Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Tấn Là Gì - 4 Sự Tinh Tấn - Kinh Chế Ngự - Tăng Chi Bộ

2026-03-18 06:50:21
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - TINH TẤN LÀ GÌ 4 SỰ TINH TẤN KINH CHẾ NGỰ - TĂNG CHI BỘ

Thích Minh Thành

Đại chúng rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân.

Khi tìm hiểu bài kinh "Chế Ngự" sẽ rất bất ngờ, chúng ta đi vào 37 phẩm trợ đạo, bắt đầu bằng Tứ Chánh Cần. Mình thường nói tinh tấn nhưng vẫn chưa hiểu chính xác ý nghĩa từ này, mọi người nghĩ tinh tấn là siêng năng tụng kinh, siêng năng làm việc trong chùa… nhưng khi học bài kinh này chúng ta sẽ thấy rằng như vậy vẫn chưa đủ, nó vẫn còn nhỏ hẹp so với tinh thần tinh cần, tinh tấn trong kinh tạng Nikāya. Cần là chuyên cần, tinh là ròng rặc. Tinh tấn là tiến lên ròng rặc. Ròng rặc chính là giới – định – tuệ, ngoài cái này không phải là tinh. Điều quan trọng chính là chữ cần, chữ tấn đi theo tinh, là không pha tạp. Trong sự nỗ lực, tinh cần đó thì đầu tiên là tinh cần chế ngự.

 Này các Tỳ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi nếm vị ... thâm cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Ưu bi là sự tham ái, ưa muốn và buồn lo, đau khổ. Mình đã chế ngự các căn được bao nhiêu %? Điều đầu tiên của sự tinh tấn là hộ trì chế ngự, đây là cả một vấn đề cần để ý, kiểm tra. Hằng ngày mình có để ý giữ gìn con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, thân, ý không? Nếu có thì mới gọi là tinh cần, tinh tấn, như vậy mới gọi là người chân tu. Một hôm Xá- lợi-phất gặp ngài Mã Thắng đang đi khất thực, lúc đó Xá-lợi-phất còn là người đời, chỉ cần nhìn dáng của ngài Mã Thắng đi khất thực thôi đã phát khởi lên tín tâm và đến hỏi đạo. Mã Thắng cho Xá-lợi-phất biết ông là đệ tử của Đức Phật Thích-Ca. Xá-lợi-phất hỏi Ngài về đạo lý của Phật Thích-ca. Ngài đem giáo lý duyên sinh để giảng giải. Theo Phật, tất cả các pháp trong thế gian đều do nhân duyên mà có sinh, rồi cũng hoại diệt khi nhân duyên đã hết. Giáo pháp đó được diễn tả qua bài kệ:

Chư Pháp tùng duyên sinh

Diệt tùng nhân duyên diệt

Ngã Phật Đại Sa môn

Thường tác như thị thuyết.

Nghĩa là: Các Pháp do duyên sinh

Lại cũng do duyên diệt

Thầy tôi là Đức Phật 

Thường giảng dạy như vậy.

