Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 3 - Toàn Cảnh Thế Giới - Nguyên Nhân Đau Khổ
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 3
Toàn Cảnh Thế Giới
Nguyên Nhân Đau Khổ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô thường PAGEREF _Toc145749915 \h 1
II. Người tu PAGEREF _Toc145749916 \h 3
III. Chiêm nghiệm về thế giới PAGEREF _Toc145749917 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc145749918 \h 13
I. Vô thường
Sư Phụ: Chúng ta còn mấy điểm trong cảnh quan thế giới cần chiêm nghiệm, để bổ túc cho phần này thì chúng ta về nghe chuyên đề "Mật mã thế giới" của con giảng, đó là những bài kinh có liên hệ đến thế giới trong tạng kinh Nikāya, hiện tại giảng giải đến 9 bài. Để chúng ta thành tựu sự thấy biết, trí tuệ về nhiều phương diện, khía cạnh của đời sống này, chúng ta sanh ra trong cuộc đời này tuy rằng mình lớn tuổi nhưng đối với trái đất này mình còn trẻ lắm, mình rất là ngây thơ, mình rất hồn nhiên, nai tơ.
Vì những sự thật của thế giới này, của vạn vật vũ trụ được mình nhìn rất hời hợt, cạn cợt, rất phiến diện, mình không thấy được toàn cảnh, toàn cuộc, mình không nhìn ra được toàn thế giới cho nên trí tuệ của mình đối với trái đất này vẫn còn non kém. Chỉ có Đức Thế Tôn và các bậc Thánh mới là người trưởng thành trong nhận thức thật sự thấu đáo bản chất của thế giới cho nên mình thường thấy, mình nghe, mình cảm xúc, mình thức tri, nhận thức, hiểu biết đa phần ở trong vô minh và tham ái chứ không chạm đến được sự thật.
Tuy rằng con mắt mình thấy nhưng lại thấy không đúng, lỗ tai mình nghe rõ ràng người đó nói, mình hiểu, mình có cảm giác, cảm giác nhưng thật ra lại không đúng, đó chỉ là trò ảo thuật, người làm ảo thuật cầm khăn giũ 1 cái là ra con bồ câu, giũ cái là ra cây bông nhưng tất cả đều là ảo thuật hoặc là người ta cầm giấy kéo ra một hồi toàn là tiền đô. Nếu người đó kéo được giấy trắng ra tiền đô thì còn đi làm ảo thuật chi nữa? Cho nên tất cả những cái mình thấy, mình nghe, mình nhận thức toàn là trò ảo thuật. Đức Phật nói ngài nhìn sắc như hòn bọt, thọ như bong bóng nước, tưởng giống như ráng mặt trời, hành như những bẹ chuối, ngài nhìn tâm thức là một trò ảo thuật, nó là ảo thuật sư.
"Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy"
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Mình thấy người đó đối đãi với mình như vậy, ngọt ngào hoặc sân si như vậy, rồi mình tham ái hoặc thù hận nhưng thật ra những cái đó không có thật. Cái thương đó vài ngày nữa sẽ biến thành ghét, cái yêu sẽ biến thành hận, cái thân sẽ trở thành sơ, từ bạn trở thành thù, tất cả đều đổi trắng thay đen, có có không không, thương thương ghét ghét, thân thân sơ sơ, yêu yêu hận hận, đó là bản chất của thế gian, có là ý nghĩa của vô thường, đó là ý nghĩa của hai chữ biến hoại, biến là biến đổi, hoại là tan hoại.
Làm sao mình nhìn ra được bản chất của sự thật này thì khi mình được thương cũng không đắm say, khi mình bị giận cũng không sân hận, mình điềm tĩnh, nếu không là suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt quý, suốt năm, suốt thập kỉ, một thế kỉ và suốt nhiều thế kỉ mình vẫn sống trong sự dại khờ, sống trong nhận thức của trẻ thơ, sống trong sự thấy biết rất hời hợt, rất cạn cợt, vẫn sống trong tâm hững hờ, tâm nai tơ, tâm vô minh, si ám, hoàn toàn không biết bản chất biến hoại, biến đổi, biến động, biến diệt, biến huyễn của các pháp.
Các pháp luôn ở trong trạng thái biến đổi, biến dịch, biến tan. Mình nhìn ra được cái này thì tâm mới bớt dính mắc, chấp thủ, bớt nắm giữ, nghe ai xưng tán là mừng rỡ, nghe chê là tức giận, được thương là ngủ không được, nằm đó tưởng mơ, mộng mơ rồi chết chìm trong những cảm giác ảo tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng đó, suốt đời suốt kiếp mình không thoát ra được. Mình bị sự lòe loẹt của thế giới này làm cho mình mờ mắt, làm cho mình mù mắt, làm cho chúng sanh bị đui mù trong những cái phù du, hư ảo, ảo ảnh, ảo huyễn, ảo giác, ảo tưởng…
Biết bao thứ ảo, bây giờ toàn là sống ảo, một điều hết sức lạ một cuộc họp đang diễn ra nhưng mình không thấy những con người đó mà phải nhìn vào điện thoại mới thấy vì trên kia phóng viên che hết, tức là cái thật không còn bao nhiêu nữa mà người ta chỉ sống với cái ảo nhưng con người lại đuổi theo những cái ảo vọng, ảo mộng, ảo tưởng, ảo giác, như vậy là càng ngày càng đi xa sự thật. Một sự thật trần trụi, một sự thật đơn giản, đơn sơ là diệt hết tham, sân, si thì đắc đạo nhưng giờ không ai chịu được sự thật đó thì càng ngày càng sống với sự giả, đó là toàn cảnh của thế giới, phải nhìn ra được điều này.
Cuộc sống như màn ảo thuật, như trò hư ảo, sáng còn chiều mất, sáng có chiều không, thực rồi lại hư, thực thực hư hư, hư hư thực thực, ngắn ngủi, mong manh, biến đổi khôn lường. Chuyện tình cảm ái luyến trên cuộc đời này cũng thật là vô thường, tạm bợ, dễ vỡ, dễ tan, ngày nào yêu thương nhau, tay trong tay với nhau trong sự say đắm, nồng nàn, sống chết bên nhau, bây giờ nhìn mặt nhau cũng không muốn nhìn, bên nhau chỉ là sự chán ngán, mệt mỏi, thù hận, tức giận, chỉ trích, phiền não, ráng sống bên nhau, ráng chịu đựng nhau.
Sống vật vờ, phỉnh vờ nhau cho qua ngày đoạn tháng như vậy, chúng ta phải ráng chịu đựng nhau để sống từ ở ngoài đời cho đến trong đạo, bằng mặt chứ không bằng lòng. Ngoài đời là cha con, mẹ con, anh em, vợ chồng, chị em, công nhân, đồng nghiệp, vô đạo thì đồng đạo, đồng tu, tuy rằng ngoài mặt là "mô Phật, không có gì đâu" nhưng không biết cái gì trong bụng, trong bụng người nào cũng có gai, rất nhiều gai.
II. Người tu
Đức Phật nói cây khô chặt ra nó cũng khô, còn cây tươi chặt ra còn nhựa trong đó, cũng vậy, với một người còn tham, sân, si là còn sầu, bi, khổ, ưu, não, cho nên ở chung với nhau sẽ có chuyện. Sống vật vờ là không biết mình sống như vậy rồi tu cái gì, không biết mình đang tu tới đâu, sống cho hết ngày hết tháng hết năm, sống lâu lên lão làng cũng được gọi là sư ông, sư bà chứ không thành tựu được Thánh trí tuệ.
Có khi tu không đúng pháp, càng lên cao thì bản ngã lại càng lớn, càng tỏ vẻ ta đây, nếu không để tâm vào sự nhiếp phục, diệt tận tham, sân, si, bản ngã thì càng tu bản ngã càng cao, nói cái gì ra cũng như thánh pháp, biết bao người xung quanh phải chịu đựng, khổ quá trời vẫn phải ngậm bồ hòn không nói ra được, không phải chỉ nói người ta mà phải nhìn lại mình.
Thử xem mình đối xử với người mới vô chùa công quả có hiền lành, dễ thương như khi mình mới bước chân vào chùa không? Hồi đó mình mới vô thì mình hiền lành như thế nào? Bây giờ mình ở 10-15 năm thì cách nói chuyện có khác ngày xưa không?
Phải để ý điều này, tu ngay trong chỗ này, cách ứng xử của mình là tu, cách mình nói chuyện là tu, cách mình chắp tay, cúi đầu, thưa chào là tu, cách ứng xử, hành xử, cách xử lý trong việc khi nó đến với mình có bằng pháp không, có Thân Hành Niệm không, mình có giữ 4 oai nghi không, mình có quán chiếu cảm thọ, cảm giác toàn thân không, có nhiếp phục các cảm thọ không, mình có làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu không hay là mình lớn rồi nên bung lụa, không còn ai nói mình được nữa.
Thật sự nhiều năm con ngồi trên ghế nhà trường thì lớp sơ cấp dễ dạy hơn, càng lên lớp cao càng khó nói cho nên dạy con thì dạy từ thuở còn thơ. Khi mình được giáo dục, đào tạo thì khi mới vào, mình có nề nếp, gọi là tre già khó uốn, Đức Phật nói người lớn tuổi xuất gia rất khó để thành tựu những cái pháp sâu sắc trong sự hành trì cho nên mình phải để ý rất nhiều, nếu không là sống phải ráng chịu đựng nhau, sống vật vờ, sống phỉnh vờ qua ngày qua tháng qua năm.
