Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ngôn Hạnh Tôn Giả Ca-diếp - Tương Ưng Kassapa

2026-03-03 00:52:33
Kinh Nikāya Giảng Giải

NGÔN HẠNH TÔN GIẢ CADIẾP

TƯƠNG ƯNG KASSAPA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Hạnh Ngài Ca – Diếp PAGEREF _Toc113977823 \h 1

II. Sám hối PAGEREF _Toc113977824 \h 3

III. Thiện pháp PAGEREF _Toc113977825 \h 6

IV. Giáo giới PAGEREF _Toc113977826 \h 8

I. Đức Hạnh Ngài Ca – Diếp

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta học Tương Ưng Kassapa của ngài đại Ca-diếp nhắc nhở những vị tân Tỳ-kheo. Xin thưa đại chúng đây là những lời rất chân thành, tha thiết và rúng động. Ngài Ca-diếp là thầy của những vị mới xuất gia, chúng ta hãy lắng tâm để nghe những lời nhắc nhở sâu sắc của bậc đại Thánh. Đối với chương Tương Ưng Kassapa này rất dài cho nên đối với những vị Thánh Tăng chúng ta sẽ giới thiệu những đoạn nổi bật về lời dạy của các ngài. Có những chuyện nhỏ nhặt mình lại xem thường nhưng đối với các bậc Thánh Tăng lại rất lưu tâm, tựa bài kinh là "Trở về già".

"Như vầy tôi nghe.

Tại Ràjagaha, Veluvana...

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Đã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.

-- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

-- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực… mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?

-- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), V. Trở Về Già)

Ngài Ca-diếp lớn tuổi hơn Đức Phật, ngài khen ngợi hạnh sống ở rừng, hạnh đi khất thực. Y phấn tảo là những tấm y cũ rách và ngài tán thán hạnh mang y cũ rách, tán thán việc mang ba y, thiểu dục tri túc, viễn ly không giao thiệp và tinh cần, tinh tấn vì ngài thấy được hai lợi ích: Lợi ích thứ nhất là được an trú, có được sự an lạc, thảnh thơi với hạnh độc cư, không bị ràng buộc với thế tục, không bị lệ thuộc vào người khác. Lợi ích thứ hai là đối với chúng sanh đời sau, những người xuất gia và tại gia sẽ bắt chước theo hạnh này của ngài.

"Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc.

Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... con đi khất thực và tán thán hạnh khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... viễn ly... không giao thiệp... sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

-- Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa, Ông đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng"!

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), V. Trở Về Già)

Thật sự rất xúc động trước đức hạnh của một bậc đại Thánh Tăng, chính Đức Phật là bậc đại đạo sư đã yêu cầu ngài đừng đi khất thực nữa vì tuổi đã cao, hãy nhận những tấm vải tốt được người ta cúng dường chứ đừng lấy những tấm y rách rưới, cũ kĩ và hãy ở gần bên Đức Phật. Khi đọc đoạn này mình cần đem hết tâm tư cảm thọ của mình để nhìn thấy đức hạnh của ngài Ca-diếp, Thế Tôn nói ngài Kassapa đã già rồi, niên cao lạp trưởng ngoài bảy mươi tuổi, tấm y phấn tảo đã cũ nát, đáng được quăng bỏ cho nên ông hãy mặc những y áo của gia chủ cúng dường, hãy thọ nhận những món ăn được mời và ở gần bên ta.

Ngài Ca-diếp trả lời từ lâu ngài đã sống độc cư trong rừng, không giao thiệp với mọi người, ít muốn biết đủ, tinh cần, tinh tấn trong ba chiếc y vừa đủ, ngài xin Thế Tôn cho ngài thực hành hạnh đầu đà cho đến khi viên mãn cuộc đời. Qua đây chúng ta thấy được hình ảnh của một Tỳ-kheo già lớn tuổi đi lọm khọm với chiếc áo rách rưới, nhiều khi mắc mưa ướt sũng người. Những chương tiếp theo rất xúc động, ngài Ca-diếp quở trách những tân Tỳ-kheo, mong đại chúng lắng tâm lắng nghe những lời dạy của bậc đại Thánh Tăng, đại tôn đức.

II. Sám hối

"Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỳ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo!

-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Khi Minh Thành đọc đến đây cảm thọ dâng lên xúc động, ngay thời Đức Thế Tôn còn tại thế đã có những vị Tỳ-kheo như vậy.

"Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỳ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỳ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: "Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Đệ tử của ngài Anan và đệ tử của ngài A-nậu-lâu-đà nói chuyện với nhau ai là người nói nhiều hơn, ai nói tốt đẹp hơn, ai nói dài hơn.

