô thường, là khổ, vô thường là không có chân mà phải gắn chân giả dùng đỡ, vô thường là cha mẹ mình ra đi, ông bà không còn, vợ chồng phân ly, vô thường là đầu bạc khóc tiễn đầu xanh… đó là những cảnh vô thường mà ai trong đây cũng ít nhất một lần đã chứng kiến, đó cũng là sự nguy hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
Khi thường quán sự nguy hại này sẽ nhiếp phục được dục và tham, đoạn tận được dục và tham đối với sắc, lúc đó mình không còn bị sắc ràng buộc và ra khỏi sắc, đó là giải thoát khỏi sắc. Hễ cái dục, cái tham muốn của mình đối với sắc còn nhiều bao nhiêu thì cái khổ cũng tương xứng bấy nhiêu, cái tham muốn đối với sắc giảm bao nhiêu thì cái khổ của mình cũng giảm tương ứng bấy nhiêu, không còn ham muốn với sắc thì người đó chấm dứt khổ, thành tựu thánh quả A-la-hán tối cao.
Tu là ở chỗ này, hồng tâm của Phật pháp là ở chỗ này chứ không phải ở chỗ tụng được bao nhiêu bộ kinh, niệm được bao nhiêu câu, lạy được bao nhiêu lạy, cái đó vẫn chỉ ở ngoài chứ chưa đi vào trong giáo pháp của Như Lai, cái đó chỉ là bước đầu, sau đó phải tu tập quán chiếu trí huệ này, xem lại lòng tham của mình đối với danh vọng, địa vị, tiền bạc, tiếng khen lời chê còn nhiều hay ít.
Nếu còn nhiều sẽ khổ nhiều, tham nhiều thì sân nhiều vì nó tương xứng, tham và sân cũng chỉ là hai mặt của một bàn tay thôi vì tham không được là sân giận lên. Tham và sân từ si mà ra, mà si là không thấy được bản chất của sự thật về thân này, không thấy được mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, không thấy thân sắc uẩn, sắc pháp này là khổ, bản chất của thân này đã là khổ rồi vì có thân này là sẽ có bệnh tật, có thân này phải có ăn mà nếu không có thức ăn nuôi thân thì khổ, rồi những người bệnh có đồ ăn mà ăn không được cũng khổ.
Tấm thân này phải lệ thuộc vào không biết bao nhiêu là điều kiện để tồn tại được, không có nước uống, khổ, có nước mà không uống được cũng khổ, không ngủ được thì bệnh, thức khuya mang bệnh, ngủ hoài cũng bệnh, lại thêm bao nhiêu thứ bệnh trong cơ thể này: bệnh mắt, bệnh tai, bệnh đường ruột, bệnh ung thư, bộ phận nào trong cơ thể cũng có thể mang bệnh, như vậy cái gốc là từ nơi sắc pháp mà mình không biết nên bị lầm tưởng.
Đức Phật gọi là điên đảo tưởng tức là cái tưởng đó bị đảo lộn, điên đảo kiến, cái thấy sai lầm, cái thấy của tà kiến, không có chánh kiến là yêu thích thân này, đam mê vào nó, mình tưởng nó bền chắc và chính cái tưởng này làm mình khổ, nguồn gốc khổ sanh ra từ đây gọi là thân kiến, là kiến chấp về thân. Mình phải luôn nhìn thấy bản chất của thân để nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc thì mình sẽ bớt khổ rất nhiều.
Khi nhiếp phục dục và tham đối với lưỡi, ăn cơm với nước tương rau luộc không bị sao nhưng nếu nặng cái tham về lưỡi mà không có gì ăn hết thì cảm giác lúc đó ra sao? Khó chịu, bực bội, phiền não. Mình thấy rằng cảm giác vô thường, không có gì, mà có người khen mình thì mình chỉ biết rằng đó là tiếng khen vậy thôi, bị chê thì biết đang có cảm giác bị chê.
VI. Khuyến tấn tu hành, con đường giác ngộ
Còn nếu không tu thì mình nắm bắt vào cảm giác này, hễ khen là mình thích, bị chê là sân giận rồi cuối cùng vào hầm lửa. Khi mình công phu vào buổi chiều có câu quy y Pháp ly dục tôn, câu này rất quan trọng, toàn bộ mục đích của giáo pháp Đức Phật nhằm giúp mình lìa dục, giảm thiểu ham muốn vì cái ham muốn này làm cho mình khổ, người nào có ham muốn quá nhiều sẽ càng khổ nhiều, ham muốn ít thì khổ ít, ham muốn vừa thì khổ vừa, còn chấm dứt hết ham muốn thì hết khổ, đó là bậc thánh giả A-la-hán.
Mình phải hiểu, phải thấy, phải biết chỗ này, Đức Thế Tôn thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết vì ngài không còn yêu thích tấm thân này nữa, chính vì không còn yêu thích, ngài biết bản chất của nó giống như nùi giẻ, giống như đống phân, nhìn ghê tởm không ưa thích nên khi ngài viên tịch là ngài vào Niết-bàn, không còn cái thân giống vậy nữa. Còn mình khi gần chết rất sợ, sợ mất cái thân này nên tìm cái thân khác nhào vô để ra tiếp cái thân vô thường, bất tịnh, khổ đau khác, có phước hay không có phước cũng y như vậy thôi. Những bậc thánh giả sau khi đã quán chiếu tường tận tấm thân này họ sẽ sanh ra sự nhàm chán, từ bỏ, không còn tham muốn nữa mà sẽ an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn, chấm dứt sự tiếp nối trong sanh tử, đây gọi là giải thoát sanh tử luân hồi. Cho nên mỗi ngày quý vị phải quán chiếu về sự thật của thân này, ngoài giờ niệm Phật phải quán chiếu thêm điều này.
“Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai.”
(Trung Bộ Kinh, 149. Ðại kinh Sáu xứ)
Minh Thành biết bài này khó nhưng quý vị phải cố gắng nghe vì nghe cái này sẽ đem lại cho quý vị lợi lạc lâu dài và rộng lớn trong nhiều đời nhiều kiếp về sau. Có thể có nhiều người từ khi sanh ra, lớn lên cho đến khi chấm dứt mạng sống cũng không nghe được điều này, đây là Chánh Pháp của Đức Thế Tôn. Quý vị nghe được nghe vậy, hiểu được như vậy, chiêm nghiệm được như vậy thì quý vị sẽ thành tựu được chánh kiến, mà chánh kiến trong đạo gọi là Nhập lưu vào dòng trí huệ, vào dòng thánh.
Không phải mình nghe là nhập thánh liền nhưng nghe trong một thời gian dài rồi chiêm nghiệm, gọi là chánh tư duy, suy tư về điều đó, chiêm nghiệm về điều đó. Không phải chiêm nghiệm là sẽ thấy 100%, khi chiêm nghiệm rồi thấy được 10% thì bớt khổ được 10%, một năm sau chiêm nghiệm lên được 30% thì giảm bớt được 30% khổ, khi tinh tấn siêng năng, nỗ lực cố gắng nhìn thấy như lời Đức Phật nói thì đoạn được 40% cái khổ, nhìn lại quãng thời gian đó mình đã 50 tuổi.
Sau đó mình chánh niệm, giữ cái thấy biết đó thường trực trong tâm đừng để quên, khi nhìn thấy bất kì cái gì đẹp thì tự động trong đầu sẽ nghĩ "có gì đâu mà đẹp, nó là vô thường, thấy đẹp vậy thôi chứ sớm muộn cũng tan hoại, tham cái đó mệt lắm", đó gọi là Như lý tác ý chánh tư duy nhiếp phục dục tham trong nội tâm. Nếu mình thường xuyên tác ý, có chánh niệm, chánh tư duy đoạn tận được 65% thì lúc này đã 60 tuổi, nỗ lực thêm nữa, nhiếp niệm, quán chiếu, tâm yên định thì trí huệ bừng sáng thấu suốt tất cả các pháp, phá được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì lúc đó nội tâm được sạch sẽ cũng đã 70 tuổi là mình ra đi thanh thản, thảnh thơi, việc cần làm đã làm không còn vướng bận gì nữa.
