Tinh Hoa Nikāya - Bốn đôi tám chúng
Tinh Hoa Nikāya
BỐN ĐÔI TÁM CHÚNG LÀ GÌ?
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò – nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc59175870 \h 1
II. Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng PAGEREF _Toc59175871 \h 5
1. Tăng đoàn PAGEREF _Toc59175872 \h 5
2. Bậc Nhập Lưu PAGEREF _Toc59175873 \h 7
I. Dặn dò – nhắc nhở tu học
Thưa đại chúng, như tuần trước chúng ta đã có thông báo là hôm nay tiếp tục trả bài. Có ai xung phong không? Thuộc bài, hiểu được ý sẽ cộng vô điểm thi. Sao bữa ngồi thiền hình như không được yên lặng bằng lúc kêu trả bài. Mời cô, trước khi học bài Con Đường Tuần Tự thì chúng ta học bài gì?
Sư cô: Dạ thưa thầy, tuần trước chúng ta học bài kinh Tăng Thượng ạ.
Sư phụ: Bây giờ các vị trả bài đó, mà trả 2 bài luôn càng tốt, thuộc cái gì cứ việc trả. Và ở đây, xin thưa đại chúng, chúng ta khuyến khích học thuộc lòng kinh.
Sư cô Diệu Trí: Dạ thưa thầy con xin trả bài kinh Ganaka Moggallana. Đức Phật có dạy là:
"Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới
"Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn"
Kinh Ganaka Moggallana – Trung Bộ Kinh
Sư phụ: Cô có muốn đọc thêm bài nào nữa không? Sẽ được cộng điểm thi đó. Có thể đọc thêm bài hoặc nói lên sự nhận hiểu của mình trong lời dạy vừa qua của Đức Phật.
Sư cô Diệu Trí: Dạ thưa thầy, sau khi dạy tiết độ trong ăn uống rồi thì Đức Phật dạy thêm các Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác. Ban ngày trong khi đi kinh hành và đang ngồi thì gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh đầu khi đang ngồi và trong khi đang kinh hành, gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm vào canh giữa, vị Tỳ-kheo nằm xuống phía bên hông phải như dáng nằm của con sư tử, chân này gác lên chân kia , vị ấy Chánh Niệm tỉnh giác hướng tâm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, trong khi đang ngồi và trong khi đang kinh hành, gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Sau đó Đức Thế Tôn dạy tiếp các Tỳ-kheo hãy Chánh Niệm tỉnh giác. Khi đi tới đi lui, khi co tay, duỗi tay, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, khi ăn uống nằm ngồi, khi đại tiện tiểu tiện, vị Tỳ-kheo đều biết những việc mình làm.
Dạ thưa thầy, qua những gì Đức Phật đã dạy, con rút ra một số suy nghĩ và bài học cho bản thân mình, đó là Đức Thế Tôn đã dạy các pháp để các Tỳ-kheo tu tập một cách tuần tự, tức sau khi xuất gia, mỗi vị xuất gia cần phải chú ý giữ gìn phạm hạnh, thọ giới, giữ giới, luôn ý thức từng việc nhỏ nhặt để không phạm lỗi, giữ gìn từng oai nghi khi đi đứng nằm ngồi đều Chánh Niệm tỉnh giác. Khi mắt tiếp xúc với các cảnh bên ngoài thì mình phải biết hộ trì, không để khởi lên tâm phân biệt, ưa thích hay ghét bỏ. Trong ăn uống phải thường xuyên quán xét rằng việc ăn để duy trì thân này và tu tập chứ không phải để thỏa mãn sự ưa thích, sự đam mê hay để làm đẹp cho bản thân. Dạ con xin hết.
Sư phụ: Cô pháp danh là gì?
Sư cô Diệu Trí: Dạ Mô Phật, con pháp danh Diệu Trí.
Sư phụ: Lớp phó học tập và lớp trưởng ghi vô, cộng 2 điểm thi để nhớ tới lúc thi mà nhắc. Ai là lớp phó học tập? Lớp trưởng là Diệu Trí, vậy tự ghi vô luôn. Người tiếp theo, ai xung phong cộng 2 điểm thi. Không ai giơ tay hết à? Điểm để đó mà không ai lấy hết. Không giơ tay thì kêu. Thánh Thục! Thánh Hiền chuẩn bị.
Sư cô Thánh Thục: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy cùng chư huynh đệ, con xin trả bài.
“Này, Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Thưa thầy con xin hết ạ!
Sư phụ: Bây nhiêu đó thôi? Cô có hiểu thế nào là cảm thọ cũ, thế nào là cảm thọ mới trong khi ăn không?
Sư cô Thánh Thục: Dạ thưa thầy, con nhớ là thầy dạy, cảm thọ cũ ví dụ trong một bàn ăn, khi ăn món ăn đó mà mình khởi lên những cảm thọ cũ là cảm giác mùi vị trong món ăn đó mình đã từng ăn qua rồi. Hôm nay ăn món ăn đó mình lại nhớ lại cảm giác đó, đó là cảm thọ cũ. Và mình không cho cảm thọ mới khởi lên, nghĩa là cảm thọ mới mình mới nhìn thấy…
Sư phụ: Cảm thọ cũ thì giải thích được, đúng. Còn cảm thọ mới nó ra sao, nói rõ hơn.
Sư cô Thánh Thục: Dạ, khi ăn thức ăn mình không được khởi lên những cảm thọ, mùi vị của nó, trong đó không để cho cái tưởng của mình. Khi thức ăn qua cổ của mình, chỉ một gang tay là nó sẽ không còn mùi vị nữa.
Sư phụ: Diệt trừ các cảm thọ mới là khi ăn mình có một sự quán chiếu, có một sự tác ý, không để cho mình bị dính mắc, đam mê, khoan khoái, thích thú trong cảm giác, từ lưỡi tiếp xúc, thọ do thiệt xúc sanh. Đó gọi là diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho sanh khởi lên các cảm thọ mới. Không phải là mình không có cảm giác, vì khi ăn mình có biết ngon dở không? Chứ mình không biết cảm giác là lúc đó không phải rồi, làm sao không có cảm giác được? Nhưng mình tác ý là mấy đức? 8 đức mà học giờ thành có 3 đức.
Mình phải tác ý, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp. Mình thuộc bài rồi mới biết mà tác ý, mình tác ý phải đúng với trí huệ của bậc Thánh thì tác ý đó mới có công năng làm cho mình ly tham, sẽ bớt tham ăn, bớt dính mắc trong món ăn, bớt bị các cảm thọ đó dẫn dắt, lôi kéo. Như vậy cũng được, có học thuộc bài, ngồi xuống. Còn tên thứ hai, tên Thánh Hiền nghe sao thấy sợ quá vậy?
Sư cô Thánh Hiền: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa chư huynh đệ, con xin trả bài.
“Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Mô Phật, con xin hết.
Sư phụ: Sẵn đây, Minh Thành nhớ lại chuyện này, để kể cho đại chúng nghe. Hồi đó hòa thượng Thượng Minh Hạ Thành trụ trì chùa Ấn Quang, hồi sanh tiền hòa thượng dạy luật, lúc đó Minh Thành là tăng sinh học khóa 2 của chùa Vĩnh Nghiêm. Hòa thượng kêu Minh Thành bước lên, hỏi: “Ông là ai, sao dám đặt tên trùng tên tôi, trừ điểm. Về kêu sư phụ sửa tên lại, thành ra bữa nay con gặp tên Thánh Hiền con cũng hết hồn. Thành ra cái này phải nghiên cứu lại, không tốt lành, không phải bình thường, con nói nhiêu đó thôi, không nói nhiều. Thôi im lặng đi, nghe thôi. Danh từ coi vậy thôi nhưng nó quan trọng lắm, thế giới này là thế giới của danh tướng mà, thành ra mình phải cẩn thận, từ đó không phải muốn dùng sao thì dùng.
Con có nhớ một thầy huynh đệ của con là thầy Đạo Từ, hồi xưa thầy là tổng thư ký của thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Sau đó hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ chúng ta không ở Thường Chiếu nữa mà về Trúc Lâm, mấy bữa hòa thượng đang đi, mấy ông thầy nhỏ nhỏ kêu: Từ, Từ, Từ! Sau đó hòa thượng nói: “Thôi đổi tên chú là Đạo Thiện”, vì như vậy, hồi xưa người ta nói là phạm húy. Cái này con gợi ý thôi, mình về suy nghĩ chứ không phải con nói là con đúng đâu, đó là mình trùng tên với các bậc tôn trưởng, mình phải tránh. Vì sẵn đây là bài học nên con gợi ý chung cho tất cả chúng ta, để sau này mình biết mình đặt pháp danh.
