Tinh Hoa Nikāya - Nắm Bắt Cơ Hội Hy Hữu - Thế Nào Là Bậc Dự Lưu
Tinh Hoa Nikāya
Nắm Bắt Cơ Hội Hy Hữu
Thế Nào Là Bậc Dự Lưu
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trân trọng Thánh Pháp PAGEREF _Toc151630628 \h 1
II. Khó thay được làm người PAGEREF _Toc151630629 \h 6
III. Bốn dự lưu phần PAGEREF _Toc151630630 \h 7
IV. Lòng tin vững chắc PAGEREF _Toc151630631 \h 12
V. Tu tập thiện pháp PAGEREF _Toc151630632 \h 15
VI. Giữ giới PAGEREF _Toc151630633 \h 17
I. Trân trọng Thánh Pháp
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn và kính thưa chư hiền, chiều nay chúng ta tiếp tục trình pháp chia sẻ những khó khăn hoặc là những tâm đắc trong tu học. Buổi sáng con thấy có một số vị còn muốn chia sẻ những hết giờ nên chiều nay chúng ta tiếp tục. Sự trình pháp của chúng ta rất quan trọng, rất nhiều người được lợi ích trong sự trình pháp của đạo tràng chúng ta, vì khi giảng kinh rất quý nhưng lại thâm sâu khó hiểu còn trình pháp là chuyện đời thường, thực tại, thực tế cho nên những vị nào ở trong trường hợp đó sẽ có bài học để tu cho nên sự trình pháp của mình còn tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha.
Khi mình trình pháp là mình vượt qua được bản ngã rất nhiều vì đứng lên nói thường sợ nói sai, nói trật, nói không hay, nói sám hối thấy mình dở… Tất cả những cái này phải vượt qua thì mới trình pháp một cách chân thành, chân thật cho nên trong cái trình pháp của chúng ta có rất nhiều pháp học và pháp hành, có rất nhiều lợi ích trong sự trình pháp.
Có một số vị nói rằng "thầy kêu trình pháp nên người ta trốn không dám đi nữa" thì con nói rằng con đâu có bắt ép, con mời ai muốn thì trình pháp vì mình trình là mình được lợi ích. Đạo tràng chúng ta tu học rất phong phú vì có nhiều thể loại tu học, rất đa dạng các pháp hành trì làm mình không chán, tuy rằng mình tu nhận diện ngũ uẩn, thấy được vô thường, khổ, vô ngã, nhiếp phục được tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái, cội gốc chỉ bao nhiêu đó nhưng chúng ta có rất nhiều phương tiện, phương pháp, cách thức, những thể loại để chúng ta tu nên chúng ta sẽ thấy mới mẻ, có sự sinh động trong sự tu học.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch thầy, kính bạch chư Tăng cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây, đệ tử con pháp danh Huệ Thành với lòng thành kính của con đầu tiên con xin sám hối với thầy. Kính bạch thầy những ngày tháng sau khi con lên Linh Quy Pháp Ấn được thọ trì cái pháp thầy dẫn dắt chúng con, những ngày tháng con trở về thì con không tu tập được nhiều vì hoàn cảnh gia đình có nhiều chuyện làm tâm con không chánh định được, dù con cũng có nghe pháp của thầy nhưng lúc có lúc không, cuộc sống làm con không được an. Con thấy rất hổ thẹn, mỗi khi nghe pháp thầy giảng trên Youtube thì con thấy rất buồn vì con nghe mà không hành theo pháp học và pháp hành mà thầy đã truyền trao cho con, con thấy rất hổ thẹn và sám hối với thầy, sám hối trên tam bảo.
Con cũng xin đảnh lễ và tri ân thầy đã bỏ rất nhiều công sức cũng như tâm trí để dẫn dắt con và các vị hiền trí nơi đây cũng như tất cả các Phật tử muốn tu học theo dòng pháp Nikāya, con rất kính trọng và cũng rất hoan hỉ vì học theo dòng pháp này. Cũng từ lâu rồi con tu tập nhưng không nhận ra được ngũ uẩn trong thân tâm con, con cảm thấy xấu hổ vì con còn chấp vào thân mạng này vì thân con đau yếu rất nhiều, có những lúc như sáng giờ thân con rất đau nhức, không thể yên được, con đi khám bệnh thì có rất nhiều thứ bệnh vì con biết đó là nghiệp quả của con. Con hiểu được nên sau khi con nhận được dòng pháp này thì con đã bỏ đi rất nhiều cái giận hờn, cái sân si của con, cái chấp ngã của con rất nhiều đối với gia đình cũng như bạn bè. Con cảm thấy xấu hổ rất nhiều và con thành tâm đảnh lễ sư phụ.
Sư Phụ: Cô lạy sám hối và hứa phát nguyện "từ nay con sẽ tinh tấn lên, con may mắn gặp được chánh pháp nhưng con lại giãi đãi, con thấy xấu hổ, con xin đại chúng chứng minh cho con, từ nay con phải nỗ lực lên. Con xin diệt bản ngã này, nguyện cho con dự vào dòng pháp tối thượng thù thắng này".
Khi chúng ta bước ra quỳ để phơi bày lỗi lầm của mình có phải là sự chiến thắng không? Có phải là sự nhiếp phục không? Mỗi lầm chúng ta sám hối hạ mình xuống là mỗi lần sanh ra công đức, tại sao như vậy? Không phải chúng ta chỉ tu trên hình thức mà chúng ta nói bằng tấm lòng, rồi mình lạy, mình tác ý nhắc nhở để mình nhớ, "bữa nay mình xấu hổ quá, mình học được cái pháp cao quý, cao thượng, Thánh thiện, vi diệu như vậy mà về mình không thực hành, mình bỏ qua". Ngoài Thánh pháp này ra còn cái gì quan trọng hơn?
Cái chết cũng không quan trọng bằng pháp vì mình đã sống chết vô lượng vô biên kiếp rồi mà cũng có gặp được Thánh pháp đâu, có biết ngũ uẩn là gì đâu, không thấy được tham, sân, si của mình, cho tới giờ này mình được mà mình không biết nắm bắt cơ hội không phải ngàn năm một thuở nữa mà là vô lượng vô số vô biên kiếp mới gặp được có một lần thôi, chưa chắc gì đời sau chúng ta sanh ra gặp được pháp này nữa, có thể lúc đó chúng ta đang ở dưới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hoặc sanh ra làm người nhưng ở vùng biên địa, hoặc vào nơi giàu có hưởng thụ rồi quên mất không tu được.
Không phải chỉ có một mình bản thân mình bệnh, từ trưa giờ con phải tác ý rất nhiều trong phòng thì chiều này con mới xuống ngồi nổi vì đầu con ê nhức, công việc thì cứ liên tục, hằng ngày hằng phút mình phải chiến đấu với thân tâm mình chứ không phải chỉ có mình là bệnh nhiều, là bệnh nặng, là nhiều bệnh khổ còn mấy người kia không có bệnh, ngược lại đều giống nhau hết. Con không nói ra thì đại chúng đâu có biết, từ trưa giờ đầu con nặng, trì xuống và nhức đầu, phải tắm nước nóng, phải xoa đầu và phải tác ý cho thân mạnh lên để xuống đây chia sẻ, sau đó phải ngồi xe 5 tiếng để về núi là 9-10 giờ đêm.
Chúng ta ở nhà lại đây nửa tiếng hoặc xa lắm là một tiếng, con đi 5 tiếng thành ra mình không biết thương mình thì không ai thương mình cả, chính mình đã nhận diện ngũ uẩn, chính mình đã nhìn thấy tham, sân, si của mình, chính mình đã thấy được bản ngã của mình mà còn không chịu nỗ lực thì đừng trách ai cả, mai này rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rơi vào ác thú, đọa xứ thì không trách ai được, chỉ có trách mình gặp được chánh pháp mà xem thường, mình tu học qua loa, không tôn kính pháp, không thấy hiểm họa của luân hồi, không thấy tai nạn của thân hình này, không thấy được sự bất an của đời sống này.
Con không muốn nói lời nặng nhưng nếu con nói lời vui, nhẹ nhàng cho quý vị cười thì quý vị không thức tỉnh được. Phải dùng những câu nặng, thấm thía, làm cho vỡ ra, vậy mà còn như thế thì sau này con vào rừng ở, lâu lắm mới về một lần, nếu trong đó không có internet thì cũng không giảng được, phải có internet mới giảng được, không phải lúc nào con cũng ở đây, không phải lúc nào chúng ta cũng được ngồi ở đây tu học.
Ly nước mình mới rót đầu hôm mà giữa đêm nó đã đổi khác, có hai sinh mạng nằm trong đó, có nhiều người ngay cả huynh trưởng, trưởng nhóm của đạo tràng mà phát biểu "tu cái này mệt quá, căng thẳng quá nên con tu là thở cho nhẹ nhàng vậy thôi", con rất xót xa và thương cho họ vì mình tu với cái ái của mình, với sự an nhàn của mình, chiều theo những cái dễ chịu, êm ái thì mình thích, trong khi tu cái này là để phá vỡ những cái thâm căn cố đế, vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, làm sao mình ngồi mát lại đòi hưởng bát vàng.
Những cái trình pháp như vậy con nghe rất xót xa, là trưởng nhóm mà như vậy, rơi rớt hết cho nên tại sao chúng ta phải trình pháp, con nhắc nhở đạo tràng mình vì bây giờ chỉ còn lại mấy người, không nhiệt tâm tu hành. Mình mất cơ hội cuối cùng này là vĩnh viễn và mãi mãi vô lượng vô biên kiếp cũng không gặp được Thánh pháp này lần thứ hai, bậc đạo sư bây giờ không biết sống chết ngày nào, con thì lục phủ ngũ tạng cũng suy hết rồi, đời sống bây giờ hết sức mong manh vô thường, sáng còn tối mất, ai bảo đảm được.
Chỉ cần ngài đi, con xong là dòng pháp này chấm dứt, lóe lên một chút như đom đóm rồi tắt vĩnh viễn và mãi mãi cho đến khi trái đất này hoại thành tàn nhang. Chúng ta phải tác ý trân quý, trân trọng, trân kính, cũng như các Phật tử trình pháp nhận diện ngũ uẩn được nhưng cái tế không nhận ra được vì không phải dễ, cho tới bây giờ trong sự nhận diện ngũ uẩn của bản thân con vẫn còn thất thoát rất nhiều chứ không phải đơn giản, nếu nhận diện ngũ uẩn trọn vẹn là mình đã đi tới những tầng Thánh quả cao rồi cho nên học là học như vậy, còn thực hành lại không được mấy người. Bây giờ thực hành không được bao nhiêu mà pháp học cũng không chịu nỗ lực thì pháp này chấm dứt hoàn toàn.