"Rồi Thế Tôn gọi một Tỳ-kheo:

-- Hãy đến, này Tỳ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỳ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỳ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha: "Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả".

Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:

-- Có thật chăng, này các Tỳ-kheo, các Ông nói với nhau như sau: "Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?"

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy: "Hãy đến, này các Tỳ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?' chăng?"

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, nếu các Ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các Ông lại nói với nhau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn'? Như vậy?"

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Đức Phật không giảng pháp "ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?" nhưng tại sao các Tỳ-kheo ấy lại nói như vậy. Đức Phật nói các ông là kẻ ngu si, ta không giảng như vậy nhưng do thấy gì, do biết gì, các ông xuất gia trong pháp và luật khéo giảng của Như Lai mà các ông lại nói với nhau như vậy.

"Rồi các Tỳ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?'. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Đây là phương pháp sám hối thời Đức Phật và phương pháp này đang được ứng dụng tại Linh Quy Pháp Ấn. Khi một vị có lỗi với một vị khác thì sau khi xong thời khóa tu tập sẽ quỳ trước mặt vị đó và nói lên những lời như vậy. Những phương pháp sám hối trong kinh Nikāya được lấy ra ứng dụng ở Linh Quy Pháp Ấn để làm nghi thức tu học.

"-- Thật sự, này các Tỳ-kheo, các Ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói với nhau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?'. Và vì rằng, này các Tỳ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các Ông!".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Các ông đã thấy cái đó là lỗi, là sai và các ông sám hối, ta chấp nhận sự sám hối tội lỗi ấy.

"Này các Tỳ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Khi nào thấy tội lỗi là tội lỗi đúng như pháp sám hối để ngăn ngừa tội lỗi ấy trong tương lai về sau thì pháp và luật được tăng trưởng, đó là nghi thức sám hối thời Đức Phật khi Đức Phật đồng ý cho hai vị Tỳ-kheo sám hối. Khi nghe bài kinh này mới thấy được hình ảnh Thánh chúng thời Đức Phật còn tại thế hiển hiện ra trước mắt mình.

III. Thiện pháp

"Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn...

Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa hãy giáo giới các Tỳ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỳ-kheo!

-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!

Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VII. Giáo Giới)

Ngay thời Đức Thế Tôn còn tại thế mà ngài Ca-diếp đã than thở có những vị Tỳ-kheo khó dạy. Đối với ai không có lòng tin thiện pháp, không tin Khổ Thánh Đế, Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, không tin bản thân có thể nỗ lực tinh cần, tinh tấn đạt đến sự cao nhất trong tu học, phạm vào lỗi lầm nhưng không biết sợ hãi, hổ thẹn thì đó là những người bị tổn giảm cũng như Mặt Trăng khi đi dần đến cuối tháng thì ánh sáng mất đi, hình tròn mất đi. Đối với những người tu không có sự hổ thẹn, sợ hãi, không tinh cần tinh tấn, không có trí tuệ, không tin mình sẽ đoạn tận các lậu hoặc, không tin mình sẽ nhiếp phục ly dục, không tin mình sẽ ly tham, không tuyệt đối tin vào ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ thì người đó sẽ đi từ từ đến tổn giảm, đi vào trong bóng tối, ngược lại những điều trên sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, phái triển, hướng thượng trong thiện pháp.

"Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VII. Giáo Giới)

IV. Giáo giới

Tiếp theo sau đây cũng là bài giáo giới, Đức Thế Tôn khuyên ngài Ca-diếp hãy giảng pháp cho chúng Tỳ-kheo. Khi Thế Tôn ở tại Vương Xá, chỗ nuôi dưỡng các con sóc, ngài Ca-diếp đi lại thì Thế Tôn cũng nói ngài hãy thuyết giảng, giáo giới cho chúng Tỳ-kheo. Ngài Ca-diếp cũng nói chúng Tỳ-kheo nay đang ở trong tình trạng khó nói, không chịu khó, không nhẫn nại, không kính trọng lời giáo giới.