Giờ con nói một ví dụ nhỏ thôi, không có ví dụ lớn: bây giờ sư cô này tên Diệu Giác, cổ trụ trì, làm sư phụ. Bỗng nhiên trong chùa cũng có một người tên Giác, nói: “Giác, Giác, lại biểu coi Giác!”. Thành ra cái đó phải cẩn thận, huống chi đó là Thánh Hiền, mà mình là phàm. Sẵn đây là bài học, con gợi ý như vậy, về đừng nói cho sư phụ nghe. Mình có quyền lấy pháp hiệu, vì mình xuất gia được lấy 3 tên, tránh chữ đó ra. Vì nếu như mình không phải là thiên tử, mà mình sử dụng từ đó, nguy hiểm không? Hồi xưa là bị gì? Ghê gớm lắm, thành ra khi biết nhân quả mình sợ lắm.
II. Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng
1. Tăng đoàn
Các bậc Bốn đôi tám chúng, xuất gia gọi là Thánh Hiền Tăng, hiền thánh tăng. Những vị này từ Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu, Hướng Nhị quả - Nhị quả, Hướng Tam quả - Tam quả và bậc A-la-hán, gọi là Bốn đôi tám chúng, hiền thánh đệ tử của Phật. Tám địa vị hiền thánh, mình phải bước vào đó mới thật sự là Thánh chúng của Đức Phật. Đây là những bậc nhìn thấy ngũ uẩn và đang hướng ra khỏi ngũ uẩn. Đó là chúng hiền thánh, Bốn đôi tám bậc, Bốn đôi tám vị, Bốn đôi tám chúng. Bốn đôi đó gồm có gì?
Mình nói danh từ đơn giản là Hướng Dự Lưu, Hướng Sơ quả - Sơ quả, Hướng Nhị quả - Nhị quả, Hướng Tam quả - Tam quả, Hướng Tứ quả - Tứ quả, là bốn cặp, bốn đôi. Gọi là Bốn đôi tám bậc, tám vị tám chúng. Đó là Hiền Thánh Tăng, và tất cả tám ngôi vị của Thánh Nhân này đều là những bậc đã nhìn thấy ngũ uẩn, nhàm chán, xa lìa, yểm ly, xả ly, xuất ly.
Nói ví dụ cho dễ hiểu, thế nào là Hướng Sơ quả, Hướng Dự Lưu? Như người luyện thi đại học và người đã đậu đại học, hai cái này gần nhau không? Luyện thi đại học là Hướng Sơ quả, đậu đại học rồi là Sơ quả. Thì bậc Hướng Sơ quả hay gọi là Hướng Dự Lưu đang trên con đường hướng vào Thánh trí tuệ, nhàm chán, xa lìa, rời xa, từ bỏ, ly tham, chấm dứt, xuất ly, thoát ra khỏi ngũ uẩn, gọi là bậc Hướng Dự Lưu. Bậc Hướng Dự Lưu này không còn cái nhìn của phàm phu nữa, cái nhìn này căn cứ trên Thánh trí tuệ để nhìn các pháp.
Tuy rằng chưa viên mãn, nhưng tri kiến của vị này không còn là phàm phu tri kiến nữa, là địa vị thấp nhất của Tám bậc Hiền Thánh. Mà nhớ rằng Tám vị này là Tăng Bảo, đó mới thật sự là Tăng Bảo – một trong ba báu vật xuất thế. Còn mình mới là hình thức thôi, có cái danh từ, có hình thức, còn khi nào đạt được tâm như vậy mới chánh thức vào Tăng Bảo, là ba báu vật siêu việt thế gian. Nhớ rằng chữ Tăng Bảo hay Tăng đoàn này, mình nhớ chữ Tăng đoàn không phải chỉ dành cho người xuất gia, không phải Tăng ni. Chữ tăng là một đoàn thể, chứ không phải chữ Tăng là mấy thầy, không phải, mình hiểu như vậy là không đúng.
Cho nên đoàn thể này bao gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ, đây là chữ Tăng của thời Đức Phật. Nam và nữ cư sĩ vẫn là những bậc có thể chứng cho tới quả thứ ba – Tam quả, là Bất Lai Thánh vị. Nam và nữ cư sĩ vẫn ở trong Bốn chúng của Đức Phật. Giờ mình dịch ra là sẽ dễ hiểu liền, chữ Tăng là đoàn thể, chữ Bảo là quý báu – đoàn thể quý báu. Mà đoàn thể đó bao gồm Bốn chúng, là vị xuất gia nam, xuất gia nữ và vị tại gia nam, tại gia nữa.
Mình ví dụ này cho dễ hiểu, mình nói tập đoàn Samsung hay gì đó, thì tập đoàn hay đoàn thể của tất cả những người làm việc trong hệ thống công ty đó, bây giờ mình tính ra sao? Ông chủ tịch tập đoàn đó, hay thành phần lãnh đạo mới tính, còn các nhân viên không tính sao? Khi mình nói đoàn thể của Samsung mình tính sao? Có tính hết không? Số lượng ví dụ 10.000 là phải tính hết, nguyên một tập thể, một đội ngũ, một đoàn thể phải tính hết.
Thành ra chỗ này bây giờ khác với mình suy nghĩ. Giờ người ta đến hỏi tập thể chùa cô bao nhiêu người, mình nói bao nhiêu? 10 người, gồm có 4 sư cô, 6 vị cư sĩ. Như vậy đoàn thể, tập thể của chùa tôi là 10 người, vậy mấy người cư sĩ đó có tính hay không? Vậy mình mới hiểu được chữ đoàn thể là tất cả những người quy y Tam Bảo, thực hành theo Bát Chánh Đạo. Chữ Thánh chúng bao gồm luôn cả các vị cư sĩ đã vào Thánh vị. Chứ không phải bây giờ xuất gia mới tính là Thánh chúng. Còn người cư sĩ Thánh không tính. Không phải, đều là Thánh chúng.
Không lẽ bây giờ xuất gia thành Thánh quả mới tính, còn cư sĩ thành Thánh quả không tính? Phải không? Cho nên nói Tháng chúng là bao gồm Thánh Tăng, tức các vị xuất gia mà mình quen nói bây giờ, và bậc Thánh cư sĩ, cái này mới không? Đoàn thể của những bậc Thánh – nói ra là sáng tỏ nghĩa liền, Thánh chúng. Thánh chúng là một hội chúng của bậc Thánh. Mà đây là mình nói thời Đức Phật, còn bây giờ khác rồi. Như vậy bậc Thánh này không kể trên hình tướng cạo tóc hay không cạo tóc. Miễn sao tâm tương ứng với tám địa vị đó đều gọi là Thánh chúng. Nhưng mình nhớ rằng người cư sĩ nếu chứng Thánh quả A-la-hán thì có 2 trường hợp, 1 là nhập Niết-bàn, 2 là họ phải xuất gia. Đó là Thánh vị cao nhất trong tám quả Thánh hay mình nói Bốn quả, Bốn Sa môn quả - Tứ quả Sa môn. Còn cấp độ thứ 3, cư sĩ được chứng Bất lai quả.
2. Bậc Nhập Lưu
Mình trở lại vấn đề luyện thi đại học và đã đậu đại học, bậc Thánh quả đầu tiên – Nhập Lưu là Nhập Thánh trí tuệ lưu. Mình học để biết coi mình đang ở đâu, chứ không mình tu suốt cuộc đời mà không biết đang ở đâu. Ví dụ tu 5 năm, có người lại hỏi, trả lời: tu thì tu thôi, đến 10 năm, có người hỏi, vẫn trả lời: tu thì tu đi. Tới 20, 30 năm vẫn vậy, tui tu cứ tu, tu mù, không biết mình đang ở đâu. Vì không nắm vững pháp thì làm sao mình biết được. Vậy thế nào gọi là Nhập lưu? Tức vào dòng trí huệ của bậc Thánh – nhập Thánh trí huệ lưu, người này không còn nhìn thấy Tôi và Của Tôi nữa mà nhìn thấy 5 uẩn trong mọi lúc mọi nơi, phá trừ thân kiến.
Ở trong suy nghĩ của người này, bất cứ lúc nào và ở đâu, xác quyết 100% không thấy Tôi và Của Tôi nữa mà nhìn thấy 5 uẩn là 5 uẩn. Đó gọi là phá thân kiến – sợi dây quan trọng nhất. Khi mình phá được, mở được sợi dây này, 9 sợi kia chắn chắn sẽ đứt hết, rã riệu hết. Tổng cộng 10 kiết sử, 5 thượng phần và 5 hạ phần. Cho nên quan trọng nhất trong tất cả các sợi dây, mà chỉ cần phá sợi dây này được thì tất cả những sợi dây khác sẽ bung hết, đó là thân kiến. Thân kiến là kiến chấp về thân. Phải phá được thân kiến, nếu không phá được nó thì cả cuộc đời tu của mình uổng công.
Chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn rồi, còn nhớ bài không? Hay trả lại cho ngộ? Chuyện của ngộ là ngộ, chuyện của nị là nị. Phá thân kiến, phải phá thân kiến –phá trừ kiến chấp về thân. Nhưng đây, xin thưa đại chúng là cả một công trình vĩ đại, cả một sự công phu khủng khiếp và nỗ lực gấp 100, 1.000 lần mấy người đi làm ngoài đời mới có thể phá nổi thân kiến. Tại vì sao? Vì kiến chấp về thân bên trong mình là một tường đồng vách sắt vô lượng vô biên kiếp.
Sắc này là tôi, là của tôi, sắc thân này là tôi, là của tôi, những đồ vật này là tôi, là của tôi; sắc thủ uẩn, những cảm giác là tôi, là của tôi; những hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi; những suy nghĩ là tôi, là của tôi; cái nhận thức, cái rõ biết trong 6 thức là tôi, là của tôi. Như vậy là ngũ thủ uẩn, mà chúng ta nghĩ rằng, suy nghĩ của mình là hoàn toàn, tuyệt đối trong ngũ uẩn, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, dễ hay khó? Đó mới là Thánh Hiền, là Nhập Lưu Sơ quả thứ nhất. Mà đã vô Sơ quả này rồi thì bất thối chuyển. Chỗ đó là Bảo chứng giác ngộ, chắc chắn 100% không lui sụt.
Vị Sơ quả này không bao giờ, vĩnh viễn và tuyệt đối không bao giờ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vì sao? Trong sự thấy biết của vị này là đã phá trừ thân kiến. Đó là gỡ sợi dây khó khăn nhất trong 10 sợi dây – thập sử. Mình tụng bài sám Thập truyền thập sử:
“Tích thành hữu lậu chi nhơn
Lục căn lục trần
Vọng tác vô biên chi tội”
Sám Quy Mạng
Mà sợi dây khó khăn nhất trong tất cả các sợi dây là về thân kiến. Chính vì vậy, sự tu tập của chúng ta mà không biết ngũ uẩn là gì là cái thứ nhất, không nhận diện được ngũ uẩn, không có một sự tu tập, quán chiếu, tác ý để tách ra để nhìn thấy bản chất vô thường, trống rỗng, vô ngã, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, trống không của ngũ uẩn thì làm sao mình có thể phá được thân kiến?
Bây giờ con nói một ví dụ đơn giản thôi, có khi nào nhìn vô gương mà thấy mặt mình, nói cái này là Tứ Đại, hình bóng này do vô minh, khát ái tạo thành gương mặt này. Từ vô minh, si mê, chấp ngã, say đắm, mê muội trong năm uẩn nên mới tạo thành hình vóc, hình hài này. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Có bao giờ mình lại soi gương mà suy nghĩ vậy không? Đó là suy nghĩ của bậc Thánh, là Chánh tư duy, Như Lý Tác Ý.
Nếu mình chưa từng có một cái suy nghĩ như vậy thì làm sao mình có cơ hội Hướng Sơ quả, Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu. Chưa từng có 1 suy nghĩ như vậy trong cuộc đời tu của mình thì làm sao mà mình tới địa vị Thánh Hiền. Thấy không? Thấy sự tu của mình thật sự không phải dễ như mình nghĩ, không phải, làm sao mà phá nổi thân kiến? Cho nên Đức Phật mới nói:
“Hơn thống lĩnh cõi đất
Hơn được sanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ
Quả Dự Lưu tối thắng”.
Bài Kinh 178 – Kinh Pháp Cú
Quả Dự Lưu tức Nhập Lưu Sơ quả này còn hơn vị thống lãnh cõi trời, chủ trì cõi đất, chủ trì vũ trụ - tức Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nào gọi là Chuyển Luân Thánh Vương? Là vị vua đó lấy nhân đức cai trị cả hành tinh, 1 vị vua cai trị hết hành tinh mà thực hành thep Thập Thiện. Nhưng dầu cho 1 người cai trị cả hành tinh bằng đạo đức mà người ta gọi là Thánh Quân, Thánh Vương – là vua Thánh, nhưng so với vị Tu Đà Hoàn thì không là gì, thấp kém, không bằng 1/16, là con số hồi xưa nói thôi, bây giờ là không bằng 1%.
Chủ cõi trời cũng không thể bằng, vì sao? Đức Phật ví dụ trong chương “Tương Ưng Minh Kiến”, là thấy rõ. Đức Phật ví dụ như có người lấy 7 hạt sỏi đặt trên lòng bàn tay. Đức Phật hỏi: “Này, các vị Tỳ-kheo, 7 hạt sỏi trong lòng bàn tay của người đó so với tất cả sỏi đá đại địa hành tinh này, cái nào nhiều, cái nào ít? Dạ bạch Thế Tôn, 7 viên sỏi trên tay người đó rất là ít so với sỏi đá của đại địa, cả hành tinh này. Đức Phật nói: Cũng vậy, 1 người đã đạt được minh kiến, cái khổ còn ít như 7 hạt sỏi trên tay”. Chúng sanh, phàm phu, vô minh, tham ái thì đau khổ giống như đại địa, quả địa cầu, khổ của bậc minh kiến còn lại ít giống như 7 hạt sỏi trên lòng bàn tay. Những cái khổ đã chấm dứt nhiều giống như mặt đất, địa cầu.
Nhiều ví dụ lắm, rất nhiều, như có một cái hồ cả hàng trăm km, có người dùng 1 cọng cỏ, ví dụ hay, đẹp lắm. Người này lấy cọng cỏ nhúng xuống nước và cầm cọng cỏ lên, giũ cho nó rơi xuống 7 giọt, Đức Phật nói 7 giọt nước khi rơi xuống đất so với nước của 1 cái hồ cả hàng trăm km như vậy, cái nào nhiều, cái nào ít. Các vị mới nói, 7 giọt nước trên lá cỏ thật là ít ỏi. Cũng vậy, bậc minh kiến khổ đã diệt nhiều như cả hồ nước hàng mấy trăm km, cái khổ còn lại ít giống như 7 giọt nước dính trên lá cỏ.
Muốn được như vậy không? Muốn không? Thiệt muốn không? Chắc không? Lột da mặt xuống, mỗi ngày phải ngồi lột da mặt xuống, quán chiếu Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi, quán chiếu về bộ xương và đống tro tàn và tính, chất tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát của thân xác này. Hôm nay nhân chữ Thánh Hiền mà mình có một bài này, lát nữa cảm ơn cổ nha. Không phải chuyện đơn giản. Cho đến khi nào trong suy nghĩ của mình xác quyết 100% tuyệt đối thân này không phải là tôi, là của tôi, chỉ là Tứ Đại. Những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, sự nhận thức rõ biết này là pháp vô thường, khổ, vô ngã, xác quyết tuyệt đối trong tâm, không còn bất cứ một cái nghi ngờ nào thì lúc đó là Nhập Lưu.
Mà một người đã vào dòng này rồi thì Đức Phật nói là dòng pháp đưa người về phía trước, người đó chắc chắn sẽ đi theo dòng chảy đó để đến Niết-bàn tới quả thứ 4: Thánh quả A-la-hán. Người đó không thể nào có sự thoái lui, dừng lại, tự động, giống như dòng nước đang chảy, có 1 cái lá cây rơi xuống, dòng nước chảy đưa lá đó đi, đó gọi là ý nghĩa của Nhập Lưu: dòng chảy của Thánh trí tuệ, đưa người về bờ bến của Niết-bàn. Một khi đã lọt vô dòng trí huệ đó rồi thì chắc chắn người này sẽ đi tới, không bao giờ dừng lại, thoái lui.
Như vậy, mình thấy sự thấy biết về ngũ uẩn và thân tâm này mà mình luyện nó tới chừng nào để nó quyết định đây không phải là tôi, đây không phải là của tôi. Phải một sự Như Lý Tác Ý, suy tư quán chiếu, thường xuyên và liên tục hết năm này tới năm kia, nhiều năm, nhiều chục năm, loại bỏ hoàn toàn tư tưởng tôi và của tôi trong đây. Dễ hay khó? Khó, đừng tưởng ngồi đó mà cười. Sáng ngủ thức dậy boong boong, lên keng keng, rồi cốc cốc vô ăn, nói giờ tu vậy là được rồi. Không phải!