Nếu mỗi ngày chúng ta không giảng, mỗi nửa tháng không có khóa tu thì bây giờ mình cũng trở về sống với vô văn phàm phu, sống với bản ngã, tham, sân, si, sống với dục ái, bản ngã, mình không nhiếp phục được nó, ai nhắc cho mình nhớ những điều này. Dù được nhắc nhiều lần nhưng khi đụng chuyện mình nhớ được bao nhiêu phần? Con phải suy nghĩ nhiều cách thức để chúng ta tu học, nếu con cứ lên ngồi giảng rồi về thì quý vị sẽ không chia sẻ được những tâm tư, những khó khăn, những nguyện vọng, những sự buồn đau, bất an trong lòng cho nên con phải nghĩ ra cách trình pháp, nghĩ ra cách để lạy sám hối, từ sự truyền thừa của bậc thầy rồi con phải suy nghĩ, phải sắp xếp để chúng ta không chán mà cảm thấy vui thích trong sự tu học.
Thật sự có rất nhiều tâm tư trong đó chứ không phải đơn giản, quý vị xách giỏ lại tu thôi nhưng quý thầy, quý cô phải suy xét, sắp đặt bằng cách nào hiệu quả nhất để quý vị đạt được lợi ích. Con không nói ra thì quý vị không biết, chỉ thấy tới giờ thì thầy giảng mà không biết tất cả đều là sự chiến đấu, sự chế ngự, sự nỗ lực.
Không có một thành công nào được trải thảm đỏ từ đầu đến chân mà phải trải qua chông gai, gian khổ, đây là thành công bình thường của thế gian chứ đừng nói ra thành tựu Thánh trí tuệ, Thánh đạo, Thánh quả. Với một cái tu lơ là, tu qua loa, tu cho có thì mình được cái gì? Đó là đề mục chúng ta thiền quán chiều nay, tất cả chúng ta chứ không riêng một ai, mình phải tu cho đến khi nào mình tuyên bố mình không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa, mình Dự Lưu, chánh thức tham dự vào dòng trí huệ của Đức Phật, tối thiểu phải tới đó dù là cư sĩ. Mình ở ngoài đời đều giỏi giang, không ai ở đây mà dở, mình làm ăn được, mình lấy chồng sinh con được, mình nuôi con được, mình lập sự nghiệp được, mình lo cho gia đình được, mình không phải người dở thì tại sao trong pháp lại nghĩ mình tu không được?
Cái tác ý đó là phi như lý tác ý, tác ý đó là ác độc, giết người, tác ý đó không cho mình tu, không cho mình tiến. Bậc đạo sư là một cư sĩ có thể thành tựu Thánh quả thứ ba, một vị cư sĩ tự mình mò mẫm, không có thầy dạy mà có thể tìm ra được Thánh đạo 2600 năm và thực hành thành công. Nếu suy nghĩ như mình thì làm gì có giáo pháp này được tiếp truyền, được khơi lại? Nếu ai cũng suy nghĩ như mình thì chánh pháp sẽ diệt vong, Thánh đệ tử, tứ chúng không còn nữa. Mình phải tu cho đến lúc nào mình tuyên bố, mình xác quyết mình không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
II. Khó thay được làm người
Mình nghĩ rất ngây thơ, rất trẻ con, rất vô minh, mình nghĩ mình chết rồi đời sau mình cũng làm người y như vậy, cái nghĩ đó là vô minh. Nếu muốn được làm người hoặc sanh lên cõi trời chắc chắn 100% phải là bậc Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, đây là cả một vấn đề. Đức Phật đã nói biết bao nhiêu lần, ngài lấy cọng cỏ chấm vào nước biển rồi sau đó còn rơi lại vài giọt trên cọng cỏ đó, ngài nói con người chết mà đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như nước ở đại dương, được làm người làm trời ít như nước ở đầu ngọn cỏ.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
-- Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), VI. Phẩm Chứng Ðạt, II. Ao Hồ)
Chúng ta nghĩ ngây thơ rằng sau khi chết đi chúng ta sẽ lại được làm người, 10 người là hết 8-9 người nghĩ như vậy nếu không biết tu, Đức Phật nói rằng cái khổ của bậc Dự Lưu ít như những hạt đậu nếu so với núi Tu-di to lớn.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: 'Ðây là Khổ'... đã rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, IX. Núi Sineru (1) (Tu Di))
III. Bốn dự lưu phần
Nếu đi sâu vào pháp thì chúng ta sẽ rất sợ, thật sự rất lo sợ, một người thấy pháp rồi sẽ rất lo sợ. Chúng ta thấy hằng ngày trên tin tức chết vì tai nạn giao thông, chết vì tự tử nhảy lầu, nhảy cầu, chết trong oán hận tức hờn, chết trong cướp bóc, giựt giành, giựt túi xách bị đập đầu xuống đường chết trên đường đến bệnh viện. Trong những cái chết như vậy nếu không đầy đủ thiện nghiệp thì đi đâu? Cho nên chúng ta phải biết lo sợ. Ai là người có thể tuyên bố tôi là người chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không bao giờ còn rơi vào ba đường ác đó?
"Gia chủ Anàthapindika với khoảng 500 nam cư sĩ đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, Thầy có biết người gia chủ mặc áo trắng nào mà sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú, nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: 'Ta sẽ đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác'? Sở hành được bảo vệ trong năm học giới nào?
Ở đây, này Sàriputta, Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Sở hành được bảo vệ trong năm học giới này" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Bài kinh này nói cho ông Cấp-cô-độc, tên là Gia chủ, chúng ta sẽ thấy được những người cư sĩ thời Đức Phật chứng đắc rất nhiều. Ông Cấp-cô-độc dẫn 500 nam cư sĩ đến gặp Thế Tôn thì Thế Tôn hỏi ngài Xá-lợi-phất "Thầy có biết người gia chủ mặc áo trắng nào mà sở hành được bảo vệ trong năm học giới không", tức là người đó giữ được năm giới, hay còn gọi là sở hành được bảo vệ trong năm học giới. Sở hành là những hành vi, hành động của mình, được bảo vệ nghĩa là được năm giới bảo vệ.
Mình không có tâm tăng thượng giới học, mình bằng lòng, mình chấp nhận với hiện tại, chỉ được một chút thiện pháp mà mình đã cho là tốt rồi, ngược lại phải có tâm mong muốn, ước muốn bước lên cao hơn, phát triển hơn về giới, phải nuôi dưỡng cái tâm này hằng ngày hằng giờ chứ không phải tu đơn giản ngày lên tụng hai thời là xong. Đức Phật không dạy như vậy, trong lòng mình lúc nào cũng khao khát, mong muốn tăng thượng, bước lên, thêm lên về giới hạnh, giới đức của một người tu, người cư sĩ là năm giới, thọ bát quan trai là tám giới, những vị Sa-di là mười giới, các vị Tỳ-kheo còn nhiều hơn nữa.
Một vị cư sĩ sở hành được bảo vệ trong năm học giới tức là giữ được năm giới, để biết được mình có vào được Dự Lưu hay chưa thì một là giữ được năm giới, chưa ăn được chay trường thì phải tập, ăn ít thì tập ăn chay nhiều hơn, phải xem lại những hành vi của mình có lấy đồ mà người ta chưa cho không, kiểm tra lại sự chung thủy trong gia đình, xem lại lời nói của mình có nói dối nhiều không, nếu có thì phải ghi ra để sám hối, vào những ngày đạo tràng sinh hoạt thì ra sám hối "quý thầy, đại chúng chứng minh để con giảm bớt cái nghiệp này, để con nhiếp phục cái nghiệp này để con từ bỏ nói dối, nói lời hung ác". Lấy quyển vở gạch đầu dòng những lỗi lầm của mình, những cái dở của mình, tu thiết tha là phải như vậy.
Con nói viết nhật kí tu học mà chẳng được bao nhiêu người, viết cho quý vị tu chứ không phải cho con, nếu không viết ra là mình không có thấy lỗi, mình quên lỗi, không nhớ lỗi thì không điều chỉnh được lỗi, không hoàn thiện được bản thân. Cho nên người nào muốn thành tựu Dự Lưu thì đầu tiên là giới, cửa đầu tiên này mình đã qua được chưa? Làm sao mình chắc mình không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?
Chỉ bấy nhiêu đây đã rất đáng lo rồi, không ai nói cho mình những điều này cả mà toàn là tâng bốc, cúng được một chút là vênh mặt lên, có ai tận tâm tận lực phân tách rạch ròi từng ly từng chút bằng Đức Thế Tôn? Mình tu đa số đều đi theo cái dục, cái tham, đi đến chỗ nào vừa lòng thích ý, hợp gu với mình là mình đi nữa, còn đi đến chỗ nào đánh trúng điểm huyệt là không lại nữa, tu khó quá nên đi tìm cái dễ tu cho sướng, họ không biết "thuốc đắng giã tật" mới hết được bệnh, lời thật thì mích lòng nhưng nó sẽ giúp mình tốt đẹp, điều chỉnh lại bản thân cho nên người thành công là người thường thấy cái dở của mình, thấy sự thất bại của mình, chỉnh cho hết thất bại thì mình thành công, đó chính là tinh thần của Nikāya.
Mình cứ nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, vô minh của mình liên tục để lau chùi, tẩy rửa cho sạch là đạt Thánh quả, cứ lau chùi cái dơ bẩn, cấu uế của mình chứ đừng nhìn ngó người ta. Nhìn để quay lại bản thân để sửa chỉnh chứ không phải nhìn để đúng sai, hay dở với người ta, đó là bí kip nhưng mình lại thường nhìn người ta, có khi lên quỳ lạy sám hối xin lỗi rồi lúc sau là khai xấu luôn người mình sám hối vậy mà mình lại không hề hay biết, do vô minh với bản ngã che mờ hết, lên quỳ sám hối người ta nhưng toàn nói cái xấu của người ta, không biết là đang sám hối hay đang chỉ lỗi người ta, nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, vi tế là không biết được điều này cho nên điều đầu tiên để vào được dòng pháp này chính là giữ được giới.
