Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya - Thành thật với mình

2026-03-18 06:50:20
Tinh Hoa Nikāya

THÀNH THẬT VỚI MÌNH

-Thích Minh Thành-

Ngày tháng năm 2020

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chân thành – Chân chánh: PAGEREF _Toc57360808 \h 1

II. Tha thiết cầu đạo: PAGEREF _Toc57360809 \h 4

III. Như lý tác ý: PAGEREF _Toc57360810 \h 7

Vô thường: PAGEREF _Toc57360811 \h 9

IV. Kết duyên Thánh Pháp: PAGEREF _Toc57360812 \h 15

V. Ứng xử tùy duyên: PAGEREF _Toc57360813 \h 16

I. Chân thành – Chân chánh:

Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn

Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Kính thưa đại chúng, trong sự tu học theo dòng pháp Nikāya này của chúng ta để trở về những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Một sự nhìn nhận đầy đủ, chính xác, toàn diện về thân tâm của mình , điều kiện tiên quyết để chúng ta thành công là phải chân thành, chân chánh. Vừa rồi chúng ta đọc trong phần Thanh Quy: chân thành, chân chánh. Chân thành là thành thật, phải thành thật trong sự tu học này; chân chánh là đúng pháp. Thành thật với ai? Phải thành thật với pháp, với bậc đạo sư – người hướng dẫn của mình và phải thành thật với chính mình.

Chúng ta xem trong phần “Mục đích tập sách” phần 2.8 là phần giải thích chân thành, chân chánh. Tu phải có sự chân thành, chân chánh; nếu không có sự chân thành tha thiết mong muốn tu tập thì sự tu khó đi đến thành tựu kết quả tốt đẹp. Chỉ tu chơi chơi, tu gieo duyên, tu chờ ngày qua đời; nếu không có tâm chân chánh, chánh trực khó mà đối diện với tự thân, khó nhìn nhận những sai quấy, cấu uế trong tâm. Như vậy sẽ khó thể nhập vào Chánh Tri Kiến, khó thể nhập vào Dự Lưu Thánh quả. Vì vậy mà muốn thể nhập vào Thánh Pháp này phải có sự chân thành và chân chánh, chân thật, thành thật nhìn nhận chính mình. Tâm phải chân thành tha thiết, nghiêm túc và cẩn trọng trong sự tu học. Phần này chúng ta đọc cộng với phần trong Thanh Quy là phải nghiền ngẫm và nhìn nhận.

Cái khó nhất là nếu không có tâm chân chánh, chánh trực thì khó mà đối diện với tự thân, khó mà nhìn nhận những sự sai quấy, cấu uế trong tâm. Nên sự tu của chúng ta, chúng ta đã trải qua nhiều khóa rồi, những vị ngồi đây đại đa số đã có sự thực tập, mà càng thực tập càng thấy khó khăn lớn nhất bên trong là gì? Là sự đối diện, trực diện với những cấu nhiễm nội tâ cho nên sự tu học thấy đúng, thấy một cách thấu đáo là thấy được những rác bẩn trong tâm, thấy được những cấu nhiễm trong tâm, thấy được những lậu hoặc ngày đêm đang vận hành, đang chi phối, đang xâm chiếm, đang áp đảo chúng ta.

Bước thứ nhất là chúng ta nhìn nhận ngũ uẩn và bước thứ hai là nhìn nhận tâm uế nhiễm, hai bước này tuyệt đối quan trọng. Tức là Bốn Thánh Trí về ngũ uẩn và Bốn Thánh Trí về lậu hoặc. Giống như chúng ta đi vào căn nhà, căn phòng bỏ mấy mươi năm không dọn dẹp. Mà căn nhà này đã trăm ngàn kiếp, vô lượng vô biên kiếp, chúng ta bằng cánh cửa của sự nhận diện ngũ uẩn đã mở cửa ra. Khi chúng ta bước vào thì một cú sốc, một sự thật làm ta bàng hoàng, xót xa, thao thức, ray rứt, trăn trở, lo lắng, lo lắng trước những cấu nhiễm quá nhiều, những sự cấu nhiễm bên trong. Và sau khi chúng ta phát hiện ra một sự thật hết sức phũ phàng.

Đại chúng chúng ta bắt đầu nhìn thấy trong căn nhà nội tâm mình chưa ạ? Thấy có ê chề không? Thấy được dục, tham, ái hoạt động chưa? Thấy được sân, si, vô minh hoạt động chưa? Thấy được bản ngã phình to, trương lên, một bản ngã thao túng, chi phối, xâm chiếm và áp đảo chưa? Thấy được sự buông lung, phóng dật, buông thả, buông trôi, buông xuôi mỗi khi chúng ta không trú vào pháp thì lúc đó chúng ta đang trú vào sự buông lung.

Mỗi khi chúng ta không hộ trì căn, không Chánh Niệm, tỉnh giác thì lúc đó chúng ta lọt ra ngoài dòng Thánh Pháp, trở về dòng của phàm tục, vô minh, si ám, tham ái, tham dục, tham đắm, của sự yêu thích những cái hiện hữu này và chúng ta lại tiếp tục sầu bi khổ não. Mỗi khi chúng ta không đặt tâm mình an trú niệm, không an trú trong thân hình niệm, không nhìn nhận sự thật của thân này, không an trú trong sự quán chiếu, nhìn nhận, soi xét các cảm thọ thì chúng ta bị các dòng cảm xúc nhận chìm, cuốn trôi giống như những dòng thác lũ. Mỗi khi chúng ta không an trú, không đặt niệm vào sự soi rọi và quán chiếu nội tâm thì lúc đó tâm chúng ta là một cái tâm hỗn độn, đầy lậu hoặc, đầy hơn thua, đầy tham ái, phân biệt, đầy tôi ta mi tớ thị phi, nhân ngã.

Chúng ta sống trong một cái tâm nhỏ hẹp, thấp kém, ràng buộc, hệ lụy, giống như con chó bị buộc trong cây cột, chạy lòng vòng trong tham dục, sân hận, vô minh, si mê và bản ngã, chạy lòng vòng trong những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng, buồn phiền, khổ đau. Chúng ta không đặt tâm mình vào trong pháp, không quán tâm trong tâm, lập tức tâm chúng ta trở về bản vị của vô minh và sự tham ái. Chúng ta không đặt tâm mình vào sự quán pháp ở trên các pháp, lập tức trạng thái buông lung, buông thả, buông thùa, buông trôi, buông lơi hoạt động rồi chúng ta buông xuống. Buông xuống không phải ở đây không phải buông sân si mà là buông pháp, buông mất pháp Chánh Quán, Chánh Trí, Chánh Niệm.

Chính vì vậy, trong sự tu học của chúng ta, điều tuyệt đối quan trọng là sự trực diện, đối diện, nhìn lại bên trong. Và chúng ta có thành thật với chính mình hay không là yếu tố quyết định hoặc là mình nhập và dòng pháp này hoặc là mình rớt ra, là yếu tố quyết định của sự chân thật, chân thành, chân chánh. Mình thấy nó rồi nhưng mình để nó qua một bên, phớt lờ nó, nghĩ không sao đâu. Và những đốm lửa nhen nhúm đó bắt mồi, cháy lên. Những đống bùn lầy đó, mình bước xuống sẽ lún, lún càng sâu càng nhận chìm chúng ta.

Gần đây có một số vị tâm sự và sám hối, tu tập một thời gian, bên trong có sự chống đối, nó muốn được thoải mái, muốn buông thả trở lại. Điều này tuyệt đối quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Diệt tham, sân, si không khó mà diệt tâm chống đối mới khó. Ví dụ mình quán chiếu về sự bất tịnh, nhờm gớm, nhờm tởm của thân này, nhưng bên trong nói: quán chi thầy thấy ghê quá, đừng quán. Chỉ cần một ý hành sanh khởi lên, mình nghe theo, như vậy là mình không thể tu được Pháp quán, không thể thành tựu trí huệ đó nên điều đầu tiên trong sự tu, mình chưa nhập lưu là còn có tâm chống đối.