Vậy là mình đã viên mãn, trong vô lượng kiếp luân hồi mình trúng được cái này là gấp một tỷ lần trúng độc đắc, trong vô lượng vô biên kiếp luân hồi mà mình gặp được Chánh Pháp để tư duy quán chiếu, tinh tấn tu tập thì còn gì trên đời này sánh bằng. Trong kinh Đức Phật ví dụ có người đứng trên đỉnh núi thả một sợi chỉ xuống, có người ở chân núi đưa cây kim may đồ ra, giữa núi là cuồng phong bão táp, để sợi chỉ rơi trúng lỗ kim thì mọi người nghĩ dễ hay khó? Cực kì khó, quý vị nghe được Chánh Pháp, tu tập được Chánh Pháp còn khó hơn điều đó nữa nên mọi người có thấy hạnh phúc không? Mọi người chỉ cần ngồi một chỗ có thầy đến tận nơi giảng dạy, thầy phải đi tầm cầu khắp thế giới 30 năm, lên rừng núi tìm chỗ tu, tầm cầu ra được diệu pháp vô thượng đem đến cho mình mà còn không chịu tu học thì nói gì nữa, mọi người đã thấy rõ chỗ trọng tâm của Phật giáo chưa?
Việc làm phước rất tốt nhưng phước này chỉ giúp cho mình có đời sống tiếp theo được an ổn để tu hành, cho nên mọi người phải nhớ cái phước hữu lậu và cái phước vô lậu rất khác nhau. Phước hữu lậu là làm bất cứ điều gì thiện lành, tốt đẹp thì mình mong rằng mai sau sẽ được hưởng được gấp ngàn lần hơn nữa, cái này cũng có phước nhưng cái phước này tương xứng với cái tâm tham cầu nên nó hữu hạn.
Còn quý vị cũng làm phước nhưng không mong cầu thì cái phước này lớn hơn việc làm phước có mong cầu nên đời sau quý vị sanh ra được giàu đẹp, thông minh, có địa vị quyền thế, lời nói được mọi người lắng nghe, tôn trọng, tướng mạo trang nghiêm để gặp được Phật pháp, khi cái phước này hướng về Chánh Pháp thì những đời sau cái phước đó sẽ tiếp tục trong Chánh Pháp.
Cái phước siêu việt hơn tất cả các phước là hướng về Niết-bàn, tức là tất cả những việc thiện lành mà mình làm không phải để mình hưởng mà đó là trợ duyên để mình chứng đắc Niết-bàn, tất cả cái phước đều quy tụ về Niết-bàn như ngôi nhà có nhóc nọn thì tất cả cột kèo, rui mè đều hướng về nóc nhọn, nghiêng về nóc nhọn. Cũng vậy, tất cả công đức phước báu của mình đều hướng về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, tiến thẳng đến Niết-bàn thì gọi là phước đức vô lậu. Vì vậy Đức Phật dạy mình bên trong phải tu tập chính tuệ quán chiếu, bên ngoài làm tất cả những thiện pháp công đức.
VII. Chân nhân
Đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu, vợ chồng phải chung thủy, anh em phải thương yêu nhau, quý trọng nhau, phải giữ tình nghĩa với nhau. Đừng bao giờ tham sang phụ khó, đừng quên những lúc cực khổ có người giúp đỡ mình. Chân nhân là người thật, con người đúng ý nghĩa là một con người thì người đó phải có đặc tính nhớ ơn, biết ơn những người đã thi ơn đối với mình, đó là con người thật sự là một con người.
“Này các Tỳ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các Tỳ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, I. Ðất)
Mọi người nghĩ mình thọ ơn bao nhiêu người, có nhiều không? Rất nhiều người, cho nên phải luôn nhớ ơn thì ai cũng là ân nhân cho nên mình không nên sân si với ân nhân với mình, không cự cãi với ân nhân. Như vậy là mình sống trong sự cung kính, tôn trọng và biết ơn, nếu quý vị sống được như vậy thì đi đến đâu cũng có người thương, mình có cung kính, tôn trọng người ta thì người ta cũng sẽ đối lại với mình như vậy. Vậy găp ai cũng mỉm cười sẽ bớt khổ rất nhiều, vợ/chồng ở chung nhà với mình, người đã bỏ cha bỏ mẹ bỏ tất cả để về ở chung với mình mấy chục năm thì mình có tôn trọng họ không? Có biết ơn người đó không? Đây là chỗ cần phải nói chứ nếu không nói quá nhiều mà thực tế lại không làm được gì.
“Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu
Dưới gót không ly một điểm trần...!!”
Ngay trong hiện thực đời sống vợ chồng, anh chị em, bạn đạo, cô bác phải luôn có sự tôn trọng biết ơn người ta. Đức Phật dạy có ba hạng người là ba bậc ân nhân vĩ đại không bao giờ mình có thể đền đáp được dù có đem thức ăn, thuốc men, gường chõng, nhà cửa cho cũng không bao giờ đền đáp được ba vị ân nhân vĩ đại này.
Thứ nhất là từ người nào do người đó mình được thọ tam quy ngũ giới là vị ân nhân vĩ đại thứ nhất trong đời mình. Thứ hai từ người nào mà mình biết được cuộc đời này là khổ, là nguyên nhân của khổ, là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, tóm lại là từ người nào giúp mình thấy được Chánh Pháp, thấy được bản chất của thân năm uẩn tứ đại là vô thường, là khổ thì người đó là vị ân nhân vĩ đại thứ hai. Thứ ba là từ người nào giúp mình chấm dứt hết tất cả phiền não lậu hoặc, đạt đến tâm hoàn toàn thanh tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát của một bậc A-la-hán thì vị đó là ân nhân vĩ đại thứ ba mà mình không bao giờ báo đáp được.
Mọi người đã thấy được thân tứ đại ngũ uẩn này là khổ chưa? Quý vị có thấy trên tin tức hằng ngày không? Đã biết bao hoàn cảnh bi thương, có những ông cụ già 90 tuổi còn phải đi bán vé số, có những em bé vừa sanh ra đã bị bỏ rơi, có những đứa bé chưa kịp sanh ra đã chết, có những em bé phải đi kiếm tiền từ bé, nghèo đói phải ăn đồ ăn trong đống rác, có những người đem đồ ăn đã vứt bỏ về chế biến lại bán cho người nghèo mà người ta sẵn sàng mua để ăn, đồ đã bỏ được ăn lại, những em bé Châu Phi 7-8 tuổi nhìn như trẻ sơ sinh, nằm một chỗ vì suy dinh dưỡng trầm trọng, ngay trong nước mình cũng có nhiều hoàn cảnh rất khổ.
Có em bé 7-8 tuổi mà cha mẹ chết hết ở một mình nơi ống cống, tự nấu ăn tự sống, không học hành gì hết. Mọi người lên mạng tìm xem những cảnh khổ nhất trong cuộc đời này để mình quán chiếu, phải thấy cho sâu sắc nỗi khổ chứ nhiều khi ở trong nhà có cơm ăn ba bữa, đi đâu cũng có xe đưa rước, tiền cũng có dư chứ không thiếu mà gặp là than khổ, vì cứ muốn thêm, khổ vì do tham chứ không phải khổ bằng trí tuệ.
Chừng nào thấy khổ bằng trí huệ chừng đó mới bớt khổ, còn mình khổ là than thở để muốn thêm nữa là khác hoàn toàn. Cho nên bằng trí huệ quán chiếu sâu sắc để thấy được bản chất của cuộc đời, từ đó tinh tấn nỗ lực tập, trong kinh Đức Phật ví dụ có người tử tù được nhà vua đại xá thiên hạ, đây là dịp ân xá nên người này được ra khỏi tù nhưng với điều kiện người này phải bưng đầy bát dầu, sau lưng có người đao phủ trực chờ sẵn, hai bên người là những vũ nữ, kĩ nữ hát ca nhảy múa với đầy những trò ảo thuật hấp dẫn. Nếu bát dầu chỉ cần rơi một giọt thôi thì đầu của người này cũng rơi theo đó. Vậy thì người này có thể nhìn qua nhìn lại không? Mọi người có biết người bưng bát dầu đó là ai không? Những người vũ nữ ca hát nhảy múa đó là ai?