"Vị ấy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú nào?
Ở đây, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được kẻ trí tự mình giác hiểu'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ hai đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu giới được bậc Thánh ái kính, không có bể vụn, không bị sứt mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, làm cho an lạc, hướng đến Thiền định. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú này được chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Bốn tăng thượng tâm ở đây chính là bốn Dự Lưu phần, đó là bốn cái tâm muốn thêm lên, chính là lòng tin đối với Phật – pháp – Tăng và Thánh giới, đó là bốn tăng thượng tâm, đặc biệt là giới, kế đó là tín. Mình tu không tinh tấn vì mức độ tin của mình đối với pháp chưa có đủ, ví dụ có người nói rằng ba mình khi còn sống có chôn hũ vàng ngay tại chỗ đó, nếu mình tin thì đi đào liền, còn không tin thì bác bỏ ngay, cũng vậy, sở dĩ mình chưa hết lòng vì pháp vì độ tin với pháp chưa đủ, tin pháp chưa đủ thì tin Phật chưa đủ vì pháp là của Phật nói, tin pháp với Phật chưa đủ thì làm sao tin Tăng, nếu tin Tăng không đủ thì làm sao giới thành tựu được. Đây là bốn tăng thượng tâm, là bốn cái tâm mà người tu cần phải thêm lên, tăng lên, lớn mạnh lên, cao rộng lên, phát triển lên, bốn phần này đưa mình vào Dự Lưu, tham dự vào dòng trí tuệ chân chánh của Đức Phật và các bậc hiền Thánh.
Giới và tín là hai điều Đức Phật thường nói cho các vị cư sĩ, thường nói cho ông Cấp-cô-độc nghe. Ngày xưa tu thấy mê, đi đến Thế Tôn một lần 500 vị nam cư sĩ, bây giờ ở đây còn 2 người nam cư sĩ, cộng luôn các thầy vô mới được 1% so với thời Đức Phật, thiện pháp ngày càng bị tổn giảm. Bốn cái tâm mình tu thành tựu không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức, tức là người này có lòng tin rất thuần thục, rất dễ dàng, không còn ngờ vực, không còn phân vân, lưỡng lự "không biết ngũ uẩn này phải của Phật nói không? Mình tu mà mình đoạn tham, sân, si thì có đúng không?", nếu còn những suy nghĩ như vậy là chưa thành tựu, tu là phải tăng thượng lòng tin lên bằng cách hiểu và tin, mình càng tin thì càng hiểu, nghĩa là phải thực hành, nếu không thực hành thì nghe rồi gật gù sau đó trả lại thầy.
IV. Lòng tin vững chắc
Mình phải thực hành, mình phải nhận diện, mình phải nhìn ra tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái của mình thì mình sẽ tịnh tín bất động, lòng tin của mình sẽ vững mạnh, kiên trú, vững chắc. Đức Phật ví dụ hình ảnh bông gòn đem thả ra ngoài ngã 7, gió bốn phương tám hướng thổi bay tứ tung, hình ảnh thứ hai là trụ bằng đá được chôn sâu vào đất, gió thổi cũng không lay chuyển.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo'. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Đức Phật ví dụ người chưa thành tựu lòng tin giống như bông gòn bị gió thổi ngã 7, vài bữa lại chạy đi tìm thầy này, vài hôm lại chạy đi kiếm cô nọ, vì chưa thành tựu được tịnh tín đối với pháp nên mới đi tìm sách của người này người kia đọc nhưng có khi những sách đó lại ở ngoài lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chỗ này là chỗ hết sức sâu sắc.
Con xin thưa với các bậc hiền trí, bây giờ con chỉ có bốn bộ kinh Nikāya cho tới ngày chết, nếu còn dư tàn ở lại mấy đời nữa thì cũng ôm mấy bộ đó cho đến ngày lậu tận chứ không học ai nữa cả, phải lấy cái đó làm chuẩn tắc và bậc đạo sự, không đọc bất cứ bộ sách nào nữa cho nên khỏe vô cùng. Ngày xưa phải đi ra nhà sách tìm hết cuốn này đến cuốn kia, tìm hết ông tác giả này đến ông tác giả nọ, bây giờ chỉ còn một cuốn Nikāya này thôi nên khỏe cho nên điều kiện thứ hai để vào Dự Lưu là bốn tăng thượng tâm, tức là lòng tin vào Phật – pháp – Tăng và thành tựu giới.
Vị Thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc tôn kính nhất trên đời, ngài là bậc chấm dứt các lậu hoặc, ngài là bậc thấy biết thấu triệt tận cùng các pháp, bậc đầy đủ trí tuệ thấy biết, bậc vượt qua bốn dòng thác lũ và là bậc thông giải tất cả pháp thế gian, là bậc điều ngự được những người ương ngạnh, cứng cỏi trên cuộc đời này, ngài là bậc thầy của trời và người, ngài là bậc giác ngộ.
Một người niệm Phật như vậy, nhớ những công đức, công hạnh của Phật, mình tụng mười danh hiệu trong trí đức Như Lai thì mình vui trong đó, mình thích trong đó thì gọi là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất. Chỉ cần nhớ về Đức Phật là mình thấy vui thích, mình thấy hoan hỉ, cung kính, thậm chí nước mắt tuôn trào, mình thấy hạnh phúc thì gọi là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất.
Nếu tâm chưa trong sạch thì nhờ niệm Phật sẽ làm cho tâm trong sạch, khi ngồi nhớ lại đức hạnh của Phật thì gọi là niệm Phật chứ không phải niệm Phật chỉ là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thôi đâu, cái này chỉ là cái mới ban đầu giúp cho người mới tu có cơ sở để người ta nương tựa. Người mới vào tu mà nói niệm Phật thì làm sao họ biết gì mà niệm, cho nên ban đầu sẽ là nhắc cái tên, sau đó nâng lên là nhớ lại đức hạnh, trí huệ của ngài. Mình nhớ lại như vậy rất dễ dàng, không có khó khăn, không thấy mệt nhọc, vừa nhớ là có cảm xúc liền, có lòng biết ơn trào dâng lên.
Khi mình nhớ Phật mà cảm xúc, cảm động như vậy thì những gì dơ bẩn trong tâm mình sẽ được rửa cho sạch, những chỗ nào còn tối sẽ được ánh sáng soi chiếu vào đó là tâm mình sáng lên, làm cho tâm sạch ra, sáng và sạch khi mình nhớ ân đức của Phật. Đó là phương pháp niệm Phật thời Đức Thế Tôn còn tại thế, có một cô Phật tử lên thăm Minh Thành nhìn thấy tượng Phật lộ xương sườn ra thì cô hỏi đây là Phật nào, Minh Thành nói đây là Đức Thế Tôn tu 6 năm khổ hạnh, nhiều khi mình đi chùa 30-40 năm mà mình không biết, nếu mình biết hết những điều này thì mình niệm Phật mới nhớ được, còn không biết thì làm sao niệm, làm sao nghĩ.
Mình ngồi nhớ lại 6 năm Đức Phật tu khổ hạnh nơi rừng già và mình có cảm xúc thì đó là tăng thượng tâm, cái tâm mình khi đó lên một đẳng cấp cao hơn, còn mình ngồi mà buồn ai, giận ai thì làm sao bằng mình nhớ Phật. Phật từ bi không giận ai, mình nói mình là đệ tử Phật thì tại sao mình lại giận? Nhớ như vậy thì tham, sân, si sẽ tan biến, đó là cách niệm Phật để diệt tham, sân, si, đó là một cách tu.
Thế Tôn hết sức khéo léo thuyết pháp, thiết thực, hiện tại, không trải qua thời gian 3 năm, 5 năm mà ngay tại chỗ này mình thấy được tham, sân, si, thấy được bản ngã, thấy được tâm ngọt ngào, dễ chịu, hoan hỉ. Đó là sự thiết thực, hiện tại, tâm có giận thì biết tâm đang có giận, tâm đang có tình thương thì biết đang có tâm từ, tâm đang có sự thúc giục thì biết tâm đang thúc giục, tâm đang có sự an tịnh, lắng dịu thì biết tâm đang an tịnh, lắng dịu. Thấy biết mọi thứ vậy mà cũng chưa tin Phật, thật là khổ mà!
Thấy được ngũ uẩn, thấy dục ái, vô minh vậy mà còn chưa chịu tu quyết liệt, chưa tin được, mình bị những cái khả lạc, khả hỷ, khả ái lôi kéo, ngồi tu nhưng tính toán hôm nay lời lỗ thế nào, "đi tu hôm nay lỗ mất 2 triệu nên thôi ở nhà", mai này nằm chờ chết rồi đống tiền để lại hết, đống giấy xanh đỏ để lại, đem cái nghiệp đi theo.
V. Tu tập thiện pháp
Đức Phật nói người trí khi thấy nhà cháy phải lấy đồ quan trọng đi ra, tức là ngài dạy pháp bố thí, cúng dường. Nếu mình niệm pháp mà thấy vui, an tịnh, lắng dịu, hiện tại lạc trú, mình vui với cái pháp mình đang tu "sao giờ cái tâm mình bao dung, độ lượng hơn trước. Ngày trước một chút như vậy là có chuyện với mình vậy mà bây giờ mình nhẹ nhàng", tâm từ mình rộng mở ra, thương mọi người.
Sao khi mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, mình tẩy sạch được những cái ác bất thiện pháp thì mình vui lên, tác ý tâm hỷ sung mãn lên. Sáng vô tu thấy mặt buồn, chiều tu cũng thấy buồn, chỉ có lúc ra về là vui lên, chúng ta tu phải tùy lúc, không phải lúc nào cũng buông lung, thả lỏng các căn nhưng có lúc mình mở tâm ra, vui sướng, hạnh phúc, hân hoan, đó chính là thuốc bổ tâm linh, là pháp nhủ, dùng để nuôi tâm tu học siêng năng tinh tấn, còn ở nhà sẽ bị suy dinh dưỡng tâm linh, không được uống sữa pháp, không uống Thánh nhũ, không được uống thuốc bổ tâm linh nên nhìn tiều tụy, suy nhược, ở ngoài gọi là suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, còn trong đạo gọi là suy nhược trí huệ, suy nhược từ bi, suy nhược chánh niệm.