Vật vờ là sống không có mục đích, sống không có mục tiêu, sống không có đích đến, sống không có sự hướng thượng, sống theo kiểu tới đâu thì tới. Câu "ngày mai chẳng biết ra sao nữa, mà có ra sao cũng chẳng sao", câu này là vô minh, mục tiêu mình hướng tới là phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
Mình phải xem tham, sân, si của mình còn nhiều hay ít, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận được chưa, còn giờ tu mà không biết gì hết là sống vất vơ vất vưởng. Bây giờ thân mình có oai nghi hay không có oai nghi mình có biết không? Cảm thọ mình có biết không? Sanh khởi lên tham, sân, si, bản ngã mình biết không? Nội tâm mình có thiện pháp hay bất thiện pháp có biết không? Nội tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn thì mình có biết không? Những pháp gì diễn ra bên trong mình có biết không? Nếu tu có sự để ý thì phải biết thân – thọ – tâm – pháp, mình có chỗ hướng tới, mình có mục tiêu, lý tưởng, mình đang đi đến chỗ cần đến chứ không phải là không biết gì hết vì không biết gì hết là vô minh.
Sự nhận diện ngũ uẩn là cực kì quan trọng, phải biết được hiện tại sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang thế nào, tu Nikāya phải biết chứ không được nói không biết. Chẳng những biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà còn biết trong đó đang có gì, thiện pháp hay bất thiện pháp, tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn, đang có sân hận hay đang có từ bi hay đang có ngu si, phải biết trong ba thọ đang có thọ gì chứ mình không được sống vật vờ, phỉnh vờ qua ngày qua tháng.
Phỉnh là lừa gạt nhau, dối gạt nhau nhưng không phải dối người ta mà dối gạt cả bản thân mình, "thôi, không sao đâu, từ từ tu, mình còn trẻ mà". Mình có gạt mình không? Mình gạt mình rất nhiều, mình gạt người cũng bộn, nhìn vậy chứ không phải vậy, nhìn từ xa thì đẹp nhưng lại gần thì bông hồng có gai, bên trong có nhiều rắn độc, trong Tây Du Kí có đoạn bên ngoài là cô gái xinh đẹp nhưng bên trong là yêu tinh, phải là con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được, đó chính là Thánh trí năm uẩn nhìn ra các lậu hoặc, nhìn thấy sự gian trá, xảo quyệt của các thọ; tưởng; hành; thức, đó gọi là nhìn ra được yêu quái.
Tâm mình có gian trá không? Suy nghĩ của mình có dối dạt mình không? Có xảo quyệt không? Phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được mức độ tinh ranh, xảo quyệt, gian trá khủng khiếp của thọ; tưởng; hành; thức, mình không nhận diện ngũ uẩn là mình không nhìn ra được đâu, "thầy nói gì nghiêm trọng quá vậy? Con hiền khô à", nhiều khi ngồi im ru không nói gì hết nhưng trong đầu lầm thầm, về suy nghĩ đủ chuyện, chất chứa đủ chuyện, đến một lúc nào đó thì bùng nổ, đó là hậu quả của việc đè nén, chất chứa vào trong dù bên ngoài không nói ra.
Tại sao có những thứ đó trong tâm mà mình không thấy? Do mình mù lòa, không quán thân – thọ – tâm – pháp, không nhận diện ngũ uẩn, mình không quét nhà, không hốt rác, không lau chùi, không vệ sinh nội tâm cho nên có một sự ngấm ngầm hoạt động trong tâm, những người bị trầm cảm, bị ảnh hưởng thần kinh điên loạn là như vậy đó.
Các lậu hoặc ngấm ngầm qua mặt mà mình không thấy vì thế đức tính của bậc Thánh đệ tử là trực tâm, trực hạnh, cái tâm phải chân thực, ngay thẳng thì mới tu học được chánh pháp, cái tâm không ngay thẳng là không thể nào đi vào Thánh pháp được nếu mình không sửa lại, không chỉnh lại. Cái tâm cong queo, lạng lách, chúng ta có thấy cái tâm đó của mình không? Mình làm sai mà có người chỉ là mình chối "con đâu có đâu, tại cô kia", cái tâm đó lớn lên cộng với ác nghiệp thì sanh ra làm rắn, làm con lươn uốn lượn, lạng lách.
Đôi khi nảy sinh tình cảm với người mới rồi ý định giết hại người đã cùng mình đầu ắp tay gối thuở xưa, những vụ án này xảy ra liên tục, tức là có người tình mới rồi thế là muốn giết người tình cũ vì người cũ bây giờ thành chướng ngại vật. Tâm thức chúng ta thật ác độc khủng khiếp, đó là những mãnh thú, những cái tâm súc sanh, những cái tâm đó đưa chúng sanh đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất dễ.
Chúng ta cứ nghĩ sanh ra làm thú vật hoặc xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh khó lắm nhưng không phải vậy, dễ lắm, nổi nóng lên làm chuyện không suy nghĩ là vào tù là hiện tại, nhắm mắt thì xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đức Phật khơi một ít đất trong móng tay lên hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trong móng tay nhiều hay đất trên địa cầu nhiều, các thầy trả lời đất trên địa cầu rất nhiều, Đức Phật nói con người chết đi rồi mà được sanh trở lại làm người, chư thiên chết rồi được trở lại làm chư thiên ít như đất trong móng tay, còn chết rồi phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất địa cầu.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Nó nhanh đến như vậy cho nên chỉ trong tích tắc là mặt người thành mặt thú ngay thôi chứ không có khó, do mình vô minh nên mình không thấy, còn khi học trong kinh rồi sẽ thấy sợ. Những người có danh vọng địa vị khủng khiếp nhưng chỉ cần một cảm xúc bất thình lình bộc phát lên như hãm hại những đứa trẻ vị thành niên, thế là thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát, vô tù ngồi, đó là đang đứng ở đỉnh cao xã hội, địa vị, tiền bạc nhưng chỉ cần tham dục sanh khởi lên trong khoảnh khắc là tù tội, thậm chí không chịu nổi là tự vẫn chết hoặc bị tuyên án chung thân, tử hình.
Người cậu ruột nhìn người cháu mà người cháu cho rằng cậu nhìn đểu nó rồi nó giết chết người cậu luôn, những cái đó khi chết rồi chắc chắn đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không thể nào đi vào làm người được nữa cho nên nay mặt người nhưng tối nay có thể trở thành mặt thú chứ đừng nói gì đến ngày mai, có thể một tiếng sau mình thành con chuột, tối nay ngủ một giấc thành con rắn, tuần sau thành con gián, con kiến.
Những người hổ báo xăm đầy mặt, đầy người thấy sợ, đi đâu cũng vênh váo, hống hách, kiêu ngạo như cọp beo, những cái tâm đó tương ưng với súc sanh cho nên ngay khi còn sống đã ở trong tù ngục chứ không được tự do, cứ vài bữa lại vô tù, đó là y báo chánh báo, tâm cảnh tương đồng, cái tâm đó phải ở trong cái thân như vầy dù cho làm người cũng ở trong tù, có khi đến chung thân hoặc thậm chí là tử hình.
Phải có một cái nhìn thâm sâu vào trong tâm thức chứ không phải chỉ nhìn bề ngoài, nhìn được nội tâm của mình thì nhìn ra được nội tâm của hữu tình chúng sanh, như vậy mình rất sợ. Một người biết nhân quả nghiệp báo, thấy rõ được quả dị thục của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện sẽ rất sợ, làm gì cũng cẩn thận, từng lời nói cũng kĩ lưỡng, từng suy nghĩ cũng e dè, từng hành động cũng chính xác, người tu phải như vậy chứ không phải người tu là buông lung, buông thả, buông trôi, ngược lại phải cẩn thận lo sợ từng chút một. Ngài Maha Ca-diếp trong Tương Ưng Kassapa nói rằng Tỳ-kheo không biết lo sợ thì không thể tu đạt đến Niết-bàn.
"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Tỳ-kheo không có sợ hãi thì tu không thành tựu, Tỳ-kheo không biết xấu hổ thì tu không đi đến đâu, ngược lại phải biết lo sợ, sợ hãi với những ác và bất thiện pháp của mình. Bao nhiêu tình cảm mặn nồng trước đây giờ đã trở thành khói mây, trở thành cát bụi, trở thành hư ảo giống như nó chưa từng có mặt trên cuộc đời này, thực mà hư, hư mà thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực. Thật là đau đớn và đắng cay! Thật là vô thường là tạm bợ! Thật là mông lung, bấp bênh, bất an và ảo mộng là những tình cảm này, là những tình cảm trong đời sống này! Vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã là sự thật của đời sống này, khi chúng ta chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấm thía 4 từ này.