Tất cả những thứ lòe loẹt trong cuộc đời này giống như những cô gái ca múa, ảo thuật quanh người đó, còn người bưng bát dầu chính là mình, chỉ cần sơ sảy một chút thôi là mình mất mạng. Mọi người có thấy cuộc sống bây giờ chết có dễ không? Rơi một chết máy bay thôi là chết biết bao nhiêu người, thiên tai động đất sóng thần xảy ra chết hàng trăm ngàn người, sạt lở núi, sụp hầm mỏ làm chết vô số người không tìm thấy xác.
Chỉ cần sơ sảy một chút thôi là rơi đầu, cái vô thường ập đến nên mình phải nhìn cho sâu sắc để nỗ lực tu hành, mỗi ngày ăn cơm ba bữa là phải tu ba thời. Mình lo cho cái thân này rất kĩ, xác thân mới vừa đói là tìm đủ món để ăn còn pháp thân bị bỏ đói, không quan tâm, cái thân trí huệ của mình èo uột như cây tre miễu nên bây giờ phải làm cho cân bằng trở lại, xác thân, pháp thân và huệ thân phải cân bằng, mỗi ngày ăn cơm ba bữa thì phải tu ba thời, nghe pháp ít nhất một thời, ngồi thiền ít nhất một thời, tụng kinh ít nhất một thời thì mới cân bằng.
Mình chỉ lo cho xác thân rồi mai đây nhắm mắt ra đi nó bỏ mình trong khi cái thân trí huệ lại không lo, mà cái thân trí huệ là cái mà mình cần dùng cho đời sau lại bỏ quên. Như vậy cái đáng lo mình không lo, cái không đáng lo mà lại lo. Chúc cho quý vị nên lo cái nên lo và đừng lo nhiều cái không cần lo, như vậy quý vị sẽ lo được đến chỗ không cần lo và cuối cùng dứt hết mọi lo sợ, thành tựu trí tuệ giải thoát an lạc trong hiện tại và tương lai, giúp cho mình, cho gia đình mình và cho những người có duyên đối với mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VIII. Giải đáp
Nam mô A-di-đà Phật. Con rủ nhiều người bạn đi chùa nhưng bạn cứ bảo tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu. Câu hỏi thứ hai là kinh Địa Mẫu có phải là kinh Phật không? Xin thầy hoan hỉ giải thích giúp con.
Dân gian hay nói tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu thì mình phải hiểu hoàn cảnh ra đời câu nói này và câu này không phải là câu nói của bậc Chánh Đẳng Giác cho nên không đúng tuyệt đối, nếu là câu nói của Đức Phật thì đúng tuyệt đối trong mọi lúc mọi nơi. Không phải Phật, còn là phàm phu thì không đúng, chỉ nói ở phương diện nào, trong hoàn cảnh nào sử dụng câu nói đó mà thôi.
Người ta dùng câu này để nói người cứ lo chỗ này chỗ kia chỗ nọ mà không chịu lo cho nhà, vì ở nhà mà mình bỏ bê không lo cho cha mẹ, ông bà. Mình cứ chạy ra ngoài lo chỗ này chỗ kia hay đi khắp chùa miễu mà cha mẹ không lo nên người ta mới nói câu đó. Còn nếu mình biết hiếu thảo với cha mẹ, lại còn biết đi chùa tụng kinh, niệm Phật, biết nghe pháp, biết quán chiếu, biết giúp mọi người thì còn gì bằng.
Trong chùa có những bác trong ban quản tự phụ giúp, nếu không có người đứng ra gánh vác công việc thì mình làm sao có những buổi nghe pháp, có những khóa tu như thế này? Nếu ai cũng nói là ở nhà lo cho ba mẹ còn hơn đi chùa thì ai sẽ đứng ra lo những việc này? Vì vậy mình phải biết câu nói đó nói trong hoàn cảnh đó, đối với con người đó, trong trường hợp đó và lúc đó chứ không phải là bây giờ. Người nào lấy câu này ra để làm lý do cho việc làm biếng, trốn tránh thì người đó là ngụy biện, không chịu nỗ lực cố gắng để gieo duyên lành với Tam Bảo. Cuối cùng là Địa Mẫu chơn kinh không phải là kinh Phật, không phải là chánh pháp.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con thấy trong những kinh khác có câu chú rồi đến bát mà trong kinh Vô Lượng Thọ, kinh Pháp Hoa, kinh Địa Tạng không có chú. Như vậy là sao, xin thầy hoan hỉ giảng cho con.
Minh Thành tặng cho mọi người một câu chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, những câu chú bây giờ mọi người đọc đều không hiểu, Minh Thành tặng cho mọi người một câu chú rất thực tế, rất đơn giản trong tạng kinh Nikāya. Khi gặp người muốn gây sự thì mọi người đọc câu chú Án xa ra, xa ra, xa ra. Đọc trong tâm chứ đừng đọc ra tiếng rồi tự động mình xa người đó ra hoặc khi đi xe mà mình thấy chuẩn bị nguy hiểm do chạy sát nhau hay chuẩn bị cự cãi nhau thì đọc Án xa ra, xa ra, xa ra.
Khi mình gặp cái gì mà tâm mình khởi tham lên thì niệm Án xa ra, xa ra, xa ra. Khi chồng/vợ chuẩn bị gây sự, cự cãi nhau thì Án xa ra, xa ta ra, đừng sáp vô, xa ta ra, đừng sáp vô. Ở đây Minh Thành nói cho mọi người dễ hiểu còn trong kinh dùng từ Viễn Ly, đây là một đức hạnh của người xuất gia cũng như người cư sĩ. Viễn ly cũng gọi là xa lìa, vì mình làm gì cũng rủ rê người khác làm theo, không có lúc nào mình làm một mình, vậy lúc mình nhắm mắt ra đi thật xa thì mình sẽ rủ ai?
Cho nên mình phải tập sống đời sống xa lìa, tự lập một mình trong những lúc thiền tịnh, vì những lúc mình đối đầu sanh tử không có ai cùng chung với mình dù cho thương yêu như mẹ con, như vợ chồng, anh em ruột, lúc đó không ai giúp được mình và mình sẽ hoảng loạn. Vì vậy Đức Phật dạy mình phải thực tập cái hạnh sống viễn ly, sống xa lìa một mình và cái này rất quan trọng, mình phải tập đứng một mình, đi một mình, làm việc một mình, không lệ thuộc vào những đối tượng ở bên ngoài, mình lệ thuộc vào họ rồi mai đây nếu không có họ sẽ ra sao?
Mình sẽ khổ, hụt hẫng cho nên hai chữ viễn ly này rất quan trọng. Đây là pháp lệnh, là những yếu nghĩa trong tạng kinh Nikāya, những bài chú là cái gieo duyên ban đầu cho quý vị tu thôi, ý nghĩa của chú là nhiếp tâm không cho mình nghĩ ngợi lung tung. Còn Minh Thành đang nói những câu pháp lệnh, yếu nghĩa trọng tâm trong kinh tạng của Đức Phật. Ví dụ lát nữa mình trở ra nhìn vào chiếc xe của mình bị mất giỏ xách thì mọi người tác ý "có gì đâu, lỡ mất rồi thôi, cho người khác dùng mình đỡ đi làm từ thiện", hoặc đi chùa bị mất dép thì "có gì đâu, người khác mang mình có dép mới mang", có người lại mách mình bị người khác nói xấu thì "có gì đâu, người ta nói vậy có gì đâu". Chỉ có ba chữ thôi có gì đâu rất dễ nhớ, dễ thuộc. Thêm một câu chú nữa, khi mình gặp điều gì vừa lòng hay không vừa ý thì nhớ đến chết, Đức Phật dạy pháp môn niệm tử, nếu người thường chiêm nghiệm về cái chết, tức là thường niệm tử thì người đó sẽ buông xả được tất cả phiền não trong cuộc đời này, người đó không còn hơn thua, ganh tị, tham đắm nữa.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích của tu hành PAGEREF _Toc67664524 \h 1
II. Sáu căn vô thường PAGEREF _Toc67664525 \h 2
III. Nỗ lực quán chiếu PAGEREF _Toc67664526 \h 5
IV. Pháp của Đức Thế Tôn, nhất hướng nhàm chán - ly tham PAGEREF _Toc67664527 \h 7
V. Thánh trí về Sắc PAGEREF _Toc67664528 \h 9
VI. Khuyến tấn tu hành, con đường giác ngộ PAGEREF _Toc67664529 \h 11
VII. Chân nhân PAGEREF _Toc67664530 \h 14
VIII. Giải đáp PAGEREF _Toc67664531 \h 17
I. Mục đích của tu hành
Trong kiếp sống con người mà gặp được giáo pháp tối thượng là một điều vô cùng quý báu, gọi là hiếm có khó gặp. Chánh Pháp thật sự không giống như mình đã hiểu, mà rất thâm sâu và vi diệu, những cái mà mình nghe, mình thấy, mình đang thực tập là những bước đệm gọi là tiền phương tiện, là những bước ban đầu. Khi mở kinh ra đọc, lạy Phật, niệm danh hiệu Phật là những bước căn bản, đầu tiên chứ chưa phải thật sự là hồng tâm của giáo pháp, trái tim của Đức Phật.