Khi mình tác ý lên là mình hân hoan, mình hoan hỉ, thích thú, giống như trời mưa là mình thấm đẫm từ đỉnh đầu đến gót chân một sự hỷ lạc của pháp. Mình phải có tầm có tứ, mình tác ý lên, dẫn tâm mình cho vui, mình tha thứ được cho ai là vui lên, mình nhiếp phục được cơn giận là mình hạnh phúc, mình hạ gục được bản ngã là mình vui, đó chính là tâm hỷ.
Khi cái bệnh đến thì mình phải chịu thôi chứ giờ nhăn nhó, bực bội ai? Thậm chí không những bệnh thân mà còn bệnh tâm nữa, bây giờ sanh, lão, bệnh, tử là phải có nên chấp nhận để tu, cái vui là mình biết cái bệnh này khổ, cái vui là mình thấy sự nguy hiểm trong cái thân này, cái vui là mình biết nhiếp phục tham, sân, si trong cái bệnh nên không giận ai, nếu không là mình trách con giận cháu, "không ai đến thăm tôi hết vậy?", "không ai mua đồ cho tôi ăn vậy?".
Ngay trong cái bệnh mình vẫn an lạc được, đó là do mình biết được pháp rồi vận dụng được nó cho nên mọi thứ đều là như lý tác ý, sự chánh niệm tỉnh giác để mình biết được việc nào là thích ứng trong hoàn cảnh đó để mình tác ý. Mình sẵn sàng cho bạc triệu để làm từ thiện, mình vui vẻ, hoan hỉ nhưng lỡ món đồ gì của mình bị mất là mình bực bội, khó chịu. Những lúc như vậy tâm xả nằm ở đâu, tâm bố thí nằm ở đâu? Cảm thọ an tịnh, lắng dịu nằm ở đâu? Cái vô thường, vô ngã nằm ở đâu? Cái tâm từ ở đâu? "Khổ quá trời mới đi ăn cắp mắt kính, thôi cho về đeo".
Mấy cái thư viện để bao nhiêu kinh sách không khóa cửa, lúc nào các thầy đến cũng bảo phải khóa cửa lại, sách này quý lắm thì con cũng dạ nhưng trong bụng lại nghĩ khác "ai cầm về đọc được thì mình có phước chứ để đó làm gì, đó là cơ hội bố thí, cúng dường pháp", suy nghĩ của mình ngược ngạo khó ai chấp nhận nhưng như vậy mới thuận với pháp. Mình có thể cầm chục triệu, hai chục triệu để cúng nhưng mất món đồ có khi chỉ 20 ngàn mà sân si lên, khó chịu lên, mình hành hạ mình trong những cảm giác đó rồi mình hành hạ những người ở chung "có lấy đồ tôi không vậy?", hết nhìn người này đến nhìn người kia, mình làm cho mình khổ và làm khổ luôn người ta.
Vì vậy khi có thiện pháp trong người thì mình thành tỉ phú của Phật giáo, chúng ta phải là người giàu có trong chánh pháp, có đầy đủ tất cả thiện pháp để sử dụng, nhiều khi học như vậy nhưng đụng chuyện là quên hết, tiền thì có nhiều chứ pháp lại không có, trở thành kẻ nghèo thiếu trong chánh pháp. Mình giàu có rồi cái gì mình cũng nghĩ thành tốt được hết, trong hoàn cảnh khó khổ, bị gây sự nhưng mình vẫn kham nhẫn, một chút ra về trời mưa thì phải luyện tâm, tại sao lúc nhỏ tắm mưa thích mà bây giờ đi học pháp gặp trời mưa lại sợ, khi mình chuyển tâm thì lập tức sẽ thành hoan hỉ liền.
Vừa gặp nhau đã bị người kia mắng xối xả thì phải biết mình đang được làm bài tập, làm bài thi, phải cảm thông cho người ta đang bị những ngọn lửa thiêu đốt, mình tác ý như vậy rồi mình thương luôn người đó, tội nghiệp họ, đó là phép lạ, là thần thông. Mình phải thiện xảo trong sự tác ý của mình, trong những chiều hướng tư duy của mình, mình khéo léo như người tài xế chạy con đường có ổ gà thì tránh, chỗ nào nguy hiểm thì né, chỗ nào mình thấy có khả năng xảy ra tai nạn thì chạy chậm lại, đừng phóng nhanh vì ở phía trước có thể là vực sâu. Mình niệm cái pháp này sẽ giúp tẩy những cái dơ trong tâm, cái dơ là giận khi bị mất đồ, cái dơ là sân lên khi bị người ta chỉ trích, mấy cái đó là dơ sẽ được nước pháp rửa sạch, tâm mình bị tối nhưng có pháp vô sẽ soi sáng làm tâm trong sáng ra.
Khi Thánh pháp của Đức Phật tuyên dương đã làm rung chuyển hết những tâm vô minh, tâm hôn ám, tâm tham, sân, si, bản ngã của chúng sanh. Pháp của Phật giống như sấm sét làm mình giật mình tỉnh ngộ, đó gọi là pháp lôi, sấm sét chánh pháp. Mình phải thường nổi trống pháp lên trong tâm mình để mình xông trận, tiến lên, còn giờ cứ ù lỳ thì không thể tiến bộ, người ta đi gần tới rồi, người ta hướng Dự Lưu, Nhập Lưu không thì nhị quả, tam quả còn mình cứ ở đây mãi, cứ sầu, bi, ưu, não "tôi khổ quá", "tôi buồn quá, không ai nhìn tới tôi", "tôi giận quá, không ai thương tôi hết", suốt ngày cứ vậy thì có tội nghiệp không? Suốt ngày cứ tôi, tôi, tôi rồi tù, tội, tình, tiền… toàn là T mà không có tuệ. Khi khởi lên là mình có được tâm cung kính, có được lòng tin với bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng ngay, không nghi ngờ, không ngờ vực gì cả. Mình làm cho tâm mình được sạch, sáng nhờ niệm Tăng.
VI. Giữ giới
Chúng ta cố gắng gìn giữ giới vì nó được tất cả các bậc hiền Thánh ái kính, các bậc Thánh yêu mến và tôn kính giới, không có bể vụn, không bị sứt mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát cho chúng sanh. Tất cả những người hiền trí đều tán thán, giới sẽ làm cho chúng ta yên và vui, mình giữ được giới thì tâm sẽ yên, còn phạm giới thì tâm bất an, nói đơn giản là ngoại tình thì tâm có yên được không? Ngồi lại sẽ lo lắng, sợ hãi, bất an, cho nên Thánh giới sẽ bảo vệ chúng ta, làm cho mình an lạc, an vui.
Mình ăn trộm món đồ của người khác thì khi ngồi lại tâm có yên không? "Không biết có bị phát hiện không", cứ lo lắng, sợ hãi, đó là sự trạo hối, bị dao động, bị hối hận, bị ray rứt. Đi ăn trộm rồi làm sao vô ngồi thiền cho yên được? Ở ngoài thấy ngồi im re nhưng bên trong tâm là sự ray rứt, sợ sệt vì vậy giới của bậc Thánh làm cho an lạc, làm cho mình yên và vui. Mình nói dối gạt người ta thì ngồi vào tu tâm có an tịnh, lắng dịu được không?
Cứ lo người ta có phát hiện ra chưa, người ta có nghe người này người kia nói không, lâu lâu hỏi thăm mấy người kia có nói gì không. Giới này hướng đến thiền định, làm cho tâm mình đi đến chỗ yên lặng tịch tịnh thiền định, khi giữ giới tốt thì ngồi ở đây là yên ổn ở đó, thân tâm yên tịnh, nhìn vào không thấy ray rứt.
Sự ray rứt đó có hai phương diện, một là tích cực hai là tiêu cực. Nếu mình cứ ray rứt, hối hận rồi không chịu tu sửa, cứ trầm mình trong cảm giác tiêu cực, tự ti, mặc cảm thì đó là bất thiện pháp, sai và xấu, không thể được mà đi xuống luôn. Còn mình hối hận, xấu hổ "ta phải tiến lên, ta phải tăng thượng, phải sửa cái này, ta phải làm tốt", mình cứ tiến lên để từ bỏ những cái xấu dở thì tàm quý đó là cái xấu hổ của bậc Thánh, là thiện pháp, là Thánh pháp.
"Này Sàriputta, người gia chủ mặc áo trắng nào mà Thầy biết sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú; nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác'". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Một người thành tựu được năm giới, thành tựu được bốn lòng tin bất động, bốn tăng thượng tâm thì người đó có chánh kiến về Thánh trí ngũ uẩn, người đó là bậc Dự Lưu có thể tuyên bố "tôi đã chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chánh thức tham dự vào dòng trí huệ của Đức Phật", chừng nào mình tuyên bố được câu này, thật sự đạt đến đó thì chánh pháp này sẽ được lưu truyền tiếp tục, còn không ai tu đến đây thì chánh pháp này sẽ chấm dứt, sẽ đi đến mạt pháp.
"Thấy sợ hãi địa ngục,
Hãy tránh xa điều ác,
Khéo chấp nhận Chánh pháp,
Bậc Hiền trí tránh xa,
Không hại các chúng sanh,
Những vật có nỗ lực,
Biết không có nói láo,
Không lấy của không cho,
Tự bằng lòng vợ mình,
Tránh xa vợ người khác,
Người biết không uống rượu,
Khiến tâm trí mê loạn,
Hãy tùy niệm đến Phật,
Hãy tùy niệm đến Pháp,
Hãy tu tâm không sân,
Hãy tu tâm nhiêu ích,
Ðể xứng đáng được sanh,
Cảnh giới các chư Thiên,
Cầu công đức lợi ích,
Hãy cung cấp vật thí,
Trước thí bậc Chí thiện,
Mới mong có quả lớn,
Này Sàriputta,
Ta sẽ nói cho Thầy,
Các bậc Chí thiện ấy,
Thầy hãy lắng nghe Ta,
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ,
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu,
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài Người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn,
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy,
Ai điều phục, thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức,
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn,
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp trước tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu,
Quả lớn đáng cúng dường.
