Tinh Hoa NIKAYA
TINH HOA NIKĀYA
ĐĐ. Thích Minh Thành
Đại chúng tu tập từ sáng đến giờ có được an vui không? Có nhiếp phục được cảm giác khó chịu của thời tiết nóng bức không? Minh Thành có chia sẻ với các vị có trách nhiệm lo lắng cho chúng ta, thầy mong rằng từ từ chúng ta sẽ có được một chỗ thoải mái thì đạo tràng mới có thể phát triển dài lâu. Minh Thành thấy quý vị tu mà nóng nực thì cũng tội nghiệp, mình chiến đấu với thời tiết thì cũng hơi khó rồi thì đừng nói chi đến giáo pháp thâm sâu này. Làm sao để khi đến đạo tràng chúng ra có được cảm giác thoải mái, an vui, trang nghiêm, thanh tịnh và hòa hợp. Đây là những điều căn bản không thể không có trong một đạo tràng tu học, chúng ta sẽ cố gắng tạo cho mọi người có cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng và bình an. Sau đó chúng ta mới có thể thực tập tâm từ, tâm xả, tâm hỷ. Khi nãy quý vị thực tập tâm hiền thì quý vị có thấy tâm mình hiền được chút nào không? Trong sự thực tập là phải phát sanh cảm giác chứ không phải chỉ nghe rồi gật đầu, mà phải sanh ra cảm giác, cảm xúc. Mình tu tập tâm hỷ là mình phải cảm thấy vui, hạnh phúc, thậm chí cảm giác đó phải chạy rần rần, thấm trong toàn bộ cơ thể, cả thân được tưới tẵm bởi một dòng suối hỷ lạc từ đỉnh đầu đến gót chân. Cũng vậy, cảm giác vui sướng, hỷ lạc phải dâng trào, tràn ngập thân tâm mình, đây là tu tập mới có kết quả, còn kêu hỷ lên mà mặt buồn thì tâm chưa có tu tập.
Sáng nay Minh Thành nói quý vị tu tập tâm là phá năm truyền cái, nhưng phá năm truyền cái chỉ là một khía cạnh, còn phải tu tập bốn tâm vô lượng: Từ; bi; hỷ; xả. Nếu nói tu mà chỉ nghe có phá trừ thì buồn, còn cái này tu là mở rộng các cảm giác, chính những cảm giác hỷ lạc này là thuốc bổ của tinh thần, nuôi dưỡng mình. Tu tập từ bi hỷ xả là dưỡng chất của tâm linh. Mình không tu tập bốn vô lượng tâm này thì sẽ suy nhược thần kinh, là một cái tâm nghèo nàn, khốn khổ, cái tâm lúc nào cũng đi tìm kiếm, muốn cái này đòi cái kia. Đó là cái tâm nghèo khổ của phàm phu chưa được tu tập. Nó là một nội tâm đầy rẫy tham dục, tham ái, ham thể hiện… Đó là một cái tâm hết sức nghèn nàn, đói khát. Khi mình có tu tập thì tâm mình sẽ giàu có, không còn đói khát nữa, chỉ còn sự sung mãn của hỷ lạc, mình tu là lúc nào mình cũng vui. Người tu tập sẽ hiền, dễ thương, nhẹ nhàng, thư thái… sao cũng được, quý vị có chịu như vầy không? Tu tâm hiền là cái gì mình cũng thấy dễ chịu, chứ không có bực bội, rắc rối, khó khăn… Đó là những cảm giác của người không tu tập tâm. Mà một người cái gì cũng khó chịu, cái gì cũng sân si thì người đó khổ hay vui? Trước nay mấy cái này có làm cho mình khổ nhiều không? Ví như trời nóng một chút là người đó thấy bực, quý vị cứ mặc kệ, ngoài đó nóng nhưng bên trong không nóng. Từ từ quý vị sẽ nhiếp phục các cảnh, nhiếp phục thân, nhiếp phục được cảm giác, thậm chí quý vị sẽ nhiếp phục được cơn tham muốn, những cái bực bội hay những cái si ái, bản ngã thì hạnh phúc lắm. Mình giành lại quyền làm chủ mà trước nay mình bỏ mất, để cho ngoại cảnh, thân thể, cảm giác cướp mất quyền làm chủ, không cho mình tự do. Chỉ cần một cuộc điện thoại khó nghe là mình ăn không ngon, ngủ không yên, mình thao thức. Trở lại vấn đề, mình phải có một cái tâm giàu có. Muốn được tâm giàu có thì phải đi lên từ tâm hiền, trong khi thực tập tâm hiền thì quý vị phải sanh khởi một cảm giác dào dạt, sung mãn đầy ngập thân tâm, làm tràn ngập hết cơ thể một cảm giác hiền thiện, hiền đức. Như vậy là quý vị thành công trong bước một.
Khi mình thực tập mình tuyệt đối không nhắm mắt, vì khi đó mình không có tỉnh. Mình nhắm mắt sẽ bị rơi vào trạng thái lờ mờ, âm u, có khi mình bị hôn trầm, hoặc những hình bóng lờ mờ xuất hiện thì đó là tưởng. Như vậy mình rơi vào thiền si, uổng phí sự tu tập của mình. Mấy tháng mình mới đến đạo tràng mà vào ngồi lại thiền si, rồi thiền lủng. Thiền si là mình ngồi mà nhắm mắt rồi ru ngủ, thành ra Minh Thành nói cái này không phải tu mà là ru, nguyên ngày làm mệt rồi lên bàn thờ Phật ngồi nhắm mắt ru, ngủ luôn. Thiền lủng nghĩa là tâm ngồi đó mà thật sự ngồi nghĩ ngợi, tính đủ thứ chuyện, ngồi thiền chứ tính "không biết mối làm ăn này mai tính sao đây, hay chương trình này sao ta…", thiền lủng rồi chìm luôn "thôi lo công việc quan trọng" là bỏ thiền luôn. Cho nên một là ngủ gục, hai là lăng xăng vọng tưởng, ba là bỏ thiền đi ra. Bây giờ quyết tâm khi ngồi thiền không nhắm mắt. Mắt nhắm là vô mê, vô si cho nên không được nhắm. Phải mở mắt, quý vị về xem thêm bài "Cảm giác toàn thân", đạo tràng phải mở lên nghe vì bài này hết sức quan trọng, không nắm vững cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn thì tất cả sự tu hành của mình chỉ như xây lâu đài trên cát, phải nghe bài này nhiều lần, đừng ham nghe nhiều thứ. Phải thật nhuần nhuyễn cảm giác toàn thân, tức là ba pháp và nhận diện năm uẩn.
Mình thực tập tâm hiền thì phải nhớ phát sanh được cảm giác, cảm thọ, chứ không phải ngồi cho có rồi về, phải thật sự lúc đó thấy được tâm mình hiền ra, cảm giác của mình lắng dịu lại, nếu cái tưởng hiện ra gương mặt mình thật dễ thương, hình bóng của mình khiêm nhường. Mình tập cho mình có cái tưởng lúc nào mình cũng cúi đầu, chắp tay, sẵn sàng quỳ lạy. Đây chính là lạy sám hối diệt ngã. Mình phải thực tập một nội tâm dào dạt, tràn đầy tình thương. Mình biết rằng thương cho cái thân này, mình đã bỏ quên, mắt không có chốt gài, lỗ tai không có chìa khóa, mũi lưỡi, thân ý không có cửa đóng, nội tâm như một vết thương. Mình thương ba bốn, sáu bảy chục năm vừa qua đã bầm dập tơi tả, mình làm phát sanh một cảm giác thương chính mình nên không muốn mình khổ vì tham muốn, sân hận, si mê, bản ngã nữa. Hồi đó mình không biết thương, cứ nghĩ cho ăn ngon, mặc đẹp, ở sang là thương nhưng đó là thương ở ngoài, còn cái thương quan trọng là cái thương cho bớt tham, bớt si, bớt bản ngã chấp thủ. Đây là tập tâm từ đối với chính mình, ngồi quán "thương quá là thương đã mấy chục năm nay, tội nghiệp cho đống thịt mấy chục kí lô này, chạy theo dục tham, lo lắng, suy nghĩ mãi, ai đụng vô là tức giận. Tối ngày trong trạng thái buông lung phóng vật, thả lỏng các căn, không thì trong trạng thái si mê, ngồi đâu ngẩn ngơ đó" Thương quá là thương! Thôi từ đây về sau ta thương cảm thọ này "cái cảm giác này nhớ hiền nha, thương nha, nhớ nuôi dưỡng những cảm giác hoan hỷ, hiền ngoan nha, đừng nuôi dưỡng những cảm giác trì trệ, nặng nề, vô minh. Ta thương lắm cái cảm thọ ơi! Ta đã bỏ quên cái cảm thọ này, bây giờ ta chăm sóc, ngoan nè, hiền nè". Lúc nào mình giận thì "ngoan đi, đừng giận, đừng khó chịu, khó chịu rồi làm khổ mình, khổ người. Trời nóng mà còn bực thêm thì khổ lắm, dễ chịu đi cảm giác ơi!" Mình nói với cảm giác mình như vậy, vì lâu nay mình bỏ quên cảm giác, trong khi cảm giác là nơi quy tụ tất cả pháp, nó là cái kho chứa tâm thức mà mình không nhìn ngó nó, cái gì mình cũng chứa vào: Lựu đạn, thuốc độc… ai đưa cái gì là chứa vô hết, rồi chịu không nổi tức nước vỡ bờ với người thân thương nhất của mình mới khổ, mình phải hóa giải tất cả lựu đạn này, những chất độc này, phải đem ra khỏi thân tâm mình những chất độc hại đã làm mình khốn khổ, hiểm nạn, chính là những thứ chất chứa trong tâm mình chứ không có ai làm mình khổ hết. Ví dụ có ai đến nói câu nặng nề với mình, lúc đó mình nhiếp phục được cảm thọ thì quý vị có khổ không? Mình đừng đổ thừa cho bên ngoài. Bây giờ ông xã hay bà xã nói câu khó chịu, trong tâm mình bắt đầu rung rinh thì phải làm lắng dịu xuống, bực lên để làm gì, giận lên làm gì, chửi lộn rồi đánh lộn phải không? Sung sướng lắm hay sao? Nguyên nhân của khổ quý vị thấy rõ chưa? Chính là ở trong cảm giác mà quý vị không quay trở lại nhiếp phục nó mà cứ cầu xin, vái lạy thì khổ cũng hoàn khổ. Đức Phật dạy nguyên nhân của luân hồi chính là không biết khổ tập, không biết khổ diệt đạo, không biết nguyên nhân của khổ, không biết có trạng thái chấm dứt khổ và có con đường đi đến chấm dứt khổ. Mình có biết thì cũng biết sai, tối ngày lạy xin, làm không đúng thì làm sao có kết quả thật sự. Mình phải giáo huấn cảm thọ này, phải dạy dỗ cảm giác này cho nên Minh Thành có hai bài "Huấn luyện năm uẩn", huấn luyện chính cảm giác của mình. Mình nghĩ cảm giác của mình là dễ dạy, dễ thương thì quý vị có quyền làm chủ thân tâm mình, mình kêu hiền là hiền, mình kêu thương đi, đừng có giận là nó nghe liền. Đây chính là một cái tâm có sự làm chủ, quý vị có muốn như vậy không? Vậy thì phải ráng tu tâm hiền, đừng đợi nữa tháng mới tu mà ngày nào cũng tu tâm hiền, hiền nhân thì từ từ mới đi tới hiền thánh.