Đó là không hướng thượng, không tha thiết, phải cầu học, bất cứ một cảm giác gì sanh khởi lên, dù khổ hay vui, hay không khổ không vui, trong ngoài thô tế, thắng liệt xa gần, quá khứ, hiện tại, vị lai. Tất cả các cảm giác phải quán nó là vô thường, là khổ, vô ngã. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi ở trong cảm giác này. Bất cứ 1 cái sắc nào mà mình đối diện với nó, sắc quá khứ, sắc hiện tại, sắc tương lai, nội ngoại, thô tế, thắng liệt xa gần. Tất cả các sắc đều phải chánh quán, tan hoại, hủy hoại, vô thường, tan nát, hoại diệt, biến hoại, là bong bóng. Sắc này là vết thương, là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là phiền não, khổ đau, lo lắng, sợ hãi, là hố than hừng, là mũi gai nhọn, mũi tên có tẩm độc.
Quán như vậy, quán cho tới nó thâm nhập, cho tới lúc nào nó hoàn toàn nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, không ưa thích những thân xác này nữa. Bị vì nó không ưa thích nữa thì khi nhắm mắt chết nó còn đi kiếm nữa không? Đi kiếm nữa mới giải thoát. Còn bây giờ con ưa thích, khoan khoái, khao khát, còn chạy đuổi, kiếm tìm, mê mẩn, say đắm thì làm sao chết rồi được giải thoát? Làm gì có chuyện giải thoát như vậy? Đang sống mà còn say đắm, ham mê, thích, còn khao khát thì khi chết cũng phải tiếp tục đi tìm. Làm gì có chuyện chết rồi được giải thoát, không có.
Chúng ta thấy rõ lắm, đây mới gọi là minh kiến. Như vậy, Sơ quả Tù Đà Hoàn là phá thân kiến, hoài nghi giới cấm thủ. Nhưng thật ra phá thân kiến thì 2 cái kia tự động được. Thân kiến là cội gốc, như vậy mình phá hết rồi, đâu hoài nghi gì ngũ uẩn nữa. Đã phá hết rồi thì mình đâu có giữ những giới nào không phải là trí tuệ, mê tín, tà kiến nữa. Nên thân kiến là tuyệt đối quan trọng, phá thân kiến.
Mình đau khổ cũng vì thân kiến này, bây giờ mình nói rộng ra. Giờ tự nhiên đi ra, có người lại nói: nhìn tướng này khả nghi quá , nhìn sao mặt chị gian gian vậy? Về khổ không? Thấy chưa? Xong vô gặp người khác: Ôi cha, sao mà tướng hảo quá vậy, nhân hậu, hiền từ, sáng sủa, trí tuệ quá vậy? Về thì sao? Vui. Ngồi thiền không được, nó cũng phơi phơi câu đó hoài, thanh tưởng câu đó vang vang trong tai, rồi cái mặt mốc hiện ra trong tâm. Đó là sắc tưởng - hình bóng của mình trong nội tâm.
Tướng là hình tướng, hình bóng trong tâm là tưởng, thấy chưa? Hình bóng trong tâm về sắc thân của mình gọi là thân kiến, cái này nó ăn sâu lắm, thâm căn cố đế, vô máu thịt xương tủy của mình. Bây giờ mình nghĩ chiều nay mình về đi đâu đó thì nó có hình bóng của mình đi hay không? Đó là thân kiến hiện ra, ghê gớm không? Hình bóng hiện ra, cũng là sắc tưởng, cũng là thân kiến – kiến chấp về thân, một cái ảo tưởng về tôi và của tôi, nó được thiết lập một cách kiên cố, vững chắc, thành trì, tường đồng vách sắt trong chấp thủ của chúng ta vô lượng vô biên kiếp. Đó gọi là sắc thủ uẩn.
Cho nên sự tu của chúng ta hết sức tinh vi, sâu xa, thâm hậu. Làm sao để mình xóa nhòa được ở trong suy nghĩ của mình về một cái tự ngã. Tại sao hồi nãy mình vui, tại sao hồi nãy mình khổ? Cái tôi, khen tôi là đẹp, tôi khoái, lạc thọ; chê tôi là xấu, là gian trá, gian xảo nên tôi khổ, tại vì tôi. Đức Thế Tôn khi đi khất thực, ông Bà-la-môn với đệ tử, hai thầy trò 1 nhóm đi sau lưng. Ông đệ tử khen Đức Phật, ông sư phụ chửi, hai thầy trò làm tới làm lui với nhau hoài mà Đức Phật đi bình thản, không dao động, giống như không có chuyện gì xảy ra. Nếu mình nghĩ đó là mình, mình có ráng kềm được không? Phá thân kiến rồi nên tâm bất động giải thoát, còn mình ráng kềm cũng tới lúc nó bung ra.
Vì Đức Phật hoàn toàn không còn cái tôi, của tôi nữa. Trong Tứ Đại ngũ uẩn này, ngài không thấy có cái tôi trong đây. Như vậy thì khen ai, chê ai, ai khen, ai chê? Đức Phật chỉ nhìn thấy một cái tâm thức đang bị vô minh, tham ái, chấp ngã và sân hận đang vận hành và hoạt động trong khổ đau. Ngài không thấy có một con người mắng chửi ngài, ngài chỉ thấy một ngũ uẩn đang trong bóng đêm, đang trong vô mình, bản ngã, ganh tị, đố kỵ, khổ đau. Và lúc đó tâm ngài tràn đầy một sự bi mẫn, xót thương, hoàn toàn không có một chút gì gợi lên về cái tôi và của tôi, được khen, bị chê gì. Đó gọi là bất động tâm giải thoát. Cái tâm giải thoát, bất động.
Tại sao bây giờ chỉ cần khen chê là mình đổi sắc, gương mặt mình đổi màu, cử chỉ, thái độ của mình hoàn toàn đổi hướng, chuyển kênh, vì đụng vô bản ngã, cái tôi. Và cái tôi này luôn gắn chặt với mình, nằm chiêm bao mà cũng thấy cãi lộn chứ đừng nói là thức. Nó ghê gớm như vậy, nó vận hành ngũ uẩn này khủng khiếp lắm mà mình đâu thấy. Một sự chấp ngã hết sức cứng chắc, nên trong nghi thức tu học Nikāya Sám hối diệt ngã, mỗi ngày phải tụng, 4 câu lạy xuống 1 lạy. Nếu không phá cái này không thể nào vào được đệ tử chân chánh của Đức Phật, không thể thành đệ tử chân chánh của Đức Phật nếu không phá ngã, phá thân kiến.
Đó là phương pháp tu để mình Nhập Lưu. Đầu tiên phải trị bản ngã trước, cái tôi, ta, tao, mi, tớ, mình, giương giương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, ta đây hơn thua, thị phi phải quấy, phải diệt cái đó trước. Không diệt cái đó, dù cho mình đi tới chỗ nào đi nữa cũng sầu bi khổ ưu não. Phải đọc tụng, phải lạy. Đó là quả thứ nhất.
Quả thứ hai là gì? Mình giải 4 quả chánh thôi, còn quả phụ tự mình hiểu. Quả thứ hai là nhất lai, sơ quả là thất lai. Sơ quả chậm nhất là 7 lần, là tới lui trong cõi nhân thiên, sẽ còn trở lại trong nhân gian thiên thượng chậm nhất 7 lần. Còn nhị quả, ngoài phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ rồi còn mụi lược tham sân. Tức tham sân bị tê liệt, còn rất nhẹ thôi, cái tham và sân nhẹ tênh, dường như bị tê liệt thì vị đó chỉ còn trở lại nhân gian thiên thượng 1 lần nữa. vì sao? Cái tham người ta hết rồi còn trở lại làm gì nữa?
Giờ nói thí dụ, vô tình mình đi ngang đường lộ mà cần đi vệ sinh, thấy cây xăng nên tấp vô, mà bước vô WC coi như mình bật ngửa. Rồi mai mốt đi ngang đó mình có muốn vô đó nữa không? Bất lai – không trở lại, nó rõ ràng như vậy. Các bậc Thánh nhìn con người này, thân thể này, thế giới này giống cái cầu tiêu thối, làm sao các ngài trở lại đây được. Đó là hệ quả tất nhiên, các ngài không ưa thích mủ máu, phân nước tiểu, đàm dãi, phèo phổi, ruột gan, các ngài không thích nữa, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì làm sao các ngài trở lại.
Cho nên quả thứ 3 là bất lai – diệt tận tham sân, tham không còn, sân không còn. Vị này sẽ lên Tịnh Cư Thiên, không còn trở lại thế giới này, từ chỗ đó nhập Niết-bàn, còn quả A-la-hán, phá thêm 5 thượng phần kiết sử, cái đó từ từ chúng ta học thêm.