Sau khi nghe bài kệ này ngài Xá-lợi-phất đắc pháp nhãn tịnh, Nhập lưu thánh quả thứ nhất. Lúc đó ngài là người hùng biện lỗi lạc, tiếng tăm vang dội cả vùng, ngài nhìn thấy dáng vẻ oai nghi của một vị Tỳ-kheo thì ngài đã khởi niềm tin, sau khi nghe thánh pháp thì ngài đã thành tựu trí tuệ Nhập lưu. Như vậy chúng ta thấy rằng điều đầu tiên trong sự tu chính là sự chế ngự, hộ trì, giữ gìn con mắt, nếu mình căn cứ vào kinh thì tu bây giờ không được bao nhiêu người hết lý do là từ đầu khi xuất gia đã không được học những điều này. Khi con mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, điều này cần đề phòng, bảo vệ, canh chừng. Tại sao lại không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Thế nào là tướng chung, thế nào là tướng riêng? Khi nhìn tổng thể dáng vẻ của một người thì đó là tướng chung, khi nhìn chi tiết từng bộ phận trên cơ thể là tướng riêng. Làm sao để nhìn như vậy mà vẫn không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Chỉ riêng điều này thôi chúng ta đã không làm được nếu không hộ trì, không chế ngự các căn. Thế nào là hộ trì, chế ngự? Giữ gìn, bảo hộ là hộ trì, chế ngự là dừng lại kiểm tra, kiểm điểm chứ không phải muốn nhìn là nhìn, muốn nghe là nghe, muốn nói là nói mà bên trong cần chậm lại kiểm soát. Một xe đang đổ đèo mà không có thắng hoặc thắng bị hư thì xe sẽ lao xuống vực sâu, tâm của mình giống chiếc xe không có thắng nếu không có sự hộ trì, giữ gìn, vì vậy do không có sự hộ trì, do không có sự chế phục, kiểm soát cho nên tất cả tướng chung, tướng riêng đều đi vào tâm nên cảm thọ sanh khởi, sắc pháp, ý hành hiện lên và tâm mình là một biển động đang trào dâng chứ không phải mặt hồ tĩnh lặng. Khi ngồi thiền đối diện chính mình không ngồi được vì bên trong thân tâm là sự trạo cử, là một sự hỗn tạp, rối ren như cuộn chỉ vì không có sự thu nhiếp chế ngự. Chỉ mới bước đầu tiên thôi đã cực kì gian khó, đã thấy nản lòng, làm biếng cho nên tu mà đòi thành tựu trở thành thánh Tăng thì làm sao có được? Người tu thành tựu mà không học đúng theo quy trình, không tu đúng theo tuần tự của pháp thì làm sao có kết quả đúng theo trong pháp? Ngay cả khi đang ngồi yên nề nếp theo hàng ngũ thì trong tâm lúc đó đang có gì cần phải kiểm tra lại, huống chi lúc đang lăng xăng, rối loạn cho nên sự tu đúng theo tinh thần của Đức Phật rất vi tế.

Những nguyên nhân gì làm cho con mắt không chế ngự mà lại ham muốn, ưa thích? Ưu bi là tham muốn và lo buồn, những cái gì làm cho mình sanh khởi lên cái tham muốn và lo buồn thì mình phải chế ngự những cái ác, bất thiện pháp đó. Những nguyên nhân nào làm cho mình sanh khởi lên sự ham thích, say đắm, khao khát, khát ái thì phải chế ngự những cái đó không để đi theo cái tham muốn đó, cái dục ái đó. Nếu không có sự thường trực nhìn lại kiểm soát sẽ bị đồng hóa với nó, làm sao mình có thể thấy được để nhiếp phục, chế ngự?

Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Cũng như con đang ngồi chia sẻ nhưng vẫn phải chế ngự các căn, nếu không sẽ sanh khởi cái sân, ngồi dạy mà mọi người không chú ý lắng nghe, cứ nói chuyện thì trong người phải có cảm giác khó chịu, con có quyền la nhưng đến mức độ này rồi không cần la nữa, chỉ có bước cuối là đổi người dạy. Nếu chúng ta tha thiết tu tập sẽ rất khác, giờ giờ phút phút xem lại trong cảm thọ, suy nghĩ có ham muốn, bất thiện pháp không, nếu có phải chế ngự, chặn đứng lại, trong kinh Pháp Cú Đức Phật gọi là dừng chiếc xe đang lăn.

Ai chận được phẫn nộ,

Như dừng xe đang lăn,

Ta gọi người đánh xe,

Kẻ khác, cầm cương hờ.

(Kinh Pháp Cú 17 – Phẩm Phẫn Nộ, kệ 222)