Khi nào tâm mình hoàn toàn an trú trong Chánh Kiến, Chánh Tri Kiến, Chánh Trí của Đức Phật thì lúc đó mình an ổn nhập lưu, còn bây giờ có tâm chống đối là bình thường. Nhưng mình phải thấy được và nhiếp phục nó, đừng để nó quật ngã mình. Chúng ta có hay bị tâm chống đối này không quý vị? Có nhiều lắm, quý vị biết tại sao không? Vì pháp này là pháp trực chỉ đánh thẳng vô dục, tham, ái; mà dục, tham, ái là bản vị, là căn nhà của chúng ta. Đánh như vậy là đánh sập nhà mình, chính vì vậy mà dục, tham, ái sẽ chống đối, khó chịu.

Mình đã ở trong tham ái và vô minh này vô thỉ luân hồi, không thể nêu rõ khởi điểm chúng sanh đã ở trong tham ái và vô minh này vô lượng vô biên kiếp. Mình làm nhà, làm tổ, làm ổ, làm hang, làm sào, làm huyệt, làm căn cứ địa trong thân xác này mà bây giờ Đức Phật đánh thẳng vô thân này: Tứ Đại, Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi thì nó chống đối, dục ái, tham, vô minh, chấp thủ chống đối chứ trí tuệ không chống đối. Nên phải biết rằng cái đang chống đối đó là dục, là ái, là tham, vô minh, chấp thủ.

Phải chân thật, chân thành, chân chánh, nhìn ra được bên trong nội tâm mình một cách chính xác, chân xác, rõ ràng, minh bạch, Trạch Pháp Giác Chi phải thành tựu. Còn nếu mình phớt phớt qua, một thời gian lần lần đưa mình ra khỏi pháp, nó kêu mình tu chơi chơi thôi, chờ ngày qua đời, tu gieo duyên, tu nhẹ nhẹ nên khó mà nhìn nhận được sai quấy, những cấu uế trong tâm. Nếu không chân thật với chính mình, với bậc đạo sư, bậc thầy hướng dần của mình mà giấu, không nói ra hết thì như vậy các lậu hoặc, các cấu nhiễm, bóng đêm, bóng tối, điểm đen còn trú ẩn trong đó, không được phơi bày ra ánh sáng và được chất chứa, tích tụ bên trong. Các lậu hoặc này nằm yên đó và có cơ duyên sẽ hoạt động nên sự chân thật với chính mình, với bậc đạo sư, với pháp là yếu tố tuyệt đối quan trọng để mình có thể thể nhập vào dòng Thánh trí huê này.

II. Tha thiết cầu đạo:

Phải tha thiết, nghiêm túc, cẩn trọng trong sự tu học. Tha thiết giống như đói được ăn, khát được uống, giống như đang giông bão mà mình có được nơi trú ẩn an toàn, tha thiết trong sự cầu pháp, học pháp, tu tập pháp, tha thiết, cung kính, quý trọng, tôn trọng, đội trên đầu mình. Dù cho có chết cũng quyết định mình không xoay lưng với Chánh Pháp này. Phải phát thệ nguyện, dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, tâm mình cũng phải trụ vững như sơn, tịnh tín bất động. Còn nếu không, dục, tham, ái, bản ngã mạnh nó quật mình lại. Có khi mất mãi mãi nhân duyên với Chánh Pháp, không gặp được các bậc Chánh Kiến. Gặp người hiền trí chỉ lỗi cho mình giống như chỉ cho mình bảo tang, hầm vàng nhưng chỉ một chút không sao, mà bị chỉ nhiều quá lúc đó mình không thấy hầm vàng nữa mà nổi sân lên, khó chịu, bực bội.

Chỗ này hết sức quan trọng, bản thân Minh Thành tu học cũng như các huynh đệ xuất gia cho đến tại gia, Minh Thành nhìn thấy rất nhiều, bị loại ra khỏi dòng Pháp này. Tự sự chống đối bên trong, sự không chân thành, chân thực, chân chánh, tha thiết bên trong đẩy mình ra khỏi dòng pháp, nói tu gì mà khổ quá vậy. Bởi vì tu theo dục, tham, ái quý vị thấy khỏe không? Người ta nói cho mình vừa lòng, vô tay, vuốt ngon ngọt cho mình nhưng bản ngã mình ngày càng lớn, dục, tham của mình ngày càng tăng trưởng phát triển, sân của mình ngày càng mở rộng, càng to. Còn tu theo Chánh Pháp nó đáng ngay vô những cái tử huyệt, những cái mình yêu, thích, khoái, thương, quý thì Chánh Pháp này sẽ đánh thẳng vô sào huyệt, vô hang ổ, vô tổng hành dinh. Thì quý vị thấy dễ hay khó? Khó mình phải làm cho được. Nhất trí không? Quyết chí không? Quyết tâm không? Quyết liệt. Khó phải làm cho được chứ không phải khó mà bỏ.

Xin thưa đại chúng, con thích cái khó lắm, càng khó càng hứng thú, vì trên đời này có gì dễ quý vị? Đổ bánh xèo dễ hay khó? Lái xe ngoài đường dễ hay khó? Đi làm 1 ngày 8 tiếng dễ hay khó? Như vậy tu mà đòi dễ là sao? Tu là diệt tận những cái phiền não, lậu hoặc để mình giải thoát sanh tử làm sao mình đòi dễ được, nên phải khó mới đúng, càng khó mình càng mạnh mẽ, quyết liệt, phấn khởi, hứng chí anh hùng của mình lên, đại hùng, đại lực.

Mình nhìn thấy Đức Thế Tôn – thái tử Tất Đạt Đa không? Trước khi xuống đây, Minh Thành mở đại tạng kinh Nikāya tiếng Hoa mà hòa thượng bên Hồng Kông gửi, hình ảnh đầu tiên nhìn thấy làm xúc động tràn trề: thái tử ngồi tu khổ hạnh, lòi bộ xương sườn ra – thái tứ Tất Đạt Đa ngồi tóc dài, râu mọc, ốm, da bọc xương. Từ một chàng trai đẹp đẽ, mạnh mẽ, vương quyền, hoàng thất, đứng trên thiên hạ, quyền uy đỉnh cao tột bậc của danh vọng có thể vì Chánh Pháp, vì sự tìm cầu một sự thật về thân tâm của mình mà phải sống trong núi rừng khiếp đảm và sợ hãi, cô đơn, lạnh lẽo, bệnh tật, hiểm nguy, tai họa, sống chung với thú dữ và tu cho đến da bọc xương, té xỉu không biết bao nhiêu lần.

Chúng ta ngồi đây thừa hưởng lại dòng Thánh Pháp gần 3.000 năm, Chánh trí huệ để nhìn thấu rõ thân tâm của mình, tại sao mình không tha thiết, trân quý, quý trọng, không đê đầu, đảnh lễ, tôn quý, tôn trọng, không sanh khởi những tư tưởng hiếm có khó gặp, hi hữu, thù thắng? Phải tha thiết, làm cho tâm mình phát khởi một sự tha thiết, kháo khát, khát ngưỡng, tôn trọng, tôn kính, cung kính. Dù cho có chết 100, 1.000 cái mạng này để cầu được Thánh Pháp này mình cũng mãn nguyện.

