Tinh Hoa Nikāya - Thánh Trí Sắc Uẩn
Tinh Hoa Nikāya
Thánh Trí Sắc Uẩn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về sắc PAGEREF _Toc158994019 \h 1
II. Nghiệp bất khả tư nghị PAGEREF _Toc158994020 \h 4
Ở núi không gian lặng như tờ,
Quán ngũ dục, đời mộng mơ.
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não,
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn,
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn.
Xét cho tường tận bản tánh Sắc,
Bọt nước nguy nan, đầy bất an.
Con dập đầu cúi lạy
Bậc tôn kính nhất đời,
Tâm hoàn toàn thanh tịnh,
Diệt tận tham, sân, si,
Bậc thấu suốt hoàn toàn,
Thân tâm và thế giới,
Đấng tột cùng giác ngộ
Phật Thích-ca Mâu-ni
I. Thánh trí về sắc
Kính bạch chư tôn hiền đức và các vị hiền trí, mình thường nhớ ngũ uẩn thì mình sẽ bớt tham, sân, si rất nhiều. Thế nào là sắc sanh? Tại sao lại có ra cành trúc? Từ đâu sắc tập khởi? Thế nào là vị ngọt của sắc?
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, do duyên có mắt và các sắc khởi lên hỷ lạc gì thì đấy là vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Sư Phụ: Đó là bài kinh, còn ứng dụng vô ngay chỗ này thì sao? Thế nào là vị ngọt của cành trúc này?
Giới tử Hiền Tuyết: Do duyên có mắt nhìn thấy cành trúc khởi lên sự ham thích, hỷ lạc là vị ngọt của sắc.
Sư Phụ: Thế nào là sự nguy hại? Ứng dụng vào cành trúc này.
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, cành trúc này nếu chặt ra khỏi thân thì chỉ một thời gian ngắn là đi đến vô thường, hủy hoại, hủy diệt.
Sư Phụ: Cái vô thường, hủy hoại, hủy diệt, nó khô, nó héo thì cái đó là gì?
Giới tử Hiền Tuyết: Là sự nguy hại của sắc ạ.
Sư Phụ: Làm sao thoát ra khỏi lòng ham muốn với cành trúc này?
Giới tử Hiền Tuyết: Sự xuất ly của sắc là nhìn thấy sự vô thường, biến hoại, hoại diệt của sắc, sự đoạn tận dục tham, sự nhiếp phục dục tham với sắc.
Sư Phụ: Mình nhiếp phục ra sao?
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, mình thấy rõ sự vô thường, mình không tham muốn, không tham chấp vào nó.
Sư Phụ: Nếu lúc nào cũng nhìn thấy giống như nãy giờ thì vào sơ quả lâu rồi, đó là thánh trí về sắc uẩn cho nên các vị mới phải cố gắng học. Chiều nay cành trúc này không nằm trên bàn này nữa mà nó sẽ bị vứt vào gốc cây, thùng rác, chúng ta chỉ lâu hơn cành trúc này một chút thôi nhưng một chút đó không cố định là một ngày, một tháng, một năm hay mười năm, ba chục năm. Tất cả đều đi đến sự biến diệt, biến hoại, hoại diệt, mình tập nhìn gọi đúng tên của nó, cái mà gọi là trúc, trà, cây quạt, đồng hồ là những cái quy ước của phàm phu, không phải thánh trí của Đức Phật, thánh trí Đức Phật gọi chung đó là sắc pháp, sắc uẩn, là tứ đại.
Khi mình ăn cơm mình có nhớ do thức ăn tập khởi nên thân này tồn tại hay xem hôm nay có món gì? Tu ngay chỗ đó, thành ra học rồi phải ứng dụng vào đời sống thực tế, mình niệm "Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi. Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt. Cơm có cho nên mình còn, mình còn ăn nên mình còn sống, mình hết ăn được thì mình chết", còn thở được thì sống, hết thở thì chết, còn uống được thì sống, uống hết được thì chết, đó là sự nguy hại của sắc, sự tàn hoại của sắc, sự hoại diệt của sắc, sự biến hoại của sắc.
Lúc ăn cơm, uống nước đều phải niệm pháp, hôm qua chúng ta đi kinh hành giữa trời mưa trong tiếng nhạc thiền ở Viễn Ly Xứ là thân tứ đại đi, nhờ phong đại nên chúng ta mới chuyển động, di động. Lúc đó chúng ta có thấy gió hay chỉ thấy một cái tôi đang đi? Trí tuệ hay ngu si chính là ở chỗ này, mình học là tứ đại nhưng khi trở ra chỉ thấy cái tôi, thấy mình. Ngược lại phải nhớ gió đang vận hành, đất đang di động, lửa đang có mặt trong thân, nước còn trong thân, tứ đại đang xê dịch, đang chuyển động, đang hành động cho nên lúc nào cũng phải quán chiếu như vậy chứ không phải đợi đến khi có quý thầy, quý Ni sư nhắc mới nhớ.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Mình phải luôn nhớ nghĩ về sự sanh diệt của các uẩn, sự tập khởi của sắc, sự đoạn diệt của sắc, đó chính là sanh diệt trí. Nhờ sức gió vận hành, cũng như con ngồi nói được là nhờ sức gió bên trong, đến khi cứng họng, liệt tay chân hết là xong rồi, lúc đó sẽ như khúc cây.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Động là phong đại, ấm là hỏa đại, người nào thường suy nghiệm về trí tuệ về sắc thì Đức Phật gọi người đó đang nếm hương vị bất tử, người nào đang thực hành Thân Hành Niệm thì người đó đang bước vào thế giới của bất tử, đang gõ cửa bất tử, đang đi vào chỗ không chết nữa. Chúng ta phải để ý cho kĩ, khi vừa mới xả thiền, pháp hội vừa tan là mình dao động liền, đây là chỗ mình còn thiếu sót, con rất muốn khi pháp hội tan vẫn phải giữ chánh niệm khi còn. Khi pháp hội tan rồi thì mạnh ai người nấy chánh niệm tỉnh giác đi về, không lăng xăng, dao động, niệm thân để xem sắc pháp này, gió này đang vận hành, chỉ cần lửa tăng cao một chút thôi là khó chịu, là bệnh hoạn, là khổ.