Quý vị có biết tại sao thái tử Tất-đạt-đa xuất gia không? Đang là con vua, đang có vợ đẹp con ngoan, đang ở đỉnh cao nhất của danh vọng, địa vị, quyền thế mà ngài lại bỏ hết? Gọi là “thanh sơn đoạn phát, phỏng đạo tầm sư” nghĩa là non xanh cắt tóc, tìm thầy hỏi đạo. Tại sao lại như vậy? Có một cô nói: khi thái tử ra bốn cửa thành thấy người già, người bệnh, người chết. Như vậy động cơ để thái tử bỏ cung điện đi vào rừng tu hành để tìm cái gì? Giải thoát cái gì? Giải thoát sanh tử luân hồi. Cho nên hồng tâm, cốt lõi của Phật giáo là làm sao để không còn sanh, già, bệnh, chết nữa.
“Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh,
Già,
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện,
(VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng)
Mọi người thấy những người tu bây giờ có ai đạt được cái này chưa? Đây là chỗ rất quan trọng, chúng ta tu học là chúng ta cũng phải hướng đến chỗ này, nếu không hướng đến chỗ này thì không giải quyết được vấn đề đau khổ vì từ đâu có khổ? Từ có cái thân này mới có bệnh, mới có lo, mới có sầu, bi, khổ, ưu, não. Từ đâu cái thân này có ra? Do có sanh mới có cái thân này, từ thân này sanh ra già, bệnh, chết, có chết nên mới có khổ. Như vậy sanh, già, bệnh, chết là cái mà người học Phật phải giải quyết.
Quý vị có biết từ đâu mình sanh ra đây không? Lúc mình nằm trên gường bệnh chuẩn bị ra đi thì có biết mình đi đâu không? Tất cả đều không biết, đó là nỗi khổ, khổ trong vô minh không biết gì hết. Quý vị có bao giờ suy nghĩ đều này không hay chỉ nghĩ mai ăn gì, mốt làm được nhiêu tiền hay tháng sau hốt được bao nhiêu bạc? Mình chỉ thấy được trước mắt chứ không thấy cái sâu xa của Phật pháp.
Quý vị nghĩ mình tụng được bao nhiêu bộ, niệm được bao nhiêu xâu chuỗi hay làm được bao nhiêu chuyện rồi kể công nhưng cái đó vẫn chưa chạm tới hồng tâm, đó chỉ là những cái ban đầu để mình tập từ từ.
II. Sáu căn vô thường
Hôm nay Minh Thành chỉ cho quý vị hồng tâm của đạo Phật, ít nhất mình chưa làm được nhưng mình phải thấy, phải biết, phải hiểu và biết mình đang tu tới đâu. Hôm nay Minh Thành giới thiệu cho quý vị bài kinh số 149 với tựa đề Đại Kinh Sáu Xứ nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III. Sáu xứ là sáu chỗ rất quen thân với mình, đó là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Trong bài kinh này Đức Phật nói về sáu chỗ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đây cũng gọi là sáu căn hay sáu xứ.
“Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.”
(Trung Bộ Kinh, 149. Ðại kinh Sáu xứ)
Do mình không thấy không biết đúng sự thật về con mắt cho nên mình yêu thích con mắt, do yêu thích con mắt nên vị ấy luôn chú ý đến vị ngọt của con mắt, bị ái luyến đối với vị ngọt con mắt, bị hệ lụy, tham đắm đối với vị ngọt con mắt nên đau khổ. Mọi người ở đây có bị con mắt của chồng/vợ làm cho điên đảo không? Lúc thương có phải do thương người ấy có đôi mắt đẹp, ướt át không? Vì không biết sự thật về con mắt, nghĩ nó là đẹp, bền, là thường còn như vậy hoài, nên ưa thích con mắt. Đôi mắt thường được ví như cửa sổ tâm hồn nên khi hai người nhìn nhau, mắt chạm mắt sẽ có sức hút, gọi là tiếng sét ái tình đánh trúng.
Đức Phật nói con mắt này là tứ đại. Tại sao lại có con mắt này? Do tinh cha huyết mẹ tạo thành, do thức ăn, do cơm cháo tác thành, do đất; nước; gió; lửa tạo thành. Chính vì con mắt này là vô thường, con mắt này là tứ đại, con mắt này là biến hoại, nhất định nó sẽ bị đổi khác nên đến một lúc nào đó mình sẽ nhắm mắt rồi không thể mở ra được nữa nên mình phải biết như thật về con mắt, phải quán con mắt này là vô thường, Đức Phật đã nói trong bài kinh Con Mắt nếu ai tin tưởng xác quyết rằng con mắt này là vô thường, tai; mũi; lưỡi; thân; ý là vô thường thì người này đã vượt khỏi địa vị của phàm phu, chuẩn bị bước vào thánh quả.
Này các Tỳ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
-- Này các Tỳ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương IV. Tương Ưng Nhập, I. Con Mắt)
Mình không thể hiểu qua loa mà phải thấy bằng trí tuệ, người nào thật sự tin chắc và xác quyết con mắt này là vô thường thì dù là chưa nhập thánh nhưng đã là siêu phàm. Ở bên nước Nga rất lạnh, những người lính do đặc thù công việc phải đứng gác ngoài trời lạnh âm hàng chục độ nên bị đông đá lỗ tai, người khác va quẹt trúng là rớt luôn lỗ tai. Trong những vụ tai nạn giao thông thương tâm, cán nát óc văng tai ra một nơi, lúc đó gương mặt biến dạng nhận không ra ai là ai, lỗ mũi không biết ở chỗ nào, nghe thì sợ nhưng đó là sự thật cần phải quán chiếu.
Con mắt này là vô thường, lỗ tai này là vô thường, cái miệng này là vô thường, cái thân này là vô thường. Phải biết như thật như vậy thì mới bớt khổ, vì từ trước giờ mình không biết như thật mà mình chỉ biết giả, biết như giả, con mắt đẹp này đến một lúc sẽ trở thành mắt mờ tai điếc lưng còng gối mỏi. Hãy nhìn những lão làng ngồi trước mình, nhìn cho kĩ sự thật này, một ngày kia chúng ta sẽ đi đến như vậy, không có xa mà rất gần.
Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống.
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)
Mọi người ngồi tươi tỉnh vậy mà hỏi ra ai cũng có bệnh trong người, Đức Phật đã nói thân này là nơi nhóm họp tất cả các chứng bệnh, nhóm bất tịnh, đổ vỡ chứ không sạch sẽ mà mình lầm tưởng nó là đẹp, là sạch, là tốt, chết là chấm dứt mạng sống. Nhìn thấy đẹp đẽ, đi đứng nói cười vậy mà vài bữa lại nghe minh tinh điện ảnh tự tử chết, diễn viên Hàn Quốc nhảy lầu, diễn viên màn bạc cạo đầu đi tu.
Cho nên Đức Phật dạy đầu tiên là phải thấy rõ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường. Mọi người có thấy tấm thân này là vô thường không? Nó sanh diệt như thế nào? Đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-kheo, các ông đang ngồi tại đây cũng sanh cũng già, cũng bệnh cũng chết, mình phải thấy được cho sâu sắc sự sanh diệt của thân này, chỉ cần một mạch máu vào tim hay não bị tắt cũng có nguy cơ chết sớm, chỉ cần đi vấp té ngã là chảy máu, đang chạy xe không cẩn thận gây tai nạn là hết đời.