Những người làm mình khổ thì mình cũng thương luôn họ, tội nghiệp họ đang bị ngọn lửa sân hận thiêu đốt, họ đang bị ngọn lửa tham ái đốt cháy. Mình đã từng bị như vậy, bây giờ đến lượt họ thì mình thương. Thương mình, thương người, thương chúng ta là nạn nhân của những ngọn lửa ham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã, tất cả là tai nạn, ách nạn, chúng ta đang bị khổ nạn. Thương sao là thương! Thương ơi là thương! Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp không nhìn thấy, không rõ biết cứ tưởng một đống thịt mấy chục kí là mình, những dòng cảm giác là mình, những hình bóng trong tâm mình nghĩ là mình, mình tưởng những nói lời lầm thầm là mình, mình tưởng những cái nhận thức rõ biết là mình cho nên mình nhận lầm năm uẩn là mình. Suốt ngày cứ "đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi" ai đụng vào là bốc lửa. Khổ! Mình phải phát sanh một cảm giác dào dạt, nước mắt tuôn tràn.
Đau khổ là một đời sống vô minh, si mê, không thấy biết năm uẩn. Đau khổ là một đời sống chạy theo tham dục ái. Đau khổ là một đời sống bám vào những ganh tị, tật đố. Đau khổ là một đời sống lúc nào cũng ta đây giỏi hơn thiên hạ, và chính những cái này là mình khổ đau. Bây giờ mình phát giác được rồi, thấy được nguyên nhân của khổ rồi, mình nguyện từ đây về sau mình phải nhiếp phục, chặn đứng lại để nó giảm thiểu, để đi đến đoạn tận. Quý vị thấy một sự tu tập hết sức rõ ràng, thực tế và trực diện: Nhìn thẳng vào cảm giác của mình, những cái sanh ra đau khổ, tham sân si là hết khổ. Đây là thánh pháp hai ngàn năm đã bị lãng quên, mai một. Bây giờ cứ chạy đi cầu xin, cúng kiếng mà không chịu quay lại nhìn thân tâm mình, mà cũng không biết cảm thọ là gì. Cho nên ngày hôm nay chúng ta ngồi đây là hạnh phúc, làm phát sanh hạnh phúc để thọ nhận cảm giác này vào thân, những cái này là cảm xúc của trí huệ chánh pháp, nó đi vào thân tâm mình, lưu trú trong đó và nó sẽ được tưới tẵm hằng ngày. Hằng ngày mình tu tập căn bản trí, hằng ngày mình tu tập tâm hiền, hằng ngày mình nhận diện ngũ uẩn, hằng ngày mình phát hiên ra tham sân si, hằng ngày mình thấy bản ngã sanh khởi và vận hành, hằng ngày mình tìm cách giảm thiểu và nhiếp phục, quý vị thấy con đường của mình tuyệt diệu không? Khi đó mình lạy Phật thì mình cũng thấy giống được Ngài, mình thật sự là con của Ngài, như vậy mới gọi là Phật tử. Chứ Phật tử mà cứ nghe đồn chỗ nào linh là chạy đến, cái đó là mê tín. Hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị những cái hết sức căn bản và quan trọng, quý vị phải nhớ cho kĩ và phải thực tập. Minh Thành nhắc lại: Thứ nhất là thực tập tâm hiền để sanh ra cảm xúc, cảm thọ, làm sao mỗi lần mình ngồi là mình thấy tâm mình hiền hẳn ra, những cảm giác, tưởng, sắc thân của mình hiền ra, sau khi tu xong bước ra nhìn gương thấy mình hiền ra một chút. Thứ hai là tu tập tâm hỷ lạc, vui. Trên đường về nhà mình phải tập hỷ vô lượng tâm và khi bước vô nhà mặt mình như đóa hoa nở rộ. Chứ vô tu mà nhìn mặt là không dám tu, đi tu về mà con không dám nhìn, không biết tu được cái gì nhưng thất bại rồi. Mỗi khi mình vô đạo tràng, mỗi khi mình được tu, được nghe pháp, được hành trì thì phải vui sướng dào dạt. Nãy giờ là Minh Thành dẫn tâm quý vị thoát ra cái thọ của thân. Nếu không có cái này xin thưa là mình tu không nổi, tu không có tiến và mình không thích thú trong sự tu. Phải nuôi lớn tâm hỷ, ngày nào cũng phải tập tâm hỷ, nhất là những lúc gặp buồn là phải tập tâm hỷ liền, diệt tâm chán nản không cho sanh khởi, xử lý liền. Mình phải làm chủ nội tâm, không phải cái gì khởi lên mình cũng cho phép, mình đánh tan ý hành chán nản rồi mình phát sanh hân hoan, thích thú. Quý vị làm được cái này thì trong bất cứ giờ phút nghe pháp nào quý vị cũng hoan hỷ, vui vẻ.
Đức Phật nói "tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi" (Tăng Chi Bộ Kinh, tập 4). Nếu quý vị không có tác ý, tức là tác động tâm ý bằng cách suy nghĩ thì lúc đó không sanh, nãy giờ là Minh Thành chỉ cho quý vị như lý tác ý, là cách tác động tâm ý. Mình làm cho mình hân hoan, hạnh phúc mà mình phải làm mới được, còn mình không sanh khởi lên tác ý thì nó không có sanh, phải tác ý "tu này là thiêng liêng, tu này là hiếm có khó gặp, tu này là thù thắng quý báu nhất của cuộc đời này". Mình trân trọng từng giây, từng phút, từng khoảng khắc trong khi mình nghe pháp, trong khi mình thực tập "Ôi thiêng liêng quý báu làm sao, ngàn năm khó gặp, vạn kiếp khó tìm cái thánh pháp này!" Mình tác ý như vậy thì quý vị thấy nó thiêng liêng lắm, giờ tu của mình là mình quý từng chút từng chút như quý vị cầm kim cương trên tay. Hãy tác ý và làm cho các pháp đó sanh khởi.
Thứ ba quý vị phải tập nhận diện năm uẩn, luôn luôn nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng và nhận thức của mình, để mình phát hiện ra là mình đã bỏ quên thân thể, cảm giác này, mình không biết thương nó và thương không đúng cách. Mình ở trong bóng tối của vô minh khi mình chưa thấy được pháp, mình lãng quên cảm giác này và nó thâu nhận toàn chất độc hại: Tam độc; lựu đạn, thuốc nổ. Mình chất chứa và làm chính mình và người đau khổ. Bây giờ mình đã nhìn thấy được rồi thì mình xả hết những cái thuốc nổ, những thứ thuốc độc làm mình đau khổ. Mỗi khi quý vị nhiếp phục được cảm thọ sân thì hãy hoan hỷ lên, đãi tiệc tâm linh. Mỗi khi mình nhiếp phục được một cảm thọ sân, một cơn giận thì mình vui sướng lên "bữa nay mình chiến thắng được một tên giặc", nguyên ngày đó mình vui hoài. Như vậy cái hỷ này đánh vô những cái sân, cảm giác hỷ này gội rửa những cảm giác buồn chán trong sự tu học nhàm chán, cái hỷ này thanh lọc những cảm giác trì trệ, âm u, làm sạch những cảm giác đơ đơ, mờ mờ. Cảm giác của mình từ từ sẽ trong sạch, thanh tịnh. Đây là cả một công trình về việc huấn luyện cảm thọ. Cảm giác hiền lành, hoan hỷ, cảm giác từ tâm hết sức rộng rãi, sâu sắc, thương mình, thương những người làm mình khổ, lúc trước dễ gì mình thương được nhưng tập cái này là mình thương được. Rõ ràng là mình đau khổ với tham sân si, bản ngã, và rõ ràng người kia cũng đau khổ với tham sân si, bản ngã và tất cả chúng ta là nạn nhân, cho nên thông cảm với nhau. Như vậy đây mới thật sự là tâm từ. Tâm chúng ta trước đây bị tồn, ứ đọng, bây giờ mình bung cái tâm mình ra, thực hành tâm rộng lớn cho nên hồi sáng Minh Thành hướng dẫn quý vị xuyên tường vách, mình ngồi đây nhưng cái thọ của mình phá tung tất cả tường vách, cái thọ, tưởng của mình ra vô lượng, đó là thực tập tâm rộng mở vô lượng còn không mình sống với cái tâm nhỏ hẹp, mình giận ai là tối ngày cứ nhớ tới người đó hoài, hay mình buồn chuyện gì là cứ lảng vảng, đi ra không được, mở rộng tâm ra, không ngán ngại với tường vách, núi đồi, gọi là từ vô lượng tâm, trong lồng ngực mình phát sanh ra cảm xúc dào dạt rồi mình nhìn những người làm mình khổ thì thấy thương họ. Quý vị tu được tâm từ này thì tuyệt diệu vô cùng, Đức Phật nói trong những bài kinh thì Đức Phật tu chỉ có bảy năm về tâm từ, mà cái phước của Ngài hưởng là sanh cõi người là vui cõi người, sanh cõi trời là vua cõi trời, vô số lần kiếp thành hoại của Trái Đất mà hưởng không hết công đức của tâm từ này. Trong tất cả công đức thì tâm từ là công đức chi dương, chúa tể của tất cả công đức là tâm từ. Đức Phật nói rằng có những người đem nồi cơm cho từ sáng đến trưa, từ trưa tới chiều, từ chiều đến tối khuya với vô số nồi cơm như vậy mà cái phước cũng không bằng một người thực tập tâm từ trong khoảng thời gian khảy móng tay. Mình nói như vậy không phải là mình không bố thí, mình vẫn bố thí bên cạnh việc thực tập tâm từ. Đại đa số bây giờ là bố thí làm phước nhưng không biết thực tập tâm từ, tại vì bố thí là mình cho của cải, vật chất bên ngoài nhưng không có tâm từ là mình đau khổ dài dài. Nuôi dưỡng những tâm sân hận, bực bội là nó sẽ dày xéo tâm can mình, làm cho mình te tua tàn tạ. Mội nội tâm tơi tả tàn tạ thì khổ vô cùng, nhìn dáng sang mặt đẹp nhưng nói chuyện thì "thầy ơi con muốn chết, thầy nhìn con tưởng con vui, hạnh phúc chứ con đau khổ, như ở trong địa ngục vậy". Cảnh này nhiều lắm quý vị, tại vì mình không tu tập tâm rộng mở từ bi hỷ xả vô lượng, cho nên khóa tu vừa rồi Minh Thành có hướng dẫn xả, gọi là hỷ vô lượng tâm, là tu cái tâm hỷ đó hoài, làm mình vui hoài. Mình trú được tâm hỷ thì như mình sống ở cõi trời, cho nên chỗ Minh Thành ở gọi là cổng trời.