Chúng ta đi khất thực buổi sáng vì trưa là "nóng quá sư phụ ơi", mới đây bên Thái Lan báo cáo nhiệt độ lên 45 độ, đó là chưa từng có trên thế giới, chỉ mới vào đầu mùa hạ thôi đã vậy, đó là lửa bên ngoài. Chúng ta không lo tu lẹ, không lo tinh tấn thì bất thình lình thân này sẽ đổ xuống, ngã xuống, nằm xuống cho nên phải nhớ niệm về sắc uẩn. Khi ăn cơm phải niệm "còn ăn là còn sống, ăn này là sự vay mượn, nếu ngưng cái mượn này là mình chết", khi cầm ly nước uống phải niệm "đây là sự vay mượn, còn uống là còn sống, hết uống là chết", đồ ăn phải nghiền nát ra đổ vào ống đưa thẳng vào ruột, nằm đó không biết gì ba năm, năm năm, hai chục năm, sống đời sống thực vật, một trong bốn điều không thể biết trước được là quả dị thục của nghiệp.
II. Nghiệp bất khả tư nghị
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Không ai ngồi đây mà biết trước được tương lai, mình không thể biết được chắc chắn sau này mình sẽ như thế nào, thậm chí ngày mai cũng không thể biết trước được. Quả dị thục của nghiệp là một trong bốn bất khả tư nghì, bốn điều không thể tưởng tượng được, nếu từ giờ mình không ráng tu, không cố gắng dụng công phu, không toàn tâm toàn ý, dốc toàn bộ khả năng, sức lực của mình thì khi nghiệp quả trổ tới làm sao mình chống đỡ nổi?
Tái sanh và tái tử
Đau khổ đã nát nhừ,
Lại còn ác nghiệp cũ,
Chờ thời để ra tay.
Cái nghiệp lúc nào cũng chờ thời để ra tay, nó rình tập mình khắp mọi chỗ mọi nơi, cũng giống như con muỗi cứ bay vo ve xung quanh rồi bất ngờ chích mình, đó là chờ thời để ra tay, hoặc là biết bao người không bị mà mình bị rắn cắn, đó cũng là chờ thời để ra tay. Có em bé vài tuổi thôi đang nằm ngủ mà con rắn độc bò vào mùng cắn chết, không phải tự nhiên mà tất cả ác nghiệp đều tiềm phục, nó ẩn nấp, mai phục và chờ đúng cơ hội thì xuất đầu lộ diện ập tới, nếu mình không có thiện pháp, không có phước lành, công đức, không có niệm lực, đạo lực, hạnh lực, phước lực thì rất nguy hiểm.
Khi quả dị thục của nghiệp trổ ra thì có người tự vận, có người điên loạn, có người nhảy cầu, có người nhảy lầu, có người thắt cổ, có người thành khùng điên, từ đỉnh cao mà rơi xuống ở tù thì làm sao chịu được, đi tới đâu được vỗ tay ầm ầm tới đó vậy mà giờ phải vào tù, thân bại danh liệt hoặc còn trẻ, mới ngoài 20 mà ung thư giai đoạn cuối, đầu tóc rụng hết, ốm 30kg. Người ta không chấp nhận được, người ta bàng hoàng, hoảng hốt, kinh hãi, hoảng sợ, hoảng loạn vì đó là ác nghiệp của mình, bất thiện nghiệp của mình chờ thời ra tay.
Chúng ta làm rất nhiều thiện pháp, làm rất nhiều phước báo, tu tập nhiều công đức, trí tuệ, chúng ta phải làm rất nhiều phương diện chứ đừng nghĩ bố thí, cúng dường được rồi, khỏi cần tu hoặc là tu thôi, không cần cúng dường, giúp đỡ ai nữa, hoặc là bây giờ tu tuệ thôi không tu định. Tất cả những gì Đức Phật dạy trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo mình phải bằng tất cả khả năng, năng lực để làm, chúng ta là con người không phải chỉ có cánh tay hoặc đôi chân hoặc chỉ có con mắt, phải có đầy đủ sáu căn, cũng vậy, sự tu của mình cũng phải có nhiều phương diện, khía cạnh, gốc độ để đánh phá vào vô minh, tham ái, chấp thủ và nghiệp lực, vì thế không được tự mãn với những thiện pháp nhỏ bé.
Không bao giờ được tự mãn với một chút thiện pháp, công đức, người tu đa số tu được một thời gian là dừng lại, Đức Phật nói ngài không ca ngợi việc dừng lại đối với thiện pháp vì còn những pháp cao thượng hơn, thâm sâu hơn cần phải chứng ngộ, chứng đắc, chứng đắc.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Ngài Xá-lợi-phất khen Đức Thế Tôn là càng ngày càng nghe Đức Phật dạy những bài pháp về sau càng thâm sâu hơn những bài pháp về trước, những giáo pháp về sau càng thậm thâm hơn, thần diệu hơn, vi diệu hơn.
"Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu. Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu như vậy, nên trong sự thâm hiểu Chánh pháp, một pháp được con thâm hiểu trọn vẹn, đó là lòng tin của con vào vị Bổn Sư - Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng và chúng Tăng đã khéo hành trì" (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỉ)
Người ta kinh doanh ở ngoài đời không bao giờ hài lòng với món lợi nhỏ, lúc nào cũng muốn thêm, tại sao tu lại không được như vậy? Mình không có Dục Như Ý Túc, không có Tinh Tấn Như Ý Túc cho nên phải có sự nỗ lực muốn thêm nữa, nếu không nghiệp đến là mình thúc thủ, mình sẽ không còn được tự do như bây giờ nữa. Chúng ta phải sắp xếp công việc, nhà cửa, chồng con, phải mua vé lên máy bay, lên xe đi tới núi, vào trong hội chúng ngồi luôn mà còn chưa chắc tu tập được, đó chính là nghiệp chướng nên cần phải sám hối. Mình không oán trách người khác, không oán trách thầy bạn mà quay lại nhìn đó là bất thiện nghiệp trong quá khứ của mình làm chướng ngại nên phải sám hối oan gia trái chủ, trải tâm từ.
Buổi sáng này cô giới tử con của Hiền Nhân phát biểu rất tốt, khi chưa hiểu ngũ uẩn mà nghe tiếng chim hót thích lắm, chim bay giữa trời tự do quá cộng với tiếng hót du dương, lảnh lót nên có người muốn đời sau không làm người nữa mà muốn làm chim, đó là không biết được rằng được làm người là cao quý trong lục đạo, chim là loài súc sanh, là vô minh. Một ông nói rằng cá bơi tung tăng sướng quá, người kia hỏi không phải là cá thì làm sao biết cá vui, nhìn như vậy chứ nó khổ lắm, mình là người có nhận thức, được đi học mấy chục năm, được giáo dục lễ nghĩa, được học chánh pháp mà còn khổ như vầy, sân si trị không nổi, bản ngã cứ phình lên thì huống chi loài súc sanh cho nên thấy con mèo đi ngang thương vô cùng, đó là quả dị thục của nghiệp.