BỐN ĐÔI TÁM CHÚNG LÀ GÌ?
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò – nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc59175870 \h 1
II. Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng PAGEREF _Toc59175871 \h 5
1. Tăng đoàn PAGEREF _Toc59175872 \h 5
2. Bậc Nhập Lưu PAGEREF _Toc59175873 \h 7
I. Dặn dò – nhắc nhở tu học
Thưa đại chúng, như tuần trước chúng ta đã có thông báo là hôm nay tiếp tục trả bài. Có ai xung phong không? Thuộc bài, hiểu được ý sẽ cộng vô điểm thi. Sao bữa ngồi thiền hình như không được yên lặng bằng lúc kêu trả bài. Mời cô, trước khi học bài Con Đường Tuần Tự thì chúng ta học bài gì?
Sư cô: Dạ thưa thầy, tuần trước chúng ta học bài kinh Tăng Thượng ạ.
Sư phụ: Bây giờ các vị trả bài đó, mà trả 2 bài luôn càng tốt, thuộc cái gì cứ việc trả. Và ở đây, xin thưa đại chúng, chúng ta khuyến khích học thuộc lòng kinh.
Sư cô Diệu Trí: Dạ thưa thầy con xin trả bài kinh Ganaka Moggallana. Đức Phật có dạy là:
"Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới
"Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn"
Kinh Ganaka Moggallana – Trung Bộ Kinh
Sư phụ: Cô có muốn đọc thêm bài nào nữa không? Sẽ được cộng điểm thi đó. Có thể đọc thêm bài hoặc nói lên sự nhận hiểu của mình trong lời dạy vừa qua của Đức Phật.
Sư cô Diệu Trí: Dạ thưa thầy, sau khi dạy tiết độ trong ăn uống rồi thì Đức Phật dạy thêm các Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác. Ban ngày trong khi đi kinh hành và đang ngồi thì gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh đầu khi đang ngồi và trong khi đang kinh hành, gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm vào canh giữa, vị Tỳ-kheo nằm xuống phía bên hông phải như dáng nằm của con sư tử, chân này gác lên chân kia , vị ấy Chánh Niệm tỉnh giác hướng tâm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, trong khi đang ngồi và trong khi đang kinh hành, gột rửa tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Sau đó Đức Thế Tôn dạy tiếp các Tỳ-kheo hãy Chánh Niệm tỉnh giác. Khi đi tới đi lui, khi co tay, duỗi tay, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, khi ăn uống nằm ngồi, khi đại tiện tiểu tiện, vị Tỳ-kheo đều biết những việc mình làm.
Dạ thưa thầy, qua những gì Đức Phật đã dạy, con rút ra một số suy nghĩ và bài học cho bản thân mình, đó là Đức Thế Tôn đã dạy các pháp để các Tỳ-kheo tu tập một cách tuần tự, tức sau khi xuất gia, mỗi vị xuất gia cần phải chú ý giữ gìn phạm hạnh, thọ giới, giữ giới, luôn ý thức từng việc nhỏ nhặt để không phạm lỗi, giữ gìn từng oai nghi khi đi đứng nằm ngồi đều Chánh Niệm tỉnh giác. Khi mắt tiếp xúc với các cảnh bên ngoài thì mình phải biết hộ trì, không để khởi lên tâm phân biệt, ưa thích hay ghét bỏ. Trong ăn uống phải thường xuyên quán xét rằng việc ăn để duy trì thân này và tu tập chứ không phải để thỏa mãn sự ưa thích, sự đam mê hay để làm đẹp cho bản thân. Dạ con xin hết.
Sư phụ: Cô pháp danh là gì?
Sư cô Diệu Trí: Dạ Mô Phật, con pháp danh Diệu Trí.
Sư phụ: Lớp phó học tập và lớp trưởng ghi vô, cộng 2 điểm thi để nhớ tới lúc thi mà nhắc. Ai là lớp phó học tập? Lớp trưởng là Diệu Trí, vậy tự ghi vô luôn. Người tiếp theo, ai xung phong cộng 2 điểm thi. Không ai giơ tay hết à? Điểm để đó mà không ai lấy hết. Không giơ tay thì kêu. Thánh Thục! Thánh Hiền chuẩn bị.
Sư cô Thánh Thục: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy cùng chư huynh đệ, con xin trả bài.
“Này, Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Thưa thầy con xin hết ạ!
Sư phụ: Bây nhiêu đó thôi? Cô có hiểu thế nào là cảm thọ cũ, thế nào là cảm thọ mới trong khi ăn không?
Sư cô Thánh Thục: Dạ thưa thầy, con nhớ là thầy dạy, cảm thọ cũ ví dụ trong một bàn ăn, khi ăn món ăn đó mà mình khởi lên những cảm thọ cũ là cảm giác mùi vị trong món ăn đó mình đã từng ăn qua rồi. Hôm nay ăn món ăn đó mình lại nhớ lại cảm giác đó, đó là cảm thọ cũ. Và mình không cho cảm thọ mới khởi lên, nghĩa là cảm thọ mới mình mới nhìn thấy…
Sư phụ: Cảm thọ cũ thì giải thích được, đúng. Còn cảm thọ mới nó ra sao, nói rõ hơn.
Sư cô Thánh Thục: Dạ, khi ăn thức ăn mình không được khởi lên những cảm thọ, mùi vị của nó, trong đó không để cho cái tưởng của mình. Khi thức ăn qua cổ của mình, chỉ một gang tay là nó sẽ không còn mùi vị nữa.
Sư phụ: Diệt trừ các cảm thọ mới là khi ăn mình có một sự quán chiếu, có một sự tác ý, không để cho mình bị dính mắc, đam mê, khoan khoái, thích thú trong cảm giác, từ lưỡi tiếp xúc, thọ do thiệt xúc sanh. Đó gọi là diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho sanh khởi lên các cảm thọ mới. Không phải là mình không có cảm giác, vì khi ăn mình có biết ngon dở không? Chứ mình không biết cảm giác là lúc đó không phải rồi, làm sao không có cảm giác được? Nhưng mình tác ý là mấy đức? 8 đức mà học giờ thành có 3 đức.
Mình phải tác ý, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp. Mình thuộc bài rồi mới biết mà tác ý, mình tác ý phải đúng với trí huệ của bậc Thánh thì tác ý đó mới có công năng làm cho mình ly tham, sẽ bớt tham ăn, bớt dính mắc trong món ăn, bớt bị các cảm thọ đó dẫn dắt, lôi kéo. Như vậy cũng được, có học thuộc bài, ngồi xuống. Còn tên thứ hai, tên Thánh Hiền nghe sao thấy sợ quá vậy?
Sư cô Thánh Hiền: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa chư huynh đệ, con xin trả bài.
“Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Mô Phật, con xin hết.
Sư phụ: Sẵn đây, Minh Thành nhớ lại chuyện này, để kể cho đại chúng nghe. Hồi đó hòa thượng Thượng Minh Hạ Thành trụ trì chùa Ấn Quang, hồi sanh tiền hòa thượng dạy luật, lúc đó Minh Thành là tăng sinh học khóa 2 của chùa Vĩnh Nghiêm. Hòa thượng kêu Minh Thành bước lên, hỏi: “Ông là ai, sao dám đặt tên trùng tên tôi, trừ điểm. Về kêu sư phụ sửa tên lại, thành ra bữa nay con gặp tên Thánh Hiền con cũng hết hồn. Thành ra cái này phải nghiên cứu lại, không tốt lành, không phải bình thường, con nói nhiêu đó thôi, không nói nhiều. Thôi im lặng đi, nghe thôi. Danh từ coi vậy thôi nhưng nó quan trọng lắm, thế giới này là thế giới của danh tướng mà, thành ra mình phải cẩn thận, từ đó không phải muốn dùng sao thì dùng.
Con có nhớ một thầy huynh đệ của con là thầy Đạo Từ, hồi xưa thầy là tổng thư ký của thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Sau đó hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ chúng ta không ở Thường Chiếu nữa mà về Trúc Lâm, mấy bữa hòa thượng đang đi, mấy ông thầy nhỏ nhỏ kêu: Từ, Từ, Từ! Sau đó hòa thượng nói: “Thôi đổi tên chú là Đạo Thiện”, vì như vậy, hồi xưa người ta nói là phạm húy. Cái này con gợi ý thôi, mình về suy nghĩ chứ không phải con nói là con đúng đâu, đó là mình trùng tên với các bậc tôn trưởng, mình phải tránh. Vì sẵn đây là bài học nên con gợi ý chung cho tất cả chúng ta, để sau này mình biết mình đặt pháp danh.