Minh Thành rất coi trọng việc tu bốn tâm vô lượng. Khi con mắt nhìn xuống thì không phải nhìn vào một điểm nào mà tầm nhìn phải mở rộng ra khắp hư không pháp giới, không được nhắm mắt, nó sẽ đi vào bóng đêm. Vì vậy tuy con mắt nhìn xuống nhưng tầm nhìn rộng mở: Lên phía trên, ra phía sau, xuống tận cùng phía dưới, vô lượng vô biên, mình thực tập tâm vô lượng thì phước báu của nó là siêu khủng, không thể tưởng tượng nổi phước báu công đức. Cho nên khi nãy mình ăn cơm chánh quán thọ thực thì Đức Phật dạy cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, tâm rộng mở thì mình sẽ không bị trần trói buộc, mình không vị lưỡi trói buộc, không bị vị trói buộc, không bị cảm giác trói buộc trong cái tham, cái sân. Người nào tu tập tâm vô lượng mà bất cứ người nào cho người đó ăn, hay cúng dường cho người đó thì phước báu là vô cùng vô cực, vô biên tế. Người phàm phu khi ăn gắp liên tục trong một cái tâm nhỏ hẹp, sẵn nhân duyên hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị bốn tâm vô lượng, hãy an trú trong một tâm xả, cũng như tâm từ thì đầu tiên là chánh tri kiến, phải nhìn thấy được khổ uẩn, thấy được tham dục, tham ái, thấy được sân hận si mê, bản ngã là nguồn gốc của khổ, từ đó nhàm chán những thứ này, không ham muốn nữa thì lúc đó buông xả, hơn thua ganh tị để làm gì. Cuối cùng còn gì nữa đâu khi đưa vào lò thiêu, đưa xuống huyệt, mình quán chiếu thâm sâu để mình buông bỏ cho cái tâm mở rộng được vô lượng xả, vô lượng tâm. Ở trong cái tưởng, trong cái thấy, cái rõ biết của mình thì mình thấy cái tâm mình mở rộng cùng tận, khắp hư không, tuy là cái thân có mấy chục kí lô thôi nhưng cái tâm là trùm khắp vũ trụ. Người tu tập bốn tâm này nếu chưa thành tựu chánh tri kiến thì sanh ở các tầng trời, là Phạm thiên, là vua của các vị trời. Người nào thấy năm uẩn và còn tu tập nữa thì gọi là thánh đệ tử thiên, là chư thiên bậc thánh nhân. Chư thiên có hai dạng: Một là phàm phu thiên, hai là thánh nhân thiên hay là thánh đệ tử thiên. Những vị phàm phu thiên mà tu bốn tâm vô lượng này sẽ sanh vào các cõi trời cao, làm vua trời, hưởng hết phước thì thường lọt xuống cõi thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi người cũng có mà ít lắm. Các bậc chư thiên nhưng thành tựu về ngũ uẩn có mục đích diệt tận tham sân si thì các vị này không bao giờ trở lại xuống thấp, từ đó tiến lên đến thánh quả tối cao của A-la-hán. Đây chính là sự khác biệt của phàm phu thiên và đa văn thánh đệ tử thiên, cũng là sự khác biệt của loài người. Ai tu tập bốn tâm này nếu không sanh cõi thiên mà sanh vào cõi người, mặc dù bốn tâm vô lượng chưa viên mãn thì mình cũng sanh vào đỉnh cao của cõi người, từ đó về sau chỉ qua lại trong cõi người và cõi trời ít nhất là bảy lần, nhanh nhất là trong một kiếp sẽ chứng thánh quả A-la-hán tối cao của Đức Phật. Vì thế bốn tâm này hết sức quan trọng, mình có bốn tâm này thì mới phá được sự nghèo nàn, khao khát của một nội tâm bệnh hoạn, đầy vết thương. Nếu không tu tập thì với tâm phàm phu sẽ mong muốn, ước ao, hi vọng hoài, giàu nhất rồi cũng muốn kiếm thêm, biết bao nhiêu những thứ rồi cũng không hài lòng. Trong thân là những cảm giác dục, tham, cứ vậy mà nó hoành hành, cứ vậy mà nó sai khiến, mình bị trói, bị kéo, bị sai khiến, đây gọi là kiết sử.
Điều hết sức căn bản Minh Thành nhắc mọi người thực tập tâm hiền và bốn tâm vô lượng, diệt tận tham sân si và bản ngã. Hôm nay Minh Thành đã truyền trao bí kíp chánh pháp cho mọi người, đây chính là tinh hoa, là cốt tủy của tạng kinh Nikāya nguyên chất của Đức Phật.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Xin thầy hoan hỷ giải thích cho con trong niệm giới định tuệ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh thì con đã hiểu, nhưng với diệt tầm diệt tứ thì con chưa hiểu lắm. A-di-đà Phật.
Nãy giờ Minh Thành làm cho quý vị phát sanh hỷ lạc do ly dục thì quý vị cảm nhận được cảm giác vui vẻ, hoan hỷ. Tức là do mình rời bỏ những thú vui vật chất tầm thường mà mình có cảm giác hoan hỷ, an lạc trong chánh pháp. Cái tầm, cái tứ này rất sâu sắc, phải thực tập thiền. Minh Thành chỉ nói đơn giản để mình dễ hiểu, tầm là sự hướng về của tâm, tứ là sự bám vào đối tượng đó. Ví dụ đang ngồi mà mình nghe một tiếng gì đó, thì tuy mình đang ngồi nhưng tâm mình lại hướng theo cái hướng của âm thanh đó, thì đó gọi là hướng tâm, tầm cầu. Nếu mình theo dõi âm thanh coi nó từ đâu phát ra thì gọi là tứ. Trong khi mình đang nghe pháp ở đây vẫn có tầm có tứ, ví dụ những lời Minh Thành nói về tâm hỷ hay tâm từ thì tâm của quý vị hướng theo cái pháp đó thì gọi là tầm, quý vị bám theo những cái pháp đó không để cho bất cứ cái gì đánh lạc hướng, tâm mình an trú thì gọi tứ. Còn nói không có tầm tứ là ở những trạng thái định cao, những trạng thái định thâm sâu. Đơn giản là mình phải nhận diện được sắc thọ tưởng hành thức, cái tầm nói dễ hiểu là ý hành, là những suy nghĩ trong tâm của mình, nói cho sát sao là sự hướng tâm, tầm là truy tầm, tìm cầu. Mình ngồi đây nhưng "chiều nay về làm đi chợ đãi mấy đứa nhỏ", tức là có sự hướng tâm ra cái khác. Người ta ví dụ như con bướm hướng đến bông hoa thì đó là tầm, rồi bay đến đậu vào bông hoa thì đó là tứ.
Con thưa thầy, từ đó giờ khi ngồi thiền con thường nhắm mắt. Hôm nay có nhân duyên gặp thầy tu theo pháp môn này. Khi nãy ngồi thiền con mở mắt thì thấy không được yên, bị cảnh vật xung quanh chi phối. Bạch thầy xin thầy hướng dẫn cho cho cách ngồi như thế nào để tâm mình được yên.
Cách ngồi thiền được Minh Thành chia sẻ rất kỹ trong bài "Nhập thất ngồi thiền", quý Phật tử vào trang linhquyphapan.vn hoặc Youtube tìm bài "Nhập thất chia sẻ chỉ cách ngồi thiền". Thời gian không cho phép nên ở đây Minh Thành chỉ nói những cái quan trọng, còn quý vị phải nghe và thực tập theo đó ít nhất là mười lần. Đương nhiên nào giờ mình nhắm mắt quen rồi, còn giờ kêu mở mắt sẽ không quen, không có gì lạ. Mở mắt thì mình tưởng là bị dao động nhưng không phải, mở mắt thì mình sẽ rõ biết được sự thật ngay lúc đó, còn nhắm mắt thì khi lúc đó có gì mình đâu có biết, thành ra lúc đó cái tâm của mình không được tỏa sáng, không có ghi nhận, không có tinh tường. Cho nên mình cứ nhắm mắt rồi khi ra ngoài mở mắt thì lúc đó mình mất thiền rồi, nhắm mắt tâm mới yên, còn mở mắt tâm bị động nếu vậy lúc ngủ là lúc mình yên nhất, nếu vậy làm sao mình tu. Khi nhắm mắt mình chỉ biết có hơi thở của mình hoặc là sự phồng xẹp của bụng, hay là cái tưởng về hơi thở. Còn mở mắt mình sẽ thấy rất rõ trước mặt mình có cái gì, sẽ cảm nhận được cảm giác toàn thân, trong tâm mình có những nghĩ tưởng gì sanh khởi thì mình biết được. Như vậy thì khi ngồi thiền mà rõ biết thân, rõ biết các cảnh vật, rõ hơi thở, rõ cảm giác nghĩ tưởng thì mới gọi là trí tuệ, còn một cái ngồi không biết gì hết thì sao gọi là trí tuệ, ngồi mà một hồi mở mắt ra sao thấy yên quá, không biết gì hết thì đó là trạng thái của hôn trầm nhẹ. Cho nên lúc đầu quý vị sẽ thấy khó nhưng tập từ từ rồi sẽ quen. Khi quen rồi quý vị mới thấy tuyệt diệu, là bất cứ chỗ nào quý vị cũng thực tập được ba pháp. Khi quý vị đi đứng, quý vị rõ biết trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh táo để mình biết trong thân mình đang có gì sanh khởi lên. Quý vị đi ngoài đường mà không rõ biết trước mặt, cứ nhìn đông nhìn tây thì rất nguy hiểm, trong thân mình có cảm giác gì mà mình không biết thì có nguy hiểm không? Trong tâm mình sanh ra cái gì mà mình không biết không thấy thì lúc đó mình có trí huệ, có tỉnh táo sáng suốt không? Cho nên đây là sự thực tập ba pháp rành rõ hết căn, trần, thức. Căn là thân, trần là cảnh, rồi mình rõ biết những hơi thở, cảm giác là một sự tu tập trí huệ, mà đây là quý thầy quý cô căn cứ vào mười sáu hơi thở của Đức Phật dạy, vì thế đây là phương pháp của Đức Phật dạy. Quý vị phải cố gắng thực tập và vượt qua sự mơ mơ trong khi thiền. Mở mắt mà còn sống với vô minh, còn không thấy được pháp gì đang vận hành thì nhắm mắt lại chỉ thấy bóng đêm.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni phật. Kính bạch thượng tọa giảng sư, kính thưa đại chúng. Con là người mới trong đạo tràng này. Con xin thầy giảng cho chúng con hiểu thế nào là sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, cũng vậy với thọ tưởng hành, để khi chúng con quán ngũ uẩn sẽ nhận thức được rõ hơn. A-di-đà Phật.
