Trí Tuệ Về Suy Nghĩ
7-1-2021 Tinh Hoa NIKĀYA - Trí Tuệ Về Suy Nghĩ.mp3
Thích Minh Thành
Sư Phụ: Sư cô Nguyên Luận đang có suy nghĩ gì?
Sư cô Nguyên Luận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Khi sư phụ đọc đảnh lễ Đức Thế Tôn thì trong con có niềm cảm xúc dâng trào với Đức Thế Tôn, khi con ngồi xuống có ý hành suy nghĩ "trong kiếp sống vô thường, các Pháp hữu vi là vô thường, mình đã tìm kiếm, rong đuổi". Khi hít một hơi thở thì trong hơi thở hạnh phúc lạ thường, cảm xúc hạnh phúc đặc biệt tuôn trào trong từng hơi thở vô thường này và ý hành không còn muốn chạy đuổi, tìm kiếm nữa mà chỉ muốn cuộc sống bình dị. Mô Phật, con xin hết, kính mong được sư phụ chỉ dạy thêm để những dòng cảm thọ được liên tục có mặt trong con, con có những lỗi lầm hoặc làm gì sai thì mong sư phụ và đại chúng chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Cô Diệu Linh đang suy nghĩ gì?
Cô Diệu Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Thưa sư phụ khi con vào giảng đường ngồi một lúc thì sư phụ bước vào, trong con bắt đầu có ý hành, con quan sát tất cả tứ đại đang đứng lên và tiếng im lặng. Những ý hành của con khởi lên "nhờ gió mà tai nghe tiếng" và con quan sát tai cho đến khi sư phụ đến đảnh lễ Thế Tôn. Con thấy các tứ đại ở đây đều hướng về Thế Tôn, mong muốn học được giáo Pháp của người. Tự nhiên con thấy hôm nay tất cả mọi người đang hướng về điều giải thoát gì đó, sẽ là buổi học chấn động và con cũng có cảm giác chấn động. Con thấy hôm nay có sự kết nối rất mạnh và trong con ý hành vẫn vậy, con quan sát các tứ đại rất thanh tịnh, hướng đến xả ly giải thoát. Giây phút này là giây phút tuyệt vời, hy hữu hiếm có khó tìm. Trong lúc này tứ đại con đang chấn động rất mạnh khi bài giảng chưa bắt đầu. Mô Phật.
Sư Phụ: Nếu cô Nguyên Luận không đứng lên chia sẻ thì chúng ta không biết cô đang suy nghĩ gì, nếu cô Diệu Linh không nói ra thì chúng ta cũng không biết cô Diệu Linh đang nghĩ gì. Suy nghĩ là hành, làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho thể hiện, vận hành các pháp hữu vi nên gọi là hành. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về trí tuệ suy tư, tức là trí tuệ về hành uẩn. Chúng ta chú trọng vào ý hành, chữ "hành" trong ngũ uẩn là tâm hành và ý hành, nói đầy đủ là tâm hành, ý hành và khẩu hành. Cho nên tâm chúng ta do ý hành làm cho biểu hiện các pháp, sáng nay chúng ta thiền quán sám hối diệt ngã làm dâng lên cảm thọ. Từ lời nói, âm thanh tác động vào tâm thức của mình, từ đó sanh khởi lên những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, và đã từ rất lâu chúng ta vô minh đối với suy nghĩ này, không biết nó chỉ là tổ hợp của suy nghĩ, tức là hành uẩn. Chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc cho rằng suy nghĩ đó là tôi, là của tôi, lúc nào trong suy nghĩ của mình cũng nghĩ rằng suy nghĩ này là mình, là của mình và chúng ta không biết được tại sao suy nghĩ có mặt, tại sao suy nghĩ chấm dứt, thế nào là vị ngọt của suy nghĩ, thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của suy nghĩ, làm sao để đi ra khỏi tất cả suy nghĩ đó thì chúng ta đều không biết, không thành tựu trí tuệ về suy nghĩ là bảy trí về hành.
Thầy Pháp Nghĩa: Mô Phật, thưa sư phụ và đại chúng, con xin đọc bảy trí về hành: Những tư duy, suy nghĩ làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, hành này gọi là ý hành. Hành sanh: Do xúc tập khởi nên hành tập khởi, hành diệt: Do xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt. Hành diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến hành đoạn diệt là phương pháp Tám Đúng. Vị ngọt của hành: Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì gọi là vị ngọt của hành. Sự nguy hại của hành: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với hành là sự nguy hại của hành. Sự xuất ly của hành: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham gọi là sự xuất ly khỏi hành.
Sư Phụ: Tại sao chúng ta có suy nghĩ? Là do mình tiếp xúc sanh khởi ra suy nghĩ, tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác, tiếp xúc sanh khởi ra những hình bóng trong tâm. Khi không tiếp xúc sẽ không còn những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng đó cho nên trong sự tu của chúng ta, Đức Phật nói rằng tư duy thiện và tư duy bất thiện, suy nghĩ về dục, sân, hại gọi là tà tư duy, suy nghĩ lìa dục, lìa sân, không hại là chánh tư duy. Chúng ta suy nghĩ về sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, suy nghĩ về sáu trần. Làm sao để các pháp hiện hành trong thân tâm? Đó là phải khởi động suy nghĩ, tu chánh tư duy, làm cho sanh khởi những suy nghĩ chánh trí, chánh kiến, chánh Pháp. Suốt một tiếng thiền quán chúng ta suy nghĩ về diệt trừ chấp ngã, lúc đó liên tục có cảm giác, tưởng, hành vận hành theo chiều hướng của Pháp, của trí tuệ, của thiện lành, cho nên trong sự tu thì tác ý tuyệt đối quan trọng, phải thường xuyên tác ý, làm cho suy nghĩ được khởi động và chuyển chiều hướng suy nghĩ, đây là sự tu trong chánh tư duy và tà tư duy. Ví dụ xúc miệng nhả ra thấy máu lẫn trong kem thì tác ý "thân này là máu huyết tanh hôi, dơ bẩn. Không có gì sạch sẽ, không có gì bền chắc trong thân đất, nước, gió, lửa này, trong cái thân máu thịt, xương da này". Khi tác ý như vậy gọi là ly dục tư duy, là chánh tư duy. Trong tiếng ho, tiếng nhảy mũi đó phải khéo léo dùng Như lý tác ý để tu tập, ví dụ đang ngồi yên mà có người ho hoài thì mình khó chịu, lúc đó phải tác ý để chuyển cảm giác khó chịu đó "Thân này là ổ tật bệnh, là nơi chứa nhóm bệnh đau, bệnh khổ. Không có gì là tôi, là của tôi trong đây". Khi tác ý như vậy thì cảm giác khó chịu kia sẽ tan, suy nghĩ khó chịu kia sẽ biến và sanh lên suy nghĩ của trí tuệ, nhàm chán phá chấp ngã. Cho nên sự tu này liên tục phải tác ý vì có tác ý thì trí huệ mới sanh, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành. Đức Thế Tôn chúng ta thuyết pháp bốn mươi năm thì cái gì thuyết pháp? Đó là thân hành, khẩu hành, ý hành của Đức Phật thuyết pháp. Vì tất cả ý hành đó đều trí tuệ, không lẫn lộn vô minh, dục tham ái nên trở thành Thánh Pháp, còn bây giờ chúng ta nhận diện ngũ uẩn là đọc những lời nói trong tâm, đọc những suy nghĩ xem cái nào thiện thì giữ lại, bất thiện thì đánh phá và chuyển hướng suy nghĩ đó. Vì thế sự tu của chúng ta phần tác ý rất quan trọng, không có tác ý tu hoài trí tuệ vẫn không sanh, từ trong ý hành biểu hiện ra khẩu hành cho nên chúng ta phải tập tu trong suy nghĩ tức là thường xuyên tác ý, loại bỏ ác và bất thiện pháp trong suy nghĩ.