Những kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bậc Hiền,
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ,
Sanh Thiên hay ở đây,
Ðược sanh gia đình tốt,
Bậc trí tuần tự tiến,
Chứng được cảnh Niết-bàn"
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Nắm Bắt Cơ Hội Hy Hữu
Thế Nào Là Bậc Dự Lưu
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trân trọng Thánh Pháp PAGEREF _Toc151630628 \h 1
II. Khó thay được làm người PAGEREF _Toc151630629 \h 6
III. Bốn dự lưu phần PAGEREF _Toc151630630 \h 7
IV. Lòng tin vững chắc PAGEREF _Toc151630631 \h 12
V. Tu tập thiện pháp PAGEREF _Toc151630632 \h 15
VI. Giữ giới PAGEREF _Toc151630633 \h 17
I. Trân trọng Thánh Pháp
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn và kính thưa chư hiền, chiều nay chúng ta tiếp tục trình pháp chia sẻ những khó khăn hoặc là những tâm đắc trong tu học. Buổi sáng con thấy có một số vị còn muốn chia sẻ những hết giờ nên chiều nay chúng ta tiếp tục. Sự trình pháp của chúng ta rất quan trọng, rất nhiều người được lợi ích trong sự trình pháp của đạo tràng chúng ta, vì khi giảng kinh rất quý nhưng lại thâm sâu khó hiểu còn trình pháp là chuyện đời thường, thực tại, thực tế cho nên những vị nào ở trong trường hợp đó sẽ có bài học để tu cho nên sự trình pháp của mình còn tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha.
Khi mình trình pháp là mình vượt qua được bản ngã rất nhiều vì đứng lên nói thường sợ nói sai, nói trật, nói không hay, nói sám hối thấy mình dở… Tất cả những cái này phải vượt qua thì mới trình pháp một cách chân thành, chân thật cho nên trong cái trình pháp của chúng ta có rất nhiều pháp học và pháp hành, có rất nhiều lợi ích trong sự trình pháp.
Có một số vị nói rằng "thầy kêu trình pháp nên người ta trốn không dám đi nữa" thì con nói rằng con đâu có bắt ép, con mời ai muốn thì trình pháp vì mình trình là mình được lợi ích. Đạo tràng chúng ta tu học rất phong phú vì có nhiều thể loại tu học, rất đa dạng các pháp hành trì làm mình không chán, tuy rằng mình tu nhận diện ngũ uẩn, thấy được vô thường, khổ, vô ngã, nhiếp phục được tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái, cội gốc chỉ bao nhiêu đó nhưng chúng ta có rất nhiều phương tiện, phương pháp, cách thức, những thể loại để chúng ta tu nên chúng ta sẽ thấy mới mẻ, có sự sinh động trong sự tu học.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch thầy, kính bạch chư Tăng cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây, đệ tử con pháp danh Huệ Thành với lòng thành kính của con đầu tiên con xin sám hối với thầy. Kính bạch thầy những ngày tháng sau khi con lên Linh Quy Pháp Ấn được thọ trì cái pháp thầy dẫn dắt chúng con, những ngày tháng con trở về thì con không tu tập được nhiều vì hoàn cảnh gia đình có nhiều chuyện làm tâm con không chánh định được, dù con cũng có nghe pháp của thầy nhưng lúc có lúc không, cuộc sống làm con không được an. Con thấy rất hổ thẹn, mỗi khi nghe pháp thầy giảng trên Youtube thì con thấy rất buồn vì con nghe mà không hành theo pháp học và pháp hành mà thầy đã truyền trao cho con, con thấy rất hổ thẹn và sám hối với thầy, sám hối trên tam bảo.
Con cũng xin đảnh lễ và tri ân thầy đã bỏ rất nhiều công sức cũng như tâm trí để dẫn dắt con và các vị hiền trí nơi đây cũng như tất cả các Phật tử muốn tu học theo dòng pháp Nikāya, con rất kính trọng và cũng rất hoan hỉ vì học theo dòng pháp này. Cũng từ lâu rồi con tu tập nhưng không nhận ra được ngũ uẩn trong thân tâm con, con cảm thấy xấu hổ vì con còn chấp vào thân mạng này vì thân con đau yếu rất nhiều, có những lúc như sáng giờ thân con rất đau nhức, không thể yên được, con đi khám bệnh thì có rất nhiều thứ bệnh vì con biết đó là nghiệp quả của con. Con hiểu được nên sau khi con nhận được dòng pháp này thì con đã bỏ đi rất nhiều cái giận hờn, cái sân si của con, cái chấp ngã của con rất nhiều đối với gia đình cũng như bạn bè. Con cảm thấy xấu hổ rất nhiều và con thành tâm đảnh lễ sư phụ.
Sư Phụ: Cô lạy sám hối và hứa phát nguyện "từ nay con sẽ tinh tấn lên, con may mắn gặp được chánh pháp nhưng con lại giãi đãi, con thấy xấu hổ, con xin đại chúng chứng minh cho con, từ nay con phải nỗ lực lên. Con xin diệt bản ngã này, nguyện cho con dự vào dòng pháp tối thượng thù thắng này".
Khi chúng ta bước ra quỳ để phơi bày lỗi lầm của mình có phải là sự chiến thắng không? Có phải là sự nhiếp phục không? Mỗi lầm chúng ta sám hối hạ mình xuống là mỗi lần sanh ra công đức, tại sao như vậy? Không phải chúng ta chỉ tu trên hình thức mà chúng ta nói bằng tấm lòng, rồi mình lạy, mình tác ý nhắc nhở để mình nhớ, "bữa nay mình xấu hổ quá, mình học được cái pháp cao quý, cao thượng, Thánh thiện, vi diệu như vậy mà về mình không thực hành, mình bỏ qua". Ngoài Thánh pháp này ra còn cái gì quan trọng hơn?
Cái chết cũng không quan trọng bằng pháp vì mình đã sống chết vô lượng vô biên kiếp rồi mà cũng có gặp được Thánh pháp đâu, có biết ngũ uẩn là gì đâu, không thấy được tham, sân, si của mình, cho tới giờ này mình được mà mình không biết nắm bắt cơ hội không phải ngàn năm một thuở nữa mà là vô lượng vô số vô biên kiếp mới gặp được có một lần thôi, chưa chắc gì đời sau chúng ta sanh ra gặp được pháp này nữa, có thể lúc đó chúng ta đang ở dưới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hoặc sanh ra làm người nhưng ở vùng biên địa, hoặc vào nơi giàu có hưởng thụ rồi quên mất không tu được.
Không phải chỉ có một mình bản thân mình bệnh, từ trưa giờ con phải tác ý rất nhiều trong phòng thì chiều này con mới xuống ngồi nổi vì đầu con ê nhức, công việc thì cứ liên tục, hằng ngày hằng phút mình phải chiến đấu với thân tâm mình chứ không phải chỉ có mình là bệnh nhiều, là bệnh nặng, là nhiều bệnh khổ còn mấy người kia không có bệnh, ngược lại đều giống nhau hết. Con không nói ra thì đại chúng đâu có biết, từ trưa giờ đầu con nặng, trì xuống và nhức đầu, phải tắm nước nóng, phải xoa đầu và phải tác ý cho thân mạnh lên để xuống đây chia sẻ, sau đó phải ngồi xe 5 tiếng để về núi là 9-10 giờ đêm.
Chúng ta ở nhà lại đây nửa tiếng hoặc xa lắm là một tiếng, con đi 5 tiếng thành ra mình không biết thương mình thì không ai thương mình cả, chính mình đã nhận diện ngũ uẩn, chính mình đã nhìn thấy tham, sân, si của mình, chính mình đã thấy được bản ngã của mình mà còn không chịu nỗ lực thì đừng trách ai cả, mai này rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rơi vào ác thú, đọa xứ thì không trách ai được, chỉ có trách mình gặp được chánh pháp mà xem thường, mình tu học qua loa, không tôn kính pháp, không thấy hiểm họa của luân hồi, không thấy tai nạn của thân hình này, không thấy được sự bất an của đời sống này.
Con không muốn nói lời nặng nhưng nếu con nói lời vui, nhẹ nhàng cho quý vị cười thì quý vị không thức tỉnh được. Phải dùng những câu nặng, thấm thía, làm cho vỡ ra, vậy mà còn như thế thì sau này con vào rừng ở, lâu lắm mới về một lần, nếu trong đó không có internet thì cũng không giảng được, phải có internet mới giảng được, không phải lúc nào con cũng ở đây, không phải lúc nào chúng ta cũng được ngồi ở đây tu học.
Ly nước mình mới rót đầu hôm mà giữa đêm nó đã đổi khác, có hai sinh mạng nằm trong đó, có nhiều người ngay cả huynh trưởng, trưởng nhóm của đạo tràng mà phát biểu "tu cái này mệt quá, căng thẳng quá nên con tu là thở cho nhẹ nhàng vậy thôi", con rất xót xa và thương cho họ vì mình tu với cái ái của mình, với sự an nhàn của mình, chiều theo những cái dễ chịu, êm ái thì mình thích, trong khi tu cái này là để phá vỡ những cái thâm căn cố đế, vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, làm sao mình ngồi mát lại đòi hưởng bát vàng.
Những cái trình pháp như vậy con nghe rất xót xa, là trưởng nhóm mà như vậy, rơi rớt hết cho nên tại sao chúng ta phải trình pháp, con nhắc nhở đạo tràng mình vì bây giờ chỉ còn lại mấy người, không nhiệt tâm tu hành. Mình mất cơ hội cuối cùng này là vĩnh viễn và mãi mãi vô lượng vô biên kiếp cũng không gặp được Thánh pháp này lần thứ hai, bậc đạo sư bây giờ không biết sống chết ngày nào, con thì lục phủ ngũ tạng cũng suy hết rồi, đời sống bây giờ hết sức mong manh vô thường, sáng còn tối mất, ai bảo đảm được.
Chỉ cần ngài đi, con xong là dòng pháp này chấm dứt, lóe lên một chút như đom đóm rồi tắt vĩnh viễn và mãi mãi cho đến khi trái đất này hoại thành tàn nhang. Chúng ta phải tác ý trân quý, trân trọng, trân kính, cũng như các Phật tử trình pháp nhận diện ngũ uẩn được nhưng cái tế không nhận ra được vì không phải dễ, cho tới bây giờ trong sự nhận diện ngũ uẩn của bản thân con vẫn còn thất thoát rất nhiều chứ không phải đơn giản, nếu nhận diện ngũ uẩn trọn vẹn là mình đã đi tới những tầng Thánh quả cao rồi cho nên học là học như vậy, còn thực hành lại không được mấy người. Bây giờ thực hành không được bao nhiêu mà pháp học cũng không chịu nỗ lực thì pháp này chấm dứt hoàn toàn.