III. Chiêm nghiệm về thế giới
Nguyên nhân của khổ đau, bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười trong cuộc đời này, bao nhiêu chuyện cay đắng, xót xa, đau lòng nát ruột trong cuộc đời này tất cả cũng chỉ vì dục ái, tham, sân, si trong thân tâm này thay đổi liên tục, biến đổi liên tục, sanh diệt liên tục. Nhưng những dục, ái, tham, sân, si trong thân tâm này thay đổi liên tục, biến đổi liên tục là vì sự vô thường tạm bợ của những tình cảm, cảm xúc, cảm thọ, cảm giác trong thân tâm này, sự vô thường, tạm bợ của những suy nghĩ, tư tưởng, sự hay biết, rõ biết trong thân tâm và sự vô thường của những xác thân này, những sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong thân tâm mình thay đổi liên tục, sanh diệt liên tục, biến đổi liên tục, cuộc sống như một trò ảo thuật giữa có và không.
Nhưng đáng tiếc thay, chúng sanh không nhìn thấy rõ trò ảo thuật này của cuộc sống, chúng sanh không thấy rõ sự vô thường, tạm bợ của cuộc sống, chúng sanh không thấy rõ những dục, ái, tham, sân, si trong tự thân và trong cuộc sống. Do không nhìn thấy rõ, không thấy biết rõ sự thật và bản chất những gì đang có mặt trong thân tâm và những gì đang có mặt trong cuộc sống nên chúng sanh đã mê mải, điên đảo chạy theo những thứ vô thường, tạm bợ này, chạy theo những cảm xúc, cảm giác của dục, ái, tham lam, sân hận và si mê đối với thân tâm tạm bợ này và cuộc sống vô thường này để rồi chúng sanh chuốc lấy cho mình những lo sợ, bất an, tai họa, tai ương, ách nạn, phiền não và khổ đau.
Những thứ này là kẻ thù giấu mặt, là sát thủ vô hình giết người, là thứ ác độc, đây là kẻ thù của người tu, phải nhìn cho ra bộ mặt của kẻ thù thì mình mới có thể diệt nó được, chúng ta phải nắm được những cái này nằm ở đâu. Mình muốn thấy mặt những tên ác độc này chỉ cần nhìn kĩ vào cảm thọ, muốn nhìn vào cảm thọ thì phải nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn lại thân tâm chính mình thường xuyên, chừng nào phá hết những cái xấu ác này thì vào Thánh quả.
Mình phải nhận diện khi dục sanh khởi sẽ như thế nào, lúc ái sanh khởi thì như thế nào, lúc tham sanh khởi thì cảm thọ như thế nào mình đều phải biết, lúc sân sanh khởi thì cảm giác như thế nào, lúc si biểu hiện ra thì cảm xúc như thế nào, vô minh ra sao, bản ngã như thế nào. Phải nhận diện từng tên giống như người lớp trưởng nhìn mặt là biết người đó tên gì, phải điểm danh nó, trong tâm mình cũng phải vậy vì nếu không thế thì làm sao mình tu, mình không biết những tên giặc ác bất thiện pháp thì tu cả đời cũng vậy thôi.
Vì thế đầu tiên phải nhận diện những ác bất thiện pháp, cái dục sanh khởi, ái sanh khởi, tham sanh khởi lên mình phải biết, mình phải tác ý diệt dục, không đợi đến khi dục khởi thì diệt không kịp, phải rầy la, quở trách, trách mắng cái dục. Vừa ngủ thức dậy còn trên gường là chửi liền, hướng tâm vào chỗ đó chửi "súc sanh, ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi cứ làm cho ta khao khát, thèm khát, ngươi cứ làm cho ta mơ tưởng. Ngươi là thứ ác độc nhất trên cuộc đời này, ngươi là thứ ma quỷ, yêu quái, ngươi tan biến khỏi tâm ta hoàn toàn đi", "chính vì ngươi mà ta cứ sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chính vì ngươi mà ta cứ quay cuồng điên đảo trong sống chết, chính vì ngươi mà ta cứ phải đi tìm, đi kiếm, chính vì ngươi mà ta phải mệt mỏi, ngươi hãy chết đi, ngươi hãy diệt tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi đừng bao giờ sanh khởi nữa". Phải tác ý mãnh liệt như vậy thì mình mới thấy được công dụng của nó, cảm thọ sẽ lắng dịu xuống, ngay đó mình triển khai thiền quán luôn.
Cái thân này nằm xuống là trương phình lên, nứt nẻ ra, chảy mủ máu ra, giòi bò lúc nhúc, mình triển khai thiền quán chín giai đoạn của một tử thi để phá sự ham thích, khoan khoái, sự tưởng mơ trong đó, mình diệt những suy nghĩ, hình bóng trong đó. Mình tác ý liên tục càng nhiều càng tốt, nhất là những lúc sanh khởi lên thì phải đánh đuổi, dùng mọi cách để dập nó, lúc đầu nó rất hung dữ nhưng từ từ nó sẽ lắng dịu xuống, từ từ mình sẽ đi đến chỗ nhiếp phục hoàn toàn thì mới có khả năng chứng nhập các tầng thiền định, ly dục hỷ lạc, còn nếu vẫn bị những thứ này hoành hành thì mình không tu thiền được, tâm mình không yên định được, nó cứ ám ảnh những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó cho nên mình phải có cách phá nó.
Khi mình ăn ngay món mình thích thì cảm giác như thế nào, mình phải nhận diện và nhiếp phục nó. Tham là muốn thêm, bực bội, sân hận, si mê, lờ đờ, ngáo ngáo, cái muốn hơn thua, muốn thể hiện ta đây, phải nhận diện ra những thứ này vì nó là kẻ thù của mình, nó là đối tượng để mình tu, nó là thứ mình cần nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận hoàn toàn, nó là nguyên nhân làm mình đau khổ, nếu không thấy nó là mình đau khổ triền miên.
Sự ra đời của đạo Phật, Đức Phật đã nhìn thấy sự vô thường, tạm bợ của thân tâm và cuộc sống, ngài đã nhìn ra được những dục, ái tham, sân, si, ngài đã nhiếp phục được lòng tham, lòng sân, lòng si đối với thân tâm và cuộc sống, ngài đã có một cuộc sống hoàn toàn tự do tự tại, không làm nô lệ cho dục, ái, tham, sân, si, không phụ thuộc vào những thứ vô thường, tạm bợ trong thân tâm và cuộc sống, ngài đã đạt được tâm hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn không dính mắc, không trói buộc với bất cứ thứ gì ở trên đời này. Ngài đã đạt được tâm hoàn toàn giải thoát, ngài đã giải thoát tất cả những thứ vô thường, tạm bợ, mong manh, giải thoát khỏi tham, sân, si, dục, ái, giải thoát khỏi phiền não, khổ đau và ngài đã chỉ dẫn lại cho chúng sanh con đường đưa đến sự thoát khỏi tất cả những phiền phức, phiền não trong cuộc sống này.
Từ đó đạo Phật ra đời, đạo Phật có mặt trên thế gian này, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của giác ngộ, sự có mặt của ánh sáng trí tuệ, sự có mặt của con đường đưa đến chấm dứt sanh tử, phiền não và khổ đau, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của ánh bình minh xua tan màn đêm đen tối của vô minh và si ám, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của tuệ giác, của trí tuệ chiếu soi sự thật của cuộc đời, vén lên màn đêm đen tối của cuộc đời, vén lên sự thật về cuộc đời.
Đầu tiên ngài nhìn thấy được bản chất vô thường, tạm bợ của đời sống, thứ hai là ngài nhìn ra được những dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong tâm mà từ xưa đến giờ chưa ai nhìn thấy, nếu có thấy cũng chỉ thấy được một phần, một khía cạnh, một phương diện, góc độ nào đó chứ không thấy toàn phần, toàn diện, không thể thấy được toàn bộ phương diện, khía cạnh, gốc độ của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã như ngài nhìn thấy.
Khi ngài nhìn thấy thì ngài nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nó hoàn toàn cho nên ngài được nội tâm hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn giải thoát. Sau khi ngài đạt được như vậy thì ngài mới chỉ dẫn cho chúng ta con đường để diệt hết những thứ đó để đạt được hạnh phúc tuyệt đối, cao thượng, vĩnh hằng, bất tử. Đó là sự xuất hiện, sự ra đời của đạo Phật, những ý này chúng ta phải nắm thật kĩ vì đây là những ý chính rất quan trọng cho mình tu và hướng dẫn, nhất là mình giảng giải nữa thì những cái này hết sức quan trọng.
Thứ nhất là phải nhìn thấy được bản chất vô thường, tạm bợ của thân tâm và đời sống này, nếu không thấy như vậy thì không có tu. Phải thấy được bản chất tan hoại, hủy hoại, hoại diệt của đời sống này, kế đó phải nhìn ra được nội tâm cấu uế, bất tịnh, đầy rừng rú hoang vu, hôn ám, gai góc, đầy tội lỗi, tuy nhiên nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể nhìn ra được, không biết về ngũ uẩn là không nhìn ra chính xác được. Sau khi đã nhìn ra được những dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã thì nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, đây là điệp khúc ngàn năm trong Nikāya, bài kinh nào cũng lặp lại điều này, đây là công việc duy nhất của người xuất gia, ngoài cái này ra không có gì khác nữa. Không phải vào tu để độ chúng sanh, mình biết gì mà độ chúng sanh? Mình còn không biết mình là cái gì, không biết nội tâm mình ra sao, cái gì làm cho mình khổ cũng không biết thì độ ai? Mình chưa biết gì mà cứ nói đi tu để độ chúng sanh, thế là sai lầm từ đầu để đưa bản ngã cao lên, đi lệch đường, lạc lối.