III. Nỗ lực quán chiếu
Cho nên thân này rất mong manh, mọi người đừng nghĩ chỉ có già mới vô thường. Khi mọi chuyện bất thình lình đến với mình thì mình có đỡ kịp không? Không ai biết trước khi nào mình chết và chết như thế nào, khi nào cái chết đến là đến nhưng không biết nó đến lúc nào, mình không chủ động được đối với cái chết.
Cho nên mỗi hơi thở phải tư duy quán chiếu, mỗi khi ăn cơm phải quán chiếu sự sanh diệt, mỗi khi đi đứng, co tay duỗi chân phải quán chiếu bước này sanh bước kia diệt, mỗi lời nói của Minh Thành là mỗi tiếng sanh mỗi tiếng diệt, phong đại trong người không đủ sẽ không phát ra tiếng, nếu lạnh ngắt không còn ấm là đã chết, ăn không được phải đút ống thẳng vào ruột xay thức ăn đổ vào. Mọi người có quán chiếu đến những cảnh này không hay chỉ nghĩ mình tốt đẹp hoài, đó là chuyện của người khác không phải mình? Có ai nghĩ cảnh tượng này sẽ đến với mình không? Có sợ không?
Phải sợ, nhất định phải sợ đối với bệnh, già, chết để tu học, tu là làm như nãy giờ Minh Thành đã nói, tức là phải quán chiếu sắc thân này vì đây là trí huệ của bậc thánh, trí huệ của Đức Phật trao cho mình. Ngoài việc niệm Phật, tụng kinh thì mọi người phải quán chiếu cái này chứ không phải vào tụng niệm ào ào rồi trở ra cũng sân si ầm ầm, tụng niệm thôi vẫn chưa đủ, trí huệ không phát sanh, từ bi không tăng trưởng, phiền não không tiêu trừ thì đó là tu sơ sơ. Còn cái miệng của mình khi ăn mà sơ suất làm chảy máu thì lúc đó còn đẹp không? Nếu bị rách da sẽ chảy máu, trong kinh nói rằng Đức Thế Tôn phơi bày ra những gì bị che giấu, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những người có mắt có thể thấy rõ được, đó là công đức của Đức Thế Tôn.
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”
(Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Mọi người có biết đằng sau lớp da này là sự lừa gạt khủng khiếp không? Chỉ cần một đường dao rọc từ đầu xuống bụng sẽ lộ ra ruột gan, phèo phổi, bao tử, lá lác, dạ dày, tỳ phế thận, máu mủ, phân, nước tiểu… đó là bản chất của thân này và chính cái này là cái mà mình say mê đắm đuối, yêu thích cả một đời rồi đau khổ vì nó, mình bị đày đọa bởi vì nó, bản thân mình bị còn chưa đủ mà còn đi tìm thêm một người nữa về ở chung để cùng nhau bị đày đọa.
Đức Thế Tôn dạy mình phương pháp nhìn cho thấu suốt bản chất của thân này chính là phương pháp bất tịnh quán. Có một ông thầy hơn 70 tuổi lên núi nói với Minh Thành mình già cả rồi, không còn nhiều thời gian nữa nên thầy chỉ cho phương pháp nào tu nhanh để mau đắc đạo. Minh Thành nói ông đem tấm hình lúc mình 17-18 tuổi ra, đem thêm tấm hình lúc chụp X-quang ra xương sọ, xương sườn, và tấm hình lúc hiện tại 70 tuổi. Bây giờ ông đem ba tấm hình, một tấm lúc đôi mươi, một tấm lúc chụp X-quang và một tấm hiện giờ rồi ngồi quán từ sáng đến chiều thì thế nào cũng đắc đạo.
IV. Pháp của Đức Thế Tôn, nhất hướng nhàm chán - ly tham
Nhìn lại sự thật bản chất của thân này, đó là trí tuệ, là thánh trí, là đại giác ngộ, là sự giải thoát mở ra tất cả sự trói buộc tham đắm về thân này. Tôn giả Upàli đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn dạy cho phương pháp vắn tắt, sau khi Thế Tôn dạy con sẽ ở yên một mình, độc cư thiền định quán chiếu. Đức Phật nói những pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh thắng trí giác ngộ Niết-bàn thì ông nên thọ trì những pháp đó là pháp và luật của Như Lai đã nói, còn nếu những lời nào không liên hệ đến điều này thì ông phải biết đó không phải là lời của Như Lai, bài kinh này có tên Thông Điệp và là bài kinh rất quan trọng.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Ðiệp)
Những pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn thì đó là pháp của Phật. Nhất hướng nhàm chán, do mình không hiểu bản chất sự thật của thân này nên mình mới yêu thích nó, mình đam mê trong cuộc đời này, còn nếu mình hiểu thật sự thân này vô thường, bất tịnh, tạm bợ như vậy thì nhất định mình sẽ nhàm chán, nhàm chán nghĩa là không còn say đắm, trau chuốt cho thân này, không còn lo ăn ngon, mặc cho đẹp, ở chỗ sang, đi xe đời mới, ăn chơi rồi cuối cùng chết đi còn tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp. Có phải suốt cuộc đời này mình lo chăm sóc cho thân này phải không? Mình không thấy được nó là vô thường, nó nhất định sẽ tan rã, mình quên mất mà cứ nghĩ nó sẽ như vậy hoài, chuyện chết là chuyện của người ta chứ không phải chuyện của mình, nếu mình thường nhớ cái này thì mình sẽ bớt tham đắm.
Làm sao để diệt trừ tham đắm? Mọi người nghĩ người giàu nhất thế giới có tham không hay là tham nhất? Mình nghèo, thiếu thốn thì mới tìm thêm còn người đã đầy đủ tràn ngập thì kiếm thêm gì nữa? Đây là chỗ quan trọng, đây là cội gốc vấn đề, vì người ta nghĩ thân này là thật, là bền chắc, người ta muốn phát huy cái tôi và cái của tôi, người ta muốn thêm hoài đến khi nào chết thì thôi, mà tới lúc chết đã muộn màn rồi, chết trong sự hối hận và hối tiếc.
Chỉ có bậc trí huệ, gọi là đa văn thánh đệ tử là đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều Chánh Pháp một bề nhàm chán đối với tất cả sắc pháp của thế gian. Mọi người thử nghĩ bây giờ có cái gì trên đời này bền vững với thời gian, không thay đổi biến chuyển không? Không bao giờ có được, mà nhất định nó sẽ hoại diệt, không sớm thì muộn vấn đề chỉ là thời gian, nếu đã hoại diệt thì mình còn tham đắm để làm gì?
Ngược lại mình phải giải thoát khỏi nó, đây mới chính là hồng tâm của Đức Phật. Quý vị có bao giờ cảm thấy ngán ngẩm cuộc đời này không? Chán ngán được vài hôm lại yêu đời trở lại, lâu lâu có chuyện xảy ra lại thấy chán rồi muốn đi tu, đến khi hết chuyện giải quyết êm xuôi thì yêu đời trở lại, mình cứ đi vào đi ra hoài mà không thể đi ra khỏi hoàn toàn được, giống như con kiến bò vòng quanh miệng chén không biết đường ra.
V. Thánh trí về Sắc
Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật chỉ cho mình con đường vượt thoát ra. Muốn thoát ra mình phải biết:
Vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc.
Sự xuất ly khỏi sắc.
Nói đầy đủ sẽ có bảy trí nhưng Minh Thành chỉ nói gọn ba trí thôi. Thế nào là vị ngọt của sắc? Do mình khởi lên sự vui thích thì cái vui thích là vị ngọt của sắc, điều này không cần nói nhiều vì ai cũng biết, ai cũng nếm vị ngọt này. Từ nhỏ đến lớn mình đã bị vị ngọt này làm khổ không biết bao nhiêu lần và mình cứ đi tìm hoài. Mình nếm vị ngọt này như vài giọt mật còn lại trên lưỡi dao, vị ngọt thì ít và sự nguy hiểm thì nhiều.