Chế ngự chính là hình ảnh dừng chiếc xe đang đổ dốc bằng sức tự thân. Tâm mình đang đổ dốc, khi mới đi tu vào chùa mà lỡ sanh ra tình cảm yêu thương với ai thì rất đau khổ, chiến đấu với nội tâm, còn tu lâu rồi thấy điều này bình thường, thậm chí là đi theo nó luôn, như vậy là làm mất thiện pháp. Cái gọi là đau khổ, ray rứt, hổ thẹn chiến đấu thì đó mới gọi là tu, còn sau này cứ trơ ra đi theo tiếng gọi con tim thì không còn tu mặc cho hình thức bên ngoài là tu sĩ, vì mình không chiến đấu với tham ái, tham dục nữa, cho nên đây là sự tinh cần chế ngự. Ví dụ mình đang chạy chiếc xe cũ mà thấy sư huynh đi xe mới đẹp nên mình thích, muốn, con mắt tiếp xúc với chiếc xe (6 căn tiếp xúc 6 trần) rõ biết hình dáng chiếc xe, do sự tiếp xúc nên sanh ra cảm giác ưa thích. Nếu lúc đó mình là người chân tu thì phải thấy đó là sự ham muốn của ác, bất thiện pháp, phải chế ngự, hóa giải tham muốn, triệt phá cảm giác tham ái, tham muốn đó thì gọi là tinh cần chế ngự. Chiếc áo, đồng hồ… tất cả vật chất sắc pháp đều phải được thấy như vậy, đó gọi là tinh tấn của người tu chứ không phải tinh tấn đi làm những công việc bên ngoài, toàn bộ tạng kinh Nikāya Đức Phật không kêu gọi mình phải chạy ra bên ngoài mà quay lại nhiếp phục dục tham ái, sân si, bản ngã trong tự thân. Vậy mà bây giờ mình lại hiểu tinh tấn theo một nghĩa khác, chạy ra bên ngoài làm việc rồi sinh ra sân si, nhân ngã, hơn thua… Cuối cùng làm mất mình, mất Phật pháp, cho nên mình hiểu không đúng ý nghĩa tinh cần, tinh tấn của Đức Phật. Làm sao khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm mà ngay đó sanh khởi lên những ham muốn, dục ái bất thiện pháp thì mình phải dừng chiếc xe đang lăn này để chế ngự, nhiếp phục, cái đó là sức mạnh của người tu. Nếu chịu khó nhận diện ngũ uẩn, nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm thì những cái này diễn ra liên tục, còn 2-3 phút chuông reng hết giờ học là trong tâm dục đã sanh khởi, muốn được ra chơi, nếu mình không nhìn thấy được sự nhỏ nhiệm này trong tất cả mọi sinh hoạt đời sống thì tu không tiến. Ví dụ 10h mới được ngủ, mới 9h đã buồn ngủ mà mình vẫn để cho ngủ thì đó là buông lung, không tinh cần tinh tấn, phải tu tập các thiện pháp, lên nghe pháp ngồi thiền, còn đằng này muốn ngủ là để cho ngủ thì đó là dục. Hoặc là ngồi một mình trong phòng thấy buồn quá nên muốn ra ngoài dạo phố mà đi liền thì đó là đi theo dục, đi theo ái, đi theo tham, không chế ngự hộ trì. Sự tu của chúng ta vi tế như thế chứ không phải đợi đến chuyện nam nữ xảy ra mới gọi là dục, trong tất cả mọi cái đều phải kiểm soát chứ không đơn giản như mình vẫn nghĩ. Trong khi ăn uống, nằm ngủ, đi đứng, làm việc điều phải kiểm soát, lúc đi mà đi ào ào, đi như ma đuổi, vừa đi vừa kéo lê dép là không có oai nghi chánh niệm, không có kiểm soát, đi như vậy là dục đi, sự thúc giục bên trong muốn đi nhanh lẹ, nếu không cẩn thận thì vấp té. Những tham ái, ưu bi, những sự ham muốn, thích thú, những cái khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn… những cái đó phải nhìn ra được rồi chế ngự, nhiếp phục thì gọi là tinh cần chế ngự. Chỉ mới học cái đầu tiên đã cho chúng ta thấy rằng trước nay mình tu có đúng theo tinh thần tinh cần tinh tấn như lời dạy Đức Phật không? Trước nay chúng ta học tinh tấn như thế nào? Tinh tấn được đặt trên nền tảng 6 căn, sự hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, có kiểm soát, kiểm kê, kiểm toán khi con mắt tiếp xúc có dục tham ái không, có nắm giữ tướng chung, tướng riêng không? Có đam mê, dính mắc trong đó không? Nếu có phải chế ngự, phải hộ trì, giữ gìn và xử lí nó.