Nếu dùng trí ngũ uẩn này nhìn ra thì chỗ nào cũng là pháp, chỗ nào cũng là thánh trí, chỗ nào cũng là sự thật, chỗ nào, con người nào cũng là chỗ tu, nếu quên thánh trí là sống với phàm tình, sống với hơn thua, vô minh, đúng sai, hay dở, nhân ngã bỉ thử, tôi ta, ngu si, mê muội, kiến chấp, tội lỗi, hôn ám, dại khờ. Mình rời khỏi thánh trí là lập tức mình rơi xuống vực sâu, vào trong lửa bỏng, rớt xuống hố than hừng, bóng đêm trùm ngập cả người. Nhưng nếu không học thì làm sao biết thánh trí là gì? Cho nên đầu tiên văn – huệ phải thành tựu, phải nghe nhiều rồi nhớ, nương theo cái nhớ để suy tư cho ngấm từ từ, mỗi ngày ngấm từ từ, đến khi ngấm hẳn vào luôn thì gọi là thể nhập Thánh trí. Chúng ta ngồi đây nhưng chút nữa không biết ra sao chứ đừng nói gì đợi đến khi về nhà.
Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ.
Triêu tồn tịch vong sát na dị thế.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Vô thường già bệnh không hẹn một ai. Sớm còn tối mất, trong khoảng sát na đã qua đời khác. Hoặc là câu "Diêm Vương chú định tam canh tử, nan lưu hoạt đáo ngũ canh thiên" nghĩa là Diêm Vương đã định canh ba chết, khó lòng sống nổi tới canh năm, chính vì vậy cần phải tu. Khi làm việc thiện, việc công đức, quán chiếu trí tuệ là nhất định không hẹn mà phải làm ngay lập tức, vừa rồi có quý Phật tử bên Úc làm visa 3 năm cho con đi qua đó hoằng pháp, muốn đi bất cứ lúc nào thì đi, đi lâu nhất là 3 tháng.
Quý Phật tử này về đây đem di ảnh của người bác từ Hà Nội vào đây, bác này đi lên đây rồi về bắc cứ nhớ mãi, mong muốn được trở lại đây, các con cháu trong nhà thấy vậy nên khi ông mất thì gửi ông về đây. Trên đây mình chưa làm nhà để các hương linh, sau này mình sẽ làm, ông mong muốn được trở lại cho nên con thấy các vị lên đây tu mà nửa đường đã về dù chưa xong khóa là con tiếc lắm, trừ khi nào có việc quan trọng lắm mới về, còn lại phải cố gắng hết sức mình, đừng bỏ dở nửa chừng vì có thể suốt cuộc đời không có lần thứ hai, đừng nghĩ rằng lần này đi không được thì sau này đi.
Con xin thưa với các ngài là dù con ngồi đây chia sẻ nhưng con không nghĩ là tối nay hoặc ngày mai còn một thời nữa, không dám nghĩ như vậy vì nghĩ như vậy là vô minh, không thấy được vô thường cho nên khi nào chia sẻ là con chia sẻ hết mình, các ngài đau chân cũng hoan hỉ giùm con, chia sẻ hết tấm lòng để khi chết không hối hận, khi chết nằm trên gường thì không còn cất chứa, những gì bậc đạo sư truyền trao thì con cũng đã nói hết.
Hồi khuya này con nằm chiêm bao gặp bậc đạo sư không phải là một thân tướng bệnh như vậy mà là hình dáng của bậc Thánh đệ tử thiên, đội vương miện bằng kim cương, thân khoác áo màu xanh biển, kế đó có một vị chư thiên mặc áo hồng cam cũng đội vương miện bằng kim cương, kế đó là thiên đồng, nghĩa là đồng tử của cõi trời chừng vài tuổi thôi, mặc y phục rất đặc biệt cho nên mình phải cố gắng tu. Các ngài kết thúc kiếp này là các ngài lên Tịnh Cư Thiên, tức là Bất Lai Thánh quả, không còn trở lại đây để mình gặp nữa, bây giờ không tu thì mình còn lang thang trong sanh tử, mình còn chìm đắm, còn trôi nổi, phiêu bạt.
Gần đây con nằm chiêm bao về các bậc đắc đạo ngày xưa, sư bà và những bậc Thánh đức đều khuyến khích con phải nhập thất cho nên chưa chắc gì chúng ta còn gặp nhau nữa nên mình phải cố gắng hành trì, bất cứ lúc nào vô thường đến hoặc con đi hoằng pháp, con tỉnh tu cho nên mình đừng nghĩ hôm nay không tu được thì ngày mai mình tu, nghĩ như vậy là vô minh, là si mê, là không thấy được vô thường.
Phải siêng năng, cố gắng ngày đêm tác ý, tư duy, thiền tư thường xuyên và liên tục, bất thình lình bệnh đến với mình, hôm nay báo đăng có người bị Covid chết, quả dị thục của nghiệp ở khắp mọi nơi nhưng vì mình vô minh nên không hay biết, nói đụng tới là không được, chạm tới là sân si, bản ngã lên. Dù mình biết đó là ân nhân của mình, người có tâm từ, thương yêu mình, muốn chỉ dạy cho mình mà mình vẫn không nhiếp phục được sân si, bản ngã của mình chứ đừng nói gì đến những người thấp hơn mình cho nên tu tâm hiền, tâm từ không bao giờ là đủ, tu tâm khiêm hạ mãi mãi không bao giờ đủ.
Trong bài kinh Sau khi an cư có một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất thì ngài đã rống lên tiếng rống con sư tử rồi cuối cùng ngài nói nếu vị Tỳ-kheo đó xin lỗi thì ngài sẽ tha thứ và xin vị Tỳ-kheo đó cũng tha lỗi cho ngài.
"Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Đó là người khác vu khống ngài trước mặt Đức Thế Tôn, sau đó ngài tha thứ cho họ đồng thời cũng xin vị đó tha thứ lại cho mình. Ngài bị vu khống, ngài không có lỗi nhưng tại sao lại nói người kia tha thứ cho ngài? Đó là nhờ tâm hiền từ, đại bi, các ngài không còn hơn thua, đúng sai với chúng sanh nữa, người sáng mắt không lẽ lại đi cãi nhau với người mù, giống như những chiếc máy bay vặn dây cót bay lên được một chút lại đi so với cơ trưởng, phàm phu giống như những đứa con nít chơi máy bay đồ chơi, còn các bậc thành tựu chánh kiến giống như cơ trưởng.