Không gì có thể làm cho lòng tin của mình lay chuyển, tịnh tín bất động đối với Đức Phật, với giáo pháp, với đạo sư, với tự thân, thân tâm của mình. Không có con đường nào khác để diệt khỏi sầu bi ưu não bằng cách tự soi rọi thân tâm của mình, nhiếp phục và diệt tận những cấu nhiễm, tham, sân, si, vô minh và bản ngã này. Không có con đường thứ hai, chỉ có con đường độc nhất, duy nhất, chỉ có một mà thôi. Nếu có con đường thứ hai thì Đức Phật nói sai sao? Mà Đức Phật không bao giờ nói sai. Từ khi chứng ngộ dưới cội Bồ Đề cho đến Ta La Song Thọ, tất cả những lời của Như Lai nói không thể khác được, không thể thay đổi được.

Cho nên phải chân thành, tha thiết trong sự tu học, coi pháp này còn hơn sinh mạng của mình. Mình đã chết vô lượng lần trong sanh tử này, bao nhiêu là những thân rắn, thân chó, heo, gà, vịt, chim, muỗi, ruồi, giòi… Bao nhiêu là những tấm thân của súc sanh, của thú vật, những cảnh thống khổ trong địa ngục, kêu gào thảm thiết. Bao nhiêu là những nỗi uất ức, uất hận trong loài người, những thân cùi, hủi, ghẻ lở, điên loạn tâm thần, què quặt, mù đui, chột, vô số, vô lượng, vô biên, vô ức, vô tỉ những kiếp mà mình đã lẩn quẩn trong tam đồ ác đạo, trong ngũ thú, trong Sáu nẻo luân hồi mà mình chưa được nghe, chưa được gặp, chưa được tu Thánh Pháp này. Chưa bao giờ mình nhìn thấy ngũ uẩn, chưa bao giờ.

Và bây giờ mình được thấy, được nghe, được hiểu, được tu tha thiết, chân thành. Mình phải nghiêm túc trong sự tu học, nội tâm mình phải nghiêm khắc.Vì sao? Tâm mình mà mình không nghiêm, lập tức nó buông lơi, buông thả, buông lỏng, buông xuôi, buông trôi, buông lung phóng dật. Chúng ta đừng nói gì xa, ngay thời mình đang nghe pháp, đang ngồi thiền mà chỉ cần tiếng kẻng, tiếng chuông “Boong” một cái là tất cả thọ, tưởng, hành của mình khác liền, đừng đợi bước ra khỏi giảng đường. Vừa hết bài pháp “Trải tâm từ”, hồi hướng xong là trong này phơi phới, khỏe rồi.

Quý vị thấy chưa, nó trở về ngay lập tức trạng thái buông lung nên phải nghiêm khắc với nó, bắt nó phải an trú trong pháp, an trú niệm, an trú thân, an trú thọ, an trú tâm, an trú pháp. Buông lung, buông thả, buông trôi để được gì? Cứ hướng ngoại hoài, chạy theo những sắc, thân, hương, vị, xúc hoài để được cái gì? Cũng chết thôi, cũng vô lò thiêu, cũng vô hòm… Buông lung cũng chết mà không buông lung cũng chết, như vậy ta không cho mày buông lung nữa, bắt mày tu. Phải huấn luyện, giáo dục, quản lý, quản thúc, quản chế, kiểm soát.

Quý vị có biết những em bé 7, 8 tuổi, 10 tuổi trong Thiếu Lâm Tự có thể đứng tấn hàng giờ trên ngọn cây, có thể chịu những khúc gỗ lớn đập lên đầu, đánh vô người. Đó là khổ luyện thành tài, mình cũng phải bắt tâm khổ luyện thành đạo. Phải khổ luyện thành đạo chứ không phải tu hoài mà vẫn tham, sân, si hoài. Trước khi biết ngũ uẩn cũng vậy mà biết ngũ uẩn rồi cũng vậy. Rồi 5, 7 năm sau ở trong đạo tràng Nikāya rồi cũng vậy là không được, phải nghiêm túc, chân thành, tha thiết tu tập.

Quý vị phải tu nhiều hơn mấy thầy, mấy người xuất gia. Vì các thầy, các vị xuất gia ở trong chùa ngày nào cũng được tu. Còn các vị nửa tháng mới lại tu 1 lần, có khi cả tháng mới lại thì cần phải tu nhiều hơn. Chứ không phải nói quý thầy, quý cô mới tu nhiều, con là cư sĩ nên tu ít. Không phải, vì quý vị được tu, được nghe pháp rất ít nên đừng lấy lý do. Đó là cái gì trong ngũ uẩn? Là hành uẩn. Mà câu nói đó làm cho mình không tu được. Quý vị nhìn thấy cô không? Cô là tấm gương sáng, tấm gương lớn lao cho mình. Cô là cư sĩ, cô làm được, mình là cư sĩ cũng phải làm được. Mình không cho một ý niệm là mình cư sĩ tu chơi chơi, tu vừa vừa thôi, còn tu nhiều để quý thầy, quý cô tu. Suy nghĩ đó giết mình chết.

Nên an trú vô thân thọ tâm pháp, nhiệt thành, nhiệt tình để nhìn nhận các lậu hoặc. Nó còn cái gì trong này mình phải biết, ác pháp chưa sanh đừng để cho nó sanh; ác pháp đã sanh phải nỗ lực diệt tận nó. Thiện pháp chưa sanh làm cho nó sanh, thiện pháp đã sanh phải tu tập, nỗ lực, cố gắng, phát triển, tăng trưởng, quảng đại, làm cho nó viên mãn. Đó là Tứ Chánh Cần – sự nỗ lực chân chánh của chúng ta, chánh tinh tấn. Nhìn lại nội tâm, tại sao cái sân này cứ còn hoài ở đây? Mình phải tác ý, đánh đuổi, tác ý từ tâm, trải tâm từ sáng trưa chiều. Tâm mình yếu thì mở bài Trải tâm từ của cô của thầy lên, mở lên nương theo quán chiếu. Mình coi lại sao bản ngã của mình hoài vậy? Tác ý một cách mạnh mẽ, quyết liệt.

Chúng ta thấy ở trong nhà mình có một đống rác dơ, hôi thúi mình chịu nổi không? Nếu không chịu nổi mình lại lấy chổi quét hốt liền mà tại sao tâm của mình có mấy đống bự như vậy mà mình để hoài trong đó? Tại sao? Mình ngồi thiền tự hỏi tại sao như vậy? Tại sao nhà ngươi làm biếng tu tập, tác ý, quán chiếu, thiền định, nghe pháp như vậy? Tại sao? Đống rác ở phía ngoài một chút thôi nó hôi, dơ mình không chịu nổi mà tại sao tâm của mình là một đống rác trăm ngàn vạn, vô lượng vô biên kiếp mà mình dọn hoài như vậy nó không sạch? Hay vì mình chưa quyết liệt để dọn?

Giờ quý vị khai coi, quyết liệt dọn chưa hay tại chưa quyết liệt dọn? Thấy đống rác chưa? Thấy rồi thì bây giờ có quyết liệt để dọn chưa hay lâu lâu móc một chút rồi ngồi nghỉ coi ti vi? Mình xem lại, nếu mình chưa quyết liệt, cố gắng nỗ lực để dọn, quét, hốt thì mình phải rầy mình, tác ý, không cho phép nhà ngươi làm biếng. Già bệnh tới nơi rồi kìa, chết tới nơi rồi kìa. Lũ lụt người ta chết đầy rẫy, dịch bệnh người ta bị hành hạ, đại thảm họa trên toàn cầu rồi, tại sao không chịu nỗ lực, cố gắng, siêng năng, nghiêm túc tu tập tác ý, làm nó sanh khởi lên một sự cố gắng.

III. Như lý tác ý:

Đức Phật nói một ước muốn cố gắng làm cho sanh khởi đó là Dục Như Ý Túc. Chúng ta nhớ rằng trong sự tu học này phải vận dụng được 37 phẩm Trợ đạo một cách thiện xảo, khéo léo trong sinh hoạt của mình. Không phải cái đó học thuộc lòng để trả bài, mà mình làm cho một sự mong muốn tu học của mình mạnh mẽ lên, nỗ lực lên để thực hiện. Mình để tâm và các đối tượng cần phải xử lý ở bên trong, tức phải để tâm và đống rác đó.