Nếu mỗi ngày chúng ta không giảng, mỗi nửa tháng không có khóa tu thì bây giờ mình cũng trở về sống với vô văn phàm phu, sống với bản ngã, tham, sân, si, sống với dục ái, bản ngã, mình không nhiếp phục được nó, ai nhắc cho mình nhớ những điều này. Dù được nhắc nhiều lần nhưng khi đụng chuyện mình nhớ được bao nhiêu phần? Con phải suy nghĩ nhiều cách thức để chúng ta tu học, nếu con cứ lên ngồi giảng rồi về thì quý vị sẽ không chia sẻ được những tâm tư, những khó khăn, những nguyện vọng, những sự buồn đau, bất an trong lòng cho nên con phải nghĩ ra cách trình pháp, nghĩ ra cách để lạy sám hối, từ sự truyền thừa của bậc thầy rồi con phải suy nghĩ, phải sắp xếp để chúng ta không chán mà cảm thấy vui thích trong sự tu học.
Thật sự có rất nhiều tâm tư trong đó chứ không phải đơn giản, quý vị xách giỏ lại tu thôi nhưng quý thầy, quý cô phải suy xét, sắp đặt bằng cách nào hiệu quả nhất để quý vị đạt được lợi ích. Con không nói ra thì quý vị không biết, chỉ thấy tới giờ thì thầy giảng mà không biết tất cả đều là sự chiến đấu, sự chế ngự, sự nỗ lực.
Không có một thành công nào được trải thảm đỏ từ đầu đến chân mà phải trải qua chông gai, gian khổ, đây là thành công bình thường của thế gian chứ đừng nói ra thành tựu Thánh trí tuệ, Thánh đạo, Thánh quả. Với một cái tu lơ là, tu qua loa, tu cho có thì mình được cái gì? Đó là đề mục chúng ta thiền quán chiều nay, tất cả chúng ta chứ không riêng một ai, mình phải tu cho đến khi nào mình tuyên bố mình không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa, mình Dự Lưu, chánh thức tham dự vào dòng trí huệ của Đức Phật, tối thiểu phải tới đó dù là cư sĩ. Mình ở ngoài đời đều giỏi giang, không ai ở đây mà dở, mình làm ăn được, mình lấy chồng sinh con được, mình nuôi con được, mình lập sự nghiệp được, mình lo cho gia đình được, mình không phải người dở thì tại sao trong pháp lại nghĩ mình tu không được?
Cái tác ý đó là phi như lý tác ý, tác ý đó là ác độc, giết người, tác ý đó không cho mình tu, không cho mình tiến. Bậc đạo sư là một cư sĩ có thể thành tựu Thánh quả thứ ba, một vị cư sĩ tự mình mò mẫm, không có thầy dạy mà có thể tìm ra được Thánh đạo 2600 năm và thực hành thành công. Nếu suy nghĩ như mình thì làm gì có giáo pháp này được tiếp truyền, được khơi lại? Nếu ai cũng suy nghĩ như mình thì chánh pháp sẽ diệt vong, Thánh đệ tử, tứ chúng không còn nữa. Mình phải tu cho đến lúc nào mình tuyên bố, mình xác quyết mình không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
II. Khó thay được làm người
Mình nghĩ rất ngây thơ, rất trẻ con, rất vô minh, mình nghĩ mình chết rồi đời sau mình cũng làm người y như vậy, cái nghĩ đó là vô minh. Nếu muốn được làm người hoặc sanh lên cõi trời chắc chắn 100% phải là bậc Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, đây là cả một vấn đề. Đức Phật đã nói biết bao nhiêu lần, ngài lấy cọng cỏ chấm vào nước biển rồi sau đó còn rơi lại vài giọt trên cọng cỏ đó, ngài nói con người chết mà đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như nước ở đại dương, được làm người làm trời ít như nước ở đầu ngọn cỏ.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
-- Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), VI. Phẩm Chứng Ðạt, II. Ao Hồ)
Chúng ta nghĩ ngây thơ rằng sau khi chết đi chúng ta sẽ lại được làm người, 10 người là hết 8-9 người nghĩ như vậy nếu không biết tu, Đức Phật nói rằng cái khổ của bậc Dự Lưu ít như những hạt đậu nếu so với núi Tu-di to lớn.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: 'Ðây là Khổ'... đã rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, IX. Núi Sineru (1) (Tu Di))
III. Bốn dự lưu phần
Nếu đi sâu vào pháp thì chúng ta sẽ rất sợ, thật sự rất lo sợ, một người thấy pháp rồi sẽ rất lo sợ. Chúng ta thấy hằng ngày trên tin tức chết vì tai nạn giao thông, chết vì tự tử nhảy lầu, nhảy cầu, chết trong oán hận tức hờn, chết trong cướp bóc, giựt giành, giựt túi xách bị đập đầu xuống đường chết trên đường đến bệnh viện. Trong những cái chết như vậy nếu không đầy đủ thiện nghiệp thì đi đâu? Cho nên chúng ta phải biết lo sợ. Ai là người có thể tuyên bố tôi là người chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không bao giờ còn rơi vào ba đường ác đó?
"Gia chủ Anàthapindika với khoảng 500 nam cư sĩ đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, Thầy có biết người gia chủ mặc áo trắng nào mà sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú, nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: 'Ta sẽ đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác'? Sở hành được bảo vệ trong năm học giới nào?
Ở đây, này Sàriputta, Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Sở hành được bảo vệ trong năm học giới này" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Bài kinh này nói cho ông Cấp-cô-độc, tên là Gia chủ, chúng ta sẽ thấy được những người cư sĩ thời Đức Phật chứng đắc rất nhiều. Ông Cấp-cô-độc dẫn 500 nam cư sĩ đến gặp Thế Tôn thì Thế Tôn hỏi ngài Xá-lợi-phất "Thầy có biết người gia chủ mặc áo trắng nào mà sở hành được bảo vệ trong năm học giới không", tức là người đó giữ được năm giới, hay còn gọi là sở hành được bảo vệ trong năm học giới. Sở hành là những hành vi, hành động của mình, được bảo vệ nghĩa là được năm giới bảo vệ.
Mình không có tâm tăng thượng giới học, mình bằng lòng, mình chấp nhận với hiện tại, chỉ được một chút thiện pháp mà mình đã cho là tốt rồi, ngược lại phải có tâm mong muốn, ước muốn bước lên cao hơn, phát triển hơn về giới, phải nuôi dưỡng cái tâm này hằng ngày hằng giờ chứ không phải tu đơn giản ngày lên tụng hai thời là xong. Đức Phật không dạy như vậy, trong lòng mình lúc nào cũng khao khát, mong muốn tăng thượng, bước lên, thêm lên về giới hạnh, giới đức của một người tu, người cư sĩ là năm giới, thọ bát quan trai là tám giới, những vị Sa-di là mười giới, các vị Tỳ-kheo còn nhiều hơn nữa.
Một vị cư sĩ sở hành được bảo vệ trong năm học giới tức là giữ được năm giới, để biết được mình có vào được Dự Lưu hay chưa thì một là giữ được năm giới, chưa ăn được chay trường thì phải tập, ăn ít thì tập ăn chay nhiều hơn, phải xem lại những hành vi của mình có lấy đồ mà người ta chưa cho không, kiểm tra lại sự chung thủy trong gia đình, xem lại lời nói của mình có nói dối nhiều không, nếu có thì phải ghi ra để sám hối, vào những ngày đạo tràng sinh hoạt thì ra sám hối "quý thầy, đại chúng chứng minh để con giảm bớt cái nghiệp này, để con nhiếp phục cái nghiệp này để con từ bỏ nói dối, nói lời hung ác". Lấy quyển vở gạch đầu dòng những lỗi lầm của mình, những cái dở của mình, tu thiết tha là phải như vậy.
Con nói viết nhật kí tu học mà chẳng được bao nhiêu người, viết cho quý vị tu chứ không phải cho con, nếu không viết ra là mình không có thấy lỗi, mình quên lỗi, không nhớ lỗi thì không điều chỉnh được lỗi, không hoàn thiện được bản thân. Cho nên người nào muốn thành tựu Dự Lưu thì đầu tiên là giới, cửa đầu tiên này mình đã qua được chưa? Làm sao mình chắc mình không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?
Chỉ bấy nhiêu đây đã rất đáng lo rồi, không ai nói cho mình những điều này cả mà toàn là tâng bốc, cúng được một chút là vênh mặt lên, có ai tận tâm tận lực phân tách rạch ròi từng ly từng chút bằng Đức Thế Tôn? Mình tu đa số đều đi theo cái dục, cái tham, đi đến chỗ nào vừa lòng thích ý, hợp gu với mình là mình đi nữa, còn đi đến chỗ nào đánh trúng điểm huyệt là không lại nữa, tu khó quá nên đi tìm cái dễ tu cho sướng, họ không biết "thuốc đắng giã tật" mới hết được bệnh, lời thật thì mích lòng nhưng nó sẽ giúp mình tốt đẹp, điều chỉnh lại bản thân cho nên người thành công là người thường thấy cái dở của mình, thấy sự thất bại của mình, chỉnh cho hết thất bại thì mình thành công, đó chính là tinh thần của Nikāya.
Mình cứ nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, vô minh của mình liên tục để lau chùi, tẩy rửa cho sạch là đạt Thánh quả, cứ lau chùi cái dơ bẩn, cấu uế của mình chứ đừng nhìn ngó người ta. Nhìn để quay lại bản thân để sửa chỉnh chứ không phải nhìn để đúng sai, hay dở với người ta, đó là bí kip nhưng mình lại thường nhìn người ta, có khi lên quỳ lạy sám hối xin lỗi rồi lúc sau là khai xấu luôn người mình sám hối vậy mà mình lại không hề hay biết, do vô minh với bản ngã che mờ hết, lên quỳ sám hối người ta nhưng toàn nói cái xấu của người ta, không biết là đang sám hối hay đang chỉ lỗi người ta, nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, vi tế là không biết được điều này cho nên điều đầu tiên để vào được dòng pháp này chính là giữ được giới.