Làm thế nào loại bỏ ác bất thiện pháp trong suy nghĩ? Một người thành tựu chánh kiến không chấp nhận các pháp là ngã, là không suy nghĩ sắc này là tôi là của tôi, không suy nghĩ cảm giác này là tôi là của tôi, không có suy nghĩ rằng suy nghĩ, hình bóng này là tôi là của tôi, không có suy nghĩ sự nhận thức rõ biết này là tôi là của tôi. Cho đến lúc nào chúng ta đuổi hết các suy nghĩ thường còn, đẹp đẽ, vui sướng, tự ngã thì lúc đó thành tựu chánh kiến, cho nên bây giờ chỗ hơn nhau, thành hay bại là ở trong sự tác ý suy nghĩ. Lúc đầu toàn bộ là đen, khi tu tập tác ý thì đem pháp trắng vào thay thế cho pháp đen, lúc đó bên tà thắng chánh, khi mới nghe chánh Pháp thì tà chống cự chánh "làm sao không có tôi được? sao mà khổ không vậy?" nhưng người tu là người không chịu thua, tiếp tục tác ý, tiếp tục quán chiếu tu tập những lời giảng, lời kinh cho nhiều thì cái trắng sẽ hóa giải suy nghĩ đen của vô minh, tham ái, chấp thủ. Trong sự tu bây giờ đang bắt đầu đuổi cái đen, ví dụ mình suy nghĩ đi tu như vầy có bất hiếu không khi cha mẹ đang bệnh ở nhà, đây là suy nghĩ của ái, của thế tình, sau đó dùng chánh tư duy tác ý "Trong vòng luân hồi sanh tử này, thật là khó tìm một người không từng làm cha mình trong quá khứ, thật khó tìm ra một người không phải mẹ mình trong vòng sanh tử vừa qua. Sợi dây luyến ái này đã buộc mình tỉ kiếp, bây giờ may mắn gặp được Thánh Pháp, chánh kiến vậy chẳng lẽ mình còn tiếp tục buộc ràng nữa hay sao? Phải nắm bắt cơ hội thoát ra, thể nhập Thánh trí huệ mới thật sự đáp đền ân đức muôn kiếp của mẹ cha". "Thật là đáng thương cho ta trong trăm ngàn vạn kiếp vừa qua, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu thân xác, bao nhiêu cảnh sanh ly tử biệt, ta trở về nhà làm được gì hay cũng chỉ biết đứng nhìn. Ngược lại ta phải tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, dõng mãnh, quyết chí thể nhập Thánh Pháp này thì mới thật sự cứu giúp được mẹ cha". Mỗi lần suy nghĩ buồn nhớ, lo lắng khởi lên là phải tác ý như vậy và tác ý cành nhiều, càng sâu rộng sẽ bứng luôn những suy nghĩ luyến ái đó cho đến khi diệt tận, tức là dùng suy nghĩ đánh trừ suy nghĩ. Còn khi nó khởi mà mình để ý thì làm sao thắng được nó, dù không suy nghĩ nhưng mình không giải phá thì đúng duyên nó sẽ khởi lên vì mình không đào xới, bứng tận gốc rễ, bửa cây, chẻ ra, đốt thành tro bụi, cho gió mười phương tám hướng bay vào hư không, diệt tận hoàn toàn không cho sanh khởi trong tương lai, chính chỗ này mới có thể xuất ly tất cả hành.