Đầu tiên Đức Phật thấy sự tạm bợ của đời sống này rồi ngài nhìn vào nội tâm phát hiện ra những cấu uế, sau đó ngài tẩy sạch hết, đạt được cái tâm hoàn toàn thanh tịnh giải thoát khỏi những thứ đó, sau cùng là ngài chỉ cho chúng sanh phương pháp thoát ra cấu uế đó, cái đó gọi là đạo Phật, gọi là Phật pháp, gọi là đạo từ bi.
Bây giờ mình không nhìn thấy nội tâm mình, không tẩy sạch nội tâm mình mà cứ lo đi ra ngoài để độ. Mình không thấy được chánh tri kiến trong Phật pháp là mình sẽ rối bời như đống tơ vờ trăm mối không biết đường ra, mình không nhận diện được ngũ uẩn, không nhận diện được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã của mình, mình tu trong quờ quạng, tu trong mù mờ, đúng giờ lên tụng cho xong rồi xuống, đọc cho hết bài là xong, vậy là tu rồi, không hề giải quyết được vấn đề thật sự cấp thiết và cực kì quan trọng là cái gì làm mình khổ đau, mình cứ sống qua ngày đoạn tháng, ai làm gì mình làm đó, xưa bày nay làm, ai sao mình vậy.
Ngược lại mình phải khắc khoải, ưu tư, tìm kiếm, tìm cầu một đạo lộ, một phương pháp, một con đường, một cái lối để thoát ra thì gọi là xuất ly đạo lộ, đó cũng gọi là đạo đế, diệt đế. Mình đã thấy khổ rồi, tìm ra nguyên nhân của khổ thì bây giờ mình phải nỗ lực diệt tận nguyên nhân của khổ đó thì đi đến hết khổ, nó rất nhân quả, nó rất rõ ràng, cụ thể, thiết thực, nó rất minh bạch, tỏ tường, không có gì mờ ám, mê tín, không có gì xa vời cả.
IV. Trình pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ, kính bạch trên toàn thể đại chúng. Trong công tác những tháng gần tết thì con thấy bản thân mình dính mắc và có bắt tay vào làm trang trí chùa, cảnh quan trước cửa để Phật tử đến lễ Phật đầu năm. Trong lúc huynh đệ được phân ban công tác để trang trí sân đó thì trong tâm con nhận diện là bị dính mắc vào công việc, lúc đầu cũng tham làm để hoàn thành trách nhiệm mà trụ trì đã giao cho mấy chị em, trong lúc làm thì con thấy mình bị dính nhiều nhất là bất đồng quan điểm.
Khi giao trang trí lễ đài thì người lớn muốn trang trí theo phong tục ngày xưa, còn những người trẻ như các huynh đệ tụi con lại thích làm theo hơi hướng bây giờ, hơi hiện đại, tốn kém hơn. Khi làm như vậy thì lúc đầu thầy không chịu, nên làm tiết kiệm vì chỉ có nửa tháng là mình phải bỏ để qua cúng đầu năm, tụi con lại muốn làm cho đẹp vì nghĩ chỉ có 10 ngày để Phật tử đến chùa, ở ngoài cũng có nhiều cảnh đẹp nhưng những người trẻ hoặc nhỏ tuổi đến chùa lễ Phật có sự thích thú nên khi buổi tối lên phòng thì các chị em mới bàn với nhau, nghe lời thầy làm ít lại thì hơi xấu nhưng thầy không buồn, nếu làm theo ý tụi con tốn kém, bày ra nhiều cũng không ổn.
Sau khi làm 2/3 công việc được bàn giao, tụi con nghĩ còn cái cuối cùng đưa thầy tổng duyệt thì thầy lại thay đổi, bản thân con thấy nếu mình quá chấp vào việc làm theo tham muốn của mình thì không dung hòa với ý người lớn, bây giờ chỉ còn cách là thuận theo ý của thầy. Khi bắt tay vào làm những công việc đó thì tụi con mới thấy tâm tham, tâm sân, tâm dính mắc và cái vô minh của mình. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Rất quan trọng ở chỗ khiêm hạ, tâm hiền và sự hòa kính khi mình làm việc, cái này là bí quyết để đi ra hành đạo, không có cái này thì không làm được cái gì cả, kể cả trong chùa cũng không làm được. Chỉ có tâm hiền, sự hòa kính và khiêm hạ thì mới làm việc được, nếu không có cái này thì mình không thể làm việc được với thầy hoặc là với huynh đệ.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể. Con xin nhận diện về cái tham, hôm qua con có hẹn giờ để ngủ, thức dậy lúc 11h15, lúc đó rất buồn ngủ, trong tâm đòi nghỉ học, con nằm nhưng cứ liên tục nghĩ "thôi nghỉ học một bữa đi", sau đó lại nghĩ thôi đi học, cuối cùng con thấy trong lòng mình chỉ là tham ngủ mà thôi, mình cần phải đi học.
Con bừng dậy nói "buồn ngủ thì buồn ngủ nhưng cũng phải đi học", trên đường con chạy đến đây học thì quy định là 1h30 phải có mặt, trên đường đi học con sợ trễ giờ nên con chạy hơi nhanh, trong lúc con chạy như vậy thì con rất lo lắng, khi đến nơi thì giáo thọ chưa vào dạy nhưng vẫn thấy do cái tham mà đưa đến nguyên nhân là mình phải chạy nhanh và lo sợ. Hôm nay thầy dạy về vấn đề dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã thì con thấy phương pháp, nguyên nhân khổ đau là cảm thọ thì tự nhiên con khởi lên tâm phải đoạn hết một lần, nhưng con thấy nếu đoạn dễ như vậy thì đâu phải bậc Thánh vì bậc Thánh phải đi theo trình tự. Con khởi tâm như vậy là vô minh, mình phải đoạn từng cái một, mình bị cái nào nặng nề nhất thì phải hướng đến cái đó để đoạn thì mới dần hết, không thể một lần mà đoạn hết. Trong quá trình tiếp nhận lời của thầy ở đây thì con thấy là an lạc và hoan hỉ, đó là những cảm thọ, cảm nhận của con đối với cái tham. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Chiến thắng được con ma ngủ, nhận diện là như vậy, phải nhận diện được thân tâm mình.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện một chút tâm sân khó chịu, tức là vừa rồi trong mùa tết thì chùa nào cũng dọn dẹp rất nhiều, chùa con cũng vậy. Chúng con là chúng nhỏ, được sự hướng dẫn của tri sự dọn dẹp từ tam bảo cho đến nhà khách, khi làm thì con cũng dùng hết khả năng và bổn phận trách nhiệm để dọn dẹp nhưng làm gì thì vị tri sự đó cũng không đồng ý, tức là con đã dùng hết tâm huyết, tâm lực để làm tốt nhất có thể nhưng vị đó cũng không hài lòng, vị đó dùng những lời chỉ trích rất khó chịu, lúc đó trong tâm con cũng thật sự không hoan hỉ. Khi trải qua 1 lần, 2 lần, sự việc cứ diễn ra như vậy, tức là làm việc gì cũng không được sự hoan hỉ, sau đó con khởi lên ý niệm tùy thuận theo hoàn cảnh, không thuận theo ý mình, giữ tâm không giữ cảnh, tâm bình cảnh sẽ bình.
Lúc đó con không có sự phản ứng lại, vị đó chỉ sao thì mình làm vậy, mình không phản ứng bởi những lời nói khiển trách của vị lớn đó, mình làm theo sự hướng dẫn của vị đó. Tâm con không phản ứng với ngoại cảnh nữa thì con thấy nhẹ nhàng, mình hiểu nếu trong tam bảo có sự đồng kính mới đem đến sự hoan hỉ, khi tùy thuận theo hoàn cảnh để làm việc thì tâm con không phản ứng gì hết và đạt được an lạc.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng. Trong suốt một mùa xuân thì sự phiền lòng về dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh thì con thấy không phiền lòng cái gì, con với thầy con không có chùa mà chỉ có cái thất nhỏ để sống, tết đến con muốn dọn sao thì con dọn, thầy con đi tới tối mới về nên hai thầy trò cũng không gặp mặt. Trong cuộc sống ai cũng có phiền não khởi lên như thầy dạy, khuya thì huynh đệ chúng con đóng cửa phòng ngủ, có thầy đó hay gây tiếng động lớn, ban đầu chúng con cũng có ý niệm khó chịu, cũng thông qua bài học quán ngũ uẩn của thầy thì thấy đó là chướng ngại tướng của mình.
Ban đầu tâm mình cũng bực bội, nóng nảy, mình cũng khó chịu nhưng sau một thời gian mình nghĩ đây chỉ là chuyện nhỏ thôi, mình cũng không nên biểu lộ ra bên ngoài, mình quán tưởng lại, ngày xưa con cũng học một vị duy thức là tại sao trong chỗ ồn áo mình lại để tâm vào để phiền não mà mình không thấy trước mặt mình là cái bàn, cái bàn tính nó là im lặng, cây viết này cái tính nó làm im lặng, khi gõ lên nó thì nó cũng không chửi mình. Chúng sanh có sự vọng động cho nên cái tâm mình cũng từ từ bỏ được cái sân ngay đó, đó cũng là một sự nhỏ nhặt trong cuộc sống. Mô Phật.