Giữa những đứa con nít chơi máy bay đồ chơi với cơ trưởng thật thụ có so sánh được không? Một người không thấy pháp với một người thấy pháp khác nhau đến như vậy đó, một người không thấy ngũ uẩn với một người thấy được ngũ uẩn khác nhau như vậy, một người không thấy được thân tâm, không thấy được lậu hoặc giống như những đứa con nít chơi đồ chơi, không đưa ai bay đi đâu được, còn thành tựu chánh kiến mới có đủ đạo lực, định lực, tuệ lực để cứu độ chúng sanh.
"Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
... thọ... tưởng... các hành...
... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh)
Đức Thế Tôn nói giống như những đứa trẻ con chơi nhà chòi bằng đất, khi nào lòng tham, lòng dục, lòng ái còn thì nó còn chơi với những nhà chòi bằng đất đó, khi nào lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng yêu, lòng thích, lòng muốn không còn nữa thì nó sẽ đập tan, đập vỡ, đập bể những nhà chòi bằng đất đó. Nhà chòi bằng đất đó chính là năm thủ uẩn, thấp kém, hạ liệt, bất tịnh là ngũ uẩn này, phiền não, khổ đau, mệt mỏi là ngũ uẩn.
Do mình không đủ trí tuệ để quán chiếu nên mình phải thường xuyên đọc, nghe, tác ý, tư duy, như lý giác sát, nhắc nhở liên tục cho đến khi nào thể nhập thôi, đó là lý do sáng nào cũng phải đọc kinh, nghe pháp, pháp đàm, chiều thì đến tụng kinh, cứ làm như vậy cho đến khi nào không mất nữa thì thể nhập Thánh trí.
Mình nói cho đến ngày chết cũng chỉ là ngũ uẩn, vô thường, khổ, vô ngã, ly tham, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ, thoát ra, đây là trí tuệ bất cọng với phàm phu. Tất cả những truyền thống khác, những đoàn thể khác không bao giờ thành tựu được trí tuệ này, đây là một trong bảy trí bậc Thánh Dự Lưu, nếu không học Nikāya, không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được lậu hoặc thì không bao giờ có được chánh tri kiến của bậc Thánh, cái thấy biết của bậc Thánh, vĩnh viễn không bao giờ thoát ra khỏi ngũ uẩn, thậm chí còn không biết ngũ uẩn là gì thì làm sao thoát ra.
Nếu đã không thấy ngũ uẩn thì làm sao nhìn thấy rác trong ngũ uẩn, không nhìn thấy rác thì làm sao hốt rác, làm sao dọn rác, làm sao vệ sinh cho sạch vì vậy tất cả các vị mới trước khi xuống núi phải nhận diện được ngũ uẩn, nếu không nhận diện được ngũ uẩn mà xuống núi thì coi như uổng công chuyến đi. Phải cố gắng thật nhiều trong việc thiện, trong công quả, công phu, từ việc làm phước, làm thiện, trong việc tu huệ, học kinh, học pháp, tín – giới – văn – thí – tàm quý – tuệ là bảy tài sản của bậc Thánh, phải có lòng tin, giữ giới, nghe pháp nhiều, bố thí, cúng dường, hổ thẹn và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, cuối cùng là tu tập trí tuệ về ngũ uẩn. Đó là bảy tài sản của bậc Thánh, mình có cái đó tức là mình thừa hưởng được thánh sản của Đức Phật.
Những tài sản mình có đây nếu đứt hơi thì bỏ lại hết, được người thân đốt cho nhưng toàn đồ giấy, đốt cho toàn là đô la âm phủ, còn đô la thật lấy hết, đâu có đốt cho tờ đô la thật nào đâu nhưng nghiệp thì mình lại mang. Mình tạo ra 5 tỷ nhưng trong 5 tỷ đó biết bao lừa gạt, dối trá, biết bao thứ nghiệp trong đó, khi mình chết thì 5 tỷ đó người khác dùng nhưng nghiệp ác mình đã tạo để làm ra 5 tỷ thì mình chịu.
Vậy mà không biết làm những thiện pháp, nhiều khi người ta đói khổ đến trước cửa nhà cũng không biết cho, gặp những bà già đi bán vé số cũng không biết giúp cho nên phải siêng năng làm lành, làm thiện, làm phước thật nhiều, phước huệ song tu, bi trí đồng hành. Đừng sợ phước, đừng chán phước, đừng thấy đủ đối với phước đức, đừng bao giờ nghĩ rằng "tôi làm nhiều lắm rồi", đó là thất bại. Mình phải không ngừng tiến lên, không ngừng nỗ lực, không ngừng tăng thượng, không ngừng phát triển.
Hôm nay được tu nhiều giờ thì có người thấy hạnh phúc, có nhiều phước báo, ngược lại có người than thở "sao hôm nay tu nhiều vậy", hai sự tác ý khác nhau hoàn toàn. Ngày nào được ngồi tu lâu, nhiều hơn thì thấy vui, "hôm nay mình có được công đức nữa, mình bỏ ống được chút trí tuệ nữa", mình hân hoan, hoan hỉ, hạnh phúc, phấn khởi, sung sướng lên, đó là người khôn, người có trí. Tâm hiền, tâm từ, tâm hòa, tâm kính có mối liên hệ mật thiết với nhau, ví dụ có người nói "con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni" là chúng ta chắp tay lên hết cùng hướng về Đức Phật thì cái đó chính là hòa kính, nghĩa là một người kính thì tất cả những người còn lại cũng hòa kính theo.
Tuy nhiên có những người mới đến không chịu, vẫn ngồi chứ không chắp tay theo, còn mình đang làm theo những cái theo tinh thần của Đức Phật trong 6 pháp hòa kính, tuy thân khác nhau nhưng đồng một tâm, như nước với sữa cùng hòa hợp nhau, không tranh cãi, không hơn thua, lúc nào trình pháp cũng nước mắt đầm đìa, thương nhau không hết thì sao nỡ làm khổ cho nhau. Hãy hiểu cho nhau, cảm thông, tha thứ cho nhau, bao dung với nhau, nâng đỡ, dìu dắt nhau, chúng hội dù 100 hay 1000 cũng giống y như vậy.