Mình chỉ biết vị ngọt chứ không biết sự nguy hiểm và tác hại của sắc, Đức Phật đã chỉ cho mình biết sự nguy hại của sắc là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, đó là nguy hại của sắc. Vô thường là hay bệnh bao tử, viêm xoang, viêm tai, vô thường là răng rụng phải gắn răng giả vào rồi để quên trong toilet, vào giờ ăn mà ăn không được vì tìm không ra hàm răng giả, đó là vô thường, là khổ, vô thường là không có chân mà phải gắn chân giả dùng đỡ, vô thường là cha mẹ mình ra đi, ông bà không còn, vợ chồng phân ly, vô thường là đầu bạc khóc tiễn đầu xanh… đó là những cảnh vô thường mà ai trong đây cũng ít nhất một lần đã chứng kiến, đó cũng là sự nguy hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
Khi thường quán sự nguy hại này sẽ nhiếp phục được dục và tham, đoạn tận được dục và tham đối với sắc, lúc đó mình không còn bị sắc ràng buộc và ra khỏi sắc, đó là giải thoát khỏi sắc. Hễ cái dục, cái tham muốn của mình đối với sắc còn nhiều bao nhiêu thì cái khổ cũng tương xứng bấy nhiêu, cái tham muốn đối với sắc giảm bao nhiêu thì cái khổ của mình cũng giảm tương ứng bấy nhiêu, không còn ham muốn với sắc thì người đó chấm dứt khổ, thành tựu thánh quả A-la-hán tối cao.
Tu là ở chỗ này, hồng tâm của Phật pháp là ở chỗ này chứ không phải ở chỗ tụng được bao nhiêu bộ kinh, niệm được bao nhiêu câu, lạy được bao nhiêu lạy, cái đó vẫn chỉ ở ngoài chứ chưa đi vào trong giáo pháp của Như Lai, cái đó chỉ là bước đầu, sau đó phải tu tập quán chiếu trí huệ này, xem lại lòng tham của mình đối với danh vọng, địa vị, tiền bạc, tiếng khen lời chê còn nhiều hay ít.
Nếu còn nhiều sẽ khổ nhiều, tham nhiều thì sân nhiều vì nó tương xứng, tham và sân cũng chỉ là hai mặt của một bàn tay thôi vì tham không được là sân giận lên. Tham và sân từ si mà ra, mà si là không thấy được bản chất của sự thật về thân này, không thấy được mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, không thấy thân sắc uẩn, sắc pháp này là khổ, bản chất của thân này đã là khổ rồi vì có thân này là sẽ có bệnh tật, có thân này phải có ăn mà nếu không có thức ăn nuôi thân thì khổ, rồi những người bệnh có đồ ăn mà ăn không được cũng khổ.
Tấm thân này phải lệ thuộc vào không biết bao nhiêu là điều kiện để tồn tại được, không có nước uống, khổ, có nước mà không uống được cũng khổ, không ngủ được thì bệnh, thức khuya mang bệnh, ngủ hoài cũng bệnh, lại thêm bao nhiêu thứ bệnh trong cơ thể này: bệnh mắt, bệnh tai, bệnh đường ruột, bệnh ung thư, bộ phận nào trong cơ thể cũng có thể mang bệnh, như vậy cái gốc là từ nơi sắc pháp mà mình không biết nên bị lầm tưởng.
Đức Phật gọi là điên đảo tưởng tức là cái tưởng đó bị đảo lộn, điên đảo kiến, cái thấy sai lầm, cái thấy của tà kiến, không có chánh kiến là yêu thích thân này, đam mê vào nó, mình tưởng nó bền chắc và chính cái tưởng này làm mình khổ, nguồn gốc khổ sanh ra từ đây gọi là thân kiến, là kiến chấp về thân. Mình phải luôn nhìn thấy bản chất của thân để nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc thì mình sẽ bớt khổ rất nhiều.
Khi nhiếp phục dục và tham đối với lưỡi, ăn cơm với nước tương rau luộc không bị sao nhưng nếu nặng cái tham về lưỡi mà không có gì ăn hết thì cảm giác lúc đó ra sao? Khó chịu, bực bội, phiền não. Mình thấy rằng cảm giác vô thường, không có gì, mà có người khen mình thì mình chỉ biết rằng đó là tiếng khen vậy thôi, bị chê thì biết đang có cảm giác bị chê.
VI. Khuyến tấn tu hành, con đường giác ngộ
Còn nếu không tu thì mình nắm bắt vào cảm giác này, hễ khen là mình thích, bị chê là sân giận rồi cuối cùng vào hầm lửa. Khi mình công phu vào buổi chiều có câu quy y Pháp ly dục tôn, câu này rất quan trọng, toàn bộ mục đích của giáo pháp Đức Phật nhằm giúp mình lìa dục, giảm thiểu ham muốn vì cái ham muốn này làm cho mình khổ, người nào có ham muốn quá nhiều sẽ càng khổ nhiều, ham muốn ít thì khổ ít, ham muốn vừa thì khổ vừa, còn chấm dứt hết ham muốn thì hết khổ, đó là bậc thánh giả A-la-hán.
Mình phải hiểu, phải thấy, phải biết chỗ này, Đức Thế Tôn thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết vì ngài không còn yêu thích tấm thân này nữa, chính vì không còn yêu thích, ngài biết bản chất của nó giống như nùi giẻ, giống như đống phân, nhìn ghê tởm không ưa thích nên khi ngài viên tịch là ngài vào Niết-bàn, không còn cái thân giống vậy nữa. Còn mình khi gần chết rất sợ, sợ mất cái thân này nên tìm cái thân khác nhào vô để ra tiếp cái thân vô thường, bất tịnh, khổ đau khác, có phước hay không có phước cũng y như vậy thôi. Những bậc thánh giả sau khi đã quán chiếu tường tận tấm thân này họ sẽ sanh ra sự nhàm chán, từ bỏ, không còn tham muốn nữa mà sẽ an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn, chấm dứt sự tiếp nối trong sanh tử, đây gọi là giải thoát sanh tử luân hồi. Cho nên mỗi ngày quý vị phải quán chiếu về sự thật của thân này, ngoài giờ niệm Phật phải quán chiếu thêm điều này.
“Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai.”
(Trung Bộ Kinh, 149. Ðại kinh Sáu xứ)
Minh Thành biết bài này khó nhưng quý vị phải cố gắng nghe vì nghe cái này sẽ đem lại cho quý vị lợi lạc lâu dài và rộng lớn trong nhiều đời nhiều kiếp về sau. Có thể có nhiều người từ khi sanh ra, lớn lên cho đến khi chấm dứt mạng sống cũng không nghe được điều này, đây là Chánh Pháp của Đức Thế Tôn. Quý vị nghe được nghe vậy, hiểu được như vậy, chiêm nghiệm được như vậy thì quý vị sẽ thành tựu được chánh kiến, mà chánh kiến trong đạo gọi là Nhập lưu vào dòng trí huệ, vào dòng thánh.
Không phải mình nghe là nhập thánh liền nhưng nghe trong một thời gian dài rồi chiêm nghiệm, gọi là chánh tư duy, suy tư về điều đó, chiêm nghiệm về điều đó. Không phải chiêm nghiệm là sẽ thấy 100%, khi chiêm nghiệm rồi thấy được 10% thì bớt khổ được 10%, một năm sau chiêm nghiệm lên được 30% thì giảm bớt được 30% khổ, khi tinh tấn siêng năng, nỗ lực cố gắng nhìn thấy như lời Đức Phật nói thì đoạn được 40% cái khổ, nhìn lại quãng thời gian đó mình đã 50 tuổi.
Sau đó mình chánh niệm, giữ cái thấy biết đó thường trực trong tâm đừng để quên, khi nhìn thấy bất kì cái gì đẹp thì tự động trong đầu sẽ nghĩ "có gì đâu mà đẹp, nó là vô thường, thấy đẹp vậy thôi chứ sớm muộn cũng tan hoại, tham cái đó mệt lắm", đó gọi là Như lý tác ý chánh tư duy nhiếp phục dục tham trong nội tâm. Nếu mình thường xuyên tác ý, có chánh niệm, chánh tư duy đoạn tận được 65% thì lúc này đã 60 tuổi, nỗ lực thêm nữa, nhiếp niệm, quán chiếu, tâm yên định thì trí huệ bừng sáng thấu suốt tất cả các pháp, phá được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì lúc đó nội tâm được sạch sẽ cũng đã 70 tuổi là mình ra đi thanh thản, thảnh thơi, việc cần làm đã làm không còn vướng bận gì nữa.