"-- Này Kassapa, thuở xưa các Trưởng lão Tỳ-kheo là những vị ở rừng như vậy và tán thán ở rừng, là những vị đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, là những vị mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, là những vị mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, là những vị sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, là những vị sống tri túc và tán thán hạnh tri túc, là những vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly, là những vị sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, là những vị sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

Ở đây, vị Tỳ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng, đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, sống tri túc và tán thánh hạnh tri túc, sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly, sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; vị Tỳ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỳ-kheo mời ngồi và nói: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, vị Tỳ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỳ-kheo này! Hãy đến Tỳ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!'".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VIII. Giáo Giới)

Khi các vị Tỳ-kheo trẻ gặp các vị tu hạnh đầu đà sẽ được mời ngồi, hỏi thăm tên, khen ngợi… Những vị trưởng lão tu hạnh đầu đà đối đãi với những vị Tỳ-kheo mới vào như vậy nên họ cũng bắt chước tu theo giống vậy. Đây là Đức Phật đang nói về thời gian trước kia khi những người tu trưởng thượng quý trọng người tu hạnh đầu đà, những người giữ đúng giới luật. Chính vì những bậc trưởng thượng quý trọng, quý kính các Tỳ-kheo tu hạnh đầu đà, khổ hạnh, giới đức cho nên những tân Tỳ-kheo sau này phải bắt chước học hỏi theo và kính trọng những vị tu hạnh đầu đà.

"Nhưng này, này Kassapa, các Trưởng lão Tỳ-kheo không sống ở rừng và không tán thán hạnh sống ở rừng, không đi khất thực và không tán thán hạnh khất thực, không mang y phấn tảo và không tán thán hạnh mang y phấn tảo, không mang ba y và không tán thán hạnh mang ba y, không thiểu dục và không tán thán hạnh thiểu dục, không tri túc và không tán thán hạnh tri túc, không sống viễn ly và không tán thán hạnh viễn ly, không sống không giao thiệp và không tán thán hạnh không giao thiệp, không tinh cần và không tán thán hạnh tinh cần.

Ở đây, Tỳ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỳ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỳ-kheo mời ngồi và nói: 'Hãy đến Tỳ-kheo. Tỳ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỳ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỳ-kheo này! Hãy đến, này Tỳ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!'".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VIII. Giáo Giới)

Bây giờ không sống theo hạnh đầu đà nữa, không thực hành nếp sống xa vắng, ít muốn biết đủ, không khen ngợi những hạnh đó nữa mà bây giờ giao thiệp nhiều, được cúng dường nhiều, được mọi người biết đến nhiều, danh tiếng nhiều thì những vị đó lại được các bậc trưởng lão khen ngợi. Đây là một sự chuyển đổi của Thánh pháp, của giới luật, nó bước vào bước ngoặc thay đổi, các tân Tỳ-kheo suy nghĩ và bắt chước theo không tôn trọng người tu hạnh đầu đà mà đi theo người nổi tiếng, người giao thiệp rộng, người được cúng dường nhiều.

"Ở đây, này Kassapa, các tân Tỳ-kheo suy nghĩ như sau: 'Tỳ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; Tỳ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỳ-kheo mời ngồi và nói: ‘Hãy đến Tỳ-kheo. Tỳ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỳ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỳ-kheo này! Hãy đến, này Tỳ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!’'. Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VIII. Giáo Giới)

Cho nên Đức Phật nói người nào thực hành và tán thán hạnh đầu đà thì những vị ấy sẽ được hạnh phúc, an lạc trong thời gian dài. Ngược lại "không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài".

"Này Kassapa, ai nói một cách chơn chánh như sau: 'Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh'. Nói như vậy, này Kassapa, là nói một cách chơn chánh. Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VIII. Giáo Giới)

Nếu chúng ta có độc cư, nhập thất thì từ từ chúng ta mới hiểu được chút ít về đời sống độc cư của người xuất gia, còn nếu không độc cư, không thực hành những điều này thì chúng ta không thể nào hiểu được. Chỉ cần sống một mình bảy ngày sẽ thấy được hiểm nạn của phạm hạnh, không ăn chiều chúng ta có chịu nổi không? Đó là sự bức não. Phạm hạnh là đời sống trong sạch theo giới luật, hạnh là đức hạnh, phạm là thanh tịnh, trong sạch, để hoàn thành được đời sống trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện của giới pháp mà Đức Phật chế định thì chúng ta phải chịu đựng những bức não, hiểm nạn, bức xúc, đói bụng rất bức xúc nhưng phải chịu đựng thì mới hoàn thành đời sống thanh tịnh được.

Còn nếu ở một mình mà sợ ma thì đó là hiểm nạn, phiền não, ở một mình thấy buồn nhưng ngày xưa không có điện thoại, Ipad, mạng Internet đó là bức xúc. Ăn mặc đơn sơ, ở nơi xa vắng, có khi không có điện, nước thì thiếu thốn, trong khi bây giờ có điện nước đầy đủ, mạng Wifi đầy đủ mà ở một mình còn không nổi trong khi tu là phải cắt hết những thứ đó, đó là sự bức não, bức xúc, buồn phiền khi sống đời viễn ly xa vắng, ít muốn biết đủ, an bần lạc đạo. Có rất nhiều hiểm nạn của đời sống phạm hạnh, có khi nhìn nhau thôi đã trở thành hiểm nạn của phạm hạnh.