Tại sao tới giờ này nhà ngươi vẫn còn ở đây? Tại sao tới giờ này cái tham ăn, tham nói chuyện tầm phào, phù phiếm vẫn còn ở đây? Tại sao tới giờ này cái dục, tham, ái, bản ngã, cái tôi, ta, mi, tới vẫn còn ở đây? Tại sao? Tới giờ ngồi thiền mình lôi nó ra. Đừng có lên đó ngồi an trú cảm giác toàn thân rồi con mắt sụp xuống. Giờ ngồi thiền là giờ giải phẫu, mổ xẻ, xử trí, xử lý các vấn đề nội tại. Còn cái gì đem ra xử nó. Bây giờ bản ngã nhiều, tới giờ ngồi thiền lôi ra, coi lại hết từ sáng tới giờ, 3 ngày nay, 5 ngày nay nó khởi bản ngã như thế nào, khởi bản ngã ra làm sao, bắt đầu mình tác ý, nhục nhã thiệt là nhục, xấu hổ không? Đi tu pháp vô ngã, học pháp vô ngã mà tối ngày bản ngã thì có xấu hổ không? Hèn hạ, thấp hèn, hạ liệt không?

Tại sao cứ lặp tới lặp lui bản ngã hoài như vậy mà không biết nhàm chán? Cứ hơn thua hoài? Trong giờ ngồi thiền mình phải lôi nó ra giải phẫu, giải quyết, xử lý nó. Giờ ngồi thiền là giờ làm việc hết sức năng động, ngoài thiền định thì sự an trú tâm trong 3 pháp, nhận diện 5 uẩn, lâu lâu mình phải có một buổi tính sổ, cộng sổ, kiểm toán. Đi làm ăn có cộng sổ, mỗi tháng có kiểm tra lời lỗ không? Trong tâm mình cũng phải kiểm toán, kiểm tra, thanh lý, giải quyết các vấn đề. Trong sự tu học phải để tâm vô đống rác đó, quyết tâm làm sao phải bưng dọn, hốt quét, làm sao đẩy nó ra, quét nó ra, đổ ra với một thái độ chân thành, tha thiết, thành thật với chính mình.

Cẩn thận trong sự tu học là rất quan trọng, mới chỉ được một chút mà tưởng đâu xong, mới lên trải tâm từ khóc hụ hụ được một chút, xuống nói con vô lượng tâm. Một hồi chiều sân lại nên phải cẩn trọng. Những cảm thọ đó phải được nuôi dưỡng, ôm ấp, chăm sóc, duy trì, an trú. Trong sự thiền tập, nếu chúng ta để ý sâu sẽ thấy được những điều hết sức sâu sắc trong sự hành trì của chúng ta. Tại sao chúng ta tu mà không thành công? Là khi mình ngồi thiền, nghe pháp, ở trong khóa tu tâm mình an trú trong trí tuệ, trong Thánh Pháp nên lúc đó mình an lạc, hạnh phúc, tỏa sáng. Nhưng khi trở ra giờ thiền đó mình không an trú niệm, nghĩ thiền là giờ đó, pháp là giờ mở đĩa đó lên, hay trong giảng đường là giờ pháp, còn bây giờ là giờ giải lao. Suy nghĩ đó làm cho mình tu không thành công.

Bất cứ lúc nào cũng phải an trú niệm, trú hoài trong sự tác ý. Trong sự tác ý này, Tương Ưng Bộ Kinh Đức Phật dạy thật tuyệt diệu, vi diệu. Tác ý như thế nào? Tu là dùng thọ, tưởng, hành diệt thọ, tưởng, hành nên sự tác ý của mình là phải lấy tác ý của trí huệ để diệt những suy nghĩ của vô minh và tham ái. Như một bài kinh, con nói đại ý cho quý vị dễ nắm để quý vị tác ý.

“Thế Tôn nói như sau:

Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với Chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Tai là khổ... Mũi là khổ... Lưỡi là khổ... Thân là khổ.... Ý là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với Chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Vô thường:

Kinh Vô Thường – Phẩm Vô Thường – Phần I: Năm Mươi Kinh Thứ Nhất –Chương I: Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh

Con mắt này không phải là tôi, không phải là của tôi, mà là Tứ Đại. Máu, thịt, gân, mỡ, lỗ tai này không phải là tôi, không phải là của tôi, là da, là thịt, là máu, là vô thường, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Lỗ mũi này không phải là tôi, không phải là của tôi, là pháp hoại diệt, là bất tịnh, là pháp duyên sanh, là mủ và máu, gân da và thịt, nước mũi không phải là tôi, không phải là của tôi; miệng này, lưỡi này, hàm răng này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi.

Một đống răng này, những lớp da thịt, máu mủ, xương này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi của tôi, nó là pháp vô thường, tan biến, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, tan hoại.; là pháp rệu rã, là pháp tan nát. Thân xác này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi. Do cha mẹ sanh, do con cháu nuôi dưỡng, Tứ Đại tác thành, vô thường, biến đổi, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, cát bụi.

Hãy nghe đi, những tiếng ho đó, là ổ bệnh, ổ chứa nhóm bệnh hoạn và sầu não ưu bi, lo lắng và sợ hãi là bản chất của thân này. Là ổ dịch bệnh, là đau khổ, lo lắng, suy tư, sợ hãi, tai họa, hiểm nguy. Vì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này; vì đống da thịt, máu mủ, gân xương mà chúng ta đau khổ, là tiếng con chó vừa sủa đó quý vị, là tham ái và chấp thủ vô đống lông, đống da, máu mủ này. Sân hận, bản ngã, tham dục, tham ái đó.

Chính vì đống Tứ Đại này mà bao nhiêu nước mắt chảy xuống, chảy ra. Chính vì tham do đống bất tịnh này, đống Tứ Đại mình lầm nhận là tôi, là của tôi này mà đau đầu nhức óc, lao tâm khổ tứ, mà tranh giành, khẩu tranh, đấu tranh, cạnh tranh, chiến tranh. Chính vì tham ái và vô minh, không thấy được sự thật mà một cái tôi đã được hình thành, ảo tưởng, một cái ảo tưởng về tự thân đã được hình thành, sân hận với ảo tưởng đó, tham đắm với những hình bóng ám ảnh trong nội tâm đó, vô minh và chấp trước đối với những cảm giác nghĩ tưởng đó.

Thật là tai họa cho chúng sanh, cho chúng ta, cho hữu tình, tai nạn, khổ nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan bao trùm khắp thế giới này. Con mắt này là khổ, các sắc nó nhìn thấy là khổ, vì nó không biết được bản chất của con mắt này nên tham đắm, nó không biết được bản chất của các sắc đó là vô thường, là Tứ Đại nên nó say mê. Nhãn thức, nhãn xúc này sanh lên những cảm thọ, cảm giác đau khổ, vô thường, thiêu đốt, đốt cháy hết tất cả chúng ta và chúng sanh.

Con mắt này là mù lòa, các sắc, nhãn thức, sự rõ biết các sắc là mù lòa; nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt này là mù lòa, bệnh hoạn, khổ đau sanh khởi lên những cảm giác. Những cảm giác đó thiêu đốt, đốt cháy, thúc giục, xúi giục, khao khát, làm nô lệ cho tham ái, là đau khổ, “Thọ do nhãn xúc sanh, này các Tỳ-kheo, là mù lòa, bệnh hoạn, là vô thường, đau khổ”. Hãy nhìn thật thâm sâu và thẩm thấu một sự thật đang thiêu đốt, đốt cháy, một sự thật về đau khổ của cuộc đời này. Hãy nhìn cho kỹ và hãy nhàm chán nó đi:

“Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không hoan hỷ đối với mắt tương lai, đối với mắt hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt...

Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...”

Nhàm chán ly tham sẽ đưa đến giải thoát cho các vị. Sáu căn này: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là vô thường, khổ đau, bệnh hoạn, ung nhọt, tai họa, hố than hừng. Sáu thân này, những hình sắc này, âm thanh này, những mùi, những vị này, những sự đụng chạm, tiếp xúc này, những cảm giác nghĩ tưởng bên trong này là vô thường, khổ não, phiền não, bệnh hoạn, tai họa, ung nhọt, làm cho chúng sanh khao khát, thèm muốn, khát ái, làm cho chúng sanh thiếu thốn, đòi hỏi, nô lệ, chạy từ đầu xanh cho tới đầu bạc mà vẫn còn khát khao, thèm muốn, tìm kiếm, đòi hỏi, khát ái.

Sáu thức này, sáu xúc này, sáu thọ này, những cảm giác từ khi mắt, tay tiếp xúc sanh ra cảm giác, mũi, lưỡi tiếp xúc sanh ra cảm giác, thân đụng chạm sanh ra cảm giác, ý nhận thức các tưởng hành bên trong sanh ra cảm giác. Sáu thọ, sáu cảm giác, cảm xúc này là vô thường, biến đổi, sanh diệt, duyên sanh, bong bóng nước, là khói mây, tạm bợ, mong manh, là ánh chớp, giấc mộng. Vậy mà làm cho mình dục, ái, tham, vậy mà làm cho mình sân hận, sầu bi, ưu não, vậy mà làm cho mình đau khổ, nước mắt ràn rụa trong vô lượng kiếp của tử sanh.

Hãy nhàm chán đi quý vị, nhàm chán đi! Hãy xa lánh nó, viễn ly nó, tác ý xa lánh, rời xa, lìa xa nó, tác ý không ưa thích, ham muốn nó, tác ý viễn ly, ly tham, yểm ly, nhàm chán. Dục khởi lên cũng nhàm chán, sân khởi lên cũng nhàm chán, bản ngã khởi lên thối tha, nhục nhã cái bản ngã ngu si mê muội này, ác độc này, nhàm chán. Hãy thoát ra, xuất ly, giải thoát, thoát ra Sáu căn, Sáu trần, Sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, thoát ra ngũ uẩn, Tứ Đại. Xuất ly, thoát ra, bước ra, vượt ra, đi ra, đi lên trên đạo lộ của Thánh nhân, đi trên giải thoát đạo, đi trên an ổn Niết-bàn đạo. Bước ra, thoát ra, xuất ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt, xả ly.

Như bọt nước trôi sông, như lầu xòa chợ bể là những ảo ảnh của người đi biển nhìn thấy:

“Ai nhìn đời như thế

Thần chết không bắt gặp

Như bọt nước trôi sông

Như lầu xòa chợ bể

Ai nhìn đời như thế

Thần chết có hề chi”

Hãy tập nhìn bằng tuệ tri, bằng trí tuệ, hãy thẩm thấu cuộc đời này, thẩm thấu. Bản chất, bản tánh nó là như thế, không thể vượt khỏi bản tánh ấy. Thật sự ngao ngán với những tâm dục tham, sân hận, bản ngã, ngao ngán và nhàm chán. Quý vị nhìn thấy không, chỉ cần nổi giận lên chút xíu với tiếng hát Karaoke bên nhà thôi là xảy ra án mạng, đau khổ không quý vị? Có phải cảm giác này ác độc không? Có phải cảm giác này, âm thanh này giết người không quý vị? Âm thanh đó, rồi thọ do nhĩ xúc sanh, có phải từ lỗ tai này nghe được không? Lỗ tai này, âm thanh này, sự rõ biết âm thanh này, sự hội tụ của ba pháp nhĩ xúc, tiếp xúc này nó sanh ra một cảm giác sân hận.

Cảm giác đó giết người và giết mình, quý vị có thấy đau khổ cho cuộc đời này không? Quý vị có nhìn thấy bóng đêm nó đang trùm phủ lên cuộc đời này không? Quý vị có nhìn thấy những dòng nước mắt tuôn chảy, tuôn rơi, tuôn trào cùng khắp hay không? Của thế gian vô minh và hắc ám này hay không? Khổ là lỗ tai này, âm thanh đó – âm thanh Karaoke vang ra lớn tiếng đó, khổ là sự rõ biết được âm thanh đó, là sự tiếp xúc vô lỗ tai này. Khổ là những cảm giác sanh khởi sau khi tiếp xúc này và càng khổ hơn nữa là những thân hành, khẩu hành, ý hành tạo ra nghiệp và chịu một quả báo 30 năm chung thân, tử hình. Vì một âm thanh, một cảm xúc, một cảm giác sân hận. Đó là khổ Thánh Đế, là tập Thánh Đế đó quý vị.

Và sự nhàm chán, chấm dứt, ly tham và đoạn diệt những cảm giác sân hận đó là đạo Thánh Đế. Sự dập tắt hoàn toàn cảm giác sân hận, bực bội đó và tâm mát lạnh, an tịnh, lắng dịu diệt Thánh Đế đó. Sự dập tắt hoàn toàn những cảm giác tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã đó là cảnh giới bất tử, đại an ổn vượt qua tất cả khổ ách, là Niết-bàn đạo lộ, tối thượng an lạc của Đức Thế Tôn. Vô số những ví dụ, những câu chuyện, những sự thật mà Tứ Đế đang diễn ra trong cuộc đời này của chúng ta. Chúng ta phải thể nhập, phải thẩm thấu, phải thực nghiệm, chứng nhập, thành tựu.

Nãy giờ chúng ta chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy, đại chúng có thấy nhàm chán không? Có thấy khổ không? Nếu mình cứ an trú trong những tác ý, những cảm thọ, hình bóng như vậy thì lúc nào mình cũng an trú trong pháp và cho tới một lúc nào đó mình hoàn toàn an trú trong cái thấy biết đó, trong những cảm giác nghĩ tưởng đó không còn đi ra nữa, lúc nào mình cũng thấy như vậy là Nhập Lưu Thánh quả. Tất cả những cảm giác nghĩ tưởng của mình đều an trú trong Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Đạo hết, lúc đó là Nhập Lưu. Nên mình tập an trú nhiều vào, tác ý thường xuyên, không phải tác ý là mới ý hành.

Bây giờ mình quán những pháp quán tưởng của mình là có tưởng không? Khi mình quán Chín Giai Đoạn Một Tử Thi có sử dụng tưởng uẩn không? Lúc đó có thọ uẩn sanh khởi không? Như vậy là mình dùng thọ, tưởng, hành của Thánh Pháp, Thánh Trí, của chân lý để mình diệt những thọ, tưởng, hành của vô minh và tham ái, chấp thủ. Đó là một sự chiến đấu trường kỳ kháng chiến trong sự tu tập của chúng ta, mà mình càng trú trong pháp, trong thọ, tưởng, hành nhiều chừng nào thì mức độ tinh tấn, thâm nhập của mình nhiều chừng đó. Đừng đi ra khỏi những thọ, tưởng, hành đó.

Lúc nào mình trở ra, mình suy nghĩ vui, đẹp, thích, khoái thì lúc đó là ra khỏi pháp, bắt nó quay trở lại. Vui cái gì? Có gì mà vui? Ở trong dịch bệnh này mà đi du lịch cái gì? Có cái gì vui để mà đi du lịch trong dịch bệnh? Trong lũ lụt 7 tỉnh chìm ngập trong nước này, ngập tới nóc nhà thì có chỗ nào mà không ướt? Ở trong thế giới, hành tinh này có chỗ nào mà không khổ? Chỗ nào cũng ngập chìm trong khổ.