Vậy là mình đã viên mãn, trong vô lượng kiếp luân hồi mình trúng được cái này là gấp một tỷ lần trúng độc đắc, trong vô lượng vô biên kiếp luân hồi mà mình gặp được Chánh Pháp để tư duy quán chiếu, tinh tấn tu tập thì còn gì trên đời này sánh bằng. Trong kinh Đức Phật ví dụ có người đứng trên đỉnh núi thả một sợi chỉ xuống, có người ở chân núi đưa cây kim may đồ ra, giữa núi là cuồng phong bão táp, để sợi chỉ rơi trúng lỗ kim thì mọi người nghĩ dễ hay khó? Cực kì khó, quý vị nghe được Chánh Pháp, tu tập được Chánh Pháp còn khó hơn điều đó nữa nên mọi người có thấy hạnh phúc không? Mọi người chỉ cần ngồi một chỗ có thầy đến tận nơi giảng dạy, thầy phải đi tầm cầu khắp thế giới 30 năm, lên rừng núi tìm chỗ tu, tầm cầu ra được diệu pháp vô thượng đem đến cho mình mà còn không chịu tu học thì nói gì nữa, mọi người đã thấy rõ chỗ trọng tâm của Phật giáo chưa?
Việc làm phước rất tốt nhưng phước này chỉ giúp cho mình có đời sống tiếp theo được an ổn để tu hành, cho nên mọi người phải nhớ cái phước hữu lậu và cái phước vô lậu rất khác nhau. Phước hữu lậu là làm bất cứ điều gì thiện lành, tốt đẹp thì mình mong rằng mai sau sẽ được hưởng được gấp ngàn lần hơn nữa, cái này cũng có phước nhưng cái phước này tương xứng với cái tâm tham cầu nên nó hữu hạn.
Còn quý vị cũng làm phước nhưng không mong cầu thì cái phước này lớn hơn việc làm phước có mong cầu nên đời sau quý vị sanh ra được giàu đẹp, thông minh, có địa vị quyền thế, lời nói được mọi người lắng nghe, tôn trọng, tướng mạo trang nghiêm để gặp được Phật pháp, khi cái phước này hướng về Chánh Pháp thì những đời sau cái phước đó sẽ tiếp tục trong Chánh Pháp.
Cái phước siêu việt hơn tất cả các phước là hướng về Niết-bàn, tức là tất cả những việc thiện lành mà mình làm không phải để mình hưởng mà đó là trợ duyên để mình chứng đắc Niết-bàn, tất cả cái phước đều quy tụ về Niết-bàn như ngôi nhà có nhóc nọn thì tất cả cột kèo, rui mè đều hướng về nóc nhọn, nghiêng về nóc nhọn. Cũng vậy, tất cả công đức phước báu của mình đều hướng về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, tiến thẳng đến Niết-bàn thì gọi là phước đức vô lậu. Vì vậy Đức Phật dạy mình bên trong phải tu tập chính tuệ quán chiếu, bên ngoài làm tất cả những thiện pháp công đức.
VII. Chân nhân
Đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu, vợ chồng phải chung thủy, anh em phải thương yêu nhau, quý trọng nhau, phải giữ tình nghĩa với nhau. Đừng bao giờ tham sang phụ khó, đừng quên những lúc cực khổ có người giúp đỡ mình. Chân nhân là người thật, con người đúng ý nghĩa là một con người thì người đó phải có đặc tính nhớ ơn, biết ơn những người đã thi ơn đối với mình, đó là con người thật sự là một con người.
“Này các Tỳ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các Tỳ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, I. Ðất)
Mọi người nghĩ mình thọ ơn bao nhiêu người, có nhiều không? Rất nhiều người, cho nên phải luôn nhớ ơn thì ai cũng là ân nhân cho nên mình không nên sân si với ân nhân với mình, không cự cãi với ân nhân. Như vậy là mình sống trong sự cung kính, tôn trọng và biết ơn, nếu quý vị sống được như vậy thì đi đến đâu cũng có người thương, mình có cung kính, tôn trọng người ta thì người ta cũng sẽ đối lại với mình như vậy. Vậy găp ai cũng mỉm cười sẽ bớt khổ rất nhiều, vợ/chồng ở chung nhà với mình, người đã bỏ cha bỏ mẹ bỏ tất cả để về ở chung với mình mấy chục năm thì mình có tôn trọng họ không? Có biết ơn người đó không? Đây là chỗ cần phải nói chứ nếu không nói quá nhiều mà thực tế lại không làm được gì.
“Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu
Dưới gót không ly một điểm trần...!!”
Ngay trong hiện thực đời sống vợ chồng, anh chị em, bạn đạo, cô bác phải luôn có sự tôn trọng biết ơn người ta. Đức Phật dạy có ba hạng người là ba bậc ân nhân vĩ đại không bao giờ mình có thể đền đáp được dù có đem thức ăn, thuốc men, gường chõng, nhà cửa cho cũng không bao giờ đền đáp được ba vị ân nhân vĩ đại này.
Thứ nhất là từ người nào do người đó mình được thọ tam quy ngũ giới là vị ân nhân vĩ đại thứ nhất trong đời mình. Thứ hai từ người nào mà mình biết được cuộc đời này là khổ, là nguyên nhân của khổ, là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, tóm lại là từ người nào giúp mình thấy được Chánh Pháp, thấy được bản chất của thân năm uẩn tứ đại là vô thường, là khổ thì người đó là vị ân nhân vĩ đại thứ hai. Thứ ba là từ người nào giúp mình chấm dứt hết tất cả phiền não lậu hoặc, đạt đến tâm hoàn toàn thanh tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát của một bậc A-la-hán thì vị đó là ân nhân vĩ đại thứ ba mà mình không bao giờ báo đáp được.
Mọi người đã thấy được thân tứ đại ngũ uẩn này là khổ chưa? Quý vị có thấy trên tin tức hằng ngày không? Đã biết bao hoàn cảnh bi thương, có những ông cụ già 90 tuổi còn phải đi bán vé số, có những em bé vừa sanh ra đã bị bỏ rơi, có những đứa bé chưa kịp sanh ra đã chết, có những em bé phải đi kiếm tiền từ bé, nghèo đói phải ăn đồ ăn trong đống rác, có những người đem đồ ăn đã vứt bỏ về chế biến lại bán cho người nghèo mà người ta sẵn sàng mua để ăn, đồ đã bỏ được ăn lại, những em bé Châu Phi 7-8 tuổi nhìn như trẻ sơ sinh, nằm một chỗ vì suy dinh dưỡng trầm trọng, ngay trong nước mình cũng có nhiều hoàn cảnh rất khổ.
Có em bé 7-8 tuổi mà cha mẹ chết hết ở một mình nơi ống cống, tự nấu ăn tự sống, không học hành gì hết. Mọi người lên mạng tìm xem những cảnh khổ nhất trong cuộc đời này để mình quán chiếu, phải thấy cho sâu sắc nỗi khổ chứ nhiều khi ở trong nhà có cơm ăn ba bữa, đi đâu cũng có xe đưa rước, tiền cũng có dư chứ không thiếu mà gặp là than khổ, vì cứ muốn thêm, khổ vì do tham chứ không phải khổ bằng trí tuệ.
Chừng nào thấy khổ bằng trí huệ chừng đó mới bớt khổ, còn mình khổ là than thở để muốn thêm nữa là khác hoàn toàn. Cho nên bằng trí huệ quán chiếu sâu sắc để thấy được bản chất của cuộc đời, từ đó tinh tấn nỗ lực tập, trong kinh Đức Phật ví dụ có người tử tù được nhà vua đại xá thiên hạ, đây là dịp ân xá nên người này được ra khỏi tù nhưng với điều kiện người này phải bưng đầy bát dầu, sau lưng có người đao phủ trực chờ sẵn, hai bên người là những vũ nữ, kĩ nữ hát ca nhảy múa với đầy những trò ảo thuật hấp dẫn. Nếu bát dầu chỉ cần rơi một giọt thôi thì đầu của người này cũng rơi theo đó. Vậy thì người này có thể nhìn qua nhìn lại không? Mọi người có biết người bưng bát dầu đó là ai không? Những người vũ nữ ca hát nhảy múa đó là ai?