./.
Toàn Cảnh Thế Giới
Nguyên Nhân Đau Khổ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô thường PAGEREF _Toc145749915 \h 1
II. Người tu PAGEREF _Toc145749916 \h 3
III. Chiêm nghiệm về thế giới PAGEREF _Toc145749917 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc145749918 \h 13
I. Vô thường
Sư Phụ: Chúng ta còn mấy điểm trong cảnh quan thế giới cần chiêm nghiệm, để bổ túc cho phần này thì chúng ta về nghe chuyên đề "Mật mã thế giới" của con giảng, đó là những bài kinh có liên hệ đến thế giới trong tạng kinh Nikāya, hiện tại giảng giải đến 9 bài. Để chúng ta thành tựu sự thấy biết, trí tuệ về nhiều phương diện, khía cạnh của đời sống này, chúng ta sanh ra trong cuộc đời này tuy rằng mình lớn tuổi nhưng đối với trái đất này mình còn trẻ lắm, mình rất là ngây thơ, mình rất hồn nhiên, nai tơ.
Vì những sự thật của thế giới này, của vạn vật vũ trụ được mình nhìn rất hời hợt, cạn cợt, rất phiến diện, mình không thấy được toàn cảnh, toàn cuộc, mình không nhìn ra được toàn thế giới cho nên trí tuệ của mình đối với trái đất này vẫn còn non kém. Chỉ có Đức Thế Tôn và các bậc Thánh mới là người trưởng thành trong nhận thức thật sự thấu đáo bản chất của thế giới cho nên mình thường thấy, mình nghe, mình cảm xúc, mình thức tri, nhận thức, hiểu biết đa phần ở trong vô minh và tham ái chứ không chạm đến được sự thật.
Tuy rằng con mắt mình thấy nhưng lại thấy không đúng, lỗ tai mình nghe rõ ràng người đó nói, mình hiểu, mình có cảm giác, cảm giác nhưng thật ra lại không đúng, đó chỉ là trò ảo thuật, người làm ảo thuật cầm khăn giũ 1 cái là ra con bồ câu, giũ cái là ra cây bông nhưng tất cả đều là ảo thuật hoặc là người ta cầm giấy kéo ra một hồi toàn là tiền đô. Nếu người đó kéo được giấy trắng ra tiền đô thì còn đi làm ảo thuật chi nữa? Cho nên tất cả những cái mình thấy, mình nghe, mình nhận thức toàn là trò ảo thuật. Đức Phật nói ngài nhìn sắc như hòn bọt, thọ như bong bóng nước, tưởng giống như ráng mặt trời, hành như những bẹ chuối, ngài nhìn tâm thức là một trò ảo thuật, nó là ảo thuật sư.
"Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy"
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Mình thấy người đó đối đãi với mình như vậy, ngọt ngào hoặc sân si như vậy, rồi mình tham ái hoặc thù hận nhưng thật ra những cái đó không có thật. Cái thương đó vài ngày nữa sẽ biến thành ghét, cái yêu sẽ biến thành hận, cái thân sẽ trở thành sơ, từ bạn trở thành thù, tất cả đều đổi trắng thay đen, có có không không, thương thương ghét ghét, thân thân sơ sơ, yêu yêu hận hận, đó là bản chất của thế gian, có là ý nghĩa của vô thường, đó là ý nghĩa của hai chữ biến hoại, biến là biến đổi, hoại là tan hoại.
Làm sao mình nhìn ra được bản chất của sự thật này thì khi mình được thương cũng không đắm say, khi mình bị giận cũng không sân hận, mình điềm tĩnh, nếu không là suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt quý, suốt năm, suốt thập kỉ, một thế kỉ và suốt nhiều thế kỉ mình vẫn sống trong sự dại khờ, sống trong nhận thức của trẻ thơ, sống trong sự thấy biết rất hời hợt, rất cạn cợt, vẫn sống trong tâm hững hờ, tâm nai tơ, tâm vô minh, si ám, hoàn toàn không biết bản chất biến hoại, biến đổi, biến động, biến diệt, biến huyễn của các pháp.
Các pháp luôn ở trong trạng thái biến đổi, biến dịch, biến tan. Mình nhìn ra được cái này thì tâm mới bớt dính mắc, chấp thủ, bớt nắm giữ, nghe ai xưng tán là mừng rỡ, nghe chê là tức giận, được thương là ngủ không được, nằm đó tưởng mơ, mộng mơ rồi chết chìm trong những cảm giác ảo tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng đó, suốt đời suốt kiếp mình không thoát ra được. Mình bị sự lòe loẹt của thế giới này làm cho mình mờ mắt, làm cho mình mù mắt, làm cho chúng sanh bị đui mù trong những cái phù du, hư ảo, ảo ảnh, ảo huyễn, ảo giác, ảo tưởng…
Biết bao thứ ảo, bây giờ toàn là sống ảo, một điều hết sức lạ một cuộc họp đang diễn ra nhưng mình không thấy những con người đó mà phải nhìn vào điện thoại mới thấy vì trên kia phóng viên che hết, tức là cái thật không còn bao nhiêu nữa mà người ta chỉ sống với cái ảo nhưng con người lại đuổi theo những cái ảo vọng, ảo mộng, ảo tưởng, ảo giác, như vậy là càng ngày càng đi xa sự thật. Một sự thật trần trụi, một sự thật đơn giản, đơn sơ là diệt hết tham, sân, si thì đắc đạo nhưng giờ không ai chịu được sự thật đó thì càng ngày càng sống với sự giả, đó là toàn cảnh của thế giới, phải nhìn ra được điều này.
Cuộc sống như màn ảo thuật, như trò hư ảo, sáng còn chiều mất, sáng có chiều không, thực rồi lại hư, thực thực hư hư, hư hư thực thực, ngắn ngủi, mong manh, biến đổi khôn lường. Chuyện tình cảm ái luyến trên cuộc đời này cũng thật là vô thường, tạm bợ, dễ vỡ, dễ tan, ngày nào yêu thương nhau, tay trong tay với nhau trong sự say đắm, nồng nàn, sống chết bên nhau, bây giờ nhìn mặt nhau cũng không muốn nhìn, bên nhau chỉ là sự chán ngán, mệt mỏi, thù hận, tức giận, chỉ trích, phiền não, ráng sống bên nhau, ráng chịu đựng nhau.
Sống vật vờ, phỉnh vờ nhau cho qua ngày đoạn tháng như vậy, chúng ta phải ráng chịu đựng nhau để sống từ ở ngoài đời cho đến trong đạo, bằng mặt chứ không bằng lòng. Ngoài đời là cha con, mẹ con, anh em, vợ chồng, chị em, công nhân, đồng nghiệp, vô đạo thì đồng đạo, đồng tu, tuy rằng ngoài mặt là "mô Phật, không có gì đâu" nhưng không biết cái gì trong bụng, trong bụng người nào cũng có gai, rất nhiều gai.
II. Người tu
Đức Phật nói cây khô chặt ra nó cũng khô, còn cây tươi chặt ra còn nhựa trong đó, cũng vậy, với một người còn tham, sân, si là còn sầu, bi, khổ, ưu, não, cho nên ở chung với nhau sẽ có chuyện. Sống vật vờ là không biết mình sống như vậy rồi tu cái gì, không biết mình đang tu tới đâu, sống cho hết ngày hết tháng hết năm, sống lâu lên lão làng cũng được gọi là sư ông, sư bà chứ không thành tựu được Thánh trí tuệ.
Có khi tu không đúng pháp, càng lên cao thì bản ngã lại càng lớn, càng tỏ vẻ ta đây, nếu không để tâm vào sự nhiếp phục, diệt tận tham, sân, si, bản ngã thì càng tu bản ngã càng cao, nói cái gì ra cũng như thánh pháp, biết bao người xung quanh phải chịu đựng, khổ quá trời vẫn phải ngậm bồ hòn không nói ra được, không phải chỉ nói người ta mà phải nhìn lại mình.
Thử xem mình đối xử với người mới vô chùa công quả có hiền lành, dễ thương như khi mình mới bước chân vào chùa không? Hồi đó mình mới vô thì mình hiền lành như thế nào? Bây giờ mình ở 10-15 năm thì cách nói chuyện có khác ngày xưa không?
Phải để ý điều này, tu ngay trong chỗ này, cách ứng xử của mình là tu, cách mình nói chuyện là tu, cách mình chắp tay, cúi đầu, thưa chào là tu, cách ứng xử, hành xử, cách xử lý trong việc khi nó đến với mình có bằng pháp không, có Thân Hành Niệm không, mình có giữ 4 oai nghi không, mình có quán chiếu cảm thọ, cảm giác toàn thân không, có nhiếp phục các cảm thọ không, mình có làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu không hay là mình lớn rồi nên bung lụa, không còn ai nói mình được nữa.
Thật sự nhiều năm con ngồi trên ghế nhà trường thì lớp sơ cấp dễ dạy hơn, càng lên lớp cao càng khó nói cho nên dạy con thì dạy từ thuở còn thơ. Khi mình được giáo dục, đào tạo thì khi mới vào, mình có nề nếp, gọi là tre già khó uốn, Đức Phật nói người lớn tuổi xuất gia rất khó để thành tựu những cái pháp sâu sắc trong sự hành trì cho nên mình phải để ý rất nhiều, nếu không là sống phải ráng chịu đựng nhau, sống vật vờ, sống phỉnh vờ qua ngày qua tháng qua năm.