./.
Thánh Trí Sắc Uẩn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về sắc PAGEREF _Toc158994019 \h 1
II. Nghiệp bất khả tư nghị PAGEREF _Toc158994020 \h 4
Ở núi không gian lặng như tờ,
Quán ngũ dục, đời mộng mơ.
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não,
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn,
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn.
Xét cho tường tận bản tánh Sắc,
Bọt nước nguy nan, đầy bất an.
Con dập đầu cúi lạy
Bậc tôn kính nhất đời,
Tâm hoàn toàn thanh tịnh,
Diệt tận tham, sân, si,
Bậc thấu suốt hoàn toàn,
Thân tâm và thế giới,
Đấng tột cùng giác ngộ
Phật Thích-ca Mâu-ni
I. Thánh trí về sắc
Kính bạch chư tôn hiền đức và các vị hiền trí, mình thường nhớ ngũ uẩn thì mình sẽ bớt tham, sân, si rất nhiều. Thế nào là sắc sanh? Tại sao lại có ra cành trúc? Từ đâu sắc tập khởi? Thế nào là vị ngọt của sắc?
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, do duyên có mắt và các sắc khởi lên hỷ lạc gì thì đấy là vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Sư Phụ: Đó là bài kinh, còn ứng dụng vô ngay chỗ này thì sao? Thế nào là vị ngọt của cành trúc này?
Giới tử Hiền Tuyết: Do duyên có mắt nhìn thấy cành trúc khởi lên sự ham thích, hỷ lạc là vị ngọt của sắc.
Sư Phụ: Thế nào là sự nguy hại? Ứng dụng vào cành trúc này.
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, cành trúc này nếu chặt ra khỏi thân thì chỉ một thời gian ngắn là đi đến vô thường, hủy hoại, hủy diệt.
Sư Phụ: Cái vô thường, hủy hoại, hủy diệt, nó khô, nó héo thì cái đó là gì?
Giới tử Hiền Tuyết: Là sự nguy hại của sắc ạ.
Sư Phụ: Làm sao thoát ra khỏi lòng ham muốn với cành trúc này?
Giới tử Hiền Tuyết: Sự xuất ly của sắc là nhìn thấy sự vô thường, biến hoại, hoại diệt của sắc, sự đoạn tận dục tham, sự nhiếp phục dục tham với sắc.
Sư Phụ: Mình nhiếp phục ra sao?
Giới tử Hiền Tuyết: Con kính thưa sư phụ, mình thấy rõ sự vô thường, mình không tham muốn, không tham chấp vào nó.
Sư Phụ: Nếu lúc nào cũng nhìn thấy giống như nãy giờ thì vào sơ quả lâu rồi, đó là thánh trí về sắc uẩn cho nên các vị mới phải cố gắng học. Chiều nay cành trúc này không nằm trên bàn này nữa mà nó sẽ bị vứt vào gốc cây, thùng rác, chúng ta chỉ lâu hơn cành trúc này một chút thôi nhưng một chút đó không cố định là một ngày, một tháng, một năm hay mười năm, ba chục năm. Tất cả đều đi đến sự biến diệt, biến hoại, hoại diệt, mình tập nhìn gọi đúng tên của nó, cái mà gọi là trúc, trà, cây quạt, đồng hồ là những cái quy ước của phàm phu, không phải thánh trí của Đức Phật, thánh trí Đức Phật gọi chung đó là sắc pháp, sắc uẩn, là tứ đại.
Khi mình ăn cơm mình có nhớ do thức ăn tập khởi nên thân này tồn tại hay xem hôm nay có món gì? Tu ngay chỗ đó, thành ra học rồi phải ứng dụng vào đời sống thực tế, mình niệm "Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi. Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt. Cơm có cho nên mình còn, mình còn ăn nên mình còn sống, mình hết ăn được thì mình chết", còn thở được thì sống, hết thở thì chết, còn uống được thì sống, uống hết được thì chết, đó là sự nguy hại của sắc, sự tàn hoại của sắc, sự hoại diệt của sắc, sự biến hoại của sắc.
Lúc ăn cơm, uống nước đều phải niệm pháp, hôm qua chúng ta đi kinh hành giữa trời mưa trong tiếng nhạc thiền ở Viễn Ly Xứ là thân tứ đại đi, nhờ phong đại nên chúng ta mới chuyển động, di động. Lúc đó chúng ta có thấy gió hay chỉ thấy một cái tôi đang đi? Trí tuệ hay ngu si chính là ở chỗ này, mình học là tứ đại nhưng khi trở ra chỉ thấy cái tôi, thấy mình. Ngược lại phải nhớ gió đang vận hành, đất đang di động, lửa đang có mặt trong thân, nước còn trong thân, tứ đại đang xê dịch, đang chuyển động, đang hành động cho nên lúc nào cũng phải quán chiếu như vậy chứ không phải đợi đến khi có quý thầy, quý Ni sư nhắc mới nhớ.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Mình phải luôn nhớ nghĩ về sự sanh diệt của các uẩn, sự tập khởi của sắc, sự đoạn diệt của sắc, đó chính là sanh diệt trí. Nhờ sức gió vận hành, cũng như con ngồi nói được là nhờ sức gió bên trong, đến khi cứng họng, liệt tay chân hết là xong rồi, lúc đó sẽ như khúc cây.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Động là phong đại, ấm là hỏa đại, người nào thường suy nghiệm về trí tuệ về sắc thì Đức Phật gọi người đó đang nếm hương vị bất tử, người nào đang thực hành Thân Hành Niệm thì người đó đang bước vào thế giới của bất tử, đang gõ cửa bất tử, đang đi vào chỗ không chết nữa. Chúng ta phải để ý cho kĩ, khi vừa mới xả thiền, pháp hội vừa tan là mình dao động liền, đây là chỗ mình còn thiếu sót, con rất muốn khi pháp hội tan vẫn phải giữ chánh niệm khi còn. Khi pháp hội tan rồi thì mạnh ai người nấy chánh niệm tỉnh giác đi về, không lăng xăng, dao động, niệm thân để xem sắc pháp này, gió này đang vận hành, chỉ cần lửa tăng cao một chút thôi là khó chịu, là bệnh hoạn, là khổ.