Tất cả những thứ lòe loẹt trong cuộc đời này giống như những cô gái ca múa, ảo thuật quanh người đó, còn người bưng bát dầu chính là mình, chỉ cần sơ sảy một chút thôi là mình mất mạng. Mọi người có thấy cuộc sống bây giờ chết có dễ không? Rơi một chết máy bay thôi là chết biết bao nhiêu người, thiên tai động đất sóng thần xảy ra chết hàng trăm ngàn người, sạt lở núi, sụp hầm mỏ làm chết vô số người không tìm thấy xác.
Chỉ cần sơ sảy một chút thôi là rơi đầu, cái vô thường ập đến nên mình phải nhìn cho sâu sắc để nỗ lực tu hành, mỗi ngày ăn cơm ba bữa là phải tu ba thời. Mình lo cho cái thân này rất kĩ, xác thân mới vừa đói là tìm đủ món để ăn còn pháp thân bị bỏ đói, không quan tâm, cái thân trí huệ của mình èo uột như cây tre miễu nên bây giờ phải làm cho cân bằng trở lại, xác thân, pháp thân và huệ thân phải cân bằng, mỗi ngày ăn cơm ba bữa thì phải tu ba thời, nghe pháp ít nhất một thời, ngồi thiền ít nhất một thời, tụng kinh ít nhất một thời thì mới cân bằng.
Mình chỉ lo cho xác thân rồi mai đây nhắm mắt ra đi nó bỏ mình trong khi cái thân trí huệ lại không lo, mà cái thân trí huệ là cái mà mình cần dùng cho đời sau lại bỏ quên. Như vậy cái đáng lo mình không lo, cái không đáng lo mà lại lo. Chúc cho quý vị nên lo cái nên lo và đừng lo nhiều cái không cần lo, như vậy quý vị sẽ lo được đến chỗ không cần lo và cuối cùng dứt hết mọi lo sợ, thành tựu trí tuệ giải thoát an lạc trong hiện tại và tương lai, giúp cho mình, cho gia đình mình và cho những người có duyên đối với mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VIII. Giải đáp
Nam mô A-di-đà Phật. Con rủ nhiều người bạn đi chùa nhưng bạn cứ bảo tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu. Câu hỏi thứ hai là kinh Địa Mẫu có phải là kinh Phật không? Xin thầy hoan hỉ giải thích giúp con.
Dân gian hay nói tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu thì mình phải hiểu hoàn cảnh ra đời câu nói này và câu này không phải là câu nói của bậc Chánh Đẳng Giác cho nên không đúng tuyệt đối, nếu là câu nói của Đức Phật thì đúng tuyệt đối trong mọi lúc mọi nơi. Không phải Phật, còn là phàm phu thì không đúng, chỉ nói ở phương diện nào, trong hoàn cảnh nào sử dụng câu nói đó mà thôi.
Người ta dùng câu này để nói người cứ lo chỗ này chỗ kia chỗ nọ mà không chịu lo cho nhà, vì ở nhà mà mình bỏ bê không lo cho cha mẹ, ông bà. Mình cứ chạy ra ngoài lo chỗ này chỗ kia hay đi khắp chùa miễu mà cha mẹ không lo nên người ta mới nói câu đó. Còn nếu mình biết hiếu thảo với cha mẹ, lại còn biết đi chùa tụng kinh, niệm Phật, biết nghe pháp, biết quán chiếu, biết giúp mọi người thì còn gì bằng.
Trong chùa có những bác trong ban quản tự phụ giúp, nếu không có người đứng ra gánh vác công việc thì mình làm sao có những buổi nghe pháp, có những khóa tu như thế này? Nếu ai cũng nói là ở nhà lo cho ba mẹ còn hơn đi chùa thì ai sẽ đứng ra lo những việc này? Vì vậy mình phải biết câu nói đó nói trong hoàn cảnh đó, đối với con người đó, trong trường hợp đó và lúc đó chứ không phải là bây giờ. Người nào lấy câu này ra để làm lý do cho việc làm biếng, trốn tránh thì người đó là ngụy biện, không chịu nỗ lực cố gắng để gieo duyên lành với Tam Bảo. Cuối cùng là Địa Mẫu chơn kinh không phải là kinh Phật, không phải là chánh pháp.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con thấy trong những kinh khác có câu chú rồi đến bát mà trong kinh Vô Lượng Thọ, kinh Pháp Hoa, kinh Địa Tạng không có chú. Như vậy là sao, xin thầy hoan hỉ giảng cho con.
Minh Thành tặng cho mọi người một câu chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, những câu chú bây giờ mọi người đọc đều không hiểu, Minh Thành tặng cho mọi người một câu chú rất thực tế, rất đơn giản trong tạng kinh Nikāya. Khi gặp người muốn gây sự thì mọi người đọc câu chú Án xa ra, xa ra, xa ra. Đọc trong tâm chứ đừng đọc ra tiếng rồi tự động mình xa người đó ra hoặc khi đi xe mà mình thấy chuẩn bị nguy hiểm do chạy sát nhau hay chuẩn bị cự cãi nhau thì đọc Án xa ra, xa ra, xa ra.
Khi mình gặp cái gì mà tâm mình khởi tham lên thì niệm Án xa ra, xa ra, xa ra. Khi chồng/vợ chuẩn bị gây sự, cự cãi nhau thì Án xa ra, xa ta ra, đừng sáp vô, xa ta ra, đừng sáp vô. Ở đây Minh Thành nói cho mọi người dễ hiểu còn trong kinh dùng từ Viễn Ly, đây là một đức hạnh của người xuất gia cũng như người cư sĩ. Viễn ly cũng gọi là xa lìa, vì mình làm gì cũng rủ rê người khác làm theo, không có lúc nào mình làm một mình, vậy lúc mình nhắm mắt ra đi thật xa thì mình sẽ rủ ai?
Cho nên mình phải tập sống đời sống xa lìa, tự lập một mình trong những lúc thiền tịnh, vì những lúc mình đối đầu sanh tử không có ai cùng chung với mình dù cho thương yêu như mẹ con, như vợ chồng, anh em ruột, lúc đó không ai giúp được mình và mình sẽ hoảng loạn. Vì vậy Đức Phật dạy mình phải thực tập cái hạnh sống viễn ly, sống xa lìa một mình và cái này rất quan trọng, mình phải tập đứng một mình, đi một mình, làm việc một mình, không lệ thuộc vào những đối tượng ở bên ngoài, mình lệ thuộc vào họ rồi mai đây nếu không có họ sẽ ra sao?
Mình sẽ khổ, hụt hẫng cho nên hai chữ viễn ly này rất quan trọng. Đây là pháp lệnh, là những yếu nghĩa trong tạng kinh Nikāya, những bài chú là cái gieo duyên ban đầu cho quý vị tu thôi, ý nghĩa của chú là nhiếp tâm không cho mình nghĩ ngợi lung tung. Còn Minh Thành đang nói những câu pháp lệnh, yếu nghĩa trọng tâm trong kinh tạng của Đức Phật. Ví dụ lát nữa mình trở ra nhìn vào chiếc xe của mình bị mất giỏ xách thì mọi người tác ý "có gì đâu, lỡ mất rồi thôi, cho người khác dùng mình đỡ đi làm từ thiện", hoặc đi chùa bị mất dép thì "có gì đâu, người khác mang mình có dép mới mang", có người lại mách mình bị người khác nói xấu thì "có gì đâu, người ta nói vậy có gì đâu". Chỉ có ba chữ thôi có gì đâu rất dễ nhớ, dễ thuộc. Thêm một câu chú nữa, khi mình gặp điều gì vừa lòng hay không vừa ý thì nhớ đến chết, Đức Phật dạy pháp môn niệm tử, nếu người thường chiêm nghiệm về cái chết, tức là thường niệm tử thì người đó sẽ buông xả được tất cả phiền não trong cuộc đời này, người đó không còn hơn thua, ganh tị, tham đắm nữa.
./.