 Ý nhận thức các pháp, các pháp ở đây là pháp gì? Khi ngồi tĩnh tâm để ý vào nội tâm như lúc ngồi thiền thì những gì mình tiếp xúc hiện ra, hình bóng đó là tưởng uẩn. Khi nghĩ về hình bóng người giận sẽ có cảm giác khó chịu, đó là thọ uẩn, mình có suy nghĩ về người đó là hành uẩn, mình biết đang có cảm giác, nghĩ tưởng là đó thức uẩn, như vậy gọi là ý nhận thức các pháp. Mình cứ học chung chung là pháp trần mà không biết pháp trần là gì, pháp trần chính là thọ; tưởng; hành. Bây giờ mình nhớ đến người mình thương, hình bóng người đó hiện ra là tưởng uẩn, có cảm giác là thọ uẩn, có suy nghĩ về người đó là hành uẩn, rõ biết cảm giác, nghĩ tưởng là thức uẩn, đó là ý nhận thức các pháp. Ví dụ đang ngồi đây mà nhớ chùa dưới quê, hình bóng chùa hiện ra là tưởng uẩn, cảm giác thân thương, dễ chịu là thọ uẩn, có suy nghĩ về ngôi chùa đó là hành uẩn, ý của mình nhận thức được những điều đang diễn ra gọi là ý nhận thức các pháp. Những điều này diễn ra liên tục hằng ngày, trong khi đó không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, nếu vì nguyên nhân gì sanh khởi ra sự tham muốn sân hận, buồn lo thì phải chế ngự thì gọi là chế ngự ý căn. Còn nếu sanh khởi lên cái gì mình cũng đi theo nó thì không được gọi là tinh cần chế ngự, nếu nghĩ về người mình ghét mà làm cho mình tức tối, giận, nếu không chế ngự sẽ phát ra miệng, cảm giác ghen tức được tăng trưởng, phát triển, xâm chiếm thân tâm thì đó là không biết chế ngự ý căn. Nếu suy nghĩ về đối tượng yêu thương mà để cho thương nhớ là mình bị dính mắc tham ái, nếu không chế ngự, không hộ trì, không diệt tận thì đó là người lười biếng, hạ liệt, thấp hèn trong giáo pháp của Như Lai. Chỉ riêng phần tinh cần chế ngự thôi đã cho chúng ta thấy bên ngoài phải đối diện với ngũ trần, bên trong phải đối diện với pháp trần (thọ; tưởng; hành). Sắc; thanh; hương; vị; xúc là ngũ trần bên ngoài hay còn gọi là trần cảnh, còn nội trần là ở bên trong thân tâm chính là thọ; tưởng; hành. Sau tiếp xúc hình bóng đó rơi rớt lại trong tâm phải có sự hộ trì ý căn, không để cho những hình bóng đó xâm chiếm, áp đảo, có sự phòng hộ, chế ngự thì: Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự. Cho nên những hình bóng rất ghê gớm, những suy nghĩ có thể giết chết mình, những cảm giác lôi kéo, dẫn dắt mình mà mình không nhìn thấy, bây giờ không biết các pháp là gì thì làm sao tu được?

Đoạn tận là chấm dứt mọi thứ, đoạn là cắt, chặt, dứt, tận là hết. Đoạn tận là cắt hết, chặt hết, đoạn trừ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Thế nào gọi là dục tầm? Những chữ này là chìa khóa để đi vào tạng kinh Nikāya, nếu không nắm vững thì đọc kinh không hiểu nên không thể thực hành được. Dục tầm là sự dõi theo các dục, tầm là sự hướng tâm. Ví dụ mình ngồi ở đây nhưng muốn đi ra khỏi đây cho nhanh thì đó là dục tầm và phải nhìn thấy được cảm giác này, tâm hướng đến cái gì thì gọi là tầm. Mình đang ngồi bình thường mà tâm mình nghiêng theo, hướng đến cái dục, suy nghĩ về dục, trong dục có nhiều loại như ăn uống, đi chơi, mua sắm… thì cái tâm hướng về đó thì gọi là dục tầm. Ví dụ đang ngồi ở đây mà hướng mắt về cây hoa đẹp thì sự hướng tâm này gọi là dục tầm, khi cái tâm hướng về một cái gì đó mà mình phát hiện ra được, chặn đứng ngay lập tức, đoạn tận thì gọi là tinh tấn của người tu, chỉ mới bắt đầu hướng về chứ chưa đi vào trong là phải chặn đứng ngay, không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Đức Phật ví dụ có một người thanh niên, thiếu nữ thích trang điểm, ăn mặc sạch sẽ ra đường bị người ta quàng xác chó lên vai thì người này quăng xuống ngay lập tức, đối với người tu tập thấy ác bất thiện pháp cũng phải như vậy.

Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: "Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo". Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỳ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Chư Tỳ-kheo, cũng vậy, nếu Tỳ-kheo ấy nhờ quán sát... nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An trú tầm)

Đối với người tu có sự hướng tâm về sân hận, hướng tâm muốn hại người ta, muốn làm cho hả dạ, thấy được điều này phải lập tức diệt tận thì gọi là tinh cần đoạn tận. Muốn nhìn thấy được hướng của tâm thì người đó phải cực kì để ý và canh chừng tâm, chỉ cần mới cục cựa, nhúc nhích thôi đã thấy giống như sư tử săn mồi, đó là cách công phu của người tu trong Tứ Niệm Xứ, tức là luôn luôn nội soi, nội quán, nội tỉnh nhất tâm nhìn vào thọ; tưởng; hành này đang suy nghĩ, đang có hình bóng, cảm giác gì đang hiện hữu, nhìn thấy rồi đoạn tận, dứt khoát và mạnh mẽ như Bao Công xử án, như vậy mới là sức mạnh của người tu, hùng lực, tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực là sức mạnh của người tu chứ không phải tu rồi là lờ đờ, ngơ ngác, bên ngoài thấy hiền nhưng bên trong rực cháy một lòng nhiệt thành, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực đoạn tận. Nếu người tu mà yếu thì làm sao thái tử Tất-đạt- đa ngồi dưới gốc cây 49 ngày để chiến đấu với ác ma trong tâm? Yếu thì làm sao ngài có thể bỏ được Da-du-đà-la, làm sao bỏ được vua Tịnh Phạn, làm sao bỏ được ngai vàng? Đó phải là một sự hùng lực uy dũng, đó là tinh cần đoạn tận. Một cái tâm hướng về sân, tức giận là phải diệt tận, dùng từ tâm, dùng sự bao dung độ lượng để hóa giải, quán chiếu Khổ Thánh Đế để thấy rằng "theo cái sân giận này chỉ làm mình khổ, người khổ rồi đốt cháy nhau để cùng khổ, không có gì lợi mình lợi người nên hướng tâm về sân hận để làm gì". Mình tác ý đánh đuổi làm cho cảm giác an tịnh, lắng dịu, diệt tận cảm giác sân hận đó, từ bỏ, tẩy sạch khiến cho nó không hiện hữu trở lại trong tương lai, chặt nó như chặt cây Tala để không mọc trở lại nữa thì mới đi đến lậu tận, còn cái này mình cứ nhẹ nhàng thì nó sẽ sanh khởi trở lại, dù cho lần đó mình chiến thắng thì nó vẫn sanh khởi trở lại vì mình không xác quyết phải diệt cho nó chết.

Đánh là phải thắng,

Giết là phải chết,

Diệt là phải tận.

Đó chính là thánh pháp lệnh trong kinh Nikāya, khi con nhập thất đều tác ý cái này: Đánh là phải thắng, giết là phải chết, diệt là phải tận mà vẫn chưa làm được vì đó là cả một vấn đề chứ không đơn giản như mình nghĩ, mình phải tác ý thường xuyên và liên tục. Cái dục, sân, bản ngã trong nội tâm là cực kì khủng khiếp, khi nhìn ra được ngũ uẩn sẽ thấy kinh khủng, nó qua mặt mình vù vù. Đừng nói rằng "con thấy mình không có sân", "con thấy mình không còn tham gì nữa", nó tùy miên ngủ ngầm trong tâm, chỉ khi đụng chuyện mới thổi bùng lên. Vì mình không nhìn thấy được thân tâm, không thành tựu trí ngũ uẩn, trí lậu hoặc nên mình cứ nghĩ mình hết lậu hoặc. Phải nhìn thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng thường xuyên và liên tục, từ trong cảm giác, nghĩ tưởng đó mới nhìn ra được tham sân si, vô minh và bản ngã hoành hành, xâm chiếm và áp đảo mình như thế nào, nó đã đè đầu cưỡi cổ mình vô lượng vô biên kiếp, dục là kẻ giết người giấu mặt mà giết một cách ngọt ngào, mình chết với dục, ái, tham này một cách ngọt ngào như câu "mật ngọt chết ruồi" hoặc giống như những con thiêu thân lao vào ánh sáng rồi chết trong đó. Tất cả chúng sanh đều chết trong sự sung sướng và đau khổ, nhưng sung sướng cũng vẫn là đau khổ, không có cái nào là sung sướng. Thế Tôn đã nói phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.

Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Điều này cực kì thâm sâu, tất cả mọi thứ mình cảm thọ, cảm xúc đều là đau khổ. Hôn nhân có sung sướng không? Tại sao lại ra tòa thưa kiện nhau? Tại sao thù hận, đâm chém, giết nhau? Tất cả những cảm thọ đều nằm trong đau khổ, chỉ có thánh trí huệ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới phát hiện ra được làm rúng động trời đất, cả quả địa cầu rung rinh trước tuyên bố của Đức Phật "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Dù cho cảm thọ vui như vẫn là khổ, huống hồ gì cảm thọ khổ thì còn nói gì nữa, làm sao có thể trở thành vui được? Vì vậy tinh cần đoạn tận này là không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Điều quan trọng là "không chấp nhận", khi nó sanh khởi lên là không chấp nhận thì mới đi đến chỗ lậu tận, sạch hết tất cả lậu hoặc, tẩy sạch tâm của mình.Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)Tu tập niệm giác chi, trong đó niệm chính là Tứ Niệm Xứ chứ không phải mình nghĩ niệm chỉ đơn giản là chánh niệm, nhưng chánh niệm cũng có nghĩa là Tứ Niệm Xứ: Niệm thân; niệm thọ; niệm tâm; niệm pháp. Cho nên nếu không nắm vững sẽ không giải thích được kinh điển, không biết niệm là niệm gì, rồi chánh niệm là chánh niệm cái gì, chánh niệm là niệm thân; niệm thọ; niệm tâm; niệm pháp, mà niệm thân; niệm thọ; niệm tâm; niệm pháp là luôn luôn để ý, kiểm tra thân thể này sử dụng như thế nào, cấu tạo như thế nào, bản tánh như thế nào, bên trong đang có cảm thọ gì, nội tâm có tham sân si không, trong đó có thiện pháp không thì đó là thân – thọ – tâm – pháp, tức là nhìn lại hành vi, cử chỉ của thân, những yếu tố cấu thành thân, nhìn lại cảm giác trong thân, trong nội tâm có tham sân si không hay có thiện pháp, thì đó gọi là chánh niệm. Mình tu tập cái đó để làm gì? Chính là để y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly, những chữ này chính là bí quyết, khẩu quyết, là thánh pháp ấn và phải được học thuộc lòng. Mình tu để nhìn thấy thân thể này vô thường, bất tịnh, những cảm giác sanh diệt liên tục, tu để thấy tác hại và nguy hiểm của tham sân si làm cho mình và tất cả chúng sanh đau khổ. Nhìn thấy, quán chiếu thấy như vậy để mình nương dựa, hướng đến sự xa rời khỏi nó, viễn ly, thoát khỏi nó, không ưa thích thân xác này nữa, không ưa thích sắc pháp vô thường này nữa, thường chiêm nghiệm như vậy để rời xa khỏi nó, mình mong muốn và hi vọng rời xa khỏi đống lửa, hố than hừng, vực thẳm đó, đống phân, nước tiểu và giòi bọ đó đi càng xa càng tốt thì gọi là y chỉ viễn ly, cái tâm mình hướng ra khỏi nó, xả bỏ, chấm dứt đối với nó. Tất cả sự tu của mình là thánh pháp ấn, con dấu chánh pháp của bậc thánh phải đi tới đó. Mình tu mà còn dính mắc, tham đắm thì làm sao gọi là giải thoát? Làm sao có thể thành tựu xuất ly? Tu mà cứ chạy theo sắc pháp, chạy theo sự lòe loẹt, chạy theo những hình tướng thì làm sao thấy được Niết-bàn mà phải nhàm chán, từ bỏ, không tham muốn, ưa thích nữa thì gọi là tu Tứ Niệm Xứ.