Giờ con nói một ví dụ nhỏ thôi, không có ví dụ lớn: bây giờ sư cô này tên Diệu Giác, cổ trụ trì, làm sư phụ. Bỗng nhiên trong chùa cũng có một người tên Giác, nói: “Giác, Giác, lại biểu coi Giác!”. Thành ra cái đó phải cẩn thận, huống chi đó là Thánh Hiền, mà mình là phàm. Sẵn đây là bài học, con gợi ý như vậy, về đừng nói cho sư phụ nghe. Mình có quyền lấy pháp hiệu, vì mình xuất gia được lấy 3 tên, tránh chữ đó ra. Vì nếu như mình không phải là thiên tử, mà mình sử dụng từ đó, nguy hiểm không? Hồi xưa là bị gì? Ghê gớm lắm, thành ra khi biết nhân quả mình sợ lắm.
II. Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng
1. Tăng đoàn
Các bậc Bốn đôi tám chúng, xuất gia gọi là Thánh Hiền Tăng, hiền thánh tăng. Những vị này từ Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu, Hướng Nhị quả - Nhị quả, Hướng Tam quả - Tam quả và bậc A-la-hán, gọi là Bốn đôi tám chúng, hiền thánh đệ tử của Phật. Tám địa vị hiền thánh, mình phải bước vào đó mới thật sự là Thánh chúng của Đức Phật. Đây là những bậc nhìn thấy ngũ uẩn và đang hướng ra khỏi ngũ uẩn. Đó là chúng hiền thánh, Bốn đôi tám bậc, Bốn đôi tám vị, Bốn đôi tám chúng. Bốn đôi đó gồm có gì?
Mình nói danh từ đơn giản là Hướng Dự Lưu, Hướng Sơ quả - Sơ quả, Hướng Nhị quả - Nhị quả, Hướng Tam quả - Tam quả, Hướng Tứ quả - Tứ quả, là bốn cặp, bốn đôi. Gọi là Bốn đôi tám bậc, tám vị tám chúng. Đó là Hiền Thánh Tăng, và tất cả tám ngôi vị của Thánh Nhân này đều là những bậc đã nhìn thấy ngũ uẩn, nhàm chán, xa lìa, yểm ly, xả ly, xuất ly.
Nói ví dụ cho dễ hiểu, thế nào là Hướng Sơ quả, Hướng Dự Lưu? Như người luyện thi đại học và người đã đậu đại học, hai cái này gần nhau không? Luyện thi đại học là Hướng Sơ quả, đậu đại học rồi là Sơ quả. Thì bậc Hướng Sơ quả hay gọi là Hướng Dự Lưu đang trên con đường hướng vào Thánh trí tuệ, nhàm chán, xa lìa, rời xa, từ bỏ, ly tham, chấm dứt, xuất ly, thoát ra khỏi ngũ uẩn, gọi là bậc Hướng Dự Lưu. Bậc Hướng Dự Lưu này không còn cái nhìn của phàm phu nữa, cái nhìn này căn cứ trên Thánh trí tuệ để nhìn các pháp.
Tuy rằng chưa viên mãn, nhưng tri kiến của vị này không còn là phàm phu tri kiến nữa, là địa vị thấp nhất của Tám bậc Hiền Thánh. Mà nhớ rằng Tám vị này là Tăng Bảo, đó mới thật sự là Tăng Bảo – một trong ba báu vật xuất thế. Còn mình mới là hình thức thôi, có cái danh từ, có hình thức, còn khi nào đạt được tâm như vậy mới chánh thức vào Tăng Bảo, là ba báu vật siêu việt thế gian. Nhớ rằng chữ Tăng Bảo hay Tăng đoàn này, mình nhớ chữ Tăng đoàn không phải chỉ dành cho người xuất gia, không phải Tăng ni. Chữ tăng là một đoàn thể, chứ không phải chữ Tăng là mấy thầy, không phải, mình hiểu như vậy là không đúng.
Cho nên đoàn thể này bao gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ, đây là chữ Tăng của thời Đức Phật. Nam và nữ cư sĩ vẫn là những bậc có thể chứng cho tới quả thứ ba – Tam quả, là Bất Lai Thánh vị. Nam và nữ cư sĩ vẫn ở trong Bốn chúng của Đức Phật. Giờ mình dịch ra là sẽ dễ hiểu liền, chữ Tăng là đoàn thể, chữ Bảo là quý báu – đoàn thể quý báu. Mà đoàn thể đó bao gồm Bốn chúng, là vị xuất gia nam, xuất gia nữ và vị tại gia nam, tại gia nữa.
Mình ví dụ này cho dễ hiểu, mình nói tập đoàn Samsung hay gì đó, thì tập đoàn hay đoàn thể của tất cả những người làm việc trong hệ thống công ty đó, bây giờ mình tính ra sao? Ông chủ tịch tập đoàn đó, hay thành phần lãnh đạo mới tính, còn các nhân viên không tính sao? Khi mình nói đoàn thể của Samsung mình tính sao? Có tính hết không? Số lượng ví dụ 10.000 là phải tính hết, nguyên một tập thể, một đội ngũ, một đoàn thể phải tính hết.
Thành ra chỗ này bây giờ khác với mình suy nghĩ. Giờ người ta đến hỏi tập thể chùa cô bao nhiêu người, mình nói bao nhiêu? 10 người, gồm có 4 sư cô, 6 vị cư sĩ. Như vậy đoàn thể, tập thể của chùa tôi là 10 người, vậy mấy người cư sĩ đó có tính hay không? Vậy mình mới hiểu được chữ đoàn thể là tất cả những người quy y Tam Bảo, thực hành theo Bát Chánh Đạo. Chữ Thánh chúng bao gồm luôn cả các vị cư sĩ đã vào Thánh vị. Chứ không phải bây giờ xuất gia mới tính là Thánh chúng. Còn người cư sĩ Thánh không tính. Không phải, đều là Thánh chúng.
Không lẽ bây giờ xuất gia thành Thánh quả mới tính, còn cư sĩ thành Thánh quả không tính? Phải không? Cho nên nói Tháng chúng là bao gồm Thánh Tăng, tức các vị xuất gia mà mình quen nói bây giờ, và bậc Thánh cư sĩ, cái này mới không? Đoàn thể của những bậc Thánh – nói ra là sáng tỏ nghĩa liền, Thánh chúng. Thánh chúng là một hội chúng của bậc Thánh. Mà đây là mình nói thời Đức Phật, còn bây giờ khác rồi. Như vậy bậc Thánh này không kể trên hình tướng cạo tóc hay không cạo tóc. Miễn sao tâm tương ứng với tám địa vị đó đều gọi là Thánh chúng. Nhưng mình nhớ rằng người cư sĩ nếu chứng Thánh quả A-la-hán thì có 2 trường hợp, 1 là nhập Niết-bàn, 2 là họ phải xuất gia. Đó là Thánh vị cao nhất trong tám quả Thánh hay mình nói Bốn quả, Bốn Sa môn quả - Tứ quả Sa môn. Còn cấp độ thứ 3, cư sĩ được chứng Bất lai quả.
2. Bậc Nhập Lưu
Mình trở lại vấn đề luyện thi đại học và đã đậu đại học, bậc Thánh quả đầu tiên – Nhập Lưu là Nhập Thánh trí tuệ lưu. Mình học để biết coi mình đang ở đâu, chứ không mình tu suốt cuộc đời mà không biết đang ở đâu. Ví dụ tu 5 năm, có người lại hỏi, trả lời: tu thì tu thôi, đến 10 năm, có người hỏi, vẫn trả lời: tu thì tu đi. Tới 20, 30 năm vẫn vậy, tui tu cứ tu, tu mù, không biết mình đang ở đâu. Vì không nắm vững pháp thì làm sao mình biết được. Vậy thế nào gọi là Nhập lưu? Tức vào dòng trí huệ của bậc Thánh – nhập Thánh trí huệ lưu, người này không còn nhìn thấy Tôi và Của Tôi nữa mà nhìn thấy 5 uẩn trong mọi lúc mọi nơi, phá trừ thân kiến.
Ở trong suy nghĩ của người này, bất cứ lúc nào và ở đâu, xác quyết 100% không thấy Tôi và Của Tôi nữa mà nhìn thấy 5 uẩn là 5 uẩn. Đó gọi là phá thân kiến – sợi dây quan trọng nhất. Khi mình phá được, mở được sợi dây này, 9 sợi kia chắn chắn sẽ đứt hết, rã riệu hết. Tổng cộng 10 kiết sử, 5 thượng phần và 5 hạ phần. Cho nên quan trọng nhất trong tất cả các sợi dây, mà chỉ cần phá sợi dây này được thì tất cả những sợi dây khác sẽ bung hết, đó là thân kiến. Thân kiến là kiến chấp về thân. Phải phá được thân kiến, nếu không phá được nó thì cả cuộc đời tu của mình uổng công.
Chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn rồi, còn nhớ bài không? Hay trả lại cho ngộ? Chuyện của ngộ là ngộ, chuyện của nị là nị. Phá thân kiến, phải phá thân kiến –phá trừ kiến chấp về thân. Nhưng đây, xin thưa đại chúng là cả một công trình vĩ đại, cả một sự công phu khủng khiếp và nỗ lực gấp 100, 1.000 lần mấy người đi làm ngoài đời mới có thể phá nổi thân kiến. Tại vì sao? Vì kiến chấp về thân bên trong mình là một tường đồng vách sắt vô lượng vô biên kiếp.
Sắc này là tôi, là của tôi, sắc thân này là tôi, là của tôi, những đồ vật này là tôi, là của tôi; sắc thủ uẩn, những cảm giác là tôi, là của tôi; những hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi; những suy nghĩ là tôi, là của tôi; cái nhận thức, cái rõ biết trong 6 thức là tôi, là của tôi. Như vậy là ngũ thủ uẩn, mà chúng ta nghĩ rằng, suy nghĩ của mình là hoàn toàn, tuyệt đối trong ngũ uẩn, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, dễ hay khó? Đó mới là Thánh Hiền, là Nhập Lưu Sơ quả thứ nhất. Mà đã vô Sơ quả này rồi thì bất thối chuyển. Chỗ đó là Bảo chứng giác ngộ, chắc chắn 100% không lui sụt.
Vị Sơ quả này không bao giờ, vĩnh viễn và tuyệt đối không bao giờ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vì sao? Trong sự thấy biết của vị này là đã phá trừ thân kiến. Đó là gỡ sợi dây khó khăn nhất trong 10 sợi dây – thập sử. Mình tụng bài sám Thập truyền thập sử:
“Tích thành hữu lậu chi nhơn
Lục căn lục trần
Vọng tác vô biên chi tội”
Sám Quy Mạng
Mà sợi dây khó khăn nhất trong tất cả các sợi dây là về thân kiến. Chính vì vậy, sự tu tập của chúng ta mà không biết ngũ uẩn là gì là cái thứ nhất, không nhận diện được ngũ uẩn, không có một sự tu tập, quán chiếu, tác ý để tách ra để nhìn thấy bản chất vô thường, trống rỗng, vô ngã, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, trống không của ngũ uẩn thì làm sao mình có thể phá được thân kiến?
Bây giờ con nói một ví dụ đơn giản thôi, có khi nào nhìn vô gương mà thấy mặt mình, nói cái này là Tứ Đại, hình bóng này do vô minh, khát ái tạo thành gương mặt này. Từ vô minh, si mê, chấp ngã, say đắm, mê muội trong năm uẩn nên mới tạo thành hình vóc, hình hài này. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Có bao giờ mình lại soi gương mà suy nghĩ vậy không? Đó là suy nghĩ của bậc Thánh, là Chánh tư duy, Như Lý Tác Ý.
Nếu mình chưa từng có một cái suy nghĩ như vậy thì làm sao mình có cơ hội Hướng Sơ quả, Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu. Chưa từng có 1 suy nghĩ như vậy trong cuộc đời tu của mình thì làm sao mà mình tới địa vị Thánh Hiền. Thấy không? Thấy sự tu của mình thật sự không phải dễ như mình nghĩ, không phải, làm sao mà phá nổi thân kiến? Cho nên Đức Phật mới nói:
“Hơn thống lĩnh cõi đất
Hơn được sanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ
Quả Dự Lưu tối thắng”.
Bài Kinh 178 – Kinh Pháp Cú
Quả Dự Lưu tức Nhập Lưu Sơ quả này còn hơn vị thống lãnh cõi trời, chủ trì cõi đất, chủ trì vũ trụ - tức Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nào gọi là Chuyển Luân Thánh Vương? Là vị vua đó lấy nhân đức cai trị cả hành tinh, 1 vị vua cai trị hết hành tinh mà thực hành thep Thập Thiện. Nhưng dầu cho 1 người cai trị cả hành tinh bằng đạo đức mà người ta gọi là Thánh Quân, Thánh Vương – là vua Thánh, nhưng so với vị Tu Đà Hoàn thì không là gì, thấp kém, không bằng 1/16, là con số hồi xưa nói thôi, bây giờ là không bằng 1%.
Chủ cõi trời cũng không thể bằng, vì sao? Đức Phật ví dụ trong chương “Tương Ưng Minh Kiến”, là thấy rõ. Đức Phật ví dụ như có người lấy 7 hạt sỏi đặt trên lòng bàn tay. Đức Phật hỏi: “Này, các vị Tỳ-kheo, 7 hạt sỏi trong lòng bàn tay của người đó so với tất cả sỏi đá đại địa hành tinh này, cái nào nhiều, cái nào ít? Dạ bạch Thế Tôn, 7 viên sỏi trên tay người đó rất là ít so với sỏi đá của đại địa, cả hành tinh này. Đức Phật nói: Cũng vậy, 1 người đã đạt được minh kiến, cái khổ còn ít như 7 hạt sỏi trên tay”. Chúng sanh, phàm phu, vô minh, tham ái thì đau khổ giống như đại địa, quả địa cầu, khổ của bậc minh kiến còn lại ít giống như 7 hạt sỏi trên lòng bàn tay. Những cái khổ đã chấm dứt nhiều giống như mặt đất, địa cầu.
Nhiều ví dụ lắm, rất nhiều, như có một cái hồ cả hàng trăm km, có người dùng 1 cọng cỏ, ví dụ hay, đẹp lắm. Người này lấy cọng cỏ nhúng xuống nước và cầm cọng cỏ lên, giũ cho nó rơi xuống 7 giọt, Đức Phật nói 7 giọt nước khi rơi xuống đất so với nước của 1 cái hồ cả hàng trăm km như vậy, cái nào nhiều, cái nào ít. Các vị mới nói, 7 giọt nước trên lá cỏ thật là ít ỏi. Cũng vậy, bậc minh kiến khổ đã diệt nhiều như cả hồ nước hàng mấy trăm km, cái khổ còn lại ít giống như 7 giọt nước dính trên lá cỏ.
Muốn được như vậy không? Muốn không? Thiệt muốn không? Chắc không? Lột da mặt xuống, mỗi ngày phải ngồi lột da mặt xuống, quán chiếu Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi, quán chiếu về bộ xương và đống tro tàn và tính, chất tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát của thân xác này. Hôm nay nhân chữ Thánh Hiền mà mình có một bài này, lát nữa cảm ơn cổ nha. Không phải chuyện đơn giản. Cho đến khi nào trong suy nghĩ của mình xác quyết 100% tuyệt đối thân này không phải là tôi, là của tôi, chỉ là Tứ Đại. Những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, sự nhận thức rõ biết này là pháp vô thường, khổ, vô ngã, xác quyết tuyệt đối trong tâm, không còn bất cứ một cái nghi ngờ nào thì lúc đó là Nhập Lưu.
Mà một người đã vào dòng này rồi thì Đức Phật nói là dòng pháp đưa người về phía trước, người đó chắc chắn sẽ đi theo dòng chảy đó để đến Niết-bàn tới quả thứ 4: Thánh quả A-la-hán. Người đó không thể nào có sự thoái lui, dừng lại, tự động, giống như dòng nước đang chảy, có 1 cái lá cây rơi xuống, dòng nước chảy đưa lá đó đi, đó gọi là ý nghĩa của Nhập Lưu: dòng chảy của Thánh trí tuệ, đưa người về bờ bến của Niết-bàn. Một khi đã lọt vô dòng trí huệ đó rồi thì chắc chắn người này sẽ đi tới, không bao giờ dừng lại, thoái lui.
Như vậy, mình thấy sự thấy biết về ngũ uẩn và thân tâm này mà mình luyện nó tới chừng nào để nó quyết định đây không phải là tôi, đây không phải là của tôi. Phải một sự Như Lý Tác Ý, suy tư quán chiếu, thường xuyên và liên tục hết năm này tới năm kia, nhiều năm, nhiều chục năm, loại bỏ hoàn toàn tư tưởng tôi và của tôi trong đây. Dễ hay khó? Khó, đừng tưởng ngồi đó mà cười. Sáng ngủ thức dậy boong boong, lên keng keng, rồi cốc cốc vô ăn, nói giờ tu vậy là được rồi. Không phải!