Vật vờ là sống không có mục đích, sống không có mục tiêu, sống không có đích đến, sống không có sự hướng thượng, sống theo kiểu tới đâu thì tới. Câu "ngày mai chẳng biết ra sao nữa, mà có ra sao cũng chẳng sao", câu này là vô minh, mục tiêu mình hướng tới là phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
Mình phải xem tham, sân, si của mình còn nhiều hay ít, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận được chưa, còn giờ tu mà không biết gì hết là sống vất vơ vất vưởng. Bây giờ thân mình có oai nghi hay không có oai nghi mình có biết không? Cảm thọ mình có biết không? Sanh khởi lên tham, sân, si, bản ngã mình biết không? Nội tâm mình có thiện pháp hay bất thiện pháp có biết không? Nội tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn thì mình có biết không? Những pháp gì diễn ra bên trong mình có biết không? Nếu tu có sự để ý thì phải biết thân – thọ – tâm – pháp, mình có chỗ hướng tới, mình có mục tiêu, lý tưởng, mình đang đi đến chỗ cần đến chứ không phải là không biết gì hết vì không biết gì hết là vô minh.
Sự nhận diện ngũ uẩn là cực kì quan trọng, phải biết được hiện tại sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang thế nào, tu Nikāya phải biết chứ không được nói không biết. Chẳng những biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà còn biết trong đó đang có gì, thiện pháp hay bất thiện pháp, tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn, đang có sân hận hay đang có từ bi hay đang có ngu si, phải biết trong ba thọ đang có thọ gì chứ mình không được sống vật vờ, phỉnh vờ qua ngày qua tháng.
Phỉnh là lừa gạt nhau, dối gạt nhau nhưng không phải dối người ta mà dối gạt cả bản thân mình, "thôi, không sao đâu, từ từ tu, mình còn trẻ mà". Mình có gạt mình không? Mình gạt mình rất nhiều, mình gạt người cũng bộn, nhìn vậy chứ không phải vậy, nhìn từ xa thì đẹp nhưng lại gần thì bông hồng có gai, bên trong có nhiều rắn độc, trong Tây Du Kí có đoạn bên ngoài là cô gái xinh đẹp nhưng bên trong là yêu tinh, phải là con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được, đó chính là Thánh trí năm uẩn nhìn ra các lậu hoặc, nhìn thấy sự gian trá, xảo quyệt của các thọ; tưởng; hành; thức, đó gọi là nhìn ra được yêu quái.
Tâm mình có gian trá không? Suy nghĩ của mình có dối dạt mình không? Có xảo quyệt không? Phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được mức độ tinh ranh, xảo quyệt, gian trá khủng khiếp của thọ; tưởng; hành; thức, mình không nhận diện ngũ uẩn là mình không nhìn ra được đâu, "thầy nói gì nghiêm trọng quá vậy? Con hiền khô à", nhiều khi ngồi im ru không nói gì hết nhưng trong đầu lầm thầm, về suy nghĩ đủ chuyện, chất chứa đủ chuyện, đến một lúc nào đó thì bùng nổ, đó là hậu quả của việc đè nén, chất chứa vào trong dù bên ngoài không nói ra.
Tại sao có những thứ đó trong tâm mà mình không thấy? Do mình mù lòa, không quán thân – thọ – tâm – pháp, không nhận diện ngũ uẩn, mình không quét nhà, không hốt rác, không lau chùi, không vệ sinh nội tâm cho nên có một sự ngấm ngầm hoạt động trong tâm, những người bị trầm cảm, bị ảnh hưởng thần kinh điên loạn là như vậy đó.
Các lậu hoặc ngấm ngầm qua mặt mà mình không thấy vì thế đức tính của bậc Thánh đệ tử là trực tâm, trực hạnh, cái tâm phải chân thực, ngay thẳng thì mới tu học được chánh pháp, cái tâm không ngay thẳng là không thể nào đi vào Thánh pháp được nếu mình không sửa lại, không chỉnh lại. Cái tâm cong queo, lạng lách, chúng ta có thấy cái tâm đó của mình không? Mình làm sai mà có người chỉ là mình chối "con đâu có đâu, tại cô kia", cái tâm đó lớn lên cộng với ác nghiệp thì sanh ra làm rắn, làm con lươn uốn lượn, lạng lách.
Đôi khi nảy sinh tình cảm với người mới rồi ý định giết hại người đã cùng mình đầu ắp tay gối thuở xưa, những vụ án này xảy ra liên tục, tức là có người tình mới rồi thế là muốn giết người tình cũ vì người cũ bây giờ thành chướng ngại vật. Tâm thức chúng ta thật ác độc khủng khiếp, đó là những mãnh thú, những cái tâm súc sanh, những cái tâm đó đưa chúng sanh đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất dễ.
Chúng ta cứ nghĩ sanh ra làm thú vật hoặc xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh khó lắm nhưng không phải vậy, dễ lắm, nổi nóng lên làm chuyện không suy nghĩ là vào tù là hiện tại, nhắm mắt thì xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đức Phật khơi một ít đất trong móng tay lên hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trong móng tay nhiều hay đất trên địa cầu nhiều, các thầy trả lời đất trên địa cầu rất nhiều, Đức Phật nói con người chết đi rồi mà được sanh trở lại làm người, chư thiên chết rồi được trở lại làm chư thiên ít như đất trong móng tay, còn chết rồi phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất địa cầu.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Nó nhanh đến như vậy cho nên chỉ trong tích tắc là mặt người thành mặt thú ngay thôi chứ không có khó, do mình vô minh nên mình không thấy, còn khi học trong kinh rồi sẽ thấy sợ. Những người có danh vọng địa vị khủng khiếp nhưng chỉ cần một cảm xúc bất thình lình bộc phát lên như hãm hại những đứa trẻ vị thành niên, thế là thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát, vô tù ngồi, đó là đang đứng ở đỉnh cao xã hội, địa vị, tiền bạc nhưng chỉ cần tham dục sanh khởi lên trong khoảnh khắc là tù tội, thậm chí không chịu nổi là tự vẫn chết hoặc bị tuyên án chung thân, tử hình.
Người cậu ruột nhìn người cháu mà người cháu cho rằng cậu nhìn đểu nó rồi nó giết chết người cậu luôn, những cái đó khi chết rồi chắc chắn đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không thể nào đi vào làm người được nữa cho nên nay mặt người nhưng tối nay có thể trở thành mặt thú chứ đừng nói gì đến ngày mai, có thể một tiếng sau mình thành con chuột, tối nay ngủ một giấc thành con rắn, tuần sau thành con gián, con kiến.
Những người hổ báo xăm đầy mặt, đầy người thấy sợ, đi đâu cũng vênh váo, hống hách, kiêu ngạo như cọp beo, những cái tâm đó tương ưng với súc sanh cho nên ngay khi còn sống đã ở trong tù ngục chứ không được tự do, cứ vài bữa lại vô tù, đó là y báo chánh báo, tâm cảnh tương đồng, cái tâm đó phải ở trong cái thân như vầy dù cho làm người cũng ở trong tù, có khi đến chung thân hoặc thậm chí là tử hình.
Phải có một cái nhìn thâm sâu vào trong tâm thức chứ không phải chỉ nhìn bề ngoài, nhìn được nội tâm của mình thì nhìn ra được nội tâm của hữu tình chúng sanh, như vậy mình rất sợ. Một người biết nhân quả nghiệp báo, thấy rõ được quả dị thục của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện sẽ rất sợ, làm gì cũng cẩn thận, từng lời nói cũng kĩ lưỡng, từng suy nghĩ cũng e dè, từng hành động cũng chính xác, người tu phải như vậy chứ không phải người tu là buông lung, buông thả, buông trôi, ngược lại phải cẩn thận lo sợ từng chút một. Ngài Maha Ca-diếp trong Tương Ưng Kassapa nói rằng Tỳ-kheo không biết lo sợ thì không thể tu đạt đến Niết-bàn.
"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ"
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Tỳ-kheo không có sợ hãi thì tu không thành tựu, Tỳ-kheo không biết xấu hổ thì tu không đi đến đâu, ngược lại phải biết lo sợ, sợ hãi với những ác và bất thiện pháp của mình. Bao nhiêu tình cảm mặn nồng trước đây giờ đã trở thành khói mây, trở thành cát bụi, trở thành hư ảo giống như nó chưa từng có mặt trên cuộc đời này, thực mà hư, hư mà thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực. Thật là đau đớn và đắng cay! Thật là vô thường là tạm bợ! Thật là mông lung, bấp bênh, bất an và ảo mộng là những tình cảm này, là những tình cảm trong đời sống này! Vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã là sự thật của đời sống này, khi chúng ta chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấm thía 4 từ này.