Thần diệu, thánh diệu, tối diệu, vô thượng diệu là thánh pháp này!

Rồi mình sẽ thấy hạnh phúc của sự giải thoát là bất khả tư nghị khi mình trú trong cái tâm này để nhìn ra thế giới, nhìn ra cuộc đời này. Tất cả đều là những thứ đáng để rời xa chứ không có gì để ưa thích, nó là sầu; bi; khổ; ưu; não, trong đó đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, bản ngã, ganh tị, đố kị, ích kỉ, ganh ghét nhau… không có gì khác ngoài những thứ đó. Anh em ruột thịt nhưng khi đụng đến lợi ích cá nhân sẽ trở mặt ngay chứ đừng nói gì đến huynh đệ, cha con, ông nội với cháu nội mà xảy ra hãm hiếp. Quán chiếu điều này mới thấy kinh khủng, đó là tác hại và nguy hại của dục, tham, ái trong cuộc đời này. Khi bốc lên sân hận là không còn luân lý đạo đức, tình nghĩa gì nữa, chỉ có xử nhau để hả giận thôi. Như vậy là đáng để mình rời ra, nhàm chán, từ bỏ, đáng để chấm dứt. Đó là thánh pháp ấn, là đạo lộ của bậc thánh, là xuất ly tối thượng, vô thượng tịch tịnh an lạc mà kinh Nikāya đưa ra cho chúng ta nhìn thấy. Mấy chục năm tích lũy, gom góp chỉ cần dòng nước quét qua là tan tành hết cả, đến cả mạng sống cũng không còn, cho nên tất cả đều là vô thường, khổ, vô ngã, trống không, chỉ là những dòng nước mắt, những sự đau khổ và khủng hoảng. Nhìn thẩm thấu những điều này là Khổ Thánh Đế và phải chứng nhập Khổ Thánh Đế, phải có sự quán chiếu thâm sâu thì chúng ta tu tập trạch pháp, tức là khi tu Tứ Niệm Xứ phải lựa chọn cái nào thiện, cái nào bất thiện, cái nào phù hợp, cái nào chưa phù hợp rồi phải điều hòa để thích ứng, phải biết lúc nào chỉ, lúc nào quán, lúc nào quán bất tịnh, lúc nào cần sanh hỷ lạc, lúc nào cần quán thân, lúc nào cần quán thọ, lúc nào cần quán nội tâm, lúc nào cần để thiện pháp tăng trưởng, pháp triển thì phải trạch pháp, rạch ròi trong tâm. Mình tu trạch pháp cũng hướng tới điều đã nói là viễn ly, đoạn diệt, xả ly, tu cái nào cũng phải hướng đến điều này. Mình tinh tấn, nỗ lực sẽ hoan hỉ vì cái pháp là như vậy, hỷ rồi sẽ nhẹ nhàng, được nhẹ nhàng sẽ vào định, khi tâm định được thì trí huệ rõ biết các pháp thì lúc đó sẽ buông xả, không còn chấp thủ nữa. Tu đến chỗ buông xả để hướng đến xa rời, không tham muốn để chấm dứt, từ bỏ. Đó gọi là tinh cần tu tập. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Mình có được thiện pháp trong tu tập thì phải giữ gìn, không được để mất đi. Thân Hành Niệm là cực kì quan trọng trong sự tu tập, người xuất gia không tu quán bất tịnh thì không thể nhiếp phục được dục, nếu có làm được cũng là ngoài thân còn trong tâm vẫn là sự tham muốn, khát ái. Muốn nhiếp phục, lắng dịu được dục, nhất là tuổi trẻ mạnh mẽ, sinh lực dồi dào thì phải quán bất tịnh, nếu không sẽ rất khó chế ngự nó, tâm sẽ bất an, không thiền định được thì không có trí huệ quán chiếu. Cho nên phải quán 32 thể trược thường xuyên và mỗi ngày, quán 9 giai đoạn phân hủy tử thi là thường xuyên và mỗi ngày, những cái quán đó sẽ trở thành định tướng hiền thiện, giúp mình giảm bớt tham muốn, lắng dịu bớt tham muốn rồi sẽ bớt khổ với dục đang hoành hành trong thân thể. Những phép