Phần này rất sâu sắc, Minh Thành cũng đang giảng về phần này cho các Tăng Ni trong trường Phật học. Quý vị có thể vào trang linhquyphapan.vn có phần "Thánh trí năm uẩn", vì cái này rất lớn và sâu sắc nên ở đây Minh Thành chỉ nói tổng quát. Thân của mình sanh ra từ cái gì, Phật dạy mình phải biết điều đó. Và tại sao hoại diệt, Phật dạy mình là phải biết, không được nói rằng con suy nghĩ ra, suy nghĩ ra là của phàm phu, con thì làm sao suy nghĩ, mà suy nghĩ ra thì toàn là mê. Cho nên phải căn cứ, bám sát vào những lời Phật dạy trong kinh Nikāya, tuyệt đối không suy nghĩ theo ý riêng cá nhân của mình, phải lấy chuẩn mực trong lời Phật dạy, vì Phật là bậc đại Giác, biết rõ toàn diện về tự thân tâm của chính mình, từ cái gì sanh khởi lên, chấm dứt như thế nào và làm thế nào chấm dứt tham ái. Sở dĩ vòng luân hồi tiếp diễn và chúng ta luôn sầu bi khổ ưu não là do chúng ta không biết được chính mình là cái gì, từ đâu mình sanh ra và làm sao để thoát ly khỏi sự chấp thủ, tham ái đối với đời sống này. Cho nên đây là cả một sự chứng ngộ của Đức Phật. Thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, mình có ăn thì mình mới ngồi đây, không có ăn thì sao có mình ngồi đây, có thức ăn mới có đời sống, thân thể này. Quý vị phải hiểu rộng ra thức ăn không chỉ là các món ăn mà hơi thở cũng là một dạng của thức ăn để nuôi sống thân thể. Có đất, nước, gió, lửa là có đời sống, nếu không duy trì sự tuần hoàn này thì thức ăn đoạn diệt, sắc sẽ đoạn diệt. Làm sao để thoát ra khỏi sự tham ái, chấp thủ đối với cái sắc này? Phải nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc này, đây là con đường thoát ra khỏi sắc. Để nhiếp phục dục và tham thì Đức Phật dạy chỉ có con đường Bát Chánh Đạo, chánh tri kiến, phải thấy được thân này là cái gì. Mình thấy được rồi mình mới bớt tham, từ đó đi đến chỗ nhiếp phục tham và không còn tham, nếu không biết mình cứ tưởng là mình đẹp, sạch, tốt, hay, đó là tôi, là tự ngã của tôi thì mình không thể nào thoát được. Cho nên phải đi từ chánh tri kiến, những khóa tu học Nikāya là để có được một cái thấy chân chánh, cái thấy đúng về thân tâm của mình, cũng gọi là thể nhập tri kiến của bậc thánh. Đây là lý do hình thành nên những khóa đạo tràng Nikāya. Vì cái thấy của mình là thấy theo mê, thấy theo tham sân si, bản ngã chứ mình không có thấy theo trí huệ của bậc thánh. Ba mươi lăm loại trí huệ nhưng tất cả đều là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc thọ tưởng hành thức, đối với thân thể sự vật, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức. Tham chính là tham ngũ uẩn, như mê hồn trận đi ra không được, mà muốn đi ra cũng không biết đường đâu mà ra. Minh Thành phân làm ba hạng người: Thứ nhất là đam mê nặng nề, cũng có khổ nhưng cái đam mê quá mạnh nên cái khổ không đủ sức kéo họ thoát ra. Hôm qua có duyên được các Phật tử đưa đi thăm thủy cung. Vào đó tham quan Minh Thành có cảm giác xót xa, tất cả thế giới hành tinh có bảy, tám tỉ người nhưng riêng một loài thủy tộc là hàng nhiều tỷ, vô số dạng thức thú sanh, trong một đời sống dưới nước người ta gọi là thủy tộc, tất cả những chúng sanh đó bị tham ái, chấp thủ trong cái nghiệp vô minh, tạo thành một cái sắc uẩn như vậy, những người đi chung đoàn đều khen đẹp nhưng Minh Thành chỉ thấy khổ. Quý vị nghĩ thân con cá, san hô… như vậy có đẹp không? Chẳng qua là do cái tưởng, suy nghĩ của mình như vậy thôi chứ đẹp cái gì? Có nhiều người nói con chó ở nước ngoài sướng lắm, được ăn, được cắt móng, có bệnh viện riêng cho chó còn chó nước mình thê thảm, đói không ai cho ăn. Minh Thành nói rằng sung sướng gì cũng là chó thôi, chứ đâu phải sướng là thoát được kiếp làm chó. Minh Thành đi thiền hành với các chú gần bờ sông, có những con chó sủa, có những con đứng im, có những con chó lết lết bị ghẻ thì Minh Thành trả tâm từ, biết rằng chúng sanh ngũ uẩn này khổ từ cái ác nghiệp của quá khứ, đã là thân con chó rồi còn bị cùi, ghẻ, lở. Trải một tình thương xót xa với những con chó này, và nói ba pháp quy y hãy về nương tựa Phật, nương tự pháp, nương tựa Tăng để thoát được thân súc sanh này để tiến hóa làm người đặng giác ngộ. Cũng trên đường thiền hành có có Phật tử đem cá lại nhờ phóng sanh, tức là người Phật tử này phóng sanh nói muốn Minh Thành đi theo chứng minh, Minh Thành cũng nói ba pháp như vậy thì bỗng nhiên hàng bầy bầy cá bu vào bờ chỗ mình đứng, tức là mình phóng sanh một ít cá thôi nhưng lại có nhiều bầy cá bu theo vào lúc mình đang nói ba pháp quy y. Tất cả từ ngũ uẩn là đầy rẫy sự khổ đau, những ác nghiệp, tham sân si, vô minh và bản ngã mà có vô vàng dạng thức của chúng sanh. Khi Minh Thành qua Úc hoằng pháp, đang đi bộ bên bờ biển, có một người tây đang dẫn con chó thì nó tung sợi dây chạy lại Minh Thành, mấy người đi chung giật mình không biết có chuyện gì xảy ra. Con chó chạy lại quấn quanh, mừng rỡ thì lúc đó mình nói ba pháp. Mình tu tập tâm từ thì có thể chiêu cảm được với nhiều dạng thức chúng sanh, quý vị tu tập tâm từ quý vị sẽ cảm nhận được điều này, rất đặc biệt. Quý vị thấy rằng suy tưởng là không đúng, cứ nghĩ là sướng lắm cho nên có câu chuyện nổi tiếng của Trung Quốc: Có hai người đang đứng chơi ngắm da, có mấy con cá lội tung tăng thì nói cá vui quá. Ông kế bên nói ông không phải con cá sao biết cá vui. Có nhiều người nói kiếp sao tôi không làm người nữa, làm chim bay trên trời cho thoải mái, không phải chim sao biết chim bay thoải mái, nó khổ làm sao biết được. Quý vị có thấy mình suy tưởng trật hết không? Mình không có trí huệ cho nên Đức Phật gọi là tưởng tri và thức tri, nghĩa là cái biết chỉ ở trên tưởng tượng, ở trên những kiến thức do người ta nói lại hay là kinh nghiệm, chứ không phải là tuệ tri, không phải là cái biết như thật thấy, như thật biết bằng trí tuệ. Cho nên khi đi vào thủy cung nhìn thấy bao nhiêu loài cá Minh Thành khởi một tâm từ xót thương và nói ba pháp quy y. Mình biết rằng xung quanh mình có rất nhiều dạng thức chúng sanh khổ. Mình là một con người lành lặn, mắt tai mũi lưỡi tốt lành như vầy mà mình còn bao nhiêu những chồng chất của sầu bi khổ ưu não mà pháp mình có nghe, có tập, đôi lúc mình còn chán ngán cho cuộc đời này, muốn giải thoát chứ không muốn sống làm người nữa thì huống gì những con dòi trong đống phân, những con gián, kiến, rắn rít, rận rệp rồi những con vi trùng. Quý vị nghĩ có bao nhiêu loài chúng sanh, ngàn ngàn vạn vạn tỷ loài. Quý vị đọc câu "thân người khó được" rồi nói "Con có thấy khó được đâu, bây giờ sanh nhiều, sanh dễ quá mà, người ta còn bỏ bớt", không phải như vậy, có vô vàng dạng thức chúng sanh phải chịu khổ vì ác nghiệp tham sân si và bản ngã, vô minh, chấp thủ. Nguyên nhân là từ dục và tham đối với sắc uẩn, ham muốn ưa thích đối với những hình dáng của sắc uẩn này, không đi ra được. Cho nên sự nhiếp phục và đoạn tận dục tham sẽ đưa đến xuất ly khỏi sắc uẩn, mà không phải ngăn chặn, kiềm chế bằng sự không thấy biết mà phải thấy biết từ đâu nó sanh khởi, như thế nào để chấm đứt dục tham để mà đoạn tận khỏi nó. Có một đạo lộ rất rõ là sáu pháp Thân Hành Niệm, quý vị hãy nghe bài "Hương vị của bất tử" thì đây là sáu phương pháp, sáu khía cạnh mà Đức Phật chứng ngộ được trong khi Ngài tu tập để quán chiếu tất cả sắc pháp trên cuộc đời này. Và tất cả chúng ta hoàn toàn mù lòa đối với sắc, không thấy không biết gì hết, mình bị ở trong một bóng đêm dài khủng khiếp. Cho nên Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc Phạm thiên, bậc khai đạo. Nếu không có Ngài xuất hiện là toàn thể vũ trụ vĩnh viễn chìm trong bóng đêm của vô minh trong muôn ngàn đại kiếp, tức là sự hình thành và hoại diệt của Trái Đất này một tỷ lần, mười tỷ lần cũng không thấy được thánh pháp này, cho nên ân đức của Phật vĩ đại lắm. Nếu không có một bậc kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chứng ngộ xuất hiện trên đời này thì tất vô vàng dạng thức chúng sanh trong tam giới này vĩnh viễn không có lối ra, cho nên Đức Phật nói ngoài Bát Chánh Đạo ra thì không có đệ nhất Sa môn, không có đệ nhị, không có đệ tam, đệ tứ. Nếu không có Bát Chánh Đạo và không có sự chứng ngộ của Đức Phật tuyên thuyết soi sáng cho chúng sanh thì vĩnh viễn ngàn tỷ thái dương hệ này sẽ ngập chìm trong bóng đêm không có đường ra khỏi sắc uẩn này. Và tất cả những cái thân chó ghẻ, những cái thân cùi lở, đui, điếc, câm… những cái thân bán thân bất toại nằm dài đau khổ là sẽ diễn ra hoài hoài vĩnh viễn bất tận. Cho nên chúng ta đây là phước đức vô biên khi trong thời mạt pháp như vầy mà chúng ta tìm được thánh pháp này. Xin thưa quý vị hiện nay toàn thế giới không có một đường tu rành rõ bằng cái trí năm uẩn này, Minh Thành đã đi khắp thế giới cầu pháp. Phước lành thay cho chúng ta! Công đức thay cho chúng ta! Tốt lành và hạnh phúc vô tận thay cho chúng ta là đang ngồi đây, chúng ta đã tìm được thánh pháp sau hai ngàn năm thất truyền và mình đang thực tập, đang lắng nghe chiêm nghiệm và đang hành trì. Minh Thành mong rằng tất cả quý vị hãy học hết sức mình về định nghĩa năm uẩn và cảm giác toàn thân, học cho rõ những trí huệ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Ngài tu khó khăn, khổ cực vô cùng để chứng ngộ mà mình chỉ đọc để nhớ thôi mà làm cũng không được là sao? Mọi người phải cố gắng, tự mình đọc bằng giọng của mình rồi mình ghi âm nghe tới chừng nào thấm vào não rồi mình thực tập quán chiếu. Làm được vậy thì xin thưa với quý vị, tối thiểu trong đời này khi quý vị sắp sửa ra đi mà thành tựu được trí năm uẩn này thì chắc chắn quý vị sẽ sanh cõi trời, cõi người, không rơi vào ba đường xấu ác. Mọi người có chịu không? Chỉ cần khi mình sắp sửa nhắm mắt mà mình nhớ được cái trí về ngũ uẩn là mình chắc chắn sanh trong cõi trời, người, không bao giờ mình rơi vào ba đường ác vì đó là thánh trí của Phật chứng ngộ mà lúc sắp ra đi mình lại thành tựu thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác thì quý vị nghĩ làm sao mình đi vào bóng đêm được, lúc đó mình là ánh sáng, bất cứ chỗ nào ánh sáng xuất hiện là không có bóng đêm. Minh Thành vô cùng hạnh phúc như đào được mỏ kim cương từ khi thực tập dòng pháp này, Minh Thành đã đem hết một cuộc đời tu hành đi cầu pháp khắp thế giới mà không tìm ra nhưng cuối cùng lại gặp bậc thiện tri thức, trong tàng kinh Nikāya này đã thấy được con đường thật sự của Đức Phật để lại trong hai ngàn năm trăm năm trước. Quý vị đã thấy hiện nay không biết đường đâu mà tu vì có quá nhiều đường, và có những con đường không thật sự đúng theo như Phật giáo nguyên thủy mà Đức Phật dạy mình trong kinh Nikāya, cho nên Minh Thành rất là tha thiết mong mỏi quý vị hãy cố gắng mỗi ngày phải nghe một bài pháp, mà nghe bài pháp trong dòng pháp này chứ không phải nghe lung tung. Nghe, nghiềm ngẫm và thực tập những gì mình học nãy giờ. Như vậy mình sẽ có một tương lai sáng lạn cho mình và cho những người thân thương nhất của mình, đạo tràng của mình sẽ rực sáng chánh pháp, từ đây mình sẽ lan tỏa cái ánh sáng này cho những người thân thương nhất trên cuộc đời này. Chúc cho quý vị thành tựu chánh tri kiến, thể nhập Dự lưu.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
ĐĐ. Thích Minh Thành
Đại chúng tu tập từ sáng đến giờ có được an vui không? Có nhiếp phục được cảm giác khó chịu của thời tiết nóng bức không? Minh Thành có chia sẻ với các vị có trách nhiệm lo lắng cho chúng ta, thầy mong rằng từ từ chúng ta sẽ có được một chỗ thoải mái thì đạo tràng mới có thể phát triển dài lâu. Minh Thành thấy quý vị tu mà nóng nực thì cũng tội nghiệp, mình chiến đấu với thời tiết thì cũng hơi khó rồi thì đừng nói chi đến giáo pháp thâm sâu này. Làm sao để khi đến đạo tràng chúng ra có được cảm giác thoải mái, an vui, trang nghiêm, thanh tịnh và hòa hợp. Đây là những điều căn bản không thể không có trong một đạo tràng tu học, chúng ta sẽ cố gắng tạo cho mọi người có cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng và bình an. Sau đó chúng ta mới có thể thực tập tâm từ, tâm xả, tâm hỷ. Khi nãy quý vị thực tập tâm hiền thì quý vị có thấy tâm mình hiền được chút nào không? Trong sự thực tập là phải phát sanh cảm giác chứ không phải chỉ nghe rồi gật đầu, mà phải sanh ra cảm giác, cảm xúc. Mình tu tập tâm hỷ là mình phải cảm thấy vui, hạnh phúc, thậm chí cảm giác đó phải chạy rần rần, thấm trong toàn bộ cơ thể, cả thân được tưới tẵm bởi một dòng suối hỷ lạc từ đỉnh đầu đến gót chân. Cũng vậy, cảm giác vui sướng, hỷ lạc phải dâng trào, tràn ngập thân tâm mình, đây là tu tập mới có kết quả, còn kêu hỷ lên mà mặt buồn thì tâm chưa có tu tập.