Chúng ta đi khất thực buổi sáng vì trưa là "nóng quá sư phụ ơi", mới đây bên Thái Lan báo cáo nhiệt độ lên 45 độ, đó là chưa từng có trên thế giới, chỉ mới vào đầu mùa hạ thôi đã vậy, đó là lửa bên ngoài. Chúng ta không lo tu lẹ, không lo tinh tấn thì bất thình lình thân này sẽ đổ xuống, ngã xuống, nằm xuống cho nên phải nhớ niệm về sắc uẩn. Khi ăn cơm phải niệm "còn ăn là còn sống, ăn này là sự vay mượn, nếu ngưng cái mượn này là mình chết", khi cầm ly nước uống phải niệm "đây là sự vay mượn, còn uống là còn sống, hết uống là chết", đồ ăn phải nghiền nát ra đổ vào ống đưa thẳng vào ruột, nằm đó không biết gì ba năm, năm năm, hai chục năm, sống đời sống thực vật, một trong bốn điều không thể biết trước được là quả dị thục của nghiệp.
II. Nghiệp bất khả tư nghị
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Không ai ngồi đây mà biết trước được tương lai, mình không thể biết được chắc chắn sau này mình sẽ như thế nào, thậm chí ngày mai cũng không thể biết trước được. Quả dị thục của nghiệp là một trong bốn bất khả tư nghì, bốn điều không thể tưởng tượng được, nếu từ giờ mình không ráng tu, không cố gắng dụng công phu, không toàn tâm toàn ý, dốc toàn bộ khả năng, sức lực của mình thì khi nghiệp quả trổ tới làm sao mình chống đỡ nổi?
Tái sanh và tái tử
Đau khổ đã nát nhừ,
Lại còn ác nghiệp cũ,
Chờ thời để ra tay.
Cái nghiệp lúc nào cũng chờ thời để ra tay, nó rình tập mình khắp mọi chỗ mọi nơi, cũng giống như con muỗi cứ bay vo ve xung quanh rồi bất ngờ chích mình, đó là chờ thời để ra tay, hoặc là biết bao người không bị mà mình bị rắn cắn, đó cũng là chờ thời để ra tay. Có em bé vài tuổi thôi đang nằm ngủ mà con rắn độc bò vào mùng cắn chết, không phải tự nhiên mà tất cả ác nghiệp đều tiềm phục, nó ẩn nấp, mai phục và chờ đúng cơ hội thì xuất đầu lộ diện ập tới, nếu mình không có thiện pháp, không có phước lành, công đức, không có niệm lực, đạo lực, hạnh lực, phước lực thì rất nguy hiểm.
Khi quả dị thục của nghiệp trổ ra thì có người tự vận, có người điên loạn, có người nhảy cầu, có người nhảy lầu, có người thắt cổ, có người thành khùng điên, từ đỉnh cao mà rơi xuống ở tù thì làm sao chịu được, đi tới đâu được vỗ tay ầm ầm tới đó vậy mà giờ phải vào tù, thân bại danh liệt hoặc còn trẻ, mới ngoài 20 mà ung thư giai đoạn cuối, đầu tóc rụng hết, ốm 30kg. Người ta không chấp nhận được, người ta bàng hoàng, hoảng hốt, kinh hãi, hoảng sợ, hoảng loạn vì đó là ác nghiệp của mình, bất thiện nghiệp của mình chờ thời ra tay.
Chúng ta làm rất nhiều thiện pháp, làm rất nhiều phước báo, tu tập nhiều công đức, trí tuệ, chúng ta phải làm rất nhiều phương diện chứ đừng nghĩ bố thí, cúng dường được rồi, khỏi cần tu hoặc là tu thôi, không cần cúng dường, giúp đỡ ai nữa, hoặc là bây giờ tu tuệ thôi không tu định. Tất cả những gì Đức Phật dạy trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo mình phải bằng tất cả khả năng, năng lực để làm, chúng ta là con người không phải chỉ có cánh tay hoặc đôi chân hoặc chỉ có con mắt, phải có đầy đủ sáu căn, cũng vậy, sự tu của mình cũng phải có nhiều phương diện, khía cạnh, gốc độ để đánh phá vào vô minh, tham ái, chấp thủ và nghiệp lực, vì thế không được tự mãn với những thiện pháp nhỏ bé.
Không bao giờ được tự mãn với một chút thiện pháp, công đức, người tu đa số tu được một thời gian là dừng lại, Đức Phật nói ngài không ca ngợi việc dừng lại đối với thiện pháp vì còn những pháp cao thượng hơn, thâm sâu hơn cần phải chứng ngộ, chứng đắc, chứng đắc.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Ngài Xá-lợi-phất khen Đức Thế Tôn là càng ngày càng nghe Đức Phật dạy những bài pháp về sau càng thâm sâu hơn những bài pháp về trước, những giáo pháp về sau càng thậm thâm hơn, thần diệu hơn, vi diệu hơn.
"Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu. Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu như vậy, nên trong sự thâm hiểu Chánh pháp, một pháp được con thâm hiểu trọn vẹn, đó là lòng tin của con vào vị Bổn Sư - Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng và chúng Tăng đã khéo hành trì" (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỉ)
Người ta kinh doanh ở ngoài đời không bao giờ hài lòng với món lợi nhỏ, lúc nào cũng muốn thêm, tại sao tu lại không được như vậy? Mình không có Dục Như Ý Túc, không có Tinh Tấn Như Ý Túc cho nên phải có sự nỗ lực muốn thêm nữa, nếu không nghiệp đến là mình thúc thủ, mình sẽ không còn được tự do như bây giờ nữa. Chúng ta phải sắp xếp công việc, nhà cửa, chồng con, phải mua vé lên máy bay, lên xe đi tới núi, vào trong hội chúng ngồi luôn mà còn chưa chắc tu tập được, đó chính là nghiệp chướng nên cần phải sám hối. Mình không oán trách người khác, không oán trách thầy bạn mà quay lại nhìn đó là bất thiện nghiệp trong quá khứ của mình làm chướng ngại nên phải sám hối oan gia trái chủ, trải tâm từ.
Buổi sáng này cô giới tử con của Hiền Nhân phát biểu rất tốt, khi chưa hiểu ngũ uẩn mà nghe tiếng chim hót thích lắm, chim bay giữa trời tự do quá cộng với tiếng hót du dương, lảnh lót nên có người muốn đời sau không làm người nữa mà muốn làm chim, đó là không biết được rằng được làm người là cao quý trong lục đạo, chim là loài súc sanh, là vô minh. Một ông nói rằng cá bơi tung tăng sướng quá, người kia hỏi không phải là cá thì làm sao biết cá vui, nhìn như vậy chứ nó khổ lắm, mình là người có nhận thức, được đi học mấy chục năm, được giáo dục lễ nghĩa, được học chánh pháp mà còn khổ như vầy, sân si trị không nổi, bản ngã cứ phình lên thì huống chi loài súc sanh cho nên thấy con mèo đi ngang thương vô cùng, đó là quả dị thục của nghiệp.