Nếu mình là người thật tu, biết hộ trì căn, biết thu thúc sáu xúc xứ, biết lo cho đời sống phạm hạnh tu hành, tha thiết trong giới luật, tha thiết trong đời sống thanh tịnh, tha thiết tăng thượng giới đức – thiền định – trí tuệ thì tiếp xúc (xúc thực) sẽ phát sanh ra dục, tham ái, đó là hiểm nạn, chính vì vậy chư vị Tỳ-kheo ngày xưa đi khất thực phải hộ trì căn, không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng, đi nhìn xuống chứ không nhìn qua nhìn lại, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, chỉ cần buông lung phóng dật, sơ suất nhìn qua nhìn lại là gặp hiểm nạn ngay.

Thời Đức Phật có những vị Tỳ-kheo đi khất thực tình cờ thấy những cô gái ăn mặc hở hang, vị này trở về liền bị bức xúc và nhiệt não nên hoàn tục, không tu được. Có vị bức xúc, nhiệt não nhưng đi gặp bậc đạo sư, gặp Đức Thế Tôn để nghe giáo giới, dẫn dắt để vị này thoát khỏi sự ám ảnh của lòng dục, lòng tham, những suy nghĩ, cảm thọ thì vị này tu được rồi trở thành A-la-hán quả. Cố Hòa Thượng trụ trì chùa Chuông ở An Giang, ngôi chùa này ở nơi xa vắng, khi thấy vài cô Phật tử đi chùa nhưng mặc hở hang, thiếu vải Hòa Thượng liền gọi các vị thầy vào phòng hết và nói "ma đang tấn công", những người phụ nữ ăn mặc thiếu vải là ác ma, đó là hiểm nạn của phạm hạnh. Ở ngoài đời đó là sự thích thú, khoan khoái, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, là vị ngọt, nhưng trong đời tu là hiểm nạn, sự bức não, đối với người thật tu người ta thấy điều đó là bức xúc, nhiệt não, nguy hiểm, tai nạn. Hiện tại chúng ta đang bị tấn công rất nhiều vì thế trong sự tu điều này rất quan trọng.

"Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa.

Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

-- Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỳ-kheo-ni.

-- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

 Lần thứ hai, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

-- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỳ-kheo-ni.

-- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

Lần thứ ba, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

-- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỳ-kheo-ni".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), X. Trú Xứ) 

Ngài Anan gọi ngài Ca-diếp bằng tôn giả, còn ngài Ca-diếp gọi ngài Anan bằng hiền giả. Ngài Ca-diếp là bậc Thánh Tăng A-la-hán còn ngài Anan lúc đó mới là Dự Lưu, còn các kiết sử lậu hoặc.

"Rồi nhiều Tỳ-kheo-ni đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa, rồi ngồi xuống một bên.

Tôn giả Mahà Kassapa với pháp thoại giảng cho các vị Tỳ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ.

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỳ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

Rồi Tỳ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỉ, nói lên những lời không hoan hỉ: 'Làm sao Tôn giả Mahà Kassapa trước mặt Vedehamuni Ananda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahà Kassapa, trước mặt Vedehamuni Ananda lại nghĩ đến thuyết pháp'".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), X. Trú Xứ) 

Dòng dõi của ngài Anan là dòng dõi hoàng tộc, cao quý, đẹp đẽ, sang trọng. Còn ngài Ca-diếp là một vị ở đạo khác qua đạo Phật lại già cả, tu hạnh đầu đà xấu xí, cũ rách nên vị Tỳ-kheo-ni này nói tại sao ngài Ca-diếp lại có thể thuyết pháp trước mặt ngài Anan giống như người bán kim lại nghĩ có thể bán kim cho người làm kim, nghĩa là vị nữ Tỳ-kheo này nói ngài Ananda là người làm kim còn ngài Ca-diếp là người bán kim.

"Tôn giả Mahà Kassapa nghe được lời nói này của Tỳ-kheo-ni Thullatissà.

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

-- Thế nào, Hiền giả Ananda, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?

-- Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn bà!

-- Hãy đến, Hiền giả Ananda, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào?

Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: Tùy theo mong muốn, này các Tỳ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỳ-kheo, Ananda cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ?