Phải tác ý thường xuyên và liên tục, an trú trong thọ, tưởng, hành đó. Càng an trú trong đó nhiều chừng nào thì mức độ tinh tấn, sự thể nhập trí huệ của mình càng vững trú, kiên trú, vững chắc chừng đó cho đến khi mình có chân đứng trong pháp và luật. Mình trú vững luôn luôn trong đó, bất cứ lúc nào mình cũng thấy vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhàm chán, ly tham, không ưa muốn, không thích thú nữa. Mình phải nhàm chán đối với những lậu hoặc, những rác bẩn trong tâm mình, khi nó sanh khởi lên mình đừng đi theo nó. Hãy nhàm chán nó.

Khi cơn sân nổi lên, mình nói rằng: tao chán mày quá rồi mà mày cứ biểu diễn, đóng tuồng hoài vậy? Vô lượng, vô biên kiếp mày hành hạ, thiêu đốt tao, mày đốt cháy tao, đốt cháy những người thân. Bây giờ mày muốn tiếp tục đốt nhà, phá chùa nữa hay sao? Thôi, tao chán mày quá rồi, tao ngao ngán mày quá rồi, mày tan biến khỏi thân tao hoàn toàn đi, thành mây thành khói, thành hư không, diệt tận một cách hoàn toàn. Diệt tận tan biến hoàn toàn, mình hãy ra lệnh cho nó như vậy. Mình không dung túng, không nuôi dưỡng, không chứa chấp nó, tác ý, đánh đuổi nó, đuổi nó giống như đuổi rắn ra khỏi nhà, hốt nó giống như rác thối, rác dơ bẩn ở trong phòng khách.

Ở trong kinh Đức Phật nói một người đẹp trai đẹp gái, người này rất thích sắc đẹp, người đi ra đường bị người kia chồng một xác chó chết lên người, lên cổ, họ chồng xác một con rắn lên cổ, họ chồng xác của một người chết lên cổ thì người này hoảng sợ, kinh hãi, hất xuống, bỏ xuống, quăng xuống ngay lập tức. Thì cũng vậy, tham, sân, si, vô minh và bản ngã nó sanh khởi lên là mình phải hoảng sợ nó, quăng nó xuống liền ngay lập tức, không chất chứa, không nuôi dưỡng nó, quăng xuống liền.

Mình là người đẹp mà, chịu làm người đẹp không? Người đẹp trong Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Đạo. Một đời sống trong sạch, cao thượng, thánh thiện. Mình không chất chứa và nuôi dưỡng xác rắn chết, xác chó chết, xác người chết mà chất, mà quàng trên cổ của mình. Hãy nhìn thấy các lậu hoặc đó là dơ bẩn, hôi thúi, cấu nhiễm, cấu uế, ác bất thiện pháp. Diệt tận nó từ từ cho đến một ngày chấm dứt hoàn toàn bằng sự quyết tâm và nỗ lực, bằng sự chân thành, chân chánh, đúng pháp, không lẩn trốn, tránh né, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm.

Lâu lâu mình có ngụy biện với chính mình không? Bây giờ mình đọc được ý hành rồi sẽ thấy nó vô số ngụy biện, làm biếng cũng có lý luận giỏi, tham cũng có những ngụy biện, bản ngã thì càng viết văn, luận án tiến sĩ, viết hay lắm, ngụy biện và bào chữa cho bản ngã, tham, sân, si, cho cái làm biếng, buông lung, giãy đãy. Phải nhìn thấy được ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm. Thuộc bài chưa? Thuộc bài sám hối “Diệt Ngã” hay là chưa? Đọc những câu đó rồi ngắm nghía, gặm nhấm, thiền quán, đọc tới đọc lui rồi dòm vô bên trong, rồi moi móc, đối chiếu, xử trí. Như vậy sự tu mình mới tiến bộ, mau nhanh chứ không phải đọc cho hết bài, để mau nhanh. Đọc để so sánh, để đối chiếu, để soi rọi, phải quán xét, phải xử lý, làm tổng vệ sinh căn nhà nội tâm vô lượng kiếp này, làm cho nó sạch sẽ, mới mẻ, xinh tươi, an lạc, bình an, thanh bạch, thanh tịnh, thanh cao và đi đến chỗ hoàn thiện một ngôi nhà nội tâm tuyệt vời và bình an.

Chúng ta để dành một chút thời gian để cho quý vị có ai chia sẻ hay hỏi về pháp. Chúng ta có thể chia sẻ, trình pháp, nãy giờ thọ, tưởng, hành mình ra sao. Nãy giờ chúng ta có khó khăn, trở ngại có thể hỏi. Chúng ta còn được 20 phút. (Hôm nay ngồi thiền hết rồi)

IV. Kết duyên Thánh Pháp:

Phật tử: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch sư phụ, sư cô, đạo hữu trong đạo tràng Nikāya. Hôm nay con xin sám hối, xuất phát từ một cái tâm mà con nghĩ rằng là con sẽ đi kiếm một chút phước thiện và con muốn an trú cho những người thân của con mà con biết người ta sẽ đi vào những đường khổ. Con đã nói những lời, những khuyến cáo hoặc con cố gắng dẫn người ta đi vào tịnh tín bất động đối với Phật Pháp Tăng vì con thấy lợi ích ở trong đó. Nhưng vì vô minh, thiếu trí, bản thân con đã tu tập không được, vẫn còn giải đãi, vẫn còn tham, sân, si, vẫn còn tự đánh, chửi mắng mình hoài mà con lại đi làm những điều đó. Nhưng sư phụ ơi, con thấy người ta đi vào đường khổ thì con không cam tâm, giờ con phải làm sao, xin sư phụ chỉ dạy cho con. Giờ con xin sám hối sự vô minh, thiếu trí này của mình. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ: con mời cô về ngồi. Con xin thưa đại chúng, giống như một người cùng đang đi chung với một đoàn người bị thất lạc, bị lạc đường thì có một người gặp được bậc đạo sư, tức là người thầy chỉ đường. Người này rất hân hoan, hạnh phúc, thấy được con đường thì đương nhiên mình sẽ rất muốn để chỉ cho những người đang bị lạc cùng đi với mình. Tuy nhiên, chúng ta không phải là người đã đi đến, nhưng mình cũng biết được con đường, mình sẽ khuyến khích, khích lệ, chia sẻ, động viên những người có duyên để có thể cùng đi với mình.

Quý vị nhớ là những người có duyên – cái này quan trọng – vì những người có duyên người ta cũng muốn đi, cũng muốn tu, muốn học. Và người ta chấp nhận con đường mình đang đi thì sự chia sẻ, khuyến khích, khích lệ, động viên, hướng dẫn của mình nó là thiện pháp, chánh đáng. Mặc dầu mình đang tu nhưng sau đó mình sẽ dẫn dắt các vị này đến đạo tràng gặp cô, gặp thầy, gặp các huynh đệ rồi cùng chung nương tựa với nhau tu học. Chúng ta tránh trường hợp miễn cưỡng, người ta không thích, không muốn, mình biết đó là hay, là quý, là tốt nhưng mình không nên miễn cưỡng, dầu cho mình rất thương người đó. Gặp những trường hợp người ta không muốn như vậy rồi thì thôi mình tự lo tu cho mình, đỡ phiền não. Bằng không cả hai đều mất, vì mình tu không được, mà cũng không giúp được người ta. Nên trong sự tu tập này, phần chính yếu là vẫn tự thân mình.

“Dù lợi người bao nhiêu

Chớ quên phần tư lợi

Nhờ thắng tri tư lợi

Hãy chuyên tâm lợi mình”.