Ðây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (V) (36) Thiền)
Trước hết cần nhận ra suy nghĩ ác, bất thiện, dùng suy nghĩ thiện đuổi suy nghĩ ác đó. Nhà đầy rác mà ngồi yên thì không thể sạch được mà phải dùng chổi, có chổi mà không quét thì không sạch, có chổi rồi quét ẩu cũng không sạch hết bụi bẩn, có rất nhiều cấp độ, sự tác ý cũng vậy. Người quét qua loa, trong hốc, kẹt không đụng đến mà trong đó là gián chết, chuột chết… nhà sạch mà có mùi hôi vì nó ở trong kẹt. Cũng vậy, sự tác ý của chúng ta không đúng mức, ngồi trong Pháp hội thì tác ý nhưng khi trở ra thì hết tác ý, trở lại vị trí của vô minh và tham ái, buông lung phóng dật. Lúc thiền quán diệt ngã có tác ý, lúc quỳ lạy đại chúng thì có tác ý thân hành, khẩu hành, ý hành nhưng khi chúng ta bước ra khỏi thiền đường lại không tác ý, trở về trạng thái vô minh, tham ái, buông lung phóng dật, như vậy thì đến khi nào tu thành tựu? Phải thường xuyên liên tục tác ý cho đến khi nào thuần túy ở trong Pháp thì mới thành tựu, tức là sau này không cần tác ý cũng tự động thành tựu. Tại sao chúng ta quán vô thường không thành công? Quán khổ nhưng chỉ thấy vui, học Khổ Thánh Đế mà toàn thấy vui vì chúng ta không tác ý, ví dụ ngồi xe chạy ngang đám cưới, trang trí cổng hoa, áo dài khăn đống, nhạc vui tươi… Lúc đó bằng phàm tình, tâm thường không tu nhìn vào sẽ thấy thích là lạc thọ, dục ái tham sanh khởi. Lúc đó phải tác ý, quán chiếu sự nguy hại của nó, nhìn vào sự nguy hại trong đó và tiếp tục dùng suy nghĩ trói buộc, hệ lụy, không tự do, nhỏ hẹp, bị kiểm soát và khổ đau, phiền não trong đời sống gia đình để đánh đuổi thọ, tưởng, hành của lạc. Tác ý như vậy thì sau này nhìn vào đám cưới không thấy vui trong đó, không sanh khởi cảm thọ lạc, suy nghĩ lạc và không sanh khởi những hình bóng cho đó là vui sướng, muốn vậy phải tác ý thường xuyên và liên tục cho đến khi nào thâm nhập vào Thánh trí huệ đó, như vậy gọi là thể nhập Thánh trí. Nếu không, đời sau cũng bước vào cổng Vu Quy vì thấy nó là lạc, là vui. Khi tác động tâm ý thường xuyên sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành đi vào thức, tất cả tâm thức của mình trú trong Thánh trí huệ, trong Pháp, không đi tìm những thứ đó vì đã thấy đó là nhàm chán, là khổ đau, như vậy chỗ dựa của tái sanh (sanh y) sẽ chấm dứt hoặc sẽ sanh lên Thiên giới làm Thánh đệ tử Thiên. Vì vậy đầu tiên phải biết hành chỉ là hành, khi biết suy nghĩ là hành thì lúc đó mình đã phá được hành thủ uẩn một phần nào, khi mới vừa nhận diện ngũ uẩn thôi là lập tức trí tuệ thành tựu, đó là lý do con thường xuyên dặn dò phải dạy người mới tu nhận diện ngũ uẩn. Khi nhận diện được hành uẩn là hành uẩn, chỉ là một tổ hợp suy nghĩ, đây không phải tôi, không phải của tôi, do duyên xúc, từ tiếp xúc mới sanh khởi ra suy nghĩ, khi biết được vậy thì trí huệ đã thành tựu, vì đã tách ra khỏi nó, còn lúc trước mình và suy nghĩ là một, tôi suy nghĩ như vầy, suy nghĩ đó là tôi, tôi biết kiến thức như vậy… Khi vừa nhận diện hành uẩn đã thành tựu trí huệ, nhưng vì trí huệ này thậm thâm vi diệu cho nên không tiếp tục duy trì, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển tu tập quảng đại thì trí huệ này sẽ bị dừng lại, chỉ tới mức đó thôi. Khi trí huệ này tiếp tục soi rọi trong tất cả suy nghĩ, lúc nào cũng biết đó là hành uẩn, là duyên sanh, vô thường, suy nghĩ theo tham sân si là khổ đau… thì sẽ thành tựu tiếp trí huệ.
Sau đó thấy được suy nghĩ ác và suy nghĩ thiện. Dùng cái thiện để trị cái ác chính là Như lý tác ý hoặc là dùng ngộ trị mê, dùng trí trị phàm tình, thường tình, mê tình. Do mức độ diệt được ác bao nhiêu thì hành nghiệp sẽ có quả báo tương xứng nên mới sanh ra đau khổ, sung sướng, giàu nghèo, đen trắng… đều do hành nghiệp khác nhau. Đức Phật nói chúng sanh chết trong suy nghĩ, chúng sanh bị chết chìm trong tư tưởng, chính suy nghĩ hại mình chứ không có ai hại mình. Tại sao mình nổi sân? Vì mình nghĩ mình đúng người kia sai nên sân sanh khởi chứ mình không nghĩ sân là sai, nếu suy nghĩ đúng thì đưa đến chấm dứt suy nghĩ sai, còn suy nghĩ sai thì tiếp tục sai, không chấm dứt được. Cho nên chánh kiến mới phá được tà kiến, minh mới phá được vô minh chứ không thể vô minh phá được vô minh, suy nghĩ vô minh thì làm sao phá được vô minh, gặp manh sư thì làm sao giúp cho mình sanh được trí tuệ, manh tức là mù. Đức Phật nói rằng ông thầy mù dẫn một đám học trò mù chỉ có đi xuống vực sâu cho nên chúng ta sẽ chết trong suy nghĩ của chính chúng ta vì không biết đó chỉ là hành uẩn.
Bước thứ nhất phải biết hành là hành, tức là suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, suy nghĩ này không phải là mình. Bước thứ hai là phân loại suy nghĩ, Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trước khi suy nghĩ phải suy xét là thiện hay bất thiện, đang suy nghĩ phải dò xét cẩn thận là thiện hay bất thiện, sau khi suy nghĩ cũng phải kiểm tra xem suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại, trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm đều phải soi xét, dò xét, kiểm tra xem nó là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại, đó là sự chánh niệm và tỉnh giác trong các hành.
Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)
Còn mình muốn là làm, mình không biết lúc đó hành uẩn đang vận hành nên nhập cuộc với nó, đó là vô minh, không thấy sự vận hành, sự sanh khởi, sự chấm dứt của các suy nghĩ. Mình không có sự tỉnh giác, nếu không thấy làm sao phân loại thiện hay bất thiện? Đã không phân loại được thì làm sao nhiếp phục? Khi đã biết suy nghĩ thiện hay ác nhưng không thể tự động diệt được nó nếu không dùng chánh tri kiến đúng phương pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, chỉ làm cho lắng dịu, ngủ yên, đúng lúc nó sẽ bùng dậy. Chỉ có Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác mới nhìn thấy tất cả khía cạnh, phương diện, góc độ tinh vi, xảo quyệt của hành uẩn vì nó là ma, nó là sát nhân, là kẻ giết người mà chúng ta lại nhận nó là mình. Mình tham ái với hành uẩn, yêu thích suy nghĩ của mình, ngay cả khi gặp Thánh Pháp cũng còn thương tiếc, không bỏ hết mà vẫn còn chừa lại, đó là tham ái với hành uẩn, không những tham ái con người, vật chất tiền tài, danh vọng mà còn tham ái trong cả suy nghĩ, đây là chỗ thâm sâu chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới ra được, không thể có người bình thường thứ hai biết được điều này. Mình ưa thích, ái luyến suy nghĩ đó, không nỡ bỏ suy nghĩ đó dù biết suy nghĩ đó không đúng Chánh Pháp, vẫn nuôi dưỡng, ôm ấp nó, đó là tham ái với hành thủ uẩn, "thủ" là sự nắm chặt trong các suy nghĩ, kiến thủ là nắm chặt thân kiến, học thì biết như vậy, cũng dâng trào cảm xúc rồi khóc nhưng thâm sâu bên trong suy nghĩ không thể bỏ được, ngã luận thủ là những sự nói năng, bàn luận về cái tôi. Vì thế mà mức độ thiền quán, tác ý phải cực kì thâm sâu và liên tục, mức độ tháo gỡ phải thiện xảo đến mức nào cho nên trở thành Thánh nhân không phải chuyện đơn giản, dễ dàng. Trong suy nghĩ chúng ta bị cột vào ngũ uẩn, không thể mở ra được như con chó bị cột sợi dây thừng, đi lòng vòng quanh cây cột, có đi cũng đi trong ngũ uẩn, có nằm cũng nằm trong ngũ uẩn, làm cái gì cũng chạy lòng vòng trong ngũ uẩn.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chúng sanh vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được ngũ uẩn cho nên mới có luân hồi bất tận không có ngày ra, Đức Phật nói biển cả khô còn thấy đáy, Trái Đất này hoại thành cát bụi nhưng nỗi khổ của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc không thể chấm dứt khổ đau. Hễ được thiện thì sanh ra làm người tốt đẹp, ác thì làm con vật, ác hơn thì xuống địa ngục, phước nhiều thì lên chư Thiên, cứ lòng vòng như vậy hoài, vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ có ngày xuất ly ra khỏi ngũ uẩn. Trong vô lượng vô biên kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, đúng thời Chánh Pháp mới gặp được ngài để nghe thuyết Pháp, trong khi ngài tồn tại ở thế gian không được lâu, Đức Thế Tôn tại thế tám mươi năm và hoằng Pháp chính thức có bốn mươi năm thôi. Trong vòng luân hồi vô tận này thì bốn mươi năm chỉ là hạt cát, sau đó Chánh Pháp chỉ có năm trăm năm nhưng không phải chỗ nào cũng là Chánh Pháp, chỉ có ở chỗ các bậc Thánh Tăng mới có Thánh Pháp vậy mà mình cách họ ba ngàn năm, những tấm thân vô minh, tham ái, si mê, ngã mạn, sân hận đang ngồi đây. Cho nên sự tác ý rất khủng khiếp, mỗi một suy nghĩ phải bóc tách nó ra cho đến khi nào ác diệt hết thì còn lại sự thuần thiện của chư Thiên hoặc đi đến chỗ bất động là các cảnh giới của vô sắc giới, thiện hành, ác hành, bất động hành là các vị trú trong thiền định vô lượng vô số kiếp nhưng khi hết thiền định lại rớt xuống địa ngục, súc sanh vì bản chất của ngũ uẩn là vậy.
Một người thành tựu chánh kiến không chấp nhận bất cứ một Pháp nào là ngã, nếu còn một chút bản ngã, cái tôi thì người đó chưa phải là bậc chánh kiến. Người thành tựu chánh kiến không chấp nhận bất cứ một hành nào là lạc, là vui thì đó mới là bậc Thánh nhân của Phật Giáo, hành ở đây là những lời nói, suy nghĩ, hành động và hành cũng chính là sự vận hành của ngũ uẩn. Vì đó là bốn sự kiến chấp điên đảo của chúng sanh, phải loại bỏ những suy nghĩ tức giận, hễ còn chấp nhận những suy nghĩ đó thì không thể diệt sân được, bất cứ có suy nghĩ nào về sân hận sanh khởi lên phải lấy suy nghĩ từ bi đuổi suy nghĩ sân ra khỏi tâm mình, cho đến lúc nào loại bỏ hoàn toàn thì mới thành công. Trong khi sân sanh khởi lên mình còn chấp nhận, bảo vệ, đó là thủ uẩn hành, mình không có từ bỏ, tẩy sạch, diệt tận nó, Thánh quả thứ ba bậc Bất lai là bậc đoạn tận tham sân, phải dứt bỏ vì còn nó là còn khổ, muốn hết khổ phải chấm dứt tham sân, Đức Phật không bắt mình mà Pháp phải như vậy, hễ còn sân giận, cảm giác tức giận, ganh ghét, đố kị thì còn khổ, không thể giải thoát khỏi khổ đau, còn cái tôi và của tôi thì còn khổ. Ở trong Ni xá mà nhìn toàn bộ từ trần nhà, phòng ốc ra cửa đều không có cái gì là tôi, là của tôi trong này, tất cả đồ mình đang dùng không có gì của mình, đến cái thân này khi nhìn vào gương thì mắt này của ai, gương mặt này của ai, tất cả là tứ đại bất tịnh, vì tham muốn máu thịt, phèo phổi, tinh huyết nên mới có tướng hình của nghiệp này nên không có gì là tôi, là của tôi. Như vậy mới thoát ra khỏi sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn và hành thủ uẩn, tổ hợp nào mình cũng dính cứng chắc trong đó nên sự tu học của chúng ta chỉ mới nhìn thấy và nhiếp phục, còn chúng ta vẫn chưa thoát ra được nhưng hướng thoát ra phải được nuôi dưỡng. Cho nên tu trong suy nghĩ này rất đặc biệt, mình muốn nấu món này mà người ta không chịu thì lúc đó ra sao? Mình suy nghĩ như vầy mà người ta không chịu, người ta suy nghĩ khác thì lúc đó ra sao? Phải thường tác ý vì tác ý trí huệ mới sanh.
Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành. Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, Ðáng Ðược Ăn)
Nếu không có suy nghĩ hoặc không nói ra thì không ai biết mình nghĩ cái gì, có nói ra thì người ta mới biết và mình nghĩ cái đó là nghĩ về ngũ uẩn cho nên phải khéo tu trong suy nghĩ. Bây giờ có suy nghĩ già cả rồi, bệnh tật học mệt mỏi quá, học chậm hơn người ta, gần chết rồi nên học để có chút vốn liếng để kịp chuyến đò nếu không ở lại, tác ý như vậy để làm tinh cần, tinh tấn. Chuẩn bị làm việc thì muốn nghỉ, làm việc mới xong thì mệt nên muốn nghỉ dưỡng còn người tinh tấn thì chuẩn bị làm việc không có giờ tu nên giờ phải tu học, mới làm việc xong mất giờ tu nên giờ phải tu, đi xa cũng vậy, mới bệnh hay bệnh mới hết, hoặc không có đồ ăn cũng vậy, tất cả đều do tác ý, suy nghĩ làm cho mình tinh tấn và suy nghĩ làm cho mình lười biếng. Thường mình hay chọn suy nghĩ nào? Có một vị hỏi Minh Thành sợ trở thành người vong ơn bội nghĩa với thầy, thấy đúng Chánh Pháp rồi nhưng theo thì bỏ thầy nên sợ trở thành người vong ơn bội nghĩa, Minh Thành nói mình là đại vong ơn bội nghĩa vì bỏ hết mấy chục người thầy, những gì đưa đến tham ái, dính mắc, ràng buộc thì phải nỗ lực đoạn tận những thứ đó.
Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VI. Ðoạn Tận)
Như vậy niềm tin của mình chưa đủ đối với Chánh Pháp, nếu đủ rồi mình có thể bỏ cả sinh mạng này để thực hành Chánh Pháp, một khi niềm tin đủ thì chính niềm tin đó trở thành sức mạnh, lúc nào mình cũng chiêm nghiệm, suy nghĩ, thực tập về Pháp, tâm mình sẽ chuyên chú vào đó, trí huệ của mình sẽ rực sáng, đó là ngũ căn, ngũ lực, tín – tấn – niệm – định – huệ. Một khi người đã thành tựu được lòng tin thì lòng tin đó sẽ trở thành sức mạnh để tiến tới sự suy niệm, thực hành hoài không bao giờ quên, suy niệm này làm tâm mình tập trung tất cả tâm ý thì gọi là định, một khi đã định thì trí huệ rực sáng, năm căn cứ địa này làm thành năm sức mạnh vĩ đại của người tu, ngũ căn, ngũ lực, lòng tin, sự nỗ lực, nhớ nghĩ, tập trung tâm ý và trí huệ. Người nào đầy đủ ngũ căn cũng thành tựu bậc A-la-hán, cho nên khi mình đang do dự không biết nên chọn cái nào là lòng tin chưa đủ. Các Phật tử muốn lên núi, muốn ở tu mà chưa dám là do tín chưa đủ, một khi đủ sẽ bỏ hết mọi thứ. Cuộc đời này bây giờ đầy sự hiểm nguy, lại gần mình ho một cái là nguy cơ mất mạng trước mắt, bản chất cuộc đời này là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không. Đó là mình tác ý, mọi thứ đều phải tác ý, ý hành hoặc khẩu hành và thân hành, viên mãn như vậy là thành tựu. Phải tác động tâm ý theo Chánh Pháp chứ đừng suy nghĩ theo hướng thường tình, bà Năm bây giờ đã thành cát bụi, thành hư không, sự thật rõ ràng trước mắt mà không chấp nhận vì bị vô minh và tham ái che đậy, vô minh là bóng tối, sự yêu thích che đậy và người ta sống một cuộc đời mù lòa, vất vưởng, lẩn quẩn không có lối ra, vẫn biết là khổ nhưng lại cam chịu cái khổ đó. Con ngồi đây với đại chúng nhưng có thể sáng mai không dậy nữa, cái bàn này sẽ trở thành bàn thờ, phải suy nghĩ như vậy mới có thể từ bỏ những suy nghĩ chấp thủ, dính mắc, những suy nghĩ mê muội, ngu mê. Làm gì có ngày mai? Có thể tối nay chúng ta không dậy nữa, cho nên hãy sống hết mình trong giây phút hiện tại, làm được điều gì thiện lành, phụng sự Tam Bảo, giúp đỡ mọi người thì hãy làm hết tất cả khả năng, biết đâu ngày mai là kiếp sau của chúng ta vì không có gì bền vững, kiên cố, thật sự an ổn trên cuộc đời này, hoàn toàn không có. Đây là món đồ làm bằng gốm dễ tan vỡ, đừng nghĩ một con người như vậy là kiên cố.
Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Một em bé mới ba tuổi mà chết vì đột quỵ, điều đó cho thấy các hành là vô thường, các hành là không kiên cố, các hành là bất an, là đáng lo lắng và sợ hãi. Chúng ta đang ở trong chỗ rất hiểm nguy mà lại không biết lo lắng vì chúng ta đã mù từ khi mới sanh, mù trong trăm ngàn vạn kiếp, con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là mù lòa, những suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức đều mù lòa. Chúng ta sống trong bóng tối như vậy lại không đi tìm cầu ánh sáng, phải tha thiết chân thành, thậm chí đem cả thân xác này đánh đổi để tìm cầu Thánh Pháp. Đừng tiếc thời gian, công sức, thân xác này, hãy dấn thân đem hết tất cả tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực để tìm ra mục đích tối thượng của nhân sinh là gì, nếu không chúng ta sẽ sống sai chết mộng, chúng ta làm chỉ toàn những chuyện vô ích, hại mình hại người, khổ mình khổ người. Chúng ta nói vì mọi người, tôi giúp mọi người, điều này có thật sự là vậy không hay vì bản ngã, danh lợi, sự phô trương. Không được những cái đó thì đau khổ, sầu bi ưu não và chúng ta lòng vòng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, cứ trôi nổi, chìm đắm trầm luân, quanh quẩn trong hiểm họa vì luân hồi này là hiểm họa. Chúng ta chỉ nhìn thấy mấy chục năm vừa qua chứ không nhìn thấy được vô thỉ là luân hồi này, các ông đã đau khổ, các cô và chúng ta đã đau khổ vì thân thể tay chân đổ máu, chúng ta đã đau khổ vì chồng chết, con chết, cha mẹ chết… chúng ta đã đau khổ vì tai nạn, hoạn nạn trong vô số vô biên kiếp chứ không chỉ một kiếp này, chúng ta đã từng bị sỉ nhục, chửi mắng, khinh khi ngàn vạn lần, chúng ta đã từng tham dục, ái dục triệu tỉ lần vẫn không thỏa mãn, chúng ta đã từng thèm ái, ăn khắp hành tinh cũng vẫn còn thèm thuồng, đói khát, chúng ta đã đi tất cả tứ đại hải dương, đi khắp năm châu bốn biển trong vô lượng vô biên kiếp mà giờ vẫn còn chạy, còn tìm kiếm hoài. Vì vậy hãy lắng dịu hết đi, đây là sự an tịnh, đây là sự thù thắng, tức là tự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham Niết-bàn.