"Vị ấy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú nào?
Ở đây, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được kẻ trí tự mình giác hiểu'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ hai đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu giới được bậc Thánh ái kính, không có bể vụn, không bị sứt mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, làm cho an lạc, hướng đến Thiền định. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.
Bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú này được chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Bốn tăng thượng tâm ở đây chính là bốn Dự Lưu phần, đó là bốn cái tâm muốn thêm lên, chính là lòng tin đối với Phật – pháp – Tăng và Thánh giới, đó là bốn tăng thượng tâm, đặc biệt là giới, kế đó là tín. Mình tu không tinh tấn vì mức độ tin của mình đối với pháp chưa có đủ, ví dụ có người nói rằng ba mình khi còn sống có chôn hũ vàng ngay tại chỗ đó, nếu mình tin thì đi đào liền, còn không tin thì bác bỏ ngay, cũng vậy, sở dĩ mình chưa hết lòng vì pháp vì độ tin với pháp chưa đủ, tin pháp chưa đủ thì tin Phật chưa đủ vì pháp là của Phật nói, tin pháp với Phật chưa đủ thì làm sao tin Tăng, nếu tin Tăng không đủ thì làm sao giới thành tựu được. Đây là bốn tăng thượng tâm, là bốn cái tâm mà người tu cần phải thêm lên, tăng lên, lớn mạnh lên, cao rộng lên, phát triển lên, bốn phần này đưa mình vào Dự Lưu, tham dự vào dòng trí tuệ chân chánh của Đức Phật và các bậc hiền Thánh.
Giới và tín là hai điều Đức Phật thường nói cho các vị cư sĩ, thường nói cho ông Cấp-cô-độc nghe. Ngày xưa tu thấy mê, đi đến Thế Tôn một lần 500 vị nam cư sĩ, bây giờ ở đây còn 2 người nam cư sĩ, cộng luôn các thầy vô mới được 1% so với thời Đức Phật, thiện pháp ngày càng bị tổn giảm. Bốn cái tâm mình tu thành tựu không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức, tức là người này có lòng tin rất thuần thục, rất dễ dàng, không còn ngờ vực, không còn phân vân, lưỡng lự "không biết ngũ uẩn này phải của Phật nói không? Mình tu mà mình đoạn tham, sân, si thì có đúng không?", nếu còn những suy nghĩ như vậy là chưa thành tựu, tu là phải tăng thượng lòng tin lên bằng cách hiểu và tin, mình càng tin thì càng hiểu, nghĩa là phải thực hành, nếu không thực hành thì nghe rồi gật gù sau đó trả lại thầy.
IV. Lòng tin vững chắc
Mình phải thực hành, mình phải nhận diện, mình phải nhìn ra tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái của mình thì mình sẽ tịnh tín bất động, lòng tin của mình sẽ vững mạnh, kiên trú, vững chắc. Đức Phật ví dụ hình ảnh bông gòn đem thả ra ngoài ngã 7, gió bốn phương tám hướng thổi bay tứ tung, hình ảnh thứ hai là trụ bằng đá được chôn sâu vào đất, gió thổi cũng không lay chuyển.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo'. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Đức Phật ví dụ người chưa thành tựu lòng tin giống như bông gòn bị gió thổi ngã 7, vài bữa lại chạy đi tìm thầy này, vài hôm lại chạy đi kiếm cô nọ, vì chưa thành tựu được tịnh tín đối với pháp nên mới đi tìm sách của người này người kia đọc nhưng có khi những sách đó lại ở ngoài lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chỗ này là chỗ hết sức sâu sắc.
Con xin thưa với các bậc hiền trí, bây giờ con chỉ có bốn bộ kinh Nikāya cho tới ngày chết, nếu còn dư tàn ở lại mấy đời nữa thì cũng ôm mấy bộ đó cho đến ngày lậu tận chứ không học ai nữa cả, phải lấy cái đó làm chuẩn tắc và bậc đạo sự, không đọc bất cứ bộ sách nào nữa cho nên khỏe vô cùng. Ngày xưa phải đi ra nhà sách tìm hết cuốn này đến cuốn kia, tìm hết ông tác giả này đến ông tác giả nọ, bây giờ chỉ còn một cuốn Nikāya này thôi nên khỏe cho nên điều kiện thứ hai để vào Dự Lưu là bốn tăng thượng tâm, tức là lòng tin vào Phật – pháp – Tăng và thành tựu giới.
Vị Thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc tôn kính nhất trên đời, ngài là bậc chấm dứt các lậu hoặc, ngài là bậc thấy biết thấu triệt tận cùng các pháp, bậc đầy đủ trí tuệ thấy biết, bậc vượt qua bốn dòng thác lũ và là bậc thông giải tất cả pháp thế gian, là bậc điều ngự được những người ương ngạnh, cứng cỏi trên cuộc đời này, ngài là bậc thầy của trời và người, ngài là bậc giác ngộ.
Một người niệm Phật như vậy, nhớ những công đức, công hạnh của Phật, mình tụng mười danh hiệu trong trí đức Như Lai thì mình vui trong đó, mình thích trong đó thì gọi là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất. Chỉ cần nhớ về Đức Phật là mình thấy vui thích, mình thấy hoan hỉ, cung kính, thậm chí nước mắt tuôn trào, mình thấy hạnh phúc thì gọi là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất.
Nếu tâm chưa trong sạch thì nhờ niệm Phật sẽ làm cho tâm trong sạch, khi ngồi nhớ lại đức hạnh của Phật thì gọi là niệm Phật chứ không phải niệm Phật chỉ là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thôi đâu, cái này chỉ là cái mới ban đầu giúp cho người mới tu có cơ sở để người ta nương tựa. Người mới vào tu mà nói niệm Phật thì làm sao họ biết gì mà niệm, cho nên ban đầu sẽ là nhắc cái tên, sau đó nâng lên là nhớ lại đức hạnh, trí huệ của ngài. Mình nhớ lại như vậy rất dễ dàng, không có khó khăn, không thấy mệt nhọc, vừa nhớ là có cảm xúc liền, có lòng biết ơn trào dâng lên.
Khi mình nhớ Phật mà cảm xúc, cảm động như vậy thì những gì dơ bẩn trong tâm mình sẽ được rửa cho sạch, những chỗ nào còn tối sẽ được ánh sáng soi chiếu vào đó là tâm mình sáng lên, làm cho tâm sạch ra, sáng và sạch khi mình nhớ ân đức của Phật. Đó là phương pháp niệm Phật thời Đức Thế Tôn còn tại thế, có một cô Phật tử lên thăm Minh Thành nhìn thấy tượng Phật lộ xương sườn ra thì cô hỏi đây là Phật nào, Minh Thành nói đây là Đức Thế Tôn tu 6 năm khổ hạnh, nhiều khi mình đi chùa 30-40 năm mà mình không biết, nếu mình biết hết những điều này thì mình niệm Phật mới nhớ được, còn không biết thì làm sao niệm, làm sao nghĩ.
Mình ngồi nhớ lại 6 năm Đức Phật tu khổ hạnh nơi rừng già và mình có cảm xúc thì đó là tăng thượng tâm, cái tâm mình khi đó lên một đẳng cấp cao hơn, còn mình ngồi mà buồn ai, giận ai thì làm sao bằng mình nhớ Phật. Phật từ bi không giận ai, mình nói mình là đệ tử Phật thì tại sao mình lại giận? Nhớ như vậy thì tham, sân, si sẽ tan biến, đó là cách niệm Phật để diệt tham, sân, si, đó là một cách tu.
Thế Tôn hết sức khéo léo thuyết pháp, thiết thực, hiện tại, không trải qua thời gian 3 năm, 5 năm mà ngay tại chỗ này mình thấy được tham, sân, si, thấy được bản ngã, thấy được tâm ngọt ngào, dễ chịu, hoan hỉ. Đó là sự thiết thực, hiện tại, tâm có giận thì biết tâm đang có giận, tâm đang có tình thương thì biết đang có tâm từ, tâm đang có sự thúc giục thì biết tâm đang thúc giục, tâm đang có sự an tịnh, lắng dịu thì biết tâm đang an tịnh, lắng dịu. Thấy biết mọi thứ vậy mà cũng chưa tin Phật, thật là khổ mà!
Thấy được ngũ uẩn, thấy dục ái, vô minh vậy mà còn chưa chịu tu quyết liệt, chưa tin được, mình bị những cái khả lạc, khả hỷ, khả ái lôi kéo, ngồi tu nhưng tính toán hôm nay lời lỗ thế nào, "đi tu hôm nay lỗ mất 2 triệu nên thôi ở nhà", mai này nằm chờ chết rồi đống tiền để lại hết, đống giấy xanh đỏ để lại, đem cái nghiệp đi theo.
V. Tu tập thiện pháp
Đức Phật nói người trí khi thấy nhà cháy phải lấy đồ quan trọng đi ra, tức là ngài dạy pháp bố thí, cúng dường. Nếu mình niệm pháp mà thấy vui, an tịnh, lắng dịu, hiện tại lạc trú, mình vui với cái pháp mình đang tu "sao giờ cái tâm mình bao dung, độ lượng hơn trước. Ngày trước một chút như vậy là có chuyện với mình vậy mà bây giờ mình nhẹ nhàng", tâm từ mình rộng mở ra, thương mọi người.
Sao khi mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, mình tẩy sạch được những cái ác bất thiện pháp thì mình vui lên, tác ý tâm hỷ sung mãn lên. Sáng vô tu thấy mặt buồn, chiều tu cũng thấy buồn, chỉ có lúc ra về là vui lên, chúng ta tu phải tùy lúc, không phải lúc nào cũng buông lung, thả lỏng các căn nhưng có lúc mình mở tâm ra, vui sướng, hạnh phúc, hân hoan, đó chính là thuốc bổ tâm linh, là pháp nhủ, dùng để nuôi tâm tu học siêng năng tinh tấn, còn ở nhà sẽ bị suy dinh dưỡng tâm linh, không được uống sữa pháp, không uống Thánh nhũ, không được uống thuốc bổ tâm linh nên nhìn tiều tụy, suy nhược, ở ngoài gọi là suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, còn trong đạo gọi là suy nhược trí huệ, suy nhược từ bi, suy nhược chánh niệm.