Sáng nay Minh Thành nói quý vị tu tập tâm là phá năm truyền cái, nhưng phá năm truyền cái chỉ là một khía cạnh, còn phải tu tập bốn tâm vô lượng: Từ; bi; hỷ; xả. Nếu nói tu mà chỉ nghe có phá trừ thì buồn, còn cái này tu là mở rộng các cảm giác, chính những cảm giác hỷ lạc này là thuốc bổ của tinh thần, nuôi dưỡng mình. Tu tập từ bi hỷ xả là dưỡng chất của tâm linh. Mình không tu tập bốn vô lượng tâm này thì sẽ suy nhược thần kinh, là một cái tâm nghèo nàn, khốn khổ, cái tâm lúc nào cũng đi tìm kiếm, muốn cái này đòi cái kia. Đó là cái tâm nghèo khổ của phàm phu chưa được tu tập. Nó là một nội tâm đầy rẫy tham dục, tham ái, ham thể hiện… Đó là một cái tâm hết sức nghèn nàn, đói khát. Khi mình có tu tập thì tâm mình sẽ giàu có, không còn đói khát nữa, chỉ còn sự sung mãn của hỷ lạc, mình tu là lúc nào mình cũng vui. Người tu tập sẽ hiền, dễ thương, nhẹ nhàng, thư thái… sao cũng được, quý vị có chịu như vầy không? Tu tâm hiền là cái gì mình cũng thấy dễ chịu, chứ không có bực bội, rắc rối, khó khăn… Đó là những cảm giác của người không tu tập tâm. Mà một người cái gì cũng khó chịu, cái gì cũng sân si thì người đó khổ hay vui? Trước nay mấy cái này có làm cho mình khổ nhiều không? Ví như trời nóng một chút là người đó thấy bực, quý vị cứ mặc kệ, ngoài đó nóng nhưng bên trong không nóng. Từ từ quý vị sẽ nhiếp phục các cảnh, nhiếp phục thân, nhiếp phục được cảm giác, thậm chí quý vị sẽ nhiếp phục được cơn tham muốn, những cái bực bội hay những cái si ái, bản ngã thì hạnh phúc lắm. Mình giành lại quyền làm chủ mà trước nay mình bỏ mất, để cho ngoại cảnh, thân thể, cảm giác cướp mất quyền làm chủ, không cho mình tự do. Chỉ cần một cuộc điện thoại khó nghe là mình ăn không ngon, ngủ không yên, mình thao thức. Trở lại vấn đề, mình phải có một cái tâm giàu có. Muốn được tâm giàu có thì phải đi lên từ tâm hiền, trong khi thực tập tâm hiền thì quý vị phải sanh khởi một cảm giác dào dạt, sung mãn đầy ngập thân tâm, làm tràn ngập hết cơ thể một cảm giác hiền thiện, hiền đức. Như vậy là quý vị thành công trong bước một.
Khi mình thực tập mình tuyệt đối không nhắm mắt, vì khi đó mình không có tỉnh. Mình nhắm mắt sẽ bị rơi vào trạng thái lờ mờ, âm u, có khi mình bị hôn trầm, hoặc những hình bóng lờ mờ xuất hiện thì đó là tưởng. Như vậy mình rơi vào thiền si, uổng phí sự tu tập của mình. Mấy tháng mình mới đến đạo tràng mà vào ngồi lại thiền si, rồi thiền lủng. Thiền si là mình ngồi mà nhắm mắt rồi ru ngủ, thành ra Minh Thành nói cái này không phải tu mà là ru, nguyên ngày làm mệt rồi lên bàn thờ Phật ngồi nhắm mắt ru, ngủ luôn. Thiền lủng nghĩa là tâm ngồi đó mà thật sự ngồi nghĩ ngợi, tính đủ thứ chuyện, ngồi thiền chứ tính "không biết mối làm ăn này mai tính sao đây, hay chương trình này sao ta…", thiền lủng rồi chìm luôn "thôi lo công việc quan trọng" là bỏ thiền luôn. Cho nên một là ngủ gục, hai là lăng xăng vọng tưởng, ba là bỏ thiền đi ra. Bây giờ quyết tâm khi ngồi thiền không nhắm mắt. Mắt nhắm là vô mê, vô si cho nên không được nhắm. Phải mở mắt, quý vị về xem thêm bài "Cảm giác toàn thân", đạo tràng phải mở lên nghe vì bài này hết sức quan trọng, không nắm vững cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn thì tất cả sự tu hành của mình chỉ như xây lâu đài trên cát, phải nghe bài này nhiều lần, đừng ham nghe nhiều thứ. Phải thật nhuần nhuyễn cảm giác toàn thân, tức là ba pháp và nhận diện năm uẩn.
Mình thực tập tâm hiền thì phải nhớ phát sanh được cảm giác, cảm thọ, chứ không phải ngồi cho có rồi về, phải thật sự lúc đó thấy được tâm mình hiền ra, cảm giác của mình lắng dịu lại, nếu cái tưởng hiện ra gương mặt mình thật dễ thương, hình bóng của mình khiêm nhường. Mình tập cho mình có cái tưởng lúc nào mình cũng cúi đầu, chắp tay, sẵn sàng quỳ lạy. Đây chính là lạy sám hối diệt ngã. Mình phải thực tập một nội tâm dào dạt, tràn đầy tình thương. Mình biết rằng thương cho cái thân này, mình đã bỏ quên, mắt không có chốt gài, lỗ tai không có chìa khóa, mũi lưỡi, thân ý không có cửa đóng, nội tâm như một vết thương. Mình thương ba bốn, sáu bảy chục năm vừa qua đã bầm dập tơi tả, mình làm phát sanh một cảm giác thương chính mình nên không muốn mình khổ vì tham muốn, sân hận, si mê, bản ngã nữa. Hồi đó mình không biết thương, cứ nghĩ cho ăn ngon, mặc đẹp, ở sang là thương nhưng đó là thương ở ngoài, còn cái thương quan trọng là cái thương cho bớt tham, bớt si, bớt bản ngã chấp thủ. Đây là tập tâm từ đối với chính mình, ngồi quán "thương quá là thương đã mấy chục năm nay, tội nghiệp cho đống thịt mấy chục kí lô này, chạy theo dục tham, lo lắng, suy nghĩ mãi, ai đụng vô là tức giận. Tối ngày trong trạng thái buông lung phóng vật, thả lỏng các căn, không thì trong trạng thái si mê, ngồi đâu ngẩn ngơ đó" Thương quá là thương! Thôi từ đây về sau ta thương cảm thọ này "cái cảm giác này nhớ hiền nha, thương nha, nhớ nuôi dưỡng những cảm giác hoan hỷ, hiền ngoan nha, đừng nuôi dưỡng những cảm giác trì trệ, nặng nề, vô minh. Ta thương lắm cái cảm thọ ơi! Ta đã bỏ quên cái cảm thọ này, bây giờ ta chăm sóc, ngoan nè, hiền nè". Lúc nào mình giận thì "ngoan đi, đừng giận, đừng khó chịu, khó chịu rồi làm khổ mình, khổ người. Trời nóng mà còn bực thêm thì khổ lắm, dễ chịu đi cảm giác ơi!" Mình nói với cảm giác mình như vậy, vì lâu nay mình bỏ quên cảm giác, trong khi cảm giác là nơi quy tụ tất cả pháp, nó là cái kho chứa tâm thức mà mình không nhìn ngó nó, cái gì mình cũng chứa vào: Lựu đạn, thuốc độc… ai đưa cái gì là chứa vô hết, rồi chịu không nổi tức nước vỡ bờ với người thân thương nhất của mình mới khổ, mình phải hóa giải tất cả lựu đạn này, những chất độc này, phải đem ra khỏi thân tâm mình những chất độc hại đã làm mình khốn khổ, hiểm nạn, chính là những thứ chất chứa trong tâm mình chứ không có ai làm mình khổ hết. Ví dụ có ai đến nói câu nặng nề với mình, lúc đó mình nhiếp phục được cảm thọ thì quý vị có khổ không? Mình đừng đổ thừa cho bên ngoài. Bây giờ ông xã hay bà xã nói câu khó chịu, trong tâm mình bắt đầu rung rinh thì phải làm lắng dịu xuống, bực lên để làm gì, giận lên làm gì, chửi lộn rồi đánh lộn phải không? Sung sướng lắm hay sao? Nguyên nhân của khổ quý vị thấy rõ chưa? Chính là ở trong cảm giác mà quý vị không quay trở lại nhiếp phục nó mà cứ cầu xin, vái lạy thì khổ cũng hoàn khổ. Đức Phật dạy nguyên nhân của luân hồi chính là không biết khổ tập, không biết khổ diệt đạo, không biết nguyên nhân của khổ, không biết có trạng thái chấm dứt khổ và có con đường đi đến chấm dứt khổ. Mình có biết thì cũng biết sai, tối ngày lạy xin, làm không đúng thì làm sao có kết quả thật sự. Mình phải giáo huấn cảm thọ này, phải dạy dỗ cảm giác này cho nên Minh Thành có hai bài "Huấn luyện năm uẩn", huấn luyện chính cảm giác của mình. Mình nghĩ cảm giác của mình là dễ dạy, dễ thương thì quý vị có quyền làm chủ thân tâm mình, mình kêu hiền là hiền, mình kêu thương đi, đừng có giận là nó nghe liền. Đây chính là một cái tâm có sự làm chủ, quý vị có muốn như vậy không? Vậy thì phải ráng tu tâm hiền, đừng đợi nữa tháng mới tu mà ngày nào cũng tu tâm hiền, hiền nhân thì từ từ mới đi tới hiền thánh.