quán này tạo thành định tướng, tức là khi nghĩ đến tim thì tim hiện ra, nghĩ đến máu thì máu mủ, phân, nước tiểu hiện ra, nghĩ đến đâu hiện ra đến đó rõ ràng thì gọi là định tướng, những cái tướng giòi bọ, trương phình lên cần phải giữ trong tâm, khi có dục tham ái sanh khởi là lấy ra quán ngay lập tức. Khi con mắt tiếp xúc tướng chung, tướng riêng làm thọ sanh khởi là mình phải quán 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi ngay lập tức, quán chiếu như vậy mới có khả năng chế phục được phần nào những bất thiện pháp đó. Quán trăm ngàn lần, quán liên tục cho đến chết mới thể nhập thánh tri kiến. Một ngày ăn ba bữa đều đặn, ăn mấy chục năm cũng không chán mà tại sao tu một chút là chán? Món ăn để nuôi dưỡng thân thể vật chất này, cái pháp để nuôi dưỡng cái tâm trí tuệ, mình không thọ pháp, không thực hành pháp, không trú trong pháp thì làm sao đắc pháp? "Con quán bất tịnh mà toàn thấy tịnh không", tịnh thì phải quán đến khi nào bất tịnh thì thôi vì bản chất là bất tịnh, còn mình thấy tịnh là thấy ngược lại thì phải thấy mình ngu si, tham ái, mình phải thấy đau khổ và phải bắt nó chấp nhận sự thật là bất tịnh. Quán chiếu sự thật, sống với sự thật chứ đừng ương ngạch, chống đối, phải tác ý mạnh mẽ và đối diện trực tiếp với nội tâm để chế ngự, nhiếp phục thì tu mới thành công. Còn giờ cứ ái dục, tham đắm rồi nghe theo nó "tu gì ghê quá, kiếm gì nhẹ nhàng để tu" là thất bại vì pháp do Đức Thế Tôn tuyên thuyết là "phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc" (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni). Cho nên quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi là phơi bày ra những gì bị che kín, bị chôn vùi. Thân thể này mới chết đã được bao bọc lại, quấn keo để vào hòm, rải hoa lài, trà xung quanh thân xác đó để thơm tho rồi đóng kín lại, đó là sự che đậy để lừa gạt, làm cho tất cả thế giới đau khổ vì sự che đậy đó cho nên Đức Thế Tôn mới phơi bày ra những gì bị giấu kín hằng mấy ngàn năm, chỉ đường cho người lạc đường, đem đèn sáng vào bóng tối để nhìn thấy sắc, đó là trách nhiệm của Thế Tôn và các bậc hiền thánh Tăng, người có thể thừa kế được thánh pháp của Đức Phật, mở con mắt của chúng sanh, đem ánh sáng cho trời và người, đó mới là điều quan trọng và sứ mệnh của tất cả người xuất gia. Tất cả người xuất gia phải nghe, học, thực tập và chứng nhập, truyền bá thánh pháp này, đó là sự tinh cần, tinh tấn.

Này các Tỳ-kheo, có bốn này tinh cần này.

Chế ngự và đoạn tận

Tu tập và hộ trì

Bốn loại tinh cần này

Ðược bà con mặt trời

Tuyên bố và thuyết giảng

Ở đời vị Tỳ-kheo

Nhiệt tình đối với chúng

Ðạt được diệt khổ tận. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Mặt Trời chính là Đức Phật, ngày xưa người ta tôn thờ Mặt Trời nên khi họ tôn kính một ai đó là họ sẽ ví người đó như Mặt Trời. Vị Tỳ-kheo nào nhiệt tình đối với những pháp này (chế ngự và đoạn tận, tu tập và hộ trì) thì đạt được diệt khổ tận, chắc chắn sẽ đi đến chỗ chấm dứt tất cả khổ đau, thành tựu Niết-bàn tối thắng lạc.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.