III. Chiêm nghiệm về thế giới
Nguyên nhân của khổ đau, bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười trong cuộc đời này, bao nhiêu chuyện cay đắng, xót xa, đau lòng nát ruột trong cuộc đời này tất cả cũng chỉ vì dục ái, tham, sân, si trong thân tâm này thay đổi liên tục, biến đổi liên tục, sanh diệt liên tục. Nhưng những dục, ái, tham, sân, si trong thân tâm này thay đổi liên tục, biến đổi liên tục là vì sự vô thường tạm bợ của những tình cảm, cảm xúc, cảm thọ, cảm giác trong thân tâm này, sự vô thường, tạm bợ của những suy nghĩ, tư tưởng, sự hay biết, rõ biết trong thân tâm và sự vô thường của những xác thân này, những sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong thân tâm mình thay đổi liên tục, sanh diệt liên tục, biến đổi liên tục, cuộc sống như một trò ảo thuật giữa có và không.
Nhưng đáng tiếc thay, chúng sanh không nhìn thấy rõ trò ảo thuật này của cuộc sống, chúng sanh không thấy rõ sự vô thường, tạm bợ của cuộc sống, chúng sanh không thấy rõ những dục, ái, tham, sân, si trong tự thân và trong cuộc sống. Do không nhìn thấy rõ, không thấy biết rõ sự thật và bản chất những gì đang có mặt trong thân tâm và những gì đang có mặt trong cuộc sống nên chúng sanh đã mê mải, điên đảo chạy theo những thứ vô thường, tạm bợ này, chạy theo những cảm xúc, cảm giác của dục, ái, tham lam, sân hận và si mê đối với thân tâm tạm bợ này và cuộc sống vô thường này để rồi chúng sanh chuốc lấy cho mình những lo sợ, bất an, tai họa, tai ương, ách nạn, phiền não và khổ đau.
Những thứ này là kẻ thù giấu mặt, là sát thủ vô hình giết người, là thứ ác độc, đây là kẻ thù của người tu, phải nhìn cho ra bộ mặt của kẻ thù thì mình mới có thể diệt nó được, chúng ta phải nắm được những cái này nằm ở đâu. Mình muốn thấy mặt những tên ác độc này chỉ cần nhìn kĩ vào cảm thọ, muốn nhìn vào cảm thọ thì phải nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn lại thân tâm chính mình thường xuyên, chừng nào phá hết những cái xấu ác này thì vào Thánh quả.
Mình phải nhận diện khi dục sanh khởi sẽ như thế nào, lúc ái sanh khởi thì như thế nào, lúc tham sanh khởi thì cảm thọ như thế nào mình đều phải biết, lúc sân sanh khởi thì cảm giác như thế nào, lúc si biểu hiện ra thì cảm xúc như thế nào, vô minh ra sao, bản ngã như thế nào. Phải nhận diện từng tên giống như người lớp trưởng nhìn mặt là biết người đó tên gì, phải điểm danh nó, trong tâm mình cũng phải vậy vì nếu không thế thì làm sao mình tu, mình không biết những tên giặc ác bất thiện pháp thì tu cả đời cũng vậy thôi.
Vì thế đầu tiên phải nhận diện những ác bất thiện pháp, cái dục sanh khởi, ái sanh khởi, tham sanh khởi lên mình phải biết, mình phải tác ý diệt dục, không đợi đến khi dục khởi thì diệt không kịp, phải rầy la, quở trách, trách mắng cái dục. Vừa ngủ thức dậy còn trên gường là chửi liền, hướng tâm vào chỗ đó chửi "súc sanh, ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi cứ làm cho ta khao khát, thèm khát, ngươi cứ làm cho ta mơ tưởng. Ngươi là thứ ác độc nhất trên cuộc đời này, ngươi là thứ ma quỷ, yêu quái, ngươi tan biến khỏi tâm ta hoàn toàn đi", "chính vì ngươi mà ta cứ sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chính vì ngươi mà ta cứ quay cuồng điên đảo trong sống chết, chính vì ngươi mà ta cứ phải đi tìm, đi kiếm, chính vì ngươi mà ta phải mệt mỏi, ngươi hãy chết đi, ngươi hãy diệt tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi đừng bao giờ sanh khởi nữa". Phải tác ý mãnh liệt như vậy thì mình mới thấy được công dụng của nó, cảm thọ sẽ lắng dịu xuống, ngay đó mình triển khai thiền quán luôn.
Cái thân này nằm xuống là trương phình lên, nứt nẻ ra, chảy mủ máu ra, giòi bò lúc nhúc, mình triển khai thiền quán chín giai đoạn của một tử thi để phá sự ham thích, khoan khoái, sự tưởng mơ trong đó, mình diệt những suy nghĩ, hình bóng trong đó. Mình tác ý liên tục càng nhiều càng tốt, nhất là những lúc sanh khởi lên thì phải đánh đuổi, dùng mọi cách để dập nó, lúc đầu nó rất hung dữ nhưng từ từ nó sẽ lắng dịu xuống, từ từ mình sẽ đi đến chỗ nhiếp phục hoàn toàn thì mới có khả năng chứng nhập các tầng thiền định, ly dục hỷ lạc, còn nếu vẫn bị những thứ này hoành hành thì mình không tu thiền được, tâm mình không yên định được, nó cứ ám ảnh những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó cho nên mình phải có cách phá nó.
Khi mình ăn ngay món mình thích thì cảm giác như thế nào, mình phải nhận diện và nhiếp phục nó. Tham là muốn thêm, bực bội, sân hận, si mê, lờ đờ, ngáo ngáo, cái muốn hơn thua, muốn thể hiện ta đây, phải nhận diện ra những thứ này vì nó là kẻ thù của mình, nó là đối tượng để mình tu, nó là thứ mình cần nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận hoàn toàn, nó là nguyên nhân làm mình đau khổ, nếu không thấy nó là mình đau khổ triền miên.
Sự ra đời của đạo Phật, Đức Phật đã nhìn thấy sự vô thường, tạm bợ của thân tâm và cuộc sống, ngài đã nhìn ra được những dục, ái tham, sân, si, ngài đã nhiếp phục được lòng tham, lòng sân, lòng si đối với thân tâm và cuộc sống, ngài đã có một cuộc sống hoàn toàn tự do tự tại, không làm nô lệ cho dục, ái, tham, sân, si, không phụ thuộc vào những thứ vô thường, tạm bợ trong thân tâm và cuộc sống, ngài đã đạt được tâm hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn không dính mắc, không trói buộc với bất cứ thứ gì ở trên đời này. Ngài đã đạt được tâm hoàn toàn giải thoát, ngài đã giải thoát tất cả những thứ vô thường, tạm bợ, mong manh, giải thoát khỏi tham, sân, si, dục, ái, giải thoát khỏi phiền não, khổ đau và ngài đã chỉ dẫn lại cho chúng sanh con đường đưa đến sự thoát khỏi tất cả những phiền phức, phiền não trong cuộc sống này.
Từ đó đạo Phật ra đời, đạo Phật có mặt trên thế gian này, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của giác ngộ, sự có mặt của ánh sáng trí tuệ, sự có mặt của con đường đưa đến chấm dứt sanh tử, phiền não và khổ đau, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của ánh bình minh xua tan màn đêm đen tối của vô minh và si ám, sự có mặt của đạo Phật là sự có mặt của tuệ giác, của trí tuệ chiếu soi sự thật của cuộc đời, vén lên màn đêm đen tối của cuộc đời, vén lên sự thật về cuộc đời.
Đầu tiên ngài nhìn thấy được bản chất vô thường, tạm bợ của đời sống, thứ hai là ngài nhìn ra được những dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong tâm mà từ xưa đến giờ chưa ai nhìn thấy, nếu có thấy cũng chỉ thấy được một phần, một khía cạnh, một phương diện, góc độ nào đó chứ không thấy toàn phần, toàn diện, không thể thấy được toàn bộ phương diện, khía cạnh, gốc độ của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã như ngài nhìn thấy.
Khi ngài nhìn thấy thì ngài nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nó hoàn toàn cho nên ngài được nội tâm hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn giải thoát. Sau khi ngài đạt được như vậy thì ngài mới chỉ dẫn cho chúng ta con đường để diệt hết những thứ đó để đạt được hạnh phúc tuyệt đối, cao thượng, vĩnh hằng, bất tử. Đó là sự xuất hiện, sự ra đời của đạo Phật, những ý này chúng ta phải nắm thật kĩ vì đây là những ý chính rất quan trọng cho mình tu và hướng dẫn, nhất là mình giảng giải nữa thì những cái này hết sức quan trọng.
Thứ nhất là phải nhìn thấy được bản chất vô thường, tạm bợ của thân tâm và đời sống này, nếu không thấy như vậy thì không có tu. Phải thấy được bản chất tan hoại, hủy hoại, hoại diệt của đời sống này, kế đó phải nhìn ra được nội tâm cấu uế, bất tịnh, đầy rừng rú hoang vu, hôn ám, gai góc, đầy tội lỗi, tuy nhiên nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể nhìn ra được, không biết về ngũ uẩn là không nhìn ra chính xác được. Sau khi đã nhìn ra được những dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã thì nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, đây là điệp khúc ngàn năm trong Nikāya, bài kinh nào cũng lặp lại điều này, đây là công việc duy nhất của người xuất gia, ngoài cái này ra không có gì khác nữa. Không phải vào tu để độ chúng sanh, mình biết gì mà độ chúng sanh? Mình còn không biết mình là cái gì, không biết nội tâm mình ra sao, cái gì làm cho mình khổ cũng không biết thì độ ai? Mình chưa biết gì mà cứ nói đi tu để độ chúng sanh, thế là sai lầm từ đầu để đưa bản ngã cao lên, đi lệch đường, lạc lối.