-- Thưa Tôn giả, không phải vậy".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), X. Trú Xứ) 

Đức Thế Tôn ở trước mặt đại chúng Tỳ-kheo ca ngợi ngài Ma-ha-ca-diếp, tức là Thế Tôn chứng thiền định nào thì ngài Ca-diếp chứng thiền định giống như vậy, tứ thiền bát định, Đức Thế Tôn chứng tam minh như thế nào thì ngài Ca-diếp chứng tam minh như thế đó, những gì Đức Phật chứng ngộ thì ngài Ca-diếp cũng chứng ngộ những pháp đó hết cho nên đoạn kinh trên ngài Ca-diếp lặp lại có phải Đức Thế Tôn nói những điều đó với ngài Anan hay nói với ngài Ca-diếp. Ngài Anan xấu hổ vì lúc này ngài vẫn còn lậu hoặc cho nên ngài nói không phải như vậy, những lời tán thán đó là Thế Tôn tán thán tôn giả Maha Kassapa.

"Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), X. Trú Xứ) 

Người nào nghĩ rằng có thể che được sáu thắng trí của ngài Ca-diếp thì không khác gì lấy lá me, lá quế che con voi, tức là trí tuệ chứng ngộ của ngài to lớn đến nỗi không có bất cứ một ai che mờ được trí tuệ đó, sự chứng ngộ của ngài thâm sâu, rộng lớn, cao thượng như bậc Chánh Đẳng Giác.

"Nhưng Tỳ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), X. Trú Xứ) 

Đây là nghiệp quả của việc phỉ báng các vị Thánh Tăng, điều này cực kì nguy hiểm. Vị nữ tu này ra đời, hoàn tục và chắc chắn sẽ đọa lạc, tâm của các ngài chắc chắn không sân hận, bản ngã, lậu hoặc nhưng khi phỉ báng tâm bất động như hư không đó thì quả báo rất khủng khiếp.

"-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình? Tỳ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia đình?

-- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo...

Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với tâm như thế này đi đến các gia đình: 'Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng'.

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỳ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỳ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu... cho ít, không cho nhiều... cho đồ xấu không cho đồ tốt... cho chậm, không cho mau. Do vậy Tỳ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỳ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu... cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỳ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỳ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi đến các gia đình".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), IV. Đi Đến Các Gia Đình) 

Chúng ta đi dự lễ Trai Tăng, cầu an… với cái tâm như trên thì không xứng đáng để đi đến các gia đình.

"Và này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào với tâm như thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng): Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?"

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), IV. Đi Đến Các Gia Đình) 

Chúng ta không nên mong cầu các gia đình cho đồ nhiều, cho đồ tốt, cho mau, cho nhanh. Chúng ta đến đó vì tình thương, vì từ tâm, vì muốn đem pháp đến cho họ.

"Này các Tỳ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính, không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu".

(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), IV. Đi Đến Các Gia Đình) 

Đến đây có lẽ có nhiều người nghĩ sao chuyện nhỏ nhặt này mà Thế Tôn cũng nói với các bậc Thánh nhưng đối với những chuyện chúng ta cho là nhỏ này thì ai cũng bị dính vào. Ví dụ mình đến nhà đó tụng từ sáng đến chiều, vậy mà đến giờ về gia chủ chỉ nói "con cám ơn thầy" và lạy ba lạy là xong, đó là chỗ để mình tu chứ không cần nói xa xôi ở đâu. Hoặc là mình nhận đám tang từ lúc còn thở thoi thóp hộ niệm cho đến bốn mươi chín ngày, đến khi xong hết thì chủ nhà chỉ đem trái cây với bó nhang đến lễ Tam bảo "con lạy thầy", khóc nức nở rồi "con cám ơn thầy, con về", đây là chỗ để tu, khi không được hay là được ít hoặc là được nhiều thì mình vẫn giữ được tâm tu của mình, vì từ tâm, vì từ bi mà mình đi đến với họ chứ không phải vì tài vật mà mình đến với họ, đó là tâm chân chánh của người tu, như vậy mới không bị phiền não mà trong kinh dùng từ "cảm thọ khổ ưu". Còn nếu mình cứ nghĩ đến vấn đề cho nhiều, cho nhanh, cho tốt, cho trong sự cung kính, tôn trọng mà mình không được thì khổ đau và suy nghĩ đó là tham ái, dính mắc, hễ có những suy nghĩ đó là có đau khổ. "Bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình và cho chính hữu tình", cần trải tâm từ để hóa giải tâm bực bội, tâm bức não, bức xúc, khổ ưu. Hôm nay chúng ta đã được nghe những lời nhắc nhở rất sâu sắc của ngài Ca-diếp.

./.