Những người làm mình khổ thì mình cũng thương luôn họ, tội nghiệp họ đang bị ngọn lửa sân hận thiêu đốt, họ đang bị ngọn lửa tham ái đốt cháy. Mình đã từng bị như vậy, bây giờ đến lượt họ thì mình thương. Thương mình, thương người, thương chúng ta là nạn nhân của những ngọn lửa ham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã, tất cả là tai nạn, ách nạn, chúng ta đang bị khổ nạn. Thương sao là thương! Thương ơi là thương! Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp không nhìn thấy, không rõ biết cứ tưởng một đống thịt mấy chục kí là mình, những dòng cảm giác là mình, những hình bóng trong tâm mình nghĩ là mình, mình tưởng những nói lời lầm thầm là mình, mình tưởng những cái nhận thức rõ biết là mình cho nên mình nhận lầm năm uẩn là mình. Suốt ngày cứ "đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi" ai đụng vào là bốc lửa. Khổ! Mình phải phát sanh một cảm giác dào dạt, nước mắt tuôn tràn.
Đau khổ là một đời sống vô minh, si mê, không thấy biết năm uẩn. Đau khổ là một đời sống chạy theo tham dục ái. Đau khổ là một đời sống bám vào những ganh tị, tật đố. Đau khổ là một đời sống lúc nào cũng ta đây giỏi hơn thiên hạ, và chính những cái này là mình khổ đau. Bây giờ mình phát giác được rồi, thấy được nguyên nhân của khổ rồi, mình nguyện từ đây về sau mình phải nhiếp phục, chặn đứng lại để nó giảm thiểu, để đi đến đoạn tận. Quý vị thấy một sự tu tập hết sức rõ ràng, thực tế và trực diện: Nhìn thẳng vào cảm giác của mình, những cái sanh ra đau khổ, tham sân si là hết khổ. Đây là thánh pháp hai ngàn năm đã bị lãng quên, mai một. Bây giờ cứ chạy đi cầu xin, cúng kiếng mà không chịu quay lại nhìn thân tâm mình, mà cũng không biết cảm thọ là gì. Cho nên ngày hôm nay chúng ta ngồi đây là hạnh phúc, làm phát sanh hạnh phúc để thọ nhận cảm giác này vào thân, những cái này là cảm xúc của trí huệ chánh pháp, nó đi vào thân tâm mình, lưu trú trong đó và nó sẽ được tưới tẵm hằng ngày. Hằng ngày mình tu tập căn bản trí, hằng ngày mình tu tập tâm hiền, hằng ngày mình nhận diện ngũ uẩn, hằng ngày mình phát hiên ra tham sân si, hằng ngày mình thấy bản ngã sanh khởi và vận hành, hằng ngày mình tìm cách giảm thiểu và nhiếp phục, quý vị thấy con đường của mình tuyệt diệu không? Khi đó mình lạy Phật thì mình cũng thấy giống được Ngài, mình thật sự là con của Ngài, như vậy mới gọi là Phật tử. Chứ Phật tử mà cứ nghe đồn chỗ nào linh là chạy đến, cái đó là mê tín. Hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị những cái hết sức căn bản và quan trọng, quý vị phải nhớ cho kĩ và phải thực tập. Minh Thành nhắc lại: Thứ nhất là thực tập tâm hiền để sanh ra cảm xúc, cảm thọ, làm sao mỗi lần mình ngồi là mình thấy tâm mình hiền hẳn ra, những cảm giác, tưởng, sắc thân của mình hiền ra, sau khi tu xong bước ra nhìn gương thấy mình hiền ra một chút. Thứ hai là tu tập tâm hỷ lạc, vui. Trên đường về nhà mình phải tập hỷ vô lượng tâm và khi bước vô nhà mặt mình như đóa hoa nở rộ. Chứ vô tu mà nhìn mặt là không dám tu, đi tu về mà con không dám nhìn, không biết tu được cái gì nhưng thất bại rồi. Mỗi khi mình vô đạo tràng, mỗi khi mình được tu, được nghe pháp, được hành trì thì phải vui sướng dào dạt. Nãy giờ là Minh Thành dẫn tâm quý vị thoát ra cái thọ của thân. Nếu không có cái này xin thưa là mình tu không nổi, tu không có tiến và mình không thích thú trong sự tu. Phải nuôi lớn tâm hỷ, ngày nào cũng phải tập tâm hỷ, nhất là những lúc gặp buồn là phải tập tâm hỷ liền, diệt tâm chán nản không cho sanh khởi, xử lý liền. Mình phải làm chủ nội tâm, không phải cái gì khởi lên mình cũng cho phép, mình đánh tan ý hành chán nản rồi mình phát sanh hân hoan, thích thú. Quý vị làm được cái này thì trong bất cứ giờ phút nghe pháp nào quý vị cũng hoan hỷ, vui vẻ.
Đức Phật nói "tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi" (Tăng Chi Bộ Kinh, tập 4). Nếu quý vị không có tác ý, tức là tác động tâm ý bằng cách suy nghĩ thì lúc đó không sanh, nãy giờ là Minh Thành chỉ cho quý vị như lý tác ý, là cách tác động tâm ý. Mình làm cho mình hân hoan, hạnh phúc mà mình phải làm mới được, còn mình không sanh khởi lên tác ý thì nó không có sanh, phải tác ý "tu này là thiêng liêng, tu này là hiếm có khó gặp, tu này là thù thắng quý báu nhất của cuộc đời này". Mình trân trọng từng giây, từng phút, từng khoảng khắc trong khi mình nghe pháp, trong khi mình thực tập "Ôi thiêng liêng quý báu làm sao, ngàn năm khó gặp, vạn kiếp khó tìm cái thánh pháp này!" Mình tác ý như vậy thì quý vị thấy nó thiêng liêng lắm, giờ tu của mình là mình quý từng chút từng chút như quý vị cầm kim cương trên tay. Hãy tác ý và làm cho các pháp đó sanh khởi.
Thứ ba quý vị phải tập nhận diện năm uẩn, luôn luôn nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng và nhận thức của mình, để mình phát hiện ra là mình đã bỏ quên thân thể, cảm giác này, mình không biết thương nó và thương không đúng cách. Mình ở trong bóng tối của vô minh khi mình chưa thấy được pháp, mình lãng quên cảm giác này và nó thâu nhận toàn chất độc hại: Tam độc; lựu đạn, thuốc nổ. Mình chất chứa và làm chính mình và người đau khổ. Bây giờ mình đã nhìn thấy được rồi thì mình xả hết những cái thuốc nổ, những thứ thuốc độc làm mình đau khổ. Mỗi khi quý vị nhiếp phục được cảm thọ sân thì hãy hoan hỷ lên, đãi tiệc tâm linh. Mỗi khi mình nhiếp phục được một cảm thọ sân, một cơn giận thì mình vui sướng lên "bữa nay mình chiến thắng được một tên giặc", nguyên ngày đó mình vui hoài. Như vậy cái hỷ này đánh vô những cái sân, cảm giác hỷ này gội rửa những cảm giác buồn chán trong sự tu học nhàm chán, cái hỷ này thanh lọc những cảm giác trì trệ, âm u, làm sạch những cảm giác đơ đơ, mờ mờ. Cảm giác của mình từ từ sẽ trong sạch, thanh tịnh. Đây là cả một công trình về việc huấn luyện cảm thọ. Cảm giác hiền lành, hoan hỷ, cảm giác từ tâm hết sức rộng rãi, sâu sắc, thương mình, thương những người làm mình khổ, lúc trước dễ gì mình thương được nhưng tập cái này là mình thương được. Rõ ràng là mình đau khổ với tham sân si, bản ngã, và rõ ràng người kia cũng đau khổ với tham sân si, bản ngã và tất cả chúng ta là nạn nhân, cho nên thông cảm với nhau. Như vậy đây mới thật sự là tâm từ. Tâm chúng ta trước đây bị tồn, ứ đọng, bây giờ mình bung cái tâm mình ra, thực hành tâm rộng lớn cho nên hồi sáng Minh Thành hướng dẫn quý vị xuyên tường vách, mình ngồi đây nhưng cái thọ của mình phá tung tất cả tường vách, cái thọ, tưởng của mình ra vô lượng, đó là thực tập tâm rộng mở vô lượng còn không mình sống với cái tâm nhỏ hẹp, mình giận ai là tối ngày cứ nhớ tới người đó hoài, hay mình buồn chuyện gì là cứ lảng vảng, đi ra không được, mở rộng tâm ra, không ngán ngại với tường vách, núi đồi, gọi là từ vô lượng tâm, trong lồng ngực mình phát sanh ra cảm xúc dào dạt rồi mình nhìn những người làm mình khổ thì thấy thương họ. Quý vị tu được tâm từ này thì tuyệt diệu vô cùng, Đức Phật nói trong những bài kinh thì Đức Phật tu chỉ có bảy năm về tâm từ, mà cái phước của Ngài hưởng là sanh cõi người là vui cõi người, sanh cõi trời là vua cõi trời, vô số lần kiếp thành hoại của Trái Đất mà hưởng không hết công đức của tâm từ này. Trong tất cả công đức thì tâm từ là công đức chi dương, chúa tể của tất cả công đức là tâm từ. Đức Phật nói rằng có những người đem nồi cơm cho từ sáng đến trưa, từ trưa tới chiều, từ chiều đến tối khuya với vô số nồi cơm như vậy mà cái phước cũng không bằng một người thực tập tâm từ trong khoảng thời gian khảy móng tay. Mình nói như vậy không phải là mình không bố thí, mình vẫn bố thí bên cạnh việc thực tập tâm từ. Đại đa số bây giờ là bố thí làm phước nhưng không biết thực tập tâm từ, tại vì bố thí là mình cho của cải, vật chất bên ngoài nhưng không có tâm từ là mình đau khổ dài dài. Nuôi dưỡng những tâm sân hận, bực bội là nó sẽ dày xéo tâm can mình, làm cho mình te tua tàn tạ. Mội nội tâm tơi tả tàn tạ thì khổ vô cùng, nhìn dáng sang mặt đẹp nhưng nói chuyện thì "thầy ơi con muốn chết, thầy nhìn con tưởng con vui, hạnh phúc chứ con đau khổ, như ở trong địa ngục vậy". Cảnh này nhiều lắm quý vị, tại vì mình không tu tập tâm rộng mở từ bi hỷ xả vô lượng, cho nên khóa tu vừa rồi Minh Thành có hướng dẫn xả, gọi là hỷ vô lượng tâm, là tu cái tâm hỷ đó hoài, làm mình vui hoài. Mình trú được tâm hỷ thì như mình sống ở cõi trời, cho nên chỗ Minh Thành ở gọi là cổng trời.