Nếu dùng trí ngũ uẩn này nhìn ra thì chỗ nào cũng là pháp, chỗ nào cũng là thánh trí, chỗ nào cũng là sự thật, chỗ nào, con người nào cũng là chỗ tu, nếu quên thánh trí là sống với phàm tình, sống với hơn thua, vô minh, đúng sai, hay dở, nhân ngã bỉ thử, tôi ta, ngu si, mê muội, kiến chấp, tội lỗi, hôn ám, dại khờ. Mình rời khỏi thánh trí là lập tức mình rơi xuống vực sâu, vào trong lửa bỏng, rớt xuống hố than hừng, bóng đêm trùm ngập cả người. Nhưng nếu không học thì làm sao biết thánh trí là gì? Cho nên đầu tiên văn – huệ phải thành tựu, phải nghe nhiều rồi nhớ, nương theo cái nhớ để suy tư cho ngấm từ từ, mỗi ngày ngấm từ từ, đến khi ngấm hẳn vào luôn thì gọi là thể nhập Thánh trí. Chúng ta ngồi đây nhưng chút nữa không biết ra sao chứ đừng nói gì đợi đến khi về nhà.
Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ.
Triêu tồn tịch vong sát na dị thế.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Vô thường già bệnh không hẹn một ai. Sớm còn tối mất, trong khoảng sát na đã qua đời khác. Hoặc là câu "Diêm Vương chú định tam canh tử, nan lưu hoạt đáo ngũ canh thiên" nghĩa là Diêm Vương đã định canh ba chết, khó lòng sống nổi tới canh năm, chính vì vậy cần phải tu. Khi làm việc thiện, việc công đức, quán chiếu trí tuệ là nhất định không hẹn mà phải làm ngay lập tức, vừa rồi có quý Phật tử bên Úc làm visa 3 năm cho con đi qua đó hoằng pháp, muốn đi bất cứ lúc nào thì đi, đi lâu nhất là 3 tháng.
Quý Phật tử này về đây đem di ảnh của người bác từ Hà Nội vào đây, bác này đi lên đây rồi về bắc cứ nhớ mãi, mong muốn được trở lại đây, các con cháu trong nhà thấy vậy nên khi ông mất thì gửi ông về đây. Trên đây mình chưa làm nhà để các hương linh, sau này mình sẽ làm, ông mong muốn được trở lại cho nên con thấy các vị lên đây tu mà nửa đường đã về dù chưa xong khóa là con tiếc lắm, trừ khi nào có việc quan trọng lắm mới về, còn lại phải cố gắng hết sức mình, đừng bỏ dở nửa chừng vì có thể suốt cuộc đời không có lần thứ hai, đừng nghĩ rằng lần này đi không được thì sau này đi.
Con xin thưa với các ngài là dù con ngồi đây chia sẻ nhưng con không nghĩ là tối nay hoặc ngày mai còn một thời nữa, không dám nghĩ như vậy vì nghĩ như vậy là vô minh, không thấy được vô thường cho nên khi nào chia sẻ là con chia sẻ hết mình, các ngài đau chân cũng hoan hỉ giùm con, chia sẻ hết tấm lòng để khi chết không hối hận, khi chết nằm trên gường thì không còn cất chứa, những gì bậc đạo sư truyền trao thì con cũng đã nói hết.
Hồi khuya này con nằm chiêm bao gặp bậc đạo sư không phải là một thân tướng bệnh như vậy mà là hình dáng của bậc Thánh đệ tử thiên, đội vương miện bằng kim cương, thân khoác áo màu xanh biển, kế đó có một vị chư thiên mặc áo hồng cam cũng đội vương miện bằng kim cương, kế đó là thiên đồng, nghĩa là đồng tử của cõi trời chừng vài tuổi thôi, mặc y phục rất đặc biệt cho nên mình phải cố gắng tu. Các ngài kết thúc kiếp này là các ngài lên Tịnh Cư Thiên, tức là Bất Lai Thánh quả, không còn trở lại đây để mình gặp nữa, bây giờ không tu thì mình còn lang thang trong sanh tử, mình còn chìm đắm, còn trôi nổi, phiêu bạt.
Gần đây con nằm chiêm bao về các bậc đắc đạo ngày xưa, sư bà và những bậc Thánh đức đều khuyến khích con phải nhập thất cho nên chưa chắc gì chúng ta còn gặp nhau nữa nên mình phải cố gắng hành trì, bất cứ lúc nào vô thường đến hoặc con đi hoằng pháp, con tỉnh tu cho nên mình đừng nghĩ hôm nay không tu được thì ngày mai mình tu, nghĩ như vậy là vô minh, là si mê, là không thấy được vô thường.
Phải siêng năng, cố gắng ngày đêm tác ý, tư duy, thiền tư thường xuyên và liên tục, bất thình lình bệnh đến với mình, hôm nay báo đăng có người bị Covid chết, quả dị thục của nghiệp ở khắp mọi nơi nhưng vì mình vô minh nên không hay biết, nói đụng tới là không được, chạm tới là sân si, bản ngã lên. Dù mình biết đó là ân nhân của mình, người có tâm từ, thương yêu mình, muốn chỉ dạy cho mình mà mình vẫn không nhiếp phục được sân si, bản ngã của mình chứ đừng nói gì đến những người thấp hơn mình cho nên tu tâm hiền, tâm từ không bao giờ là đủ, tu tâm khiêm hạ mãi mãi không bao giờ đủ.
Trong bài kinh Sau khi an cư có một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất thì ngài đã rống lên tiếng rống con sư tử rồi cuối cùng ngài nói nếu vị Tỳ-kheo đó xin lỗi thì ngài sẽ tha thứ và xin vị Tỳ-kheo đó cũng tha lỗi cho ngài.
"Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Đó là người khác vu khống ngài trước mặt Đức Thế Tôn, sau đó ngài tha thứ cho họ đồng thời cũng xin vị đó tha thứ lại cho mình. Ngài bị vu khống, ngài không có lỗi nhưng tại sao lại nói người kia tha thứ cho ngài? Đó là nhờ tâm hiền từ, đại bi, các ngài không còn hơn thua, đúng sai với chúng sanh nữa, người sáng mắt không lẽ lại đi cãi nhau với người mù, giống như những chiếc máy bay vặn dây cót bay lên được một chút lại đi so với cơ trưởng, phàm phu giống như những đứa con nít chơi máy bay đồ chơi, còn các bậc thành tựu chánh kiến giống như cơ trưởng.