Đầu tiên Đức Phật thấy sự tạm bợ của đời sống này rồi ngài nhìn vào nội tâm phát hiện ra những cấu uế, sau đó ngài tẩy sạch hết, đạt được cái tâm hoàn toàn thanh tịnh giải thoát khỏi những thứ đó, sau cùng là ngài chỉ cho chúng sanh phương pháp thoát ra cấu uế đó, cái đó gọi là đạo Phật, gọi là Phật pháp, gọi là đạo từ bi.
Bây giờ mình không nhìn thấy nội tâm mình, không tẩy sạch nội tâm mình mà cứ lo đi ra ngoài để độ. Mình không thấy được chánh tri kiến trong Phật pháp là mình sẽ rối bời như đống tơ vờ trăm mối không biết đường ra, mình không nhận diện được ngũ uẩn, không nhận diện được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã của mình, mình tu trong quờ quạng, tu trong mù mờ, đúng giờ lên tụng cho xong rồi xuống, đọc cho hết bài là xong, vậy là tu rồi, không hề giải quyết được vấn đề thật sự cấp thiết và cực kì quan trọng là cái gì làm mình khổ đau, mình cứ sống qua ngày đoạn tháng, ai làm gì mình làm đó, xưa bày nay làm, ai sao mình vậy.
Ngược lại mình phải khắc khoải, ưu tư, tìm kiếm, tìm cầu một đạo lộ, một phương pháp, một con đường, một cái lối để thoát ra thì gọi là xuất ly đạo lộ, đó cũng gọi là đạo đế, diệt đế. Mình đã thấy khổ rồi, tìm ra nguyên nhân của khổ thì bây giờ mình phải nỗ lực diệt tận nguyên nhân của khổ đó thì đi đến hết khổ, nó rất nhân quả, nó rất rõ ràng, cụ thể, thiết thực, nó rất minh bạch, tỏ tường, không có gì mờ ám, mê tín, không có gì xa vời cả.
IV. Trình pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ, kính bạch trên toàn thể đại chúng. Trong công tác những tháng gần tết thì con thấy bản thân mình dính mắc và có bắt tay vào làm trang trí chùa, cảnh quan trước cửa để Phật tử đến lễ Phật đầu năm. Trong lúc huynh đệ được phân ban công tác để trang trí sân đó thì trong tâm con nhận diện là bị dính mắc vào công việc, lúc đầu cũng tham làm để hoàn thành trách nhiệm mà trụ trì đã giao cho mấy chị em, trong lúc làm thì con thấy mình bị dính nhiều nhất là bất đồng quan điểm.
Khi giao trang trí lễ đài thì người lớn muốn trang trí theo phong tục ngày xưa, còn những người trẻ như các huynh đệ tụi con lại thích làm theo hơi hướng bây giờ, hơi hiện đại, tốn kém hơn. Khi làm như vậy thì lúc đầu thầy không chịu, nên làm tiết kiệm vì chỉ có nửa tháng là mình phải bỏ để qua cúng đầu năm, tụi con lại muốn làm cho đẹp vì nghĩ chỉ có 10 ngày để Phật tử đến chùa, ở ngoài cũng có nhiều cảnh đẹp nhưng những người trẻ hoặc nhỏ tuổi đến chùa lễ Phật có sự thích thú nên khi buổi tối lên phòng thì các chị em mới bàn với nhau, nghe lời thầy làm ít lại thì hơi xấu nhưng thầy không buồn, nếu làm theo ý tụi con tốn kém, bày ra nhiều cũng không ổn.
Sau khi làm 2/3 công việc được bàn giao, tụi con nghĩ còn cái cuối cùng đưa thầy tổng duyệt thì thầy lại thay đổi, bản thân con thấy nếu mình quá chấp vào việc làm theo tham muốn của mình thì không dung hòa với ý người lớn, bây giờ chỉ còn cách là thuận theo ý của thầy. Khi bắt tay vào làm những công việc đó thì tụi con mới thấy tâm tham, tâm sân, tâm dính mắc và cái vô minh của mình. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Rất quan trọng ở chỗ khiêm hạ, tâm hiền và sự hòa kính khi mình làm việc, cái này là bí quyết để đi ra hành đạo, không có cái này thì không làm được cái gì cả, kể cả trong chùa cũng không làm được. Chỉ có tâm hiền, sự hòa kính và khiêm hạ thì mới làm việc được, nếu không có cái này thì mình không thể làm việc được với thầy hoặc là với huynh đệ.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể. Con xin nhận diện về cái tham, hôm qua con có hẹn giờ để ngủ, thức dậy lúc 11h15, lúc đó rất buồn ngủ, trong tâm đòi nghỉ học, con nằm nhưng cứ liên tục nghĩ "thôi nghỉ học một bữa đi", sau đó lại nghĩ thôi đi học, cuối cùng con thấy trong lòng mình chỉ là tham ngủ mà thôi, mình cần phải đi học.
Con bừng dậy nói "buồn ngủ thì buồn ngủ nhưng cũng phải đi học", trên đường con chạy đến đây học thì quy định là 1h30 phải có mặt, trên đường đi học con sợ trễ giờ nên con chạy hơi nhanh, trong lúc con chạy như vậy thì con rất lo lắng, khi đến nơi thì giáo thọ chưa vào dạy nhưng vẫn thấy do cái tham mà đưa đến nguyên nhân là mình phải chạy nhanh và lo sợ. Hôm nay thầy dạy về vấn đề dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã thì con thấy phương pháp, nguyên nhân khổ đau là cảm thọ thì tự nhiên con khởi lên tâm phải đoạn hết một lần, nhưng con thấy nếu đoạn dễ như vậy thì đâu phải bậc Thánh vì bậc Thánh phải đi theo trình tự. Con khởi tâm như vậy là vô minh, mình phải đoạn từng cái một, mình bị cái nào nặng nề nhất thì phải hướng đến cái đó để đoạn thì mới dần hết, không thể một lần mà đoạn hết. Trong quá trình tiếp nhận lời của thầy ở đây thì con thấy là an lạc và hoan hỉ, đó là những cảm thọ, cảm nhận của con đối với cái tham. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Chiến thắng được con ma ngủ, nhận diện là như vậy, phải nhận diện được thân tâm mình.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện một chút tâm sân khó chịu, tức là vừa rồi trong mùa tết thì chùa nào cũng dọn dẹp rất nhiều, chùa con cũng vậy. Chúng con là chúng nhỏ, được sự hướng dẫn của tri sự dọn dẹp từ tam bảo cho đến nhà khách, khi làm thì con cũng dùng hết khả năng và bổn phận trách nhiệm để dọn dẹp nhưng làm gì thì vị tri sự đó cũng không đồng ý, tức là con đã dùng hết tâm huyết, tâm lực để làm tốt nhất có thể nhưng vị đó cũng không hài lòng, vị đó dùng những lời chỉ trích rất khó chịu, lúc đó trong tâm con cũng thật sự không hoan hỉ. Khi trải qua 1 lần, 2 lần, sự việc cứ diễn ra như vậy, tức là làm việc gì cũng không được sự hoan hỉ, sau đó con khởi lên ý niệm tùy thuận theo hoàn cảnh, không thuận theo ý mình, giữ tâm không giữ cảnh, tâm bình cảnh sẽ bình.
Lúc đó con không có sự phản ứng lại, vị đó chỉ sao thì mình làm vậy, mình không phản ứng bởi những lời nói khiển trách của vị lớn đó, mình làm theo sự hướng dẫn của vị đó. Tâm con không phản ứng với ngoại cảnh nữa thì con thấy nhẹ nhàng, mình hiểu nếu trong tam bảo có sự đồng kính mới đem đến sự hoan hỉ, khi tùy thuận theo hoàn cảnh để làm việc thì tâm con không phản ứng gì hết và đạt được an lạc.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng. Trong suốt một mùa xuân thì sự phiền lòng về dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh thì con thấy không phiền lòng cái gì, con với thầy con không có chùa mà chỉ có cái thất nhỏ để sống, tết đến con muốn dọn sao thì con dọn, thầy con đi tới tối mới về nên hai thầy trò cũng không gặp mặt. Trong cuộc sống ai cũng có phiền não khởi lên như thầy dạy, khuya thì huynh đệ chúng con đóng cửa phòng ngủ, có thầy đó hay gây tiếng động lớn, ban đầu chúng con cũng có ý niệm khó chịu, cũng thông qua bài học quán ngũ uẩn của thầy thì thấy đó là chướng ngại tướng của mình.
Ban đầu tâm mình cũng bực bội, nóng nảy, mình cũng khó chịu nhưng sau một thời gian mình nghĩ đây chỉ là chuyện nhỏ thôi, mình cũng không nên biểu lộ ra bên ngoài, mình quán tưởng lại, ngày xưa con cũng học một vị duy thức là tại sao trong chỗ ồn áo mình lại để tâm vào để phiền não mà mình không thấy trước mặt mình là cái bàn, cái bàn tính nó là im lặng, cây viết này cái tính nó làm im lặng, khi gõ lên nó thì nó cũng không chửi mình. Chúng sanh có sự vọng động cho nên cái tâm mình cũng từ từ bỏ được cái sân ngay đó, đó cũng là một sự nhỏ nhặt trong cuộc sống. Mô Phật.
./.