Minh Thành rất coi trọng việc tu bốn tâm vô lượng. Khi con mắt nhìn xuống thì không phải nhìn vào một điểm nào mà tầm nhìn phải mở rộng ra khắp hư không pháp giới, không được nhắm mắt, nó sẽ đi vào bóng đêm. Vì vậy tuy con mắt nhìn xuống nhưng tầm nhìn rộng mở: Lên phía trên, ra phía sau, xuống tận cùng phía dưới, vô lượng vô biên, mình thực tập tâm vô lượng thì phước báu của nó là siêu khủng, không thể tưởng tượng nổi phước báu công đức. Cho nên khi nãy mình ăn cơm chánh quán thọ thực thì Đức Phật dạy cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, tâm rộng mở thì mình sẽ không bị trần trói buộc, mình không vị lưỡi trói buộc, không bị vị trói buộc, không bị cảm giác trói buộc trong cái tham, cái sân. Người nào tu tập tâm vô lượng mà bất cứ người nào cho người đó ăn, hay cúng dường cho người đó thì phước báu là vô cùng vô cực, vô biên tế. Người phàm phu khi ăn gắp liên tục trong một cái tâm nhỏ hẹp, sẵn nhân duyên hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị bốn tâm vô lượng, hãy an trú trong một tâm xả, cũng như tâm từ thì đầu tiên là chánh tri kiến, phải nhìn thấy được khổ uẩn, thấy được tham dục, tham ái, thấy được sân hận si mê, bản ngã là nguồn gốc của khổ, từ đó nhàm chán những thứ này, không ham muốn nữa thì lúc đó buông xả, hơn thua ganh tị để làm gì. Cuối cùng còn gì nữa đâu khi đưa vào lò thiêu, đưa xuống huyệt, mình quán chiếu thâm sâu để mình buông bỏ cho cái tâm mở rộng được vô lượng xả, vô lượng tâm. Ở trong cái tưởng, trong cái thấy, cái rõ biết của mình thì mình thấy cái tâm mình mở rộng cùng tận, khắp hư không, tuy là cái thân có mấy chục kí lô thôi nhưng cái tâm là trùm khắp vũ trụ. Người tu tập bốn tâm này nếu chưa thành tựu chánh tri kiến thì sanh ở các tầng trời, là Phạm thiên, là vua của các vị trời. Người nào thấy năm uẩn và còn tu tập nữa thì gọi là thánh đệ tử thiên, là chư thiên bậc thánh nhân. Chư thiên có hai dạng: Một là phàm phu thiên, hai là thánh nhân thiên hay là thánh đệ tử thiên. Những vị phàm phu thiên mà tu bốn tâm vô lượng này sẽ sanh vào các cõi trời cao, làm vua trời, hưởng hết phước thì thường lọt xuống cõi thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi người cũng có mà ít lắm. Các bậc chư thiên nhưng thành tựu về ngũ uẩn có mục đích diệt tận tham sân si thì các vị này không bao giờ trở lại xuống thấp, từ đó tiến lên đến thánh quả tối cao của A-la-hán. Đây chính là sự khác biệt của phàm phu thiên và đa văn thánh đệ tử thiên, cũng là sự khác biệt của loài người. Ai tu tập bốn tâm này nếu không sanh cõi thiên mà sanh vào cõi người, mặc dù bốn tâm vô lượng chưa viên mãn thì mình cũng sanh vào đỉnh cao của cõi người, từ đó về sau chỉ qua lại trong cõi người và cõi trời ít nhất là bảy lần, nhanh nhất là trong một kiếp sẽ chứng thánh quả A-la-hán tối cao của Đức Phật. Vì thế bốn tâm này hết sức quan trọng, mình có bốn tâm này thì mới phá được sự nghèo nàn, khao khát của một nội tâm bệnh hoạn, đầy vết thương. Nếu không tu tập thì với tâm phàm phu sẽ mong muốn, ước ao, hi vọng hoài, giàu nhất rồi cũng muốn kiếm thêm, biết bao nhiêu những thứ rồi cũng không hài lòng. Trong thân là những cảm giác dục, tham, cứ vậy mà nó hoành hành, cứ vậy mà nó sai khiến, mình bị trói, bị kéo, bị sai khiến, đây gọi là kiết sử.
Điều hết sức căn bản Minh Thành nhắc mọi người thực tập tâm hiền và bốn tâm vô lượng, diệt tận tham sân si và bản ngã. Hôm nay Minh Thành đã truyền trao bí kíp chánh pháp cho mọi người, đây chính là tinh hoa, là cốt tủy của tạng kinh Nikāya nguyên chất của Đức Phật.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Xin thầy hoan hỷ giải thích cho con trong niệm giới định tuệ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh thì con đã hiểu, nhưng với diệt tầm diệt tứ thì con chưa hiểu lắm. A-di-đà Phật.
Nãy giờ Minh Thành làm cho quý vị phát sanh hỷ lạc do ly dục thì quý vị cảm nhận được cảm giác vui vẻ, hoan hỷ. Tức là do mình rời bỏ những thú vui vật chất tầm thường mà mình có cảm giác hoan hỷ, an lạc trong chánh pháp. Cái tầm, cái tứ này rất sâu sắc, phải thực tập thiền. Minh Thành chỉ nói đơn giản để mình dễ hiểu, tầm là sự hướng về của tâm, tứ là sự bám vào đối tượng đó. Ví dụ đang ngồi mà mình nghe một tiếng gì đó, thì tuy mình đang ngồi nhưng tâm mình lại hướng theo cái hướng của âm thanh đó, thì đó gọi là hướng tâm, tầm cầu. Nếu mình theo dõi âm thanh coi nó từ đâu phát ra thì gọi là tứ. Trong khi mình đang nghe pháp ở đây vẫn có tầm có tứ, ví dụ những lời Minh Thành nói về tâm hỷ hay tâm từ thì tâm của quý vị hướng theo cái pháp đó thì gọi là tầm, quý vị bám theo những cái pháp đó không để cho bất cứ cái gì đánh lạc hướng, tâm mình an trú thì gọi tứ. Còn nói không có tầm tứ là ở những trạng thái định cao, những trạng thái định thâm sâu. Đơn giản là mình phải nhận diện được sắc thọ tưởng hành thức, cái tầm nói dễ hiểu là ý hành, là những suy nghĩ trong tâm của mình, nói cho sát sao là sự hướng tâm, tầm là truy tầm, tìm cầu. Mình ngồi đây nhưng "chiều nay về làm đi chợ đãi mấy đứa nhỏ", tức là có sự hướng tâm ra cái khác. Người ta ví dụ như con bướm hướng đến bông hoa thì đó là tầm, rồi bay đến đậu vào bông hoa thì đó là tứ.
Con thưa thầy, từ đó giờ khi ngồi thiền con thường nhắm mắt. Hôm nay có nhân duyên gặp thầy tu theo pháp môn này. Khi nãy ngồi thiền con mở mắt thì thấy không được yên, bị cảnh vật xung quanh chi phối. Bạch thầy xin thầy hướng dẫn cho cho cách ngồi như thế nào để tâm mình được yên.
Cách ngồi thiền được Minh Thành chia sẻ rất kỹ trong bài "Nhập thất ngồi thiền", quý Phật tử vào trang linhquyphapan.vn hoặc Youtube tìm bài "Nhập thất chia sẻ chỉ cách ngồi thiền". Thời gian không cho phép nên ở đây Minh Thành chỉ nói những cái quan trọng, còn quý vị phải nghe và thực tập theo đó ít nhất là mười lần. Đương nhiên nào giờ mình nhắm mắt quen rồi, còn giờ kêu mở mắt sẽ không quen, không có gì lạ. Mở mắt thì mình tưởng là bị dao động nhưng không phải, mở mắt thì mình sẽ rõ biết được sự thật ngay lúc đó, còn nhắm mắt thì khi lúc đó có gì mình đâu có biết, thành ra lúc đó cái tâm của mình không được tỏa sáng, không có ghi nhận, không có tinh tường. Cho nên mình cứ nhắm mắt rồi khi ra ngoài mở mắt thì lúc đó mình mất thiền rồi, nhắm mắt tâm mới yên, còn mở mắt tâm bị động nếu vậy lúc ngủ là lúc mình yên nhất, nếu vậy làm sao mình tu. Khi nhắm mắt mình chỉ biết có hơi thở của mình hoặc là sự phồng xẹp của bụng, hay là cái tưởng về hơi thở. Còn mở mắt mình sẽ thấy rất rõ trước mặt mình có cái gì, sẽ cảm nhận được cảm giác toàn thân, trong tâm mình có những nghĩ tưởng gì sanh khởi thì mình biết được. Như vậy thì khi ngồi thiền mà rõ biết thân, rõ biết các cảnh vật, rõ hơi thở, rõ cảm giác nghĩ tưởng thì mới gọi là trí tuệ, còn một cái ngồi không biết gì hết thì sao gọi là trí tuệ, ngồi mà một hồi mở mắt ra sao thấy yên quá, không biết gì hết thì đó là trạng thái của hôn trầm nhẹ. Cho nên lúc đầu quý vị sẽ thấy khó nhưng tập từ từ rồi sẽ quen. Khi quen rồi quý vị mới thấy tuyệt diệu, là bất cứ chỗ nào quý vị cũng thực tập được ba pháp. Khi quý vị đi đứng, quý vị rõ biết trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh táo để mình biết trong thân mình đang có gì sanh khởi lên. Quý vị đi ngoài đường mà không rõ biết trước mặt, cứ nhìn đông nhìn tây thì rất nguy hiểm, trong thân mình có cảm giác gì mà mình không biết thì có nguy hiểm không? Trong tâm mình sanh ra cái gì mà mình không biết không thấy thì lúc đó mình có trí huệ, có tỉnh táo sáng suốt không? Cho nên đây là sự thực tập ba pháp rành rõ hết căn, trần, thức. Căn là thân, trần là cảnh, rồi mình rõ biết những hơi thở, cảm giác là một sự tu tập trí huệ, mà đây là quý thầy quý cô căn cứ vào mười sáu hơi thở của Đức Phật dạy, vì thế đây là phương pháp của Đức Phật dạy. Quý vị phải cố gắng thực tập và vượt qua sự mơ mơ trong khi thiền. Mở mắt mà còn sống với vô minh, còn không thấy được pháp gì đang vận hành thì nhắm mắt lại chỉ thấy bóng đêm.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni phật. Kính bạch thượng tọa giảng sư, kính thưa đại chúng. Con là người mới trong đạo tràng này. Con xin thầy giảng cho chúng con hiểu thế nào là sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, cũng vậy với thọ tưởng hành, để khi chúng con quán ngũ uẩn sẽ nhận thức được rõ hơn. A-di-đà Phật.