Kinh Pháp Cú

Dù cho mình có lợi người bao nhiêu đi nữa, nhưng chớ quên phần lợi ích cho chính mình. “Nhờ thắng tri tư lợi” là vì chữ thắng tri đây làm mình biết một cách rất vi diệu, tuyệt vời sự tu thành tựu cho chính mình. Chỉ có sự chính mình thành tựu mới là điều quan trọng nhất trong tất cả mọi điều trên đời. Vì khi mình thành tựu rồi thì lúc đó thật sự mình sẽ có khả năng giúp được, còn mình chưa thành tựu, mình giúp cũng giúp trong khả năng, trong thành tựu của mình thôi và giúp những người có duyên. Nên mình thấy rõ một điều là tùy duyên, đừng miễn cưỡng. Nội việc mà mình khuyến khích, động viên những người mà mình thương, nếu người ta chịu nghe thì tốt, thiện pháp, không sao hết.

V. Ứng xử tùy duyên:

Phật tử: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính thưa sư phụ, sư cô cùng toàn thể đạo tràng. Con xin phép có một câu hỏi trong quá trình tu tập của mình: khi con an trú vào một câu thơ, chẳng hạn như khổ thơ đầu của sám hối “Diệt Ngã”. Nếu như con an trú trong thọ đó là một thọ buồn, đau khổ, vậy nếu như thời gian con an trú dài ngày ở trong đó, nếu thọ khổ và buồn đó thể hiện ra bên ngoài, ý con nói là thể hiện ra ngoài mặt, con muốn hỏi thầy là như vậy con có thể bị rơi vào sự bi lụy không? Xin sư phụ chỉ dạy, con xin cảm ơn sư phụ, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ: bốn câu đầu của bài sám hối Diệt Ngã:

“Từ lâu con biết con mê muội

Không biết tâm mình rất uế nhơ

Dục ái, sân si không xấu hổ

Bản ngã vươn cao chẳng thẹn thùng”

Ý cô nói là cô an trú trong bốn câu này? Khi mình tác ý tu tập, không riêng gì bốn câu này, như khi mình quán về vô thường mình thấy cái thọ có buồn không? Mình quán về khổ, thọ của mình cũng trầm xuống, ngao ngán. Mình quán về vô ngã cũng vậy? Bởi vì sao? Bởi vì pháp của Đức Phật, pháp ấn, tức con dấu ấn định pháp của Phật là nhàm chán, ly tham, chấm dứt, đoạn diệt, xuất ly, viễn ly, yểm ly, đó là pháp ấn của Đức Phật. Vì hệ quả của sự tu tập Chánh Pháp là nó đưa đến mình một cảm giác rời xa, ngao ngán, để mình thoát ra. Đây là con dùng tiếng Việt chứ không dùng chữ Nho. Nếu không có cảm giác này mà ngược lại, có cảm giác khoan khoái, thích thú, vui sướng đối với dục thì đó không phải pháp của Phật.

Trong bài kinh “Thông Điệp”, ngài Ưu Ba Li hỏi Đức Phật ấn định pháp như vậy. “Pháp nào đưa đến yểm ly, ly tham, nhàm chán, chấm dứt từ bỏ, xuất ly, thoát ra thì pháp đó là Pháp của Như Lai nói, ông hãy thọ trì”. Như vậy, mình thường trú ở trong một cảm giác ê chề, ngao ngán và nhàm chán. Không phải riêng bốn câu này mà tất cả các pháp của Phật đều như vậy.

Bây giờ người ta lại nói chuyện với mình, cười nói không lẽ cái mặt của mình ủ rũ? Thì đó là một sự thiện xảo, khéo léo trong khi ứng xử, giao tiếp. Nhất là cư sĩ trong gia đình, đây là một cái khéo léo trong tu tập. Chúng ta lấy ví dụ dễ hiểu: 2 vợ chồng đang cãi nhau trong nhà, đập bể đồ rầm rầm, bỗng nhiên có chuông bấm, khách vô, sửa lại hết rồi ra ngồi đàng hoàng tiếp khách. Người ta nói cười mình cũng vui, hỏi gia đình mình ra sao, nói gia đình hạnh phúc, nhưng trong này nó tan nát. Thì đó là một sự khéo léo trong sự tu tập.

Mình không nên lúc nào cũng ủ ê, ê chề, biểu hiện cho người ta thấy, mình phải khéo léo. Nhưng trong sự tu có 2 dòng cảm thọ: 1 dòng cảm thọ là mình ngao ngán, chán chê, ê chề, nhàm chán, từ bỏ; còn dòng cảm thọ thứ 2 là hỷ vô lượng tâm. Bây giờ một người đang bị lạc trong rừng được chỉ đường, người đó vui không? Người đang ở trong đêm trường tăm tối mà được người khác đem ánh sáng vào người đó vui không? Bài kinh mà Đức Phật dạy chúng ta, người mù được sáng mắt lên có vui không? Như vậy, không phải lúc nào mình cũng trú trong cảm giác đó, có những lúc mình phải trú trong sự hoan hỉ, hân hoan. Nhất là trong thời gian từ Hướng Dự Lưu đến Nhập Lưu thì trú trong hỉ rất nhiều. Trú trong hỉ lạc do ly dục sanh, tức mình nhàm chán như vậy, mình thấy ngao ngán như vậy, thấy đau khổ như vậy.

Nhưng mình hoan hỉ là đã ra khỏi đó, không còn chạy theo nó, không còn đam mê, bị lún trong vũng lầy đó nữa mà mình đang bước ra, đang chạy ra, đang thoát ra. Cho nên một mặt mình thấy nhàm chán đối với các dục, một mặt thấy hỷ lạc đối với thiện pháp, Thánh Pháp, Thánh Đạo, Thánh Trí. Chúng ta nhìn thấy cô có phải lúc nào mặt cũng âu sầu không? Cho nên trong sự tu học này mình phải hết sức khéo léo. Trong cuộc sống chúng ta đâu phải có một hướng, một chiều, phải rất nhiều bổn phận và trách nhiệm thì mình phải khéo léo là sống tròn trách nhiệm thì mình sống đẹp với đời.

Giờ mình tu mà không khéo là về chồng con của mình cũng mệt lắm, sao bả đi tu về mà tôi nhìn thấy bả… Cái đó là vụng quán chiếu. Ở trong chỗ một mình mình tu tập thì khác, mình đem hết tất cả thọ, tưởng, hành, tâm lực, trí lực của mình mà tu. Còn trong khi mình ứng đối, giao tiếp, thù tạc trong những bổn phận trách nhiệm thì mình khéo léo hoàn thành. Sau đó mình trở về vị trí của mình. Còn mình muốn tu quyết liệt để chứng nhập thì lên Linh Quy Pháp Ấn, hai hoàn cảnh khác biệt giữa cư sĩ và xuất gia khác nhau.

Cũng như sư cô Chân Phước chẳng hạn, cô ở trong thất thì cô tu tới luôn. Còn khi ra tiếp xúc với đạo tràng, với bạn bè, các huynh đệ thì cô có cười không? Con thưa sư cô cô có cười không? Thì đó là sự khéo léo mình ứng dụng tu tập. Mình nhớ trong Truyện Kiều có câu: “Cười là gắng gượng kẻo là”, gắng gượng cười cho nó qua chuyện chứ bên trong thấy nó ngao ngán lắm. Nhưng mình trú trong trí tuệ, Thánh trí huệ đó thì nó tuyệt vời lắm, mình phải tác ý thường xuyên, trú trong Thánh trí huệ, mình hạnh phúc quá khi mình thấy được khổ đau. Hồi đó không thấy mình tưởng nó vui nên nhào vô kiếm ăn rồi mình u đầu, sứt trán, tả tơi, thân tàn ma dại. Bây giờ mình nhìn thấy khổ, thấy sợ rồi, bắt đầu mình mở số de, hướng đi ra, có hướng đi ra chưa? Đó là Hướng Dự Lưu, mình thấy mình sợ, thấy đây là hố than hừng, là căn nhà đang rực cháy, đây là khổ nên mình bắt đầu hướng ra, quyết tâm đi ra. Mà trong sự đi ra, chạy ra đó, nó vừa sợ hãi, đau buồn nhưng cũng vừa vui sướng. Khi mình chạy thoát ra khỏi căn nhà cháy thì mình thế nào? Mừng, đó là sự hỷ lạc, ly dục sanh, có tầm có tứ. Mình muốn cho hỷ lạc nó sanh khởi thì mình phải hướng tâm tác ý, an trú trong hỷ lạc. Tầm tứ là một sự hướng tâm, tác ý cho nó sanh khởi lên rồi mình ở trong đó.