Đó là không hướng thượng, không tha thiết, phải cầu học, bất cứ một cảm giác gì sanh khởi lên, dù khổ hay vui, hay không khổ không vui, trong ngoài thô tế, thắng liệt xa gần, quá khứ, hiện tại, vị lai. Tất cả các cảm giác phải quán nó là vô thường, là khổ, vô ngã. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi ở trong cảm giác này. Bất cứ 1 cái sắc nào mà mình đối diện với nó, sắc quá khứ, sắc hiện tại, sắc tương lai, nội ngoại, thô tế, thắng liệt xa gần. Tất cả các sắc đều phải chánh quán, tan hoại, hủy hoại, vô thường, tan nát, hoại diệt, biến hoại, là bong bóng. Sắc này là vết thương, là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là phiền não, khổ đau, lo lắng, sợ hãi, là hố than hừng, là mũi gai nhọn, mũi tên có tẩm độc.
Quán như vậy, quán cho tới nó thâm nhập, cho tới lúc nào nó hoàn toàn nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, không ưa thích những thân xác này nữa. Bị vì nó không ưa thích nữa thì khi nhắm mắt chết nó còn đi kiếm nữa không? Đi kiếm nữa mới giải thoát. Còn bây giờ con ưa thích, khoan khoái, khao khát, còn chạy đuổi, kiếm tìm, mê mẩn, say đắm thì làm sao chết rồi được giải thoát? Làm gì có chuyện giải thoát như vậy? Đang sống mà còn say đắm, ham mê, thích, còn khao khát thì khi chết cũng phải tiếp tục đi tìm. Làm gì có chuyện chết rồi được giải thoát, không có.
Chúng ta thấy rõ lắm, đây mới gọi là minh kiến. Như vậy, Sơ quả Tù Đà Hoàn là phá thân kiến, hoài nghi giới cấm thủ. Nhưng thật ra phá thân kiến thì 2 cái kia tự động được. Thân kiến là cội gốc, như vậy mình phá hết rồi, đâu hoài nghi gì ngũ uẩn nữa. Đã phá hết rồi thì mình đâu có giữ những giới nào không phải là trí tuệ, mê tín, tà kiến nữa. Nên thân kiến là tuyệt đối quan trọng, phá thân kiến.
Mình đau khổ cũng vì thân kiến này, bây giờ mình nói rộng ra. Giờ tự nhiên đi ra, có người lại nói: nhìn tướng này khả nghi quá , nhìn sao mặt chị gian gian vậy? Về khổ không? Thấy chưa? Xong vô gặp người khác: Ôi cha, sao mà tướng hảo quá vậy, nhân hậu, hiền từ, sáng sủa, trí tuệ quá vậy? Về thì sao? Vui. Ngồi thiền không được, nó cũng phơi phơi câu đó hoài, thanh tưởng câu đó vang vang trong tai, rồi cái mặt mốc hiện ra trong tâm. Đó là sắc tưởng - hình bóng của mình trong nội tâm.
Tướng là hình tướng, hình bóng trong tâm là tưởng, thấy chưa? Hình bóng trong tâm về sắc thân của mình gọi là thân kiến, cái này nó ăn sâu lắm, thâm căn cố đế, vô máu thịt xương tủy của mình. Bây giờ mình nghĩ chiều nay mình về đi đâu đó thì nó có hình bóng của mình đi hay không? Đó là thân kiến hiện ra, ghê gớm không? Hình bóng hiện ra, cũng là sắc tưởng, cũng là thân kiến – kiến chấp về thân, một cái ảo tưởng về tôi và của tôi, nó được thiết lập một cách kiên cố, vững chắc, thành trì, tường đồng vách sắt trong chấp thủ của chúng ta vô lượng vô biên kiếp. Đó gọi là sắc thủ uẩn.
Cho nên sự tu của chúng ta hết sức tinh vi, sâu xa, thâm hậu. Làm sao để mình xóa nhòa được ở trong suy nghĩ của mình về một cái tự ngã. Tại sao hồi nãy mình vui, tại sao hồi nãy mình khổ? Cái tôi, khen tôi là đẹp, tôi khoái, lạc thọ; chê tôi là xấu, là gian trá, gian xảo nên tôi khổ, tại vì tôi. Đức Thế Tôn khi đi khất thực, ông Bà-la-môn với đệ tử, hai thầy trò 1 nhóm đi sau lưng. Ông đệ tử khen Đức Phật, ông sư phụ chửi, hai thầy trò làm tới làm lui với nhau hoài mà Đức Phật đi bình thản, không dao động, giống như không có chuyện gì xảy ra. Nếu mình nghĩ đó là mình, mình có ráng kềm được không? Phá thân kiến rồi nên tâm bất động giải thoát, còn mình ráng kềm cũng tới lúc nó bung ra.
Vì Đức Phật hoàn toàn không còn cái tôi, của tôi nữa. Trong Tứ Đại ngũ uẩn này, ngài không thấy có cái tôi trong đây. Như vậy thì khen ai, chê ai, ai khen, ai chê? Đức Phật chỉ nhìn thấy một cái tâm thức đang bị vô minh, tham ái, chấp ngã và sân hận đang vận hành và hoạt động trong khổ đau. Ngài không thấy có một con người mắng chửi ngài, ngài chỉ thấy một ngũ uẩn đang trong bóng đêm, đang trong vô mình, bản ngã, ganh tị, đố kỵ, khổ đau. Và lúc đó tâm ngài tràn đầy một sự bi mẫn, xót thương, hoàn toàn không có một chút gì gợi lên về cái tôi và của tôi, được khen, bị chê gì. Đó gọi là bất động tâm giải thoát. Cái tâm giải thoát, bất động.
Tại sao bây giờ chỉ cần khen chê là mình đổi sắc, gương mặt mình đổi màu, cử chỉ, thái độ của mình hoàn toàn đổi hướng, chuyển kênh, vì đụng vô bản ngã, cái tôi. Và cái tôi này luôn gắn chặt với mình, nằm chiêm bao mà cũng thấy cãi lộn chứ đừng nói là thức. Nó ghê gớm như vậy, nó vận hành ngũ uẩn này khủng khiếp lắm mà mình đâu thấy. Một sự chấp ngã hết sức cứng chắc, nên trong nghi thức tu học Nikāya Sám hối diệt ngã, mỗi ngày phải tụng, 4 câu lạy xuống 1 lạy. Nếu không phá cái này không thể nào vào được đệ tử chân chánh của Đức Phật, không thể thành đệ tử chân chánh của Đức Phật nếu không phá ngã, phá thân kiến.
Đó là phương pháp tu để mình Nhập Lưu. Đầu tiên phải trị bản ngã trước, cái tôi, ta, tao, mi, tớ, mình, giương giương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, ta đây hơn thua, thị phi phải quấy, phải diệt cái đó trước. Không diệt cái đó, dù cho mình đi tới chỗ nào đi nữa cũng sầu bi khổ ưu não. Phải đọc tụng, phải lạy. Đó là quả thứ nhất.
Quả thứ hai là gì? Mình giải 4 quả chánh thôi, còn quả phụ tự mình hiểu. Quả thứ hai là nhất lai, sơ quả là thất lai. Sơ quả chậm nhất là 7 lần, là tới lui trong cõi nhân thiên, sẽ còn trở lại trong nhân gian thiên thượng chậm nhất 7 lần. Còn nhị quả, ngoài phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ rồi còn mụi lược tham sân. Tức tham sân bị tê liệt, còn rất nhẹ thôi, cái tham và sân nhẹ tênh, dường như bị tê liệt thì vị đó chỉ còn trở lại nhân gian thiên thượng 1 lần nữa. vì sao? Cái tham người ta hết rồi còn trở lại làm gì nữa?
Giờ nói thí dụ, vô tình mình đi ngang đường lộ mà cần đi vệ sinh, thấy cây xăng nên tấp vô, mà bước vô WC coi như mình bật ngửa. Rồi mai mốt đi ngang đó mình có muốn vô đó nữa không? Bất lai – không trở lại, nó rõ ràng như vậy. Các bậc Thánh nhìn con người này, thân thể này, thế giới này giống cái cầu tiêu thối, làm sao các ngài trở lại đây được. Đó là hệ quả tất nhiên, các ngài không ưa thích mủ máu, phân nước tiểu, đàm dãi, phèo phổi, ruột gan, các ngài không thích nữa, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì làm sao các ngài trở lại.
Cho nên quả thứ 3 là bất lai – diệt tận tham sân, tham không còn, sân không còn. Vị này sẽ lên Tịnh Cư Thiên, không còn trở lại thế giới này, từ chỗ đó nhập Niết-bàn, còn quả A-la-hán, phá thêm 5 thượng phần kiết sử, cái đó từ từ chúng ta học thêm.