Phần này rất sâu sắc, Minh Thành cũng đang giảng về phần này cho các Tăng Ni trong trường Phật học. Quý vị có thể vào trang linhquyphapan.vn có phần "Thánh trí năm uẩn", vì cái này rất lớn và sâu sắc nên ở đây Minh Thành chỉ nói tổng quát. Thân của mình sanh ra từ cái gì, Phật dạy mình phải biết điều đó. Và tại sao hoại diệt, Phật dạy mình là phải biết, không được nói rằng con suy nghĩ ra, suy nghĩ ra là của phàm phu, con thì làm sao suy nghĩ, mà suy nghĩ ra thì toàn là mê. Cho nên phải căn cứ, bám sát vào những lời Phật dạy trong kinh Nikāya, tuyệt đối không suy nghĩ theo ý riêng cá nhân của mình, phải lấy chuẩn mực trong lời Phật dạy, vì Phật là bậc đại Giác, biết rõ toàn diện về tự thân tâm của chính mình, từ cái gì sanh khởi lên, chấm dứt như thế nào và làm thế nào chấm dứt tham ái. Sở dĩ vòng luân hồi tiếp diễn và chúng ta luôn sầu bi khổ ưu não là do chúng ta không biết được chính mình là cái gì, từ đâu mình sanh ra và làm sao để thoát ly khỏi sự chấp thủ, tham ái đối với đời sống này. Cho nên đây là cả một sự chứng ngộ của Đức Phật. Thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, mình có ăn thì mình mới ngồi đây, không có ăn thì sao có mình ngồi đây, có thức ăn mới có đời sống, thân thể này. Quý vị phải hiểu rộng ra thức ăn không chỉ là các món ăn mà hơi thở cũng là một dạng của thức ăn để nuôi sống thân thể. Có đất, nước, gió, lửa là có đời sống, nếu không duy trì sự tuần hoàn này thì thức ăn đoạn diệt, sắc sẽ đoạn diệt. Làm sao để thoát ra khỏi sự tham ái, chấp thủ đối với cái sắc này? Phải nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc này, đây là con đường thoát ra khỏi sắc. Để nhiếp phục dục và tham thì Đức Phật dạy chỉ có con đường Bát Chánh Đạo, chánh tri kiến, phải thấy được thân này là cái gì. Mình thấy được rồi mình mới bớt tham, từ đó đi đến chỗ nhiếp phục tham và không còn tham, nếu không biết mình cứ tưởng là mình đẹp, sạch, tốt, hay, đó là tôi, là tự ngã của tôi thì mình không thể nào thoát được. Cho nên phải đi từ chánh tri kiến, những khóa tu học Nikāya là để có được một cái thấy chân chánh, cái thấy đúng về thân tâm của mình, cũng gọi là thể nhập tri kiến của bậc thánh. Đây là lý do hình thành nên những khóa đạo tràng Nikāya. Vì cái thấy của mình là thấy theo mê, thấy theo tham sân si, bản ngã chứ mình không có thấy theo trí huệ của bậc thánh. Ba mươi lăm loại trí huệ nhưng tất cả đều là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc thọ tưởng hành thức, đối với thân thể sự vật, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức. Tham chính là tham ngũ uẩn, như mê hồn trận đi ra không được, mà muốn đi ra cũng không biết đường đâu mà ra. Minh Thành phân làm ba hạng người: Thứ nhất là đam mê nặng nề, cũng có khổ nhưng cái đam mê quá mạnh nên cái khổ không đủ sức kéo họ thoát ra. Hôm qua có duyên được các Phật tử đưa đi thăm thủy cung. Vào đó tham quan Minh Thành có cảm giác xót xa, tất cả thế giới hành tinh có bảy, tám tỉ người nhưng riêng một loài thủy tộc là hàng nhiều tỷ, vô số dạng thức thú sanh, trong một đời sống dưới nước người ta gọi là thủy tộc, tất cả những chúng sanh đó bị tham ái, chấp thủ trong cái nghiệp vô minh, tạo thành một cái sắc uẩn như vậy, những người đi chung đoàn đều khen đẹp nhưng Minh Thành chỉ thấy khổ. Quý vị nghĩ thân con cá, san hô… như vậy có đẹp không? Chẳng qua là do cái tưởng, suy nghĩ của mình như vậy thôi chứ đẹp cái gì? Có nhiều người nói con chó ở nước ngoài sướng lắm, được ăn, được cắt móng, có bệnh viện riêng cho chó còn chó nước mình thê thảm, đói không ai cho ăn. Minh Thành nói rằng sung sướng gì cũng là chó thôi, chứ đâu phải sướng là thoát được kiếp làm chó. Minh Thành đi thiền hành với các chú gần bờ sông, có những con chó sủa, có những con đứng im, có những con chó lết lết bị ghẻ thì Minh Thành trả tâm từ, biết rằng chúng sanh ngũ uẩn này khổ từ cái ác nghiệp của quá khứ, đã là thân con chó rồi còn bị cùi, ghẻ, lở. Trải một tình thương xót xa với những con chó này, và nói ba pháp quy y hãy về nương tựa Phật, nương tự pháp, nương tựa Tăng để thoát được thân súc sanh này để tiến hóa làm người đặng giác ngộ. Cũng trên đường thiền hành có có Phật tử đem cá lại nhờ phóng sanh, tức là người Phật tử này phóng sanh nói muốn Minh Thành đi theo chứng minh, Minh Thành cũng nói ba pháp như vậy thì bỗng nhiên hàng bầy bầy cá bu vào bờ chỗ mình đứng, tức là mình phóng sanh một ít cá thôi nhưng lại có nhiều bầy cá bu theo vào lúc mình đang nói ba pháp quy y. Tất cả từ ngũ uẩn là đầy rẫy sự khổ đau, những ác nghiệp, tham sân si, vô minh và bản ngã mà có vô vàng dạng thức của chúng sanh. Khi Minh Thành qua Úc hoằng pháp, đang đi bộ bên bờ biển, có một người tây đang dẫn con chó thì nó tung sợi dây chạy lại Minh Thành, mấy người đi chung giật mình không biết có chuyện gì xảy ra. Con chó chạy lại quấn quanh, mừng rỡ thì lúc đó mình nói ba pháp. Mình tu tập tâm từ thì có thể chiêu cảm được với nhiều dạng thức chúng sanh, quý vị tu tập tâm từ quý vị sẽ cảm nhận được điều này, rất đặc biệt. Quý vị thấy rằng suy tưởng là không đúng, cứ nghĩ là sướng lắm cho nên có câu chuyện nổi tiếng của Trung Quốc: Có hai người đang đứng chơi ngắm da, có mấy con cá lội tung tăng thì nói cá vui quá. Ông kế bên nói ông không phải con cá sao biết cá vui. Có nhiều người nói kiếp sao tôi không làm người nữa, làm chim bay trên trời cho thoải mái, không phải chim sao biết chim bay thoải mái, nó khổ làm sao biết được. Quý vị có thấy mình suy tưởng trật hết không? Mình không có trí huệ cho nên Đức Phật gọi là tưởng tri và thức tri, nghĩa là cái biết chỉ ở trên tưởng tượng, ở trên những kiến thức do người ta nói lại hay là kinh nghiệm, chứ không phải là tuệ tri, không phải là cái biết như thật thấy, như thật biết bằng trí tuệ. Cho nên khi đi vào thủy cung nhìn thấy bao nhiêu loài cá Minh Thành khởi một tâm từ xót thương và nói ba pháp quy y. Mình biết rằng xung quanh mình có rất nhiều dạng thức chúng sanh khổ. Mình là một con người lành lặn, mắt tai mũi lưỡi tốt lành như vầy mà mình còn bao nhiêu những chồng chất của sầu bi khổ ưu não mà pháp mình có nghe, có tập, đôi lúc mình còn chán ngán cho cuộc đời này, muốn giải thoát chứ không muốn sống làm người nữa thì huống gì những con dòi trong đống phân, những con gián, kiến, rắn rít, rận rệp rồi những con vi trùng. Quý vị nghĩ có bao nhiêu loài chúng sanh, ngàn ngàn vạn vạn tỷ loài. Quý vị đọc câu "thân người khó được" rồi nói "Con có thấy khó được đâu, bây giờ sanh nhiều, sanh dễ quá mà, người ta còn bỏ bớt", không phải như vậy, có vô vàng dạng thức chúng sanh phải chịu khổ vì ác nghiệp tham sân si và bản ngã, vô minh, chấp thủ. Nguyên nhân là từ dục và tham đối với sắc uẩn, ham muốn ưa thích đối với những hình dáng của sắc uẩn này, không đi ra được. Cho nên sự nhiếp phục và đoạn tận dục tham sẽ đưa đến xuất ly khỏi sắc uẩn, mà không phải ngăn chặn, kiềm chế bằng sự không thấy biết mà phải thấy biết từ đâu nó sanh khởi, như thế nào để chấm đứt dục tham để mà đoạn tận khỏi nó. Có một đạo lộ rất rõ là sáu pháp Thân Hành Niệm, quý vị hãy nghe bài "Hương vị của bất tử" thì đây là sáu phương pháp, sáu khía cạnh mà Đức Phật chứng ngộ được trong khi Ngài tu tập để quán chiếu tất cả sắc pháp trên cuộc đời này. Và tất cả chúng ta hoàn toàn mù lòa đối với sắc, không thấy không biết gì hết, mình bị ở trong một bóng đêm dài khủng khiếp. Cho nên Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc Phạm thiên, bậc khai đạo. Nếu không có Ngài xuất hiện là toàn thể vũ trụ vĩnh viễn chìm trong bóng đêm của vô minh trong muôn ngàn đại kiếp, tức là sự hình thành và hoại diệt của Trái Đất này một tỷ lần, mười tỷ lần cũng không thấy được thánh pháp này, cho nên ân đức của Phật vĩ đại lắm. Nếu không có một bậc kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chứng ngộ xuất hiện trên đời này thì tất vô vàng dạng thức chúng sanh trong tam giới này vĩnh viễn không có lối ra, cho nên Đức Phật nói ngoài Bát Chánh Đạo ra thì không có đệ nhất Sa môn, không có đệ nhị, không có đệ tam, đệ tứ. Nếu không có Bát Chánh Đạo và không có sự chứng ngộ của Đức Phật tuyên thuyết soi sáng cho chúng sanh thì vĩnh viễn ngàn tỷ thái dương hệ này sẽ ngập chìm trong bóng đêm không có đường ra khỏi sắc uẩn này. Và tất cả những cái thân chó ghẻ, những cái thân cùi lở, đui, điếc, câm… những cái thân bán thân bất toại nằm dài đau khổ là sẽ diễn ra hoài hoài vĩnh viễn bất tận. Cho nên chúng ta đây là phước đức vô biên khi trong thời mạt pháp như vầy mà chúng ta tìm được thánh pháp này. Xin thưa quý vị hiện nay toàn thế giới không có một đường tu rành rõ bằng cái trí năm uẩn này, Minh Thành đã đi khắp thế giới cầu pháp. Phước lành thay cho chúng ta! Công đức thay cho chúng ta! Tốt lành và hạnh phúc vô tận thay cho chúng ta là đang ngồi đây, chúng ta đã tìm được thánh pháp sau hai ngàn năm thất truyền và mình đang thực tập, đang lắng nghe chiêm nghiệm và đang hành trì. Minh Thành mong rằng tất cả quý vị hãy học hết sức mình về định nghĩa năm uẩn và cảm giác toàn thân, học cho rõ những trí huệ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Ngài tu khó khăn, khổ cực vô cùng để chứng ngộ mà mình chỉ đọc để nhớ thôi mà làm cũng không được là sao? Mọi người phải cố gắng, tự mình đọc bằng giọng của mình rồi mình ghi âm nghe tới chừng nào thấm vào não rồi mình thực tập quán chiếu. Làm được vậy thì xin thưa với quý vị, tối thiểu trong đời này khi quý vị sắp sửa ra đi mà thành tựu được trí năm uẩn này thì chắc chắn quý vị sẽ sanh cõi trời, cõi người, không rơi vào ba đường xấu ác. Mọi người có chịu không? Chỉ cần khi mình sắp sửa nhắm mắt mà mình nhớ được cái trí về ngũ uẩn là mình chắc chắn sanh trong cõi trời, người, không bao giờ mình rơi vào ba đường ác vì đó là thánh trí của Phật chứng ngộ mà lúc sắp ra đi mình lại thành tựu thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác thì quý vị nghĩ làm sao mình đi vào bóng đêm được, lúc đó mình là ánh sáng, bất cứ chỗ nào ánh sáng xuất hiện là không có bóng đêm. Minh Thành vô cùng hạnh phúc như đào được mỏ kim cương từ khi thực tập dòng pháp này, Minh Thành đã đem hết một cuộc đời tu hành đi cầu pháp khắp thế giới mà không tìm ra nhưng cuối cùng lại gặp bậc thiện tri thức, trong tàng kinh Nikāya này đã thấy được con đường thật sự của Đức Phật để lại trong hai ngàn năm trăm năm trước. Quý vị đã thấy hiện nay không biết đường đâu mà tu vì có quá nhiều đường, và có những con đường không thật sự đúng theo như Phật giáo nguyên thủy mà Đức Phật dạy mình trong kinh Nikāya, cho nên Minh Thành rất là tha thiết mong mỏi quý vị hãy cố gắng mỗi ngày phải nghe một bài pháp, mà nghe bài pháp trong dòng pháp này chứ không phải nghe lung tung. Nghe, nghiềm ngẫm và thực tập những gì mình học nãy giờ. Như vậy mình sẽ có một tương lai sáng lạn cho mình và cho những người thân thương nhất của mình, đạo tràng của mình sẽ rực sáng chánh pháp, từ đây mình sẽ lan tỏa cái ánh sáng này cho những người thân thương nhất trên cuộc đời này. Chúc cho quý vị thành tựu chánh tri kiến, thể nhập Dự lưu.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.