Như hồi nãy con tác ý về vấn đề vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán. Bây giờ mình tác ý hỷ lạc thế nào? Mình thật may mắn, hạnh phúc, thật là phước báu, phước duyên trong 7 tỷ người trong hành tinh này, trong 3.000 năm Thánh giáo mai một này, lại gặp được người đã đem sanh mạng, đem cuộc đời, đã hy sinh trọn vẹn đã tìm ra Thánh Trí tuệ mai một ngàn năm này để giờ này mình ngồi trong hội chúng thanh tịnh, tinh ba. Một hội chúng trang nghiêm, tha thiết, chân thành, chân chánh tu học. Mình được an lạc, thanh tịnh quá, mình được nhìn ra được ngũ uẩn mà ngay cả những bậc tu hành trước cuộc đời, nghiên cứu suốt cuộc đời mà không nhìn thấy được ngũ uẩn, còn mình nhìn thấy ngũ uẩn. Thật sự là mình đã nhìn thấy, thật sự là mình đã thấy chính mình, thật sự là mình đã biết, thấy, bắt đầu thấy, bắt đầu biết.

May mắn cho ta, phước báu cho ta, nhân duyên cho ta, hi hữu, hiếm có cho ta và bắt đầu đã nhìn thấy được một sự thật về thân tâm. Tập Thánh Đế đã bắt đầu được vén màn ra, những gì làm cho ta đau khổ trong vô lượng, vô biên, vô số, vô tỷ kiếp hôm nay đã bắt đầu vén bức màn bí mật ra. Ta đã nhìn thấy được và bắt đầu tác ý, vạch mặt chúng ra. Ta bắt đầu tác ý, đè đầu, cưỡi cổ, vạch mặt chúng, chiến đấu. Vô lượng vô biên kiếp rồi chúng ta đã nằm dưới chân của dục, bị nó đè bẹp, đè đầu cưỡi cổ mà giờ này chúng ta quật cường, quật ngã nó, lật đổ nó và bước lên một cách hiên ngang hùng dũng và lôi nó ra ánh sáng. Bằng chứng là sau những buổi sám hối về mình thấy lòng nhẹ không? Khinh an không? Trút được gánh nặng không? Và các cảm thọ thiện pháp bắt đầu sanh khởi, những giọt nước mắt của hạnh phúc, của sự thật, của trí tuệ, của khổ đau bằng Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Tuệ.

Càng thấy được đau khổ thì chúng ta càng lìa xa đau khổ để đến được bến bờ an vui, hạnh phúc, bình an. Và chúng ta nhìn đi, những người trong gia đình mình, những người bạn đồng tu của mình trước kia và bao nhiêu những người mà chúng ta nhìn thấy đang lăng xăng tất bật ngoài đường đó, họ đang trong bóng đêm, họ không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, lậu hoặc. Còn chúng ta bắt đầu đi vào ánh sáng, bước trong ánh sáng, trên tay chúng ta đang cầm ngọn đuốc của Thánh Trí Tuệ, của Thánh Pháp, Thánh Đạo, Thánh Nhân. Vui không? Phấn khởi không? Hoan hỉ không? Hạnh phúc không?

Chúng ta ngồi một mình, làm cho mọi cảm giác nghĩ tưởng của mình an tịnh và lắng dịu. Chúng ta nhìn ra, chẳng những chúng ta biết sắc, biết thọ, biết tưởng, biết hành, biết thức. Trí huệ chúng ta về ngũ uẩn bắt đầu thành tựu, chúng ta còn biết thọ đó thuộc về thọ gì, trong thọ đó có cái gì tham, sân, si, bản ngã chúng ta đều thấy và biết cách nhiếp phục, biết cách nhiếp phục, đánh gục. Và chúng ta lại biết tưởng, hành đó là bất thiện hay thiện và biết được nhân duyên hình thành sanh diệt của ngũ uẩn. chúng ta đang có một hướng đi tối thượng, quang minh, tuyệt diệu để từ từ chúng ta bước ra khỏi năm uẩn.

Trong những bước diệt ác và tác thiện, làm những điều thiện đối với năm uẩn, trong những bước nhận diện, nhìn thấy, và chúng ta hết sức màu nhiệm và tuyệt vời. Lành thay cho cô Chân Ngọc. Lành thay cho chúng ta, thật là vi diệu thay, lành thay cho sư cô Chân Phước. Tu bảy ngày sám hối, nước mắt tuôn trào ra nhìn thấy thân tâm của mình, phơi bày tất cả, những cái lậu hoặc. Hạnh phúc quá, những giọt nước mắt hạnh phúc, những giọt nước mắt nhìn thấy được mình, những giọt nước mắt chân chánh, chân thành, chân thật, chân pháp, chân trí, chân nhân. Nước mắt chúng ta tuôn ra và lòng tràn ngập những hỷ lạc, những vui sướng, hân hoan.

Sự cao quý này, sự cao thượng này, sự cao diệu này, sự thanh cao này sẽ là những cảm giác đưa chúng ta đi, đưa chúng ta vào một dòng Thánh trí tuệ. Chúng ta đang đi trên con đường của Thánh đi, chúng ta đang học Pháp mà bậc Thánh đã học, đang tu pháp mà bậc Thánh đã tu và chúng ta sẽ chứng đạt pháp mà bậc Thánh đã chứng đạt. Còn gì hạnh phúc bằng, còn gì mà hân hoan bằng, còn gì vui sướng bằng, còn gì tuyệt vời, tuyệt diệu, tối thượng hơn nữa trong cuộc đời này. Trong cuộc đời vô minh, trường dạ này mà chúng ta đi theo ánh sáng, quang sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh. Tuyệt vời không? Vi diệu không? Tịnh lạc không? Tuyệt diệu không?

Hoan hỉ lên, vui sướng lên, hân hoan lên, hạnh phúc lên, trí tuệ lên, bừng sáng lên, rực sáng lên, chiếu sáng, tỏa sáng giữa cuộc đời này. Đây là những ngọn đèn, những ngọn đuốc được thắp sáng lên từ trí huệ của bậc tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ trí huệ của bậc đã thành tựu. Đây là những ngọn đèn, ngọn đuốc chói sáng, thắp sáng, bừng sáng, tỏa sáng và rực sáng trong cuộc đời này. Hỷ lạc trào dâng, tràn ngập trong thân tâm này dào dạt từ đỉnh đầu cho đến gót chân, mỗi lỗ chân lông, mỗi tế bào sung mãn, thấm nhuần, đượm thấm, đượm nhuần hết tất cả thân tâm của chúng ta.

Vui sướng, hạnh phúc, hân hoan thay cho chúng ta gặp được tối thượng Thánh Pháp này. Tối thượng Thánh Pháp này sẽ đưa chúng ta vào dòng Thánh Trí huệ, đưa chúng ta Nhập Lưu, đi đến một sự bất tử, an lạc, đại bình an. Hạnh phúc quá, an lạc quá. Không có bất cứ một niềm vui, hạnh phúc nào có thể so sánh nổi với hỷ lạc của Thánh Pháp này.

“Như giữa đống rác nhớp

Quăng bỏ ngoài đường lớn

Chỗ ấy hoa sen nở

Thơm, sạch, đẹp ý người

Cũng vậy giữa phàm phu’

Uế nhiễm, mù phàm tục

Đệ tử bậc Chánh Giác

Sáng ngời với tuệ trí”.