Khi mình tác ý lên là mình hân hoan, mình hoan hỉ, thích thú, giống như trời mưa là mình thấm đẫm từ đỉnh đầu đến gót chân một sự hỷ lạc của pháp. Mình phải có tầm có tứ, mình tác ý lên, dẫn tâm mình cho vui, mình tha thứ được cho ai là vui lên, mình nhiếp phục được cơn giận là mình hạnh phúc, mình hạ gục được bản ngã là mình vui, đó chính là tâm hỷ.
Khi cái bệnh đến thì mình phải chịu thôi chứ giờ nhăn nhó, bực bội ai? Thậm chí không những bệnh thân mà còn bệnh tâm nữa, bây giờ sanh, lão, bệnh, tử là phải có nên chấp nhận để tu, cái vui là mình biết cái bệnh này khổ, cái vui là mình thấy sự nguy hiểm trong cái thân này, cái vui là mình biết nhiếp phục tham, sân, si trong cái bệnh nên không giận ai, nếu không là mình trách con giận cháu, "không ai đến thăm tôi hết vậy?", "không ai mua đồ cho tôi ăn vậy?".
Ngay trong cái bệnh mình vẫn an lạc được, đó là do mình biết được pháp rồi vận dụng được nó cho nên mọi thứ đều là như lý tác ý, sự chánh niệm tỉnh giác để mình biết được việc nào là thích ứng trong hoàn cảnh đó để mình tác ý. Mình sẵn sàng cho bạc triệu để làm từ thiện, mình vui vẻ, hoan hỉ nhưng lỡ món đồ gì của mình bị mất là mình bực bội, khó chịu. Những lúc như vậy tâm xả nằm ở đâu, tâm bố thí nằm ở đâu? Cảm thọ an tịnh, lắng dịu nằm ở đâu? Cái vô thường, vô ngã nằm ở đâu? Cái tâm từ ở đâu? "Khổ quá trời mới đi ăn cắp mắt kính, thôi cho về đeo".
Mấy cái thư viện để bao nhiêu kinh sách không khóa cửa, lúc nào các thầy đến cũng bảo phải khóa cửa lại, sách này quý lắm thì con cũng dạ nhưng trong bụng lại nghĩ khác "ai cầm về đọc được thì mình có phước chứ để đó làm gì, đó là cơ hội bố thí, cúng dường pháp", suy nghĩ của mình ngược ngạo khó ai chấp nhận nhưng như vậy mới thuận với pháp. Mình có thể cầm chục triệu, hai chục triệu để cúng nhưng mất món đồ có khi chỉ 20 ngàn mà sân si lên, khó chịu lên, mình hành hạ mình trong những cảm giác đó rồi mình hành hạ những người ở chung "có lấy đồ tôi không vậy?", hết nhìn người này đến nhìn người kia, mình làm cho mình khổ và làm khổ luôn người ta.
Vì vậy khi có thiện pháp trong người thì mình thành tỉ phú của Phật giáo, chúng ta phải là người giàu có trong chánh pháp, có đầy đủ tất cả thiện pháp để sử dụng, nhiều khi học như vậy nhưng đụng chuyện là quên hết, tiền thì có nhiều chứ pháp lại không có, trở thành kẻ nghèo thiếu trong chánh pháp. Mình giàu có rồi cái gì mình cũng nghĩ thành tốt được hết, trong hoàn cảnh khó khổ, bị gây sự nhưng mình vẫn kham nhẫn, một chút ra về trời mưa thì phải luyện tâm, tại sao lúc nhỏ tắm mưa thích mà bây giờ đi học pháp gặp trời mưa lại sợ, khi mình chuyển tâm thì lập tức sẽ thành hoan hỉ liền.
Vừa gặp nhau đã bị người kia mắng xối xả thì phải biết mình đang được làm bài tập, làm bài thi, phải cảm thông cho người ta đang bị những ngọn lửa thiêu đốt, mình tác ý như vậy rồi mình thương luôn người đó, tội nghiệp họ, đó là phép lạ, là thần thông. Mình phải thiện xảo trong sự tác ý của mình, trong những chiều hướng tư duy của mình, mình khéo léo như người tài xế chạy con đường có ổ gà thì tránh, chỗ nào nguy hiểm thì né, chỗ nào mình thấy có khả năng xảy ra tai nạn thì chạy chậm lại, đừng phóng nhanh vì ở phía trước có thể là vực sâu. Mình niệm cái pháp này sẽ giúp tẩy những cái dơ trong tâm, cái dơ là giận khi bị mất đồ, cái dơ là sân lên khi bị người ta chỉ trích, mấy cái đó là dơ sẽ được nước pháp rửa sạch, tâm mình bị tối nhưng có pháp vô sẽ soi sáng làm tâm trong sáng ra.
Khi Thánh pháp của Đức Phật tuyên dương đã làm rung chuyển hết những tâm vô minh, tâm hôn ám, tâm tham, sân, si, bản ngã của chúng sanh. Pháp của Phật giống như sấm sét làm mình giật mình tỉnh ngộ, đó gọi là pháp lôi, sấm sét chánh pháp. Mình phải thường nổi trống pháp lên trong tâm mình để mình xông trận, tiến lên, còn giờ cứ ù lỳ thì không thể tiến bộ, người ta đi gần tới rồi, người ta hướng Dự Lưu, Nhập Lưu không thì nhị quả, tam quả còn mình cứ ở đây mãi, cứ sầu, bi, ưu, não "tôi khổ quá", "tôi buồn quá, không ai nhìn tới tôi", "tôi giận quá, không ai thương tôi hết", suốt ngày cứ vậy thì có tội nghiệp không? Suốt ngày cứ tôi, tôi, tôi rồi tù, tội, tình, tiền… toàn là T mà không có tuệ. Khi khởi lên là mình có được tâm cung kính, có được lòng tin với bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng ngay, không nghi ngờ, không ngờ vực gì cả. Mình làm cho tâm mình được sạch, sáng nhờ niệm Tăng.
VI. Giữ giới
Chúng ta cố gắng gìn giữ giới vì nó được tất cả các bậc hiền Thánh ái kính, các bậc Thánh yêu mến và tôn kính giới, không có bể vụn, không bị sứt mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát cho chúng sanh. Tất cả những người hiền trí đều tán thán, giới sẽ làm cho chúng ta yên và vui, mình giữ được giới thì tâm sẽ yên, còn phạm giới thì tâm bất an, nói đơn giản là ngoại tình thì tâm có yên được không? Ngồi lại sẽ lo lắng, sợ hãi, bất an, cho nên Thánh giới sẽ bảo vệ chúng ta, làm cho mình an lạc, an vui.
Mình ăn trộm món đồ của người khác thì khi ngồi lại tâm có yên không? "Không biết có bị phát hiện không", cứ lo lắng, sợ hãi, đó là sự trạo hối, bị dao động, bị hối hận, bị ray rứt. Đi ăn trộm rồi làm sao vô ngồi thiền cho yên được? Ở ngoài thấy ngồi im re nhưng bên trong tâm là sự ray rứt, sợ sệt vì vậy giới của bậc Thánh làm cho an lạc, làm cho mình yên và vui. Mình nói dối gạt người ta thì ngồi vào tu tâm có an tịnh, lắng dịu được không?
Cứ lo người ta có phát hiện ra chưa, người ta có nghe người này người kia nói không, lâu lâu hỏi thăm mấy người kia có nói gì không. Giới này hướng đến thiền định, làm cho tâm mình đi đến chỗ yên lặng tịch tịnh thiền định, khi giữ giới tốt thì ngồi ở đây là yên ổn ở đó, thân tâm yên tịnh, nhìn vào không thấy ray rứt.
Sự ray rứt đó có hai phương diện, một là tích cực hai là tiêu cực. Nếu mình cứ ray rứt, hối hận rồi không chịu tu sửa, cứ trầm mình trong cảm giác tiêu cực, tự ti, mặc cảm thì đó là bất thiện pháp, sai và xấu, không thể được mà đi xuống luôn. Còn mình hối hận, xấu hổ "ta phải tiến lên, ta phải tăng thượng, phải sửa cái này, ta phải làm tốt", mình cứ tiến lên để từ bỏ những cái xấu dở thì tàm quý đó là cái xấu hổ của bậc Thánh, là thiện pháp, là Thánh pháp.
"Này Sàriputta, người gia chủ mặc áo trắng nào mà Thầy biết sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú; nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác'". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Một người thành tựu được năm giới, thành tựu được bốn lòng tin bất động, bốn tăng thượng tâm thì người đó có chánh kiến về Thánh trí ngũ uẩn, người đó là bậc Dự Lưu có thể tuyên bố "tôi đã chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chánh thức tham dự vào dòng trí huệ của Đức Phật", chừng nào mình tuyên bố được câu này, thật sự đạt đến đó thì chánh pháp này sẽ được lưu truyền tiếp tục, còn không ai tu đến đây thì chánh pháp này sẽ chấm dứt, sẽ đi đến mạt pháp.
"Thấy sợ hãi địa ngục,
Hãy tránh xa điều ác,
Khéo chấp nhận Chánh pháp,
Bậc Hiền trí tránh xa,
Không hại các chúng sanh,
Những vật có nỗ lực,
Biết không có nói láo,
Không lấy của không cho,
Tự bằng lòng vợ mình,
Tránh xa vợ người khác,
Người biết không uống rượu,
Khiến tâm trí mê loạn,
Hãy tùy niệm đến Phật,
Hãy tùy niệm đến Pháp,
Hãy tu tâm không sân,
Hãy tu tâm nhiêu ích,
Ðể xứng đáng được sanh,
Cảnh giới các chư Thiên,
Cầu công đức lợi ích,
Hãy cung cấp vật thí,
Trước thí bậc Chí thiện,
Mới mong có quả lớn,
Này Sàriputta,
Ta sẽ nói cho Thầy,
Các bậc Chí thiện ấy,
Thầy hãy lắng nghe Ta,
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ,
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu,
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài Người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn,
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy,
Ai điều phục, thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức,
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn,
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp trước tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu,
Quả lớn đáng cúng dường.
Những kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bậc Hiền,
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ,
Sanh Thiên hay ở đây,
Ðược sanh gia đình tốt,
Bậc trí tuần tự tiến,
Chứng được cảnh Niết-bàn"
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Phẩm XVIII – Nam Cư Sĩ, (IX). Gia Chủ)
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.