Làm sao chúng ta có thể dừng yên (tịnh chỉ) tất cả các suy nghĩ? Không phải nói không nghĩ là không có bất kì suy nghĩ gì mà là dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ, dùng chánh tư duy diệt tà tư duy. Dùng suy nghĩ bất tịnh, nhơ nhớp để dẹp bỏ suy nghĩ đẹp đẽ, ham muốn, đánh đuổi hoài như vậy thì suy nghĩ cho rằng sạch đẹp đó không còn nữa, bứng tận gốc rễ. Khi đi vào dòng Pháp này rồi mới thấy không thể tưởng tượng được trí huệ của ngài, lấy độc trị độc, gậy ông đập lưng ông, chỉ có dùng suy nghĩ mới dẹp được suy nghĩ. Lấy ví dụ thực tế ngoài đời, khi hai người mới quen nhau ai cũng nghĩ về cái tốt của người kia, có sai cũng nghĩ người đó đúng, chính vì phi Như ý tác ý như thế nên mới cưới hỏi rước về, về ở chung thì lộ ra mặt thật, lộ ra những cái xấu, đến khi không chịu nổi thì trong suy nghĩ của họ không còn những cái tốt đẹp lúc xưa mà chỉ là những thứ xấu xa, tiêu cực, vũ phu nên họ ly dị, từ bỏ, chấm dứt, "đường anh anh đi, đường tôi tôi đi. Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi" là đoạn tận. Tức là trong suy nghĩ của họ không còn suy nghĩ vẹn toàn, mến, tốt như lúc trước nữa mà chỉ còn suy nghĩ xấu nên chấm dứt, ly tham, dập tắt mọi thứ là Niết-bàn. Trong tâm mình cũng giống như vậy, tức là dùng suy nghĩ của chánh trí để phá suy nghĩ của vô minh, tham ái và chấp thủ, như vậy mới thấy tầm quan trọng của sự tác ý. Còn một suy nghĩ cho rằng đây là đẹp, là hấp dẫn thì mình sẽ còn bị cái đó trói cột, còn bị đau khổ, ràng buộc, hệ lụy với nó, còn bị khống chế, chinh phục, áp đảo và mình còn làm nô lệ cho nó. Qua đây chúng ta mới thấy phương pháp Như lý tác ý của Đức Phật rất khủng khiếp, tức là đuổi bản ngã để đưa vô ngã vào, đuổi cái sạch để đưa bất tịnh vào, đuổi cái thường bằng cái vô thường.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, X. Được Chấm Dứt)
Chánh quán thân xác này, đời sống là vô thường, khổ, vô ngã, phiền não, khổ đau, bứng gốc suy nghĩ đời sống này là đẹp, vui sướng, hạnh phúc, khi suy nghĩ này không còn nữa thì không đeo bám vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, vì trong suy nghĩ có hình ảnh, có cảm giác, có rõ biết nên tuy chia ra từng cái nhưng trong một cái có những cái còn lại. Khi đó sự nhàm chán, ly tham sẽ sanh khởi, làm cho tịnh chỉ tất cả các hành, tức là không còn khao khát, thèm muốn, tìm tòi nữa thì không còn suy nghĩ gì nữa, đây là chỗ tối thượng. Tức là dùng suy nghĩ chánh kiến đuổi suy nghĩ tà kiến cho đến khi tà kiến dẹp hết thì tà kiến sẽ an tịnh vì tà kiến không còn nữa thì chánh kiến sẽ bình lặng, như một người cầm gươm đao đánh giặc, khi giặc không còn nữa thì gươm đao cũng được yên lặng theo, cho nên chánh tư duy làm xong nhiệm vụ của nó thì đưa đến chánh định, không còn phải mệt mỏi, cực khổ nữa, không cần phải vận dụng tác ý nữa mà sẽ vô vi thái bình, dứt đau bệnh, hết chiến tranh là bậc A-la-hán nhưng giờ chỉ cần là bậc Tu-đà-hoàn cũng tốt lắm rồi, tức là trong suy nghĩ xác quyết chắc chắn từ nay trở về sau bất thối chuyển, không còn lui sụp nữa. Bây giờ tu là đuổi ác bất thiện pháp trong suy nghĩ cho đến khi tịnh chỉ tất cả các hành, từ bỏ tất cả sanh y. Sanh y là chỗ dựa của tái sanh, tại sao có chỗ dựa cho tái sanh? Vì cái hành còn đeo bám thọ, tưởng, nhận thức, còn yêu thích có thân giống vầy nữa thì đó là chỗ nương dựa của tái sanh, còn giờ thấy bất tịnh, khổ đau, phiền não, không ưa thích nữa thì từ bỏ tất cả chỗ dựa của tái sanh, chấm dứt tất cả sự khát ái, không còn khao khát, ham thích nữa, đó là đoạn diệt, Niết-bàn. Không sản sanh ra những cảm giác, hình bóng, nhận thức theo vô minh nữa mà xuất ly khỏi ngũ uẩn, đó mới gọi là giải thoát trong đạo Phật, nghĩa là trong suy nghĩ không còn bất kì suy nghĩ nào ham thích, tham đắm trong năm uẩn nữa nên tất cả chỗ dựa của tái sanh bị sụp đổ, sự suy nghĩ này không còn hướng đến đối tượng nào để dục ái tham, không còn sân với ai, vô minh và si ám được phá trừ, bản ngã không còn, đã thấy được thực tướng của ngũ uẩn là vô ngã, không gì là tôi, không gì là của tôi thì tất cả những căn cứ địa, hang ổ, thành trì, những chỗ dựa để đời sống tiếp tục trong vô minh, tham ái, chấp thủ, sanh già bệnh chết hoàn toàn bị sụp đổ.
Ðây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (V) (36) Thiền)
Con đi tu ba mươi năm bây giờ con mới hiểu được hai chữ "giải thoát" thật sự trong đạo Phật, đó là không còn trở lại trong dòng ngũ uẩn nữa, Đức Thế Tôn và các bậc Thánh A-la-hán là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người, tuy rằng các ngài mang thân xác con người nhưng đó là đời sống cuối cho nên các vị vua trời, Phạm Thiên, chư Thiên, tất cả các chúng sanh trong bao nhiêu thế giới đều quy tụ đến lạy bậc đại đạo sư. Các ngài xem tấm thân này là thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, các ngài hoàn toàn chấm dứt hết tất cả khái át trong ngũ uẩn nên không còn cái gì có thể làm các ngài đau khổ, đó là bất động tâm giải thoát, tâm giải thoát là khi tâm ra khỏi khát ái, tuệ giải thoát là tâm hoàn toàn diệt tận vô minh, đó là hai quả của phá vô minh và khát ái vì tâm bị khát ái trói cột nên không được tự do, còn giờ đã cắt đứt khát ái nên tâm được giải thoát. Trong truyện Aladin và cây đèn thần, khi lấy tay chà vào thân cây đèn sẽ có luồn khói bay lên tỏa ra, một vị thần xuất hiện sau đó, tâm giải thoát cũng giống như vậy, thân này là chai sành và mình bị nhốt trong đây, suốt ngày không ra khỏi cái chai này, đi đứng suy nghĩ, cảm giác, nghe nhìn cũng không ra khỏi sắc uẩn. Tuệ giải thoát là vô minh bị phá hoàn toàn, trí huệ lâu nay sáng nhưng bị bóng đêm che phủ nên không sáng lên được, lâu lâu được lóe sáng một chút. Còn giờ tất cả bóng tối bị phá tung ra, chỉ còn ánh sáng thì lúc đó là tuệ giải thoát, trở thành bậc A-la-hán. Đời sống của mình rất nhỏ bé, nhỏ hẹp so với các bậc Thánh, chỉ toàn tạo ra ác nghiệp, tham sân si, bản ngã, nghe gì cũng dục tham, tiếp xúc một chút là sân, cho nên tu để tâm giải thoát, tuệ giải thoát vì thế phải tác ý thường xuyên là liên tục. Khi nhìn thấy tượng Phật đẹp thì phải biết nó cũng là tứ đại nên không tham, không mê. Nhìn thấy cây đẹp trên núi nên muốn có nó thì đó là tham ái, "Mình lên đây cầu Pháp hay cầu cây? Cầu đạo hay cầu cảnh?", bất cứ cái gì sanh khởi không tương ưng với Pháp thì tác ý ngay, nếu tương ưng với Pháp thì nuôi dưỡng phát huy sẽ rất mau chóng thành tựu. Hai tháng con nhập thất là một ngày tác ý mười hai tiếng, chỉ trừ giờ ngồi thiền, tác ý la mắng, chỉ trích, quở trách mình. Khi ra thất mình có sự thay đổi đến bất ngờ, chỉ trong thời gian ngắn so với lúc trước tu hơn hai mươi năm là hoàn toàn khác biệt, nhận thức được chuyển đổi là nhờ sự tinh tấn, siêng năng nhìn lại thọ; tưởng; hành liên tục, tu như vậy tiến bộ rất nhanh. Khi mệt mỏi tác ý sẽ hết mệt, vì tác ý Pháp sẽ sanh ra, hồi xưa Đức Thế Tôn giảng Pháp thấy mỏi lưng vì ngài hơn bảy mươi tuổi, ngài nói Anan trải y ra để Thế Tôn nằm xuống, Thế Tôn nói với ngài Mục-kiền-liên rằng các thầy Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ rồi nên hãy tiếp tục nói Pháp cho đại chúng nghe, ngài Mục-kiền-liên nói Pháp sáng đêm.
Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Có rất nhiều bài kinh ghi lại như vậy, con nói mà không mệt là nhờ sự tác ý, giúp cho mình phá được giới hạn bản thân. Những giới hạn trong người mình sẽ bị phá vỡ nhờ tác ý vì mình cứ nghĩ không làm được là suốt đời mình sẽ không bao giờ làm được, còn nếu nghĩ phải làm được, sẽ làm được thì tất cả thọ; tưởng; hành đều nghe theo và mình sẽ làm được. Đừng suy nghĩ những cái nhỏ hẹp, thường tình mà hãy nghĩ những điều rộng lớn tương ưng với bậc Thánh thì sẽ đi trên Thánh đạo, mình chỉ toàn nghĩ làm không được thì làm sao tu? Vì thế tác ý quyết định hết tất cả, cả đại tạng kinh Nikāya là sự tác ý của Đức Phật, từ sự tác ý tu tập chứng ngộ nên Đức Phật nói lên Pháp, còn giờ mình lại không dùng suy nghĩ để tu thì không thể tu được, phải tác ý mới có sự mãnh liệt, mạnh mẽ trong tu tập. Đừng yếu đuối, đừng nhu nhược, từ cái cao thượng mới có thể đạt được cái cao thượng, không phải cái hạ liệt mà có thể đạt được cao thượng.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Tại sao người ta có thể ngồi thiền hai tiếng là bình thường ở Thiền Viện Trúc Lâm? Còn mình ngồi mới nửa tiếng, bốn mươi lăm phút là "chắc tôi chết", như vậy làm sao có thể tiến tu? Có những vị có thể ngồi thiền bảy ngày bảy đêm, có nhiều vị tâm sự ngồi thiền đau quá nên tác ý "tao cho mày chết luôn" thì tự nhiên lát sau hết đau, an tịnh trở lại và ngồi thiền được tăng tiến, nếu không tác ý sẽ thấy đau rồi bỏ không ngồi thiền nữa, đó là ái tấm thân này. Chúng ta phải để ý tu tập trong suy nghĩ sẽ làm chúng ta xuất cách, vượt ra cung cách bình thường không còn là người tầm thường nữa, nếu không suốt đời cũng không có gì thay đổi. Khi tác ý trí huệ sẽ sanh, dũng lực, tinh tấn, mạnh mẽ sanh khởi trong thân tâm, khi buồn ngủ mà tác ý sẽ mạnh mẽ lên, còn ngồi thiền, nghe pháp mà cứ gục lên gục xuống vì buồn ngủ thì làm sao thành tựu? Con pháp đàm tám tiếng, có khi nói chuyện với Hòa Thượng mười tiếng đồng hồ không biết mệt, nói xong vẫn bình thường, vẫn an lạc, đó là Pháp hỷ. Vì thế phải nhớ tác ý để bản thân vượt ra khỏi giới hạn, từ đó siêu phàm nhập Thánh, chuyển mê khai ngộ. Phải để ý trong lúc đi đứng ngồi nằm đều phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, khi thấy dục tham sân, năm triền cái sanh khởi thì phải tác ý đánh đuổi thì từ từ sẽ đổi đời, không cần đợi kiếp sau mà ngay trong đời này mình sẽ trở thành con người khác, không còn là con người lúc trước mà là con người của pháp, của trí, tuệ, minh./.
Thích Minh Thành
Sư Phụ: Sư cô Nguyên Luận đang có suy nghĩ gì?
Sư cô Nguyên Luận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Khi sư phụ đọc đảnh lễ Đức Thế Tôn thì trong con có niềm cảm xúc dâng trào với Đức Thế Tôn, khi con ngồi xuống có ý hành suy nghĩ "trong kiếp sống vô thường, các Pháp hữu vi là vô thường, mình đã tìm kiếm, rong đuổi". Khi hít một hơi thở thì trong hơi thở hạnh phúc lạ thường, cảm xúc hạnh phúc đặc biệt tuôn trào trong từng hơi thở vô thường này và ý hành không còn muốn chạy đuổi, tìm kiếm nữa mà chỉ muốn cuộc sống bình dị. Mô Phật, con xin hết, kính mong được sư phụ chỉ dạy thêm để những dòng cảm thọ được liên tục có mặt trong con, con có những lỗi lầm hoặc làm gì sai thì mong sư phụ và đại chúng chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Cô Diệu Linh đang suy nghĩ gì?
Cô Diệu Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Thưa sư phụ khi con vào giảng đường ngồi một lúc thì sư phụ bước vào, trong con bắt đầu có ý hành, con quan sát tất cả tứ đại đang đứng lên và tiếng im lặng. Những ý hành của con khởi lên "nhờ gió mà tai nghe tiếng" và con quan sát tai cho đến khi sư phụ đến đảnh lễ Thế Tôn. Con thấy các tứ đại ở đây đều hướng về Thế Tôn, mong muốn học được giáo Pháp của người. Tự nhiên con thấy hôm nay tất cả mọi người đang hướng về điều giải thoát gì đó, sẽ là buổi học chấn động và con cũng có cảm giác chấn động. Con thấy hôm nay có sự kết nối rất mạnh và trong con ý hành vẫn vậy, con quan sát các tứ đại rất thanh tịnh, hướng đến xả ly giải thoát. Giây phút này là giây phút tuyệt vời, hy hữu hiếm có khó tìm. Trong lúc này tứ đại con đang chấn động rất mạnh khi bài giảng chưa bắt đầu. Mô Phật.
Sư Phụ: Nếu cô Nguyên Luận không đứng lên chia sẻ thì chúng ta không biết cô đang suy nghĩ gì, nếu cô Diệu Linh không nói ra thì chúng ta cũng không biết cô Diệu Linh đang nghĩ gì. Suy nghĩ là hành, làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho thể hiện, vận hành các pháp hữu vi nên gọi là hành. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về trí tuệ suy tư, tức là trí tuệ về hành uẩn. Chúng ta chú trọng vào ý hành, chữ "hành" trong ngũ uẩn là tâm hành và ý hành, nói đầy đủ là tâm hành, ý hành và khẩu hành. Cho nên tâm chúng ta do ý hành làm cho biểu hiện các pháp, sáng nay chúng ta thiền quán sám hối diệt ngã làm dâng lên cảm thọ. Từ lời nói, âm thanh tác động vào tâm thức của mình, từ đó sanh khởi lên những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, và đã từ rất lâu chúng ta vô minh đối với suy nghĩ này, không biết nó chỉ là tổ hợp của suy nghĩ, tức là hành uẩn. Chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc cho rằng suy nghĩ đó là tôi, là của tôi, lúc nào trong suy nghĩ của mình cũng nghĩ rằng suy nghĩ này là mình, là của mình và chúng ta không biết được tại sao suy nghĩ có mặt, tại sao suy nghĩ chấm dứt, thế nào là vị ngọt của suy nghĩ, thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của suy nghĩ, làm sao để đi ra khỏi tất cả suy nghĩ đó thì chúng ta đều không biết, không thành tựu trí tuệ về suy nghĩ là bảy trí về hành.
Thầy Pháp Nghĩa: Mô Phật, thưa sư phụ và đại chúng, con xin đọc bảy trí về hành: Những tư duy, suy nghĩ làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, hành này gọi là ý hành. Hành sanh: Do xúc tập khởi nên hành tập khởi, hành diệt: Do xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt. Hành diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến hành đoạn diệt là phương pháp Tám Đúng. Vị ngọt của hành: Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì gọi là vị ngọt của hành. Sự nguy hại của hành: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với hành là sự nguy hại của hành. Sự xuất ly của hành: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham gọi là sự xuất ly khỏi hành.
Sư Phụ: Tại sao chúng ta có suy nghĩ? Là do mình tiếp xúc sanh khởi ra suy nghĩ, tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác, tiếp xúc sanh khởi ra những hình bóng trong tâm. Khi không tiếp xúc sẽ không còn những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng đó cho nên trong sự tu của chúng ta, Đức Phật nói rằng tư duy thiện và tư duy bất thiện, suy nghĩ về dục, sân, hại gọi là tà tư duy, suy nghĩ lìa dục, lìa sân, không hại là chánh tư duy