Giữa những đứa con nít chơi máy bay đồ chơi với cơ trưởng thật thụ có so sánh được không? Một người không thấy pháp với một người thấy pháp khác nhau đến như vậy đó, một người không thấy ngũ uẩn với một người thấy được ngũ uẩn khác nhau như vậy, một người không thấy được thân tâm, không thấy được lậu hoặc giống như những đứa con nít chơi đồ chơi, không đưa ai bay đi đâu được, còn thành tựu chánh kiến mới có đủ đạo lực, định lực, tuệ lực để cứu độ chúng sanh.
"Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
... thọ... tưởng... các hành...
... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh)
Đức Thế Tôn nói giống như những đứa trẻ con chơi nhà chòi bằng đất, khi nào lòng tham, lòng dục, lòng ái còn thì nó còn chơi với những nhà chòi bằng đất đó, khi nào lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng yêu, lòng thích, lòng muốn không còn nữa thì nó sẽ đập tan, đập vỡ, đập bể những nhà chòi bằng đất đó. Nhà chòi bằng đất đó chính là năm thủ uẩn, thấp kém, hạ liệt, bất tịnh là ngũ uẩn này, phiền não, khổ đau, mệt mỏi là ngũ uẩn.
Do mình không đủ trí tuệ để quán chiếu nên mình phải thường xuyên đọc, nghe, tác ý, tư duy, như lý giác sát, nhắc nhở liên tục cho đến khi nào thể nhập thôi, đó là lý do sáng nào cũng phải đọc kinh, nghe pháp, pháp đàm, chiều thì đến tụng kinh, cứ làm như vậy cho đến khi nào không mất nữa thì thể nhập Thánh trí.
Mình nói cho đến ngày chết cũng chỉ là ngũ uẩn, vô thường, khổ, vô ngã, ly tham, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ, thoát ra, đây là trí tuệ bất cọng với phàm phu. Tất cả những truyền thống khác, những đoàn thể khác không bao giờ thành tựu được trí tuệ này, đây là một trong bảy trí bậc Thánh Dự Lưu, nếu không học Nikāya, không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được lậu hoặc thì không bao giờ có được chánh tri kiến của bậc Thánh, cái thấy biết của bậc Thánh, vĩnh viễn không bao giờ thoát ra khỏi ngũ uẩn, thậm chí còn không biết ngũ uẩn là gì thì làm sao thoát ra.
Nếu đã không thấy ngũ uẩn thì làm sao nhìn thấy rác trong ngũ uẩn, không nhìn thấy rác thì làm sao hốt rác, làm sao dọn rác, làm sao vệ sinh cho sạch vì vậy tất cả các vị mới trước khi xuống núi phải nhận diện được ngũ uẩn, nếu không nhận diện được ngũ uẩn mà xuống núi thì coi như uổng công chuyến đi. Phải cố gắng thật nhiều trong việc thiện, trong công quả, công phu, từ việc làm phước, làm thiện, trong việc tu huệ, học kinh, học pháp, tín – giới – văn – thí – tàm quý – tuệ là bảy tài sản của bậc Thánh, phải có lòng tin, giữ giới, nghe pháp nhiều, bố thí, cúng dường, hổ thẹn và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, cuối cùng là tu tập trí tuệ về ngũ uẩn. Đó là bảy tài sản của bậc Thánh, mình có cái đó tức là mình thừa hưởng được thánh sản của Đức Phật.
Những tài sản mình có đây nếu đứt hơi thì bỏ lại hết, được người thân đốt cho nhưng toàn đồ giấy, đốt cho toàn là đô la âm phủ, còn đô la thật lấy hết, đâu có đốt cho tờ đô la thật nào đâu nhưng nghiệp thì mình lại mang. Mình tạo ra 5 tỷ nhưng trong 5 tỷ đó biết bao lừa gạt, dối trá, biết bao thứ nghiệp trong đó, khi mình chết thì 5 tỷ đó người khác dùng nhưng nghiệp ác mình đã tạo để làm ra 5 tỷ thì mình chịu.
Vậy mà không biết làm những thiện pháp, nhiều khi người ta đói khổ đến trước cửa nhà cũng không biết cho, gặp những bà già đi bán vé số cũng không biết giúp cho nên phải siêng năng làm lành, làm thiện, làm phước thật nhiều, phước huệ song tu, bi trí đồng hành. Đừng sợ phước, đừng chán phước, đừng thấy đủ đối với phước đức, đừng bao giờ nghĩ rằng "tôi làm nhiều lắm rồi", đó là thất bại. Mình phải không ngừng tiến lên, không ngừng nỗ lực, không ngừng tăng thượng, không ngừng phát triển.
Hôm nay được tu nhiều giờ thì có người thấy hạnh phúc, có nhiều phước báo, ngược lại có người than thở "sao hôm nay tu nhiều vậy", hai sự tác ý khác nhau hoàn toàn. Ngày nào được ngồi tu lâu, nhiều hơn thì thấy vui, "hôm nay mình có được công đức nữa, mình bỏ ống được chút trí tuệ nữa", mình hân hoan, hoan hỉ, hạnh phúc, phấn khởi, sung sướng lên, đó là người khôn, người có trí. Tâm hiền, tâm từ, tâm hòa, tâm kính có mối liên hệ mật thiết với nhau, ví dụ có người nói "con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni" là chúng ta chắp tay lên hết cùng hướng về Đức Phật thì cái đó chính là hòa kính, nghĩa là một người kính thì tất cả những người còn lại cũng hòa kính theo.
Tuy nhiên có những người mới đến không chịu, vẫn ngồi chứ không chắp tay theo, còn mình đang làm theo những cái theo tinh thần của Đức Phật trong 6 pháp hòa kính, tuy thân khác nhau nhưng đồng một tâm, như nước với sữa cùng hòa hợp nhau, không tranh cãi, không hơn thua, lúc nào trình pháp cũng nước mắt đầm đìa, thương nhau không hết thì sao nỡ làm khổ cho nhau. Hãy hiểu cho nhau, cảm thông, tha thứ cho nhau, bao dung với nhau, nâng đỡ, dìu dắt nhau, chúng hội dù 100 hay 1000 cũng giống y như vậy.
./.