Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya Soi Sáng - Chữ hành trong Phật giáo

2026-03-18 06:50:21
Tinh Hoa Nikāya Soi Sáng

CHỮ HÀNH TRONG PHẬT GIÁO

-Thích Minh Thành-

Ngày 21 tháng 12 năm 2020

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hai chữ “hành” PAGEREF _Toc59541898 \h 1

II. Như Lý Tác Ý 1 PAGEREF _Toc59541899 \h 3

III. Các hành là vô thường PAGEREF _Toc59541900 \h 4

IV. Như lý tác ý 2 PAGEREF _Toc59541901 \h 5

V. Vô minh duyên hành PAGEREF _Toc59541902 \h 6

VI. Tất cả hành khổ đau, vô thường, vô ngã PAGEREF _Toc59541903 \h 9

I. Hai chữ “hành”

Kính thưa đại chúng, hôm nay là buổi học sau cùng, các huynh đệ có gì thắc mắc trong sự tu học xin mời hỏi để sau này không hối hận. Quý vị có gì thắc mắc không ạ? Những gì thắc mắc khó khăn trong sự tu học, hoặc là gửi trực tiếp hoặc ghi giấy gửi lên. Chờ một chút nếu huynh đệ không có coi như mình chia sẻ lời cuối, còn có câu hỏi thì hỏi. Vậy là ngộ hết rồi nên không ai hỏi gì. Mình học bốn năm đúng không, nên giờ ngộ hết rồi. Nếu các huynh đệ không hỏi gì, Minh Thành thấy cái gì cần thiết quan trọng trong buổi cuối cùng này Minh Thành sẽ chia sẻ.

Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch thượng tọa giảng sư, con xin thượng tọa giúp chúng con có thể hiểu được rõ hai chữ hành, một trong Thập nhị nhân duyên và một trong ngũ uẩn vì chúng con vẫn còn mập mờ chưa rõ lắm, hai chữ hành này có phải là một hay không? Nếu khác thì khác như thế nào? Kính xin thượng tỏa dạy, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ: Cho một tràng pháo tay để phấn khởi lên, câu này giống như câu hỏi của một lớp trên này lúc trước dạy thế. Ý hành trong ngũ uẩn là suy nghĩ, thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, có thuộc định nghĩa năm uẩn đó chưa? Suy nghĩ là hành, thành ra chữ hành trong ngũ uẩn là ý hành, hành chia làm ba loại: thân hành, khẩu hành, ý hành. Khi mình nói về sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì chữ hành trong này là ý hành. Hành này thuộc về phần tâm, là thọ, tưởng, hành, thức.

Chữ hành này rất quan trọng. Ví dụ như giờ mình suy nghĩ không biết khi ra trường mình tiếp tục học lên ngành gì, đi qua trung cấp giảng sư, cao cấp giảng sư, học viện hay cao đẳng, hay đi qua Myanma, Miến Điện, Đài Loan học. Vậy những suy nghĩ đó là ý hành. Hay là đi tu, lên Linh Quy Pháp Ấn, xin cái cốc để tu, đó là hành trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Hành này hoạt động suốt ngày đêm, ngay cả trong giấc chiêm bao, trong chiêm bao mình cũng có suy nghĩ. Hành này nghĩa rất lớn, làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Như vậy gọi là hành, đó là định nghĩa trong kinh Thủ Chuyển, quyển Nghi Thức Nikāya.

Khi mình đọc sẽ rất khó hiểu nhưng nghe giải thích, ứng dụng mình thấy rằng hằng ngày mình đang sử dụng nó. Làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành các pháp hữu vi sắc với sắc tánh – cái này mình đã học bữa đầu tiên cảu Thánh trí năm uẩn rồi. Bây giờ ví dụ con nói đây là cái chuông ở bên Nepal đem về, như vậy con đang làm cho hiện hành sắc, mình nói ra người ta mới biết là cái chuông chứ mình không nói người ta không biết là cái gì. Nếu như không có cái này ở đây, mà mình không nói người ta không biết là cái gì, hoặc mình nói ra mọi người mới chú ý, suy nghĩ và để ý về nó.

Như vậy, lời nói của mình làm cho hiện hành sắc pháp đó. Ví dụ trong lớp này, sơ đồ lớp là đây đúng không, bây giờ con nói thầy Tánh Quán đâu, mời thầy đứng lên, đó là làm cho hiện hành sắc. Chứ giờ mình nói tên Tánh Quán, trong lớp biết ờ, người đó, sắc đó, đó là làm cho hiện hành sắc qua khẩu hành. Cái này nghĩa bắt đầu hơi rộng ra. Ví dụ bây giờ con ngồi suy nghĩ, thầy Tánh Quán vừa rồi học rất nghiêm túc, siêng năng, chăm chỉ, ngủ hay không thì không biết. Như vậy mình đang làm cho hiện hành sắc pháp đó, tính chất của sắc pháp đó, và đương nhiên thân thể của thầy là vô thường, tan hoại, sanh diệt. Đó là làm cho hiện hành sắc, sắc tánh ở trong suy nghĩ, lời nói của mình. Nếu mình không có ý hành sanh khởi lên thì không có pháp gì sanh hết nên nó làm cho hiện hành các pháp hữu vi là suy nghĩ đó.

Bây giờ mình nói là: sáng này cảm giác lành lạnh, mát mát, sướng hay là cảm giác của mùa đông, Noel. Mình nói như vậy là làm cho hiện hành thọ, nhưng cảm giác lúc nào cũng biến đổi, thay đổi. Nên lạnh chút chút thì được, lạnh nhiều nó ho, bệnh, mặc áo khoác vô nên bản chất của các cảm giác, cảm thọ nó là vô thường. Đó là làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành cảm giác và tính chất của cảm giác. Nếu không có suy nghĩ, lời nói thì không có pháp gì hiện hữu, hiện hành ra. Nên tất cả các pháp hiện hành, cái hiện hành này là biểu hiện ra là do hành này, suy nghĩ này.

Giờ hai người gặp nhau, vô xá chào rồi ngồi im re hoài, một tiếng đồng hồ uống ba chung trà xong xá chào đi ra. Đó là dạng thiền sư phải không? Vô xá chào xong rồi uống ba chung trà không nói lời nào từ đầu tới cuối rồi đứng dậy xá chào nhau đi. Cái này bây giờ không có rồi. Nhưng giờ hai người vô nói chuyện này chuyện kia, ông A, ông C, bà B…trong đó làm cho hiện hành các sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên cái hành này khủng khiếp lắm nên làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh.

Nhớ lại cảm giác bữa hổm đi ngoài Đà Lạt có ghé vòng vòng hồ Xuân Hương, uống sữa đậu nành nóng, ăn bắp nướng, khoai lang lụi… Khi mình nói vậy mình có làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh không? Bữa nay trở thành hình bóng kỷ niệm. Đó là mình làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, cái sắc tưởng đó nó hiện lại. Khi mình nói hồ Xuân Hương thì hình bóng hồ Xuân Hương mà mình đã thâu nhận vô tâm mình, lúc đó nó sanh khởi trở lại. Đó là làm cho hiện hành tưởng, hình bóng đó hiện ra.

Hoặc mình nhớ về người nào đó mà mình không nói ra, trong tâm nhớ thôi, nói ở trong tâm - ý hành. Ví dụ nhớ về sư phụ dưới quê hay ông nội bà nội, cha mẹ, cô bác… như vậy nó làm hiện hành các phương pháp hữu vi, mà ở trong ý hành của mình, mình biết nhưng người ngồi kế bên không biết. Đó là làm hiện hành, hành với hành tánh, sắc với sắc tánh, tưởng với tưởng tánh, thọ với thọ tánh, thức với thức tánh. Mình nhận thức được điều gì đó, biết được cái gì đó nên chữ hành này ghê gớm lắm, bao trùm hết tất cả pháp.

II. Như Lý Tác Ý 1

Đức Phật nói: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác ý đó tức là sự tác động tâm ý do mình chủ đích. Tác ý có hai loại: Như Lý Tác Ý và Phi Như Lý Tác Ý. Tức sự tác động tâm ý của mình và do suy nghĩ này nên tất cả các sự vật, hiện tượng sanh khởi. Nếu suy nghĩ dứt thì không còn sanh khởi sự vật hiện tượng nào để vào trong định. Nên trong Quy Sơn mình học có câu là: “Nhất tâm bất sanh, vạn pháp câu tức” – một tâm không sanh, muôn pháp đều dứt, tức nói ý hành này. Tâm không sanh khởi lúc đó không có pháp nào nữa. Nhưng câu đó chỉ nói riêng về phần ý hành, còn trong ngũ uẩn thì thâm sâu hơn, không dừng lại ở đó.

Bây giờ, khi mình suy nghĩ nó có hai chiều hướng, 1 chiều hướng suy nghĩ theo dục, tham, ái, vô minh, chấp ngã – đó gọi là chiều hướng suy nghĩ sai – Phi Như Lý Tác Ý. Một suy nghĩ đúng đưa đến ly tham, suy nghĩ về vô thường, khổ, vô ngã, đúng như đặc tính của các pháp, gọi là tam tướng – ba sự thật vĩ đại của thế gian. Nếu mình suy nghĩ đúng, nó đưa đến ly tham, giải thoát, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Nếu mình suy nghĩ sai, nó đưa đến tham, sân, si, sầu bi, khổ, ưu não nên sự tu mình không phải không suy nghĩ. Nhớ chỗ này quan trọng, nên mình mới có Chánh tư duy.

Sự tu của mình không phải ngồi yên, không suy nghĩ gì, tự nhiên nó chứng quả, không phải, mà dùng suy nghĩ đúng, đánh phá suy nghĩ sai. Đây là cái quan trọng mà trước giờ mình hiểu lầm rất nhiều, mình nghĩ rằng ngồi thiền không suy nghĩ, đừng để nó suy nghĩ, không phải. Đó chỉ là sự dừng lại, đình chỉ của tâm, một cách làm cho tâm yên tịnh của buổi đầu. Còn nếu tu đến mức đúng như tinh thần của Đức Phật dạy trong kinh Nikāya là phải dùng suy nghĩ đúng để phá suy nghĩ sai.

Bây giờ con nói ví dụ, nhà mình dơ, mình đâu có ngồi yên đó mà một đống rác nó sạch được. Mình phải dùng tay, chân, chổi lau nhà, xà bông, bàn chải… mình dùng cái này để tẩy cái kia. Cho nên trong sự tu Bát Chánh Đạo của mình có Chánh Kiến, Chánh tư duy, mà tư duy đó cũng thuộc về hành. Cái này con đang giảng rộng ra cho các thầy nắm.

III. Các hành là vô thường

Bây giờ, chữ hành này, rộng ra hơn nữa là: “Này, các Tỳ-kheo, các hành là vô thường, hãy tinh tấn lên để tự giải thoát”. Chữ hành đó bao gồm cả sự vận hành của ngũ uẩn, bao gồm luôn cả ngũ uẩn. Sự hành này là sự vận hành của sắc, của các cảm giác, của những hình bóng trong tâm, của suy nghĩ, của các thức, của sự nhận thức. Nên chữ hành này trong Phật giáo không phải dễ hiểu. “Này, các Tỳ-kheo, các hành này là vô thường”.

“Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành”.

Kinh Cỏ và củi – Phẩm thứ nhất – Chương IV Tương Ưng Vô Thỉ

- Kinh tương ưng bộ

Sau khi Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh các ngọn núi lớn, những Đức Phật trước đã từng tu tập giảng pháp trên ngọn núi đó. Sau các ngọn núi này mòn, hư, sụp, đổ, bại hoại, tan rã. Đức Phật mới kết luận rằng: Này, các Tỳ-kheo, các hành là vô thường như vậy, “Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành”.

Chữ các hành đó bao gồm sự vận hành của tất cả tổ hợp của vật chất, cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ, nhận thức (gồm có sáu nhận thức và sáu rõ biết – sáu thức). Tức chữ hành bao trùm hết tất cả thế giới, thân tâm. Mình có bài kệ mà hồi đó giờ nghe quen: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp. Sanh diệt diệt vĩ, tịch diệt vi lạc”.

(Pháp Sanh Diệt)

Chữ hành đó cũng là sự sanh diệt của ngũ uẩn, “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp. Sanh diệt diệt thời, tịch diệt vi lạc”. “Sanh diệt” hết rồi, “tịch diệt” là vui. Thành ra khi mình biết mà mình vận dụng suy nghĩ này tu là hay lắm. Trong sự tu của mình, rất nhiều sự vận dụng Như Lý Tác Ý trong kinh Nikāya – tức thiền quán – sự quán chiếu. Nếu mình không quán chiếu, trí huệ không sanh. Cái này chúng ta nói rất nhiều lần rồi, tác động tâm ý trí tuệ mới sanh, thiện pháp mới sanh. Nếu mình không tác động tâm ý thì trí tuệ không sanh, dù mình tu 100 năm cũng vậy, trí huệ không sanh. Cho nên mới có câu: “Dù sống một trăm năm, không thấy pháp sanh diệt, không bằng sống một ngày, thấy được pháp sanh diệt vô thường”.

IV. Như lý tác ý 2

Thành ra chữ thấy pháp đòi hỏi mình một sự tác động tâm ý, sự suy nghĩ, tư duy, quán chiếu về các pháp, chứ trơ trơ thì không sanh trí huệ. Ví dụ, như mình đi trên đường, thấy tai nạn giao thông, một thân thể nằm dài bất động, máu chảy thành vũng, kế đến cái chiếu người ta bó lại. Mình thấy qua rồi, không chỉ đơn giản nhìn thử coi ai, già trẻ, bé lớn, nam nữ, mập ốm, đen trắng gì, cái đó không quan trọng, mà ngay chỗ đó mình tác ý. Tứ đại này thật mong manh, vô thường, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Đời sống này thật ngắn ngủi, nhỏ bé, tạm bợ, thay đổi, bất trắc, bất thường, bất ác .

Mình suy nghĩ, tác ý nhiều, càng nhiều càng lâu chừng nào, trí huệ mình càng thâm sâu, rộng lớn chừng đó. Thậm chí hình bóng đó mình đưa nó vô trong tâm, duy trì cảm thọ đó luôn, ba ngày, bảy ngày, một tháng. Nó là động lực để cho mình nỗ lực, tinh tấn trong sự tu học. Thành ra sự khác nhau giữa người biết tu và người không biết tu là ở chỗ đó. Vì cứ chạy ra coi hay nữ, già trẻ, mập ốm, đen trắng; còn người tu không coi cái đó, mà lấy nó làm cơ hội tác ý - Như Lý Tác Ý, mình tác động theo chiều hướng nhàm chán, ly tham, chấm dứt, hướng đến từ bỏ. Tức không còn ham thích, ưa mến thân này nữa.

Đó là sự tác động tâm ý, là tu, cũng là quán chiếu, tư duy, Chánh tư duy, Như Lý Tác Ý mà nó cũng gọi là Thánh tư duy – sự suy nghĩ của bậc Thánh. Những suy nghĩ đó phù hợp với sự thấy biết, tri kiến, sự chứng ngộ của bậc Thánh. Nên cái này rất quan trọng, chúng ta tu sử dụng bảy mươi phần trăm là Như Lý Tác Ý, nếu mình không sử dụng Như Lý Tác Ý là tu hoài không tiến bộ, cứ trơ trơ vậy hoài. Ví dụ mình ngồi thiền, giữa không biết Như Lý Tác Ý và biết Như Lý Tác Ý khác nhau rất xa.

Một buổi ngồi thiền của mình, mà mình Như Lý Tác Ý với một buổi ngồi mình đơ, trơ trơ, hôn trầm hay gì đó thì một buổi như vậy rất khác nhau. Vô ngồi mình quán, giờ này người ta chết lên chết xuống, dịch bệnh, nhiễm bệnh nhà tan cửa nát, sanh ly tử biệt, chồng chết, vợ chết, cha chết, mẹ chết, anh chết, em chết, cháu bệnh, ông bà bệnh… Bao nhiêu người chết mà cái hố chôn bằng sân vận động, khi thì bỏ vô những bao đựng rác. Người ta đang lo lắng, sợ hãi, khổ đau, đang lũ lụt, thiên tai, động đất, biến đổi khí hậu… Bao nhiêu những cảnh tù đày, ngục tù… Bao nhiêu những cảnh khổ, mình ngồi quán chiếu như vậy thì tuệ giác, trí tuệ mình thâm nhập về vô thường, đau khổ, tan hoại, biến hoại của cuộc đời này nó bừng sáng, chiếu sáng, rực sáng, tỏa sáng ngay khi mình ngồi thiền.

Còn cái này mình vô ngồi, thở vô thở ra, nhắm lại rồi ngủ gục hay vọng tưởng gì một chút, một hồi bấm keng là mình đi ra. Thành ra ngồi như vậy ba năm, tám năm, mười năm trí huệ không sanh, nó được một chút yên yên, đỡ đỡ giống như dưỡng sinh hay ngồi nghỉ ngơi vậy thôi chứ không phải là thiền quán của Đạo Phật. Cho nên sự khác biệt giữa người biết tu và người không biết tu khác nhau. Đó là nãy giờ mình nói về tổng quát, về chữ hành rộng lớn và thâm sâu, cũng như là pháp hành.

V. Vô minh duyên hành

Còn chữ “Hành” trong “Vô minh duyên hành” là từ chỗ mình không thấy rõ, không sáng tỏ, không hiểu biết nên những lời nói, hành động sai lầm. Vì mười hai nhân duyên này, nếu chúng ta học lên cao đẳng mà còn gặp lại thì chúng ta mới học vì mười hai nhân duyên này thâm sâu lắm, không đơn giản nên hiện tại ở đây con không chia sẻ cho quý thầy. Mười hai nhân duyên này không đơn giản như trước nay chúng ta suy nghĩ.

Vô minh là sự không nhìn thấy được năm uẩn, không biết sắc là sắc, thọ là thọ, tưởng là tưởng, hành là hành, thức là thức. Mà cho rằng tôi và của tôi, tự ngã của tôi. Từ chỗ không thấy năm uẩn cho rằng có một cái tự ngã, một cái tôi, một cái ta này nên cái suy nghĩ, lời nói, hành động mang một ngã chấp, kiến chấp, mê chấp, tham chấp, vọng chấp. Chính vì vậy, những suy nghĩ, lời nói, hành động phát ra thân hành, khẩu hành, ý hành đều tạo nghiệp. Thành ra có khi người ta gọi là hành nghiệp. Suy nghĩ nó theo nghiệp, mỗi một tác động tâm ý đều là nghiệp.

Tại vì sao? Vì đứng trên cơ sở của mê mà suy nghĩ nên những suy nghĩ đó đều là nghiệp, đứng trên tâm mê mà nói, những cái nói đó đều là nghiệp. Đứng trên tâm mê mà hành động thì tất cả những hành động đó là nghiệp. Vô minh với hành này không phải chỉ là quá khứ, mà hằng ngày chúng ta làm liên tục. Chúng ta có những lời nói, suy nghĩ, hành động phát xuất từ sự vô minh, thấy biết không chính xác vấn đề, rất nhiều…

Ví dụ sư phụ vì thương mình, thấy mình làm sai, bằng từ tâm nhắc nhở, muốn giúp cho mình tốt, nhưng vì vô minh, chấp ngã, mình lại suy nghĩ khó khăn, rắc rối, la rầy hoài, không gặp thì thôi, gặp là có chuyện. Mình bực bội, sân hận, bản ngã lên thì mình suy nghĩ đó là ý hành của vô minh, của nghiệp. Từ cái vô minh dẫn ra suy nghĩ đó. Khi mình nói, phát biểu những cái đó thì khẩu hành của mình tạo nghiệp. Rồi mình hành động nên những cái bực bội, tỏ ra sân hận thì hành động đó là của nghiệp, từ vô minh tạo ra hành nghiệp.

Còn nếu như đây là minh, thì không tạo ra thân hành, khẩu hành, ác hành, mà những cái hành của nó là thiện hạnh. Nó nghĩ đúng như sự thật, đó là thầy thương mình, muốn tác thành cho mình, muốn giúp đỡ cho mình, muốn làm cho mình thành tựu, nên người, làm cho mình trở thành một người tu đúng nghĩa là một người tu thì mình phải biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, đền ơn. Tại sao mình lại suy nghĩ theo chiều sân si, bản ngã, vô minh. Đó là ý hành, thiện pháp, khi mình nói ra lời: con cảm ơn thầy, thầy đã chỉ dạy, nhắc nhở cho con, con mới biết chỗ đó là sai – đó là khẩu hành của thiện. Thậm chí mình quỳ xuống lạy, sám hối, đó là thân hành của thiện pháp.

Lấy một ví dụ là mấy thầy thấy, cái vô minh với hành này nhiều lắm, hằng ngày hằng giờ, hằng phút hằng giây chứ không phải này kia trong quá khứ. Vô minh này xuyên suốt ngày đêm, một suy nghĩ của mình, ngay lúc này, có thiện có ác, có minh, có vô minh. Một lời nói vô minh của mình có hết, tức từ vô minh này phát ra thân hành, khẩu hành, ý hành. Cho nên nói ví dụ, bữa học cuối cùng này, nếu minh nó hướng tới suy nghĩ, đây là buổi học cuối cùng, bữa học tối hậu. Chúng ta sẽ ra trường, không còn gặp thầy, không còn gặp mấy huynh đệ nữa, chúng ta phải trân trọng buổi học này. Mình phải toàn tâm toàn ý lắng nghe, ghi chú, khắc ghi để làm vốn liếng, hành trang ra trường, đó là minh dẫn đầu suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động.

Còn cái vô minh nó sẽ suy nghĩ rằng giờ này học gì nữa, hôm nay ôn thi thôi, học bốn năm nay rồi. Chúng ta thấy không, chỗ nào cũng có, vô minh dẫn ra hành, chứ không phải quá khứ mới là vô minh, hành trong quá khứ không có, tất cả. Bây giờ, một cái suy nghĩ trong tâm, nhắc nhở mình đi phải chậm rãi, nhìn xuống về phía trước, phải có oai nghi. Đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, co duỗi, cúi ngước, tất cả đều phải tỉnh giác, tuệ tri, cứ ôm bình bát. Khi đại, tiểu tiện đều phải tỉnh giác, rõ biết, mình nhắc, mình học trong kinh Tứ Niệm Xứ nhưng có một ý đó, thôi khó khăn quá, tu cho nó thoải mái một chút, tu gì khổ quá à, cho thoải mái thư giãn một chút.

Suy nghĩ trước là minh dẫn ý hành nên phát ra thân hành, ngữ hành của thiện pháp, của Chánh pháp. Còn ý nghĩ sau là vô minh cho nên nó phát ra sự buông lung, phóng dật, biếng nhác, sự buông trôi, buông thả, buông xuôi, buông lơi, buông lỏng – đó là minh và vô minh, chúng ta thấy không, nó rất rõ. Mỗi ngày, mỗi giờ, minh và vô minh đều hoạt động. Và ba thiện hành hay ba ác hành đều biểu hiện hết trong thân tâm mình mọi lúc mọi nơi. Thành ra chúng ta mới thấy được nó rất thực tế. Sư đã phân biệt được hành trong mười hai nhân duyên và trong ngũ uẩn chưa?

Phật tử: Con thấy vẫn còn chưa rõ ràng lắm. Nếu hành bên ngũ uẩn là suy nghĩ thì bên đây là hành nghiệp, vậy hai hành này theo cái nhìn của con nó giống như hai lĩnh vực, hai phạm trù khác nhau. Bên kia tùy thuộc vào những sắc, thọ, tưởng, thức mà có hành, còn bên mười hai nhân duyên dẫn xuất từ vô minh.

Sư phụ: Thôi được rồi, ngồi xuống đi, con nói câu này là hiểu liền. Ở trong ngũ uẩn, chữ hành là suy nghĩ – ý hành, còn chữ hành trong mười hai nhân duyên bao gồm luôn cả thân hành, khẩu hành, đơn giản vậy thôi, tại nãy giờ khai triển rộng ra để cho mình thấy, sẵn cơ hội học chữ hành nên để cho mình học hết tất cả những ý nghĩa. Sư cứ bình tĩnh, lắng tâm, về nhà nghe lại bài này sẽ nắm rất vững. Điều quan trọng khi mình nghe, mình học, tâm mình bình tĩnh, lắng nghe và tiếp nhận một cách trọn vẹn.

Tâm càng dao động, càng suy nghĩ lung tung, giống như cái bình mình rót nước trà vô cái chung mà lấy cái chung ra thì nó sẽ đổ nước ra ngoài. Cho nên lúc đó mình chỉ hứng thôi, hứng trọn vẹn hết, rồi có cái gì sau này từ từ mình sẽ phân tích, so sánh này kia sau. Còn ngay lúc nghe đừng so sánh, đừng suy tư ra ngoài. Thì vấn đề tập trung tâm ý để mình hứng trọn vẹn, tiếp thu một cách hoàn toàn rồi sau đó về mình đối chiếu, suy xét. Còn lúc mình đang tiếp thu pháp, mình hỏi người ta trả lời, mà mình không chú tâm, không đặt trọn sự nghe để mình tiếp nhận, tâm đó là tâm trạo cử trong ngũ cái, nó sẽ làm cho mình, giống như cái chung trà, kéo lúc đó nước sẽ đổ ra, không đi vào chung.

VI. Tất cả hành khổ đau, vô thường, vô ngã

Bây giờ chúng ta sẽ nói rộng ra, vì mấy thầy không ai hỏi nên chúng ta sẽ biến bài này thành bài học để ôn thi, có năm phút thôi, ôn thi dễ lắm. Mình nhớ câu trong kinh Pháp Cú:

“Tất cả hành khổ đau

Với tuệ quán thấy vậy,

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

Tất cả hành vô thường

Với tuệ quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

Tất cả hành vô ngã

Với tuệ quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh”.

Bài kinh số 277, 278, 279 - kinh Pháp cú

Đây là ba bài kệ, cũng gọi là tam pháp ấn của kinh Pháp Cú. Bây giờ mình sẽ mở rộng chữ hành này ra. Con thưa với đại chúng, nhân dịp học bữa cuối, chúng ta sẽ mở rộng ra hết tất cả các pháp để mình thấy được tổng cương lĩnh Thánh trí của Đức Phật. Chữ hành đừng để nó tác động tâm ý mình, chữ hành lúc đó là thọ do nhĩ xúc sanh, do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa, hội tụ với nhau. Tai mình tiếp xúc sanh ra thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác do tai tiếp xúc sanh khởi ra. Khi thọ sanh khởi lên, mình bị dao động trong thọ đó, lập tức mình quay lại đi tìm tiếng đó liền mà không biết rằng mình đã bị tiếng đó, thọ đó, xúc đó tác động, mất sự tự chủ.

Vì mình đang học pháp, vấn đề của mình là pháp chứ không phải vấn đề tiếng đó, tiếng đó kệ nó, không để nó tác động mình. Tức là niệm, định, tuệ, niệm là sự ghi nhớ cái mình đang làm, định là sự tập trung tâm ý, tuệ là sự rõ biết trong giờ phút đó. Là niệm, định, tuệ ngay giây phút này chứ không phải đợi tới lúc ngồi thiền, một tiếng đó mà mình bị tác động thì tiếng chửi là mình chết ngay. Đó là pháp sống. Cho nên khi chúng ta nói chữ hành:

“Tất cả hành vô thường

Với tuệ quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh

Tất cả hành vô ngã

Với tuệ quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh”.

Sự quán chiếu bằng trí tuệ, tính chất biến đổi của sắc, sắc này là biến đổi, dù là sắc quá khứ, hiện đại, vị lai, thô tế, thắng liệt, xa gần… tất cả các sắc đều thuộc vô thường. Không có sắc nào, dù nhỏ giống như hạt phấn trên ngón tay của con hiện bây giờ có thể thường trú được, không thể có điều đó, nó không thể xảy ra, dù cho một bụi phấn giống như ngón tay hiện bây giờ cũng là vô thường, hủy hoại, hoại diệt, cũng là tan nát. Đó là sự quán chiếu về tính vô thường của sắc, một ngàn năm trước và một ngàn năm sau đều vô thường, ba ngàn năm hay mười ngàn năm sau cũng vô thường.

Cho nên dầu là sắc quá khứ, sắc hiện tại, sắc vị lai, thô tế, thắng liệt, xa gần… tất cả các sắc đều bại hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Với trí tuệ thường quán chiếu như vậy thì mình sẽ sanh ra sự nhàm chán tính vô thường này. Tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt thì thích nó làm gì, ưa nó làm gì. Bây giờ mình biết miếng đất nó thường động đất, bị địa chấn, mình dám mua miếng đất để cất nhà trên đó không? Vì mình biết, ôi chỗ đó thấy ớn lắm, sợ lắm, thôi không dám lại ở đâu, cho cũng không dám lại ở, đó chính là tuệ quán về vô thường, không ưa không thích.

Từ vô thường này đưa đến ly tham, trời đất ơi nó đã. Không ham muốn, tại vì sao? Vì nó vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt mà muốn làm gì? Nó sụp đổ, bị địa chấn, động đất. Đó là “với tuệ quán thấy vậy”. Rồi bây giờ, cảm giác này, ba cảm thọ này vô thường không? Có cảm thọ nào mà không vô thường? Bây giờ sáu tưởng: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Bây giờ nói gọn lại, tưởng với hành này, sáu tư này là sáu hành, tức sáu nghĩ tưởng này đều là vô thường. Hình bóng trong tâm sao mà thường? Hình bóng ở ngoài rờ được còn vô thường, còn tan nát, huống chi hình bóng ảo ảnh trong tâm?

Hình bóng về sắc pháp trong tâm mình nó là sắc tưởng, mình nhớ lại hình bóng đó, hình bóng đó vô thường, âm thanh mình nhớ lại nó vô thường, âm thanh ngọt ngào, êm ái hay những lời mắng chửi… tất cả những âm thanh đó là thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng. Nhớ lại hình bóng đụng chạm, tiếp xúc, ôi chao, cái này ghê lắm. Mình nhớ lại những cảm giác nghĩ tưởng, những suy nghĩ đó, sáu suy nghĩ này, sáu hình bóng này trong tâm, sáu tưởng, sáu tư, tất cả là vô thường, khổ đau. Nhớ lại những hình bóng này là khổ, tiếc nuối, xót xa.

Nhận thức cũng vậy, bây giờ mình đi sâu vô khổ. Bệnh hoạn, ốm đau, tai nạn, giao thông, chết chóc, nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình, bại liệt, què quặt, điên khùng, cùi hủi, ung thư đủ thứ, cái gì cũng ung thư được: dạ dày, đại tràng, phổi, gan… chỗ nào trên cơ thể mình cũng có thể trở thành ung thư, ung nhọt, ung hạch, ung bướu… Nên cái sắc này là khổ: “Với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán, chính con đường thanh tịnh”. Khổ mà không thấy nó nữa, không ưa, không muốn, không khoái, không khao khát nó nữa… rồi ly tham, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ. Đó là Thánh pháp ấn của đại tạng Nikāya.

Còn mình thấy nó còn đẹp, còn sạch, còn hấp dẫn, vừa ý, thích thú, khoan khoái rồi làm sao lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khao, lòng khát, lòng dính mắc, chấp thủ làm sao diệt tận nó được? Làm sao mình bỏ nó được? Phải nhìn thấy tính chất của nó là đau khổ, tan hoại, trống rỗng, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, bất tịnh, hôi tanh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, thối tha, xấu xa, tàn ác, khốn nạn. Phải nhìn thấy được sắc chất này nó là như vậy. Chính xác thân này, chính cảm giác thúc giục, khao khát, thèm thuồng, đòi hỏi, khát ái làm cho mình khổ, bắt mình phải chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài, phục vụ cho nó, cung phụng cho cái dục đó suốt cuộc đời.

Đó là Thánh pháp ấn của Đức Phật, tất cả đau khổ trên đời này là dục, từ dục mà ra. Nên giáo pháp của Đức Phật là ly tham, ly dục. Đó là Thánh pháp giải thoát. Tại sao lại ly tham, ly dục, vì nó là thứ vô thường, thống khổ, phiền não, trống rỗng, vô ngã, là thứ không đáng cho mình tham, cho mình ưa thích, cho mình phải đầu tư vô đó, cho mình đau khổ trong đó. Nhưng muốn được cái này phải tuệ quán, tác ý, tư duy, thiền tập, suy nghĩ, thấm thía, ngấm vô sâu, thể nhập, chứng nhập. Mình suy nghĩ một trăm lần, năm trăm lần, tám trăm lần chưa được thì suy nghĩ một ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm ngàn lần, một triệu lần, một tỷ lần. Đó là sự chứng nhập khổ Thánh trí.

Tại sao mình tu từ bất tịnh mà thành ra tịnh, khổ thành ra vui. Sự quân tập, thể nhập, Chánh tư duy của mình chưa đủ. Tại vì sao? Trăm ngàn vạn kiếp, vô lượng, vô biên kiếp mình toàn đẹp, sạch, mê, hấp dẫn, bây giờ mình mới nghe bất tịnh được năm, bảy lần, mười lần làm sao mình đánh nổi cái tịnh kia? Cho nên nghe thường, thiền thường, quán thường, chiếu thường, soi thường, rèn luyện thường, tư duy, tác ý thường xuyên, liên tục, ngày đêm, năm tháng rồi từ từ mình thực tập, thâm nhập, chứng nhập, thể nhập chứ đâu phải nói chuyện đơn giản, đâu phải dễ dàng vô Thánh quả, có ra Chợ Lớn mua 4 quả thì được. Ra Chợ Lớn mua quả La Hán về nấu, chứ thực sự quả A-la-hán trong kinh Nikāya phải hết sức nỗ lực, thực hành liên tục ngày đêm, thức ngủ.

Cho nên chỗ thâm sâu mình nói rộng ra là sự vận hành của năm uẩn. Con nói chúng ta bây giờ trong sáu thức của mình là duyên sanh, vô thường, giờ mấy người nằm nhắm mắt có nghe gì đâu, đâu có thấy gì, nhiều khi đang nằm chiêm bao nữa. Nên cái thức nó duyên sanh, vô thường lắm. Ví dụ bây giờ mình ngồi đây, mà trước cửa hay ở chùa có người đang chửi mình ở nhà, mình có sân si không? Bởi vậy nó toàn là giả, duyên sanh đó là trống rỗng. Nhưng mình thấy, nghe lại bị dính mắc vô, thấy cái nào cũng thiệt. Nhưng nghe ở trong tầm của nó mới nhận thức rồi sanh ra cảm thọ, xúc mới sanh thọ, chứ nếu không tiếp xúc được âm thanh đó thì suốt đời cũng đâu có thọ.

Thành ra duyên sanh pháp mình phải nắm vững, “tất cả pháp vô ngã, với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán, chính con đường thanh tịnh”. Nên sự tu của mình là chấm dứt tất cả các hành, chỗ này thâm sâu. Tức là yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt tất cả các hành đối với tất cả các sắc, các cảm thọ, nghĩ tưởng, nhận thức, không tham không đắm, không chấp không thủ, ưa thích. Nhìn thấy được tính chất hủy hoại, tan hoại, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, phiền não, khổ đau của nó, sự nhàm chán ly tham mạnh mẽ, muốn xuất ly, thoát ra, phải xuất ly ngũ uẩn. Phải thoát ra, còn ở trong này là còn khổ.

Bây giờ phòng này cháy tùm lum, mình ở trong này rồi mình có ăn chén bằng vàng, bát bằng vàng, cho mình một đống đô la đi nữa rồi mình cũng chết. Phải thoát ra, vì nó đang cháy. Nên sự tu tối cao của Thánh trí huệ là xuất ly khỏi năm uẩn, thấy được chỗ đó không? Đó là chỗ mà chết ở trong chùa cũng chưa biết nếu không học. Tận cùng của giáo pháp này là thoát ra khỏi năm uẩn, đối với tất cả các cảm giác đều nhàm chán. Không ưa thích cảm giác nào dù đó là cảm giác vui sướng.

Mình học rồi, đối với tất cả hình bóng, nghĩ tưởng, không một cái nào mình ưa thích nó nữa. Mình biết tính chất nó là tan hoại, đau khổ, hủy hoại, hoại diệt, phiền não thì thích làm gì? Nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn tận, từ bỏ, đó là Thánh pháp ấn của Nikāya, tổng cương lĩnh của Thánh pháp. Bữa nay thầy trao đại gia tài của Thế Tôn rồi, mà muốn được chỗ đó phải thực hành Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn ngũ lục, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo.

Đó là nói tổng cương lĩnh, nói gần, cảm giác toàn thân, nhiếp phục ba loại cảm giác tham, sân, si và bản ngã; thường thường quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã; thường thường nhìn thấy được những cảm giác dục, tham, ái; nhiếp phục, đoạn tận, hóa giải, tác ý để mình trừ diệt nó một cách hoàn toàn. Chặt nó giống như chặt cây Tala, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa. Tất cả dục, tham, ái, thích thú trong ngũ uẩn này chấm dứt đi đến chỗ tận diệt. Nó thâm sâu tới mức độ như vậy, không phải chuyện dễ, nội cái học, trả bài cho đúng còn khó nói chi cái hành. Chứ còn bây giờ mình nhìn coi, đại đa số dính trong chữ đầu tiên, đi ra không nổi, suốt đời mình đầu tư vô chữ đó – sắc.

Nên những pháp để phá trừ, để quán chiếu, để thoát ra năm uẩn mình đã học rồi nên không nhắc lại. Sự tu tập của chúng ta là cả một công trình. Đây là gia tài của Phật, đã trao lại cho mấy huynh đệ rồi, gia tài của Thế Tôn là Thánh trí và năm uẩn, nhàm chán và ly tham, nhiếp phục dục, tham, ái, hướng đến từ bỏ đối với ngũ uẩn, thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã của các hành. Sự vận hành năm uẩn này là khổ đau, dù cho cái sắc này đẹp tới cỡ nào đi nữa rồi cũng khổ, dù cho cảm giác này sướng tới cỡ nào đi nữa, sau cảm giác sướng đó làm cho mình khổ nhất. Cái cảm giác sướng nhất cũng chính nó làm cho mình khổ, mình chết với nó, bị trói buộc, ra không khỏi nó, bị mắc lầy trong đó, thiếu cái đó là mình chết, nó làm chủ mình, mình làm nô lệ cho nó.

Còn cái này mình hướng thoát ra rồi, không bị lệ thuộc bất cứ cái nào, kệ mày, sắc thọ tưởng hành thức kệ mày, không quan tâm nữa. Thứ vô thường, tan nát, bại hoại này, ta không cần mi nữa. Như vậy ai làm khổ được mình, đó là chỗ bất động tâm giải thoát. Chỗ tối thượng của đạo Phật, đây là kho tàng Chánh pháp, Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai. Cho nên phải cố gắng tu học cho tha thiết chân thành thì mình sẽ cầu được pháp, thấy được pháp rồi sẽ đi đến chỗ đắc pháp, thành tựu pháp. Bằng không, thật khó khăn để tu học được Chánh pháp trong thời đại này, không đúng, mình đi lòng vòng trong vô lượng vô biên kiếp rồi, giờ tiếp tục đi lòng vòng nữa, không biết con đường thoát ra. Đây chính là xuất ly đạo lộ - con đường thoát ra, nó chính là Chánh pháp giải thoát.

Rất cảm ơn sư, bữa nay cảm ơn câu hỏi của sư mà có bài chia sẻ quan trọng này, giờ xin nghe lại. Bài thi của chúng ta rất đơn giản thôi, nó nằm trên mạng, đưa lên rồi, tinh tấn là gì, bốn sự tinh tấn. Chúng ta sướng không? Bài vở, tất cả, nghe rồi ghi chép, quay, dựng để sẵn lên, giờ chỉ lên nghe rồi ghi về học, có một bài. Giờ học đã như vậy mà cũng không chịu học. Hiện tại bây giờ bài mới đã đem lên nên bài cũ lùi trở lại nên chúng ta lùi lại trang hai.

Bài tinh tấn là gì, bốn sự tinh tấn, kinh Chế Ngự - Tăng Chi Bộ, kinh Nikāya giảng giải. Số một chưa hết thì tiếp theo là bài số hai, vì nó bốn sự tinh tấn thì chúng ta sẽ trình bày nó có hai phần thôi, giờ nói đề thi luôn rồi, tức mình học thuộc lòng bốn sự tinh tấn rồi viết ra, đó là phần thứ nhất, thứ hai là ứng dụng bốn sự tinh tấn trong đời sống thực tế của mình như thế nào. Có hai phần vậy thôi, đó là đề thi luôn rồi.

Kinh Chế Ngự - Tăng Chi Bộ Kinh chính là bài mà chúng ta đã học ba buổi rồi trả bài ở đây nữa. Tinh cần chế ngự, tinh cần tu tập, tinh cần đoạn tận, tinh cần hộ trì. Trình bày phần thứ nhất đúng theo lời trong kinh, phần thứ hai là từ trong lời kinh mình vận dụng ra cuộc sống của mình thế nào trong bốn sự tinh tấn đó, lên trang đó hoặc Youtube cũng được. Có ai hỏi gì về vấn đề bài thi không thưa quý thầy, cái đó là đề thi luôn rồi còn gì nữa đâu mà hỏi, học mới khó thôi chứ thi rất dễ, thực hành mới khó. Thời gian cho làm bài là chín mươi phút, mà nhớ là phải học thuộc lòng bốn sự tính tấn này, đừng có giở tài liệu rồi bị bắt nha. Có ai thuộc lòng đứng lên đọc bài này lại cho đại chúng nhớ.

Phật tử: Mô Phật, con xin đọc bài kinh Bốn sự tinh tấn, Thế nào là Chế Ngự:

“Này các Tỷ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn?

 Tinh cần chế ngự,

 Tinh cần đoạn tận,

 Tinh cần tu tập,

 Tinh cần hộ trì.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thâm cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên … không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì”.

kinh Chế ngự - Phẩm hành – Chương Bốn Pháp – kinh Tăng Chi Bộ - tập 1

Sư phụ: Chúc quý thầy siêng năng làm bài thi cho tốt. Tràng vỗ tay này có nhiều cảm thọ lắm, không biết có phải cảm thọ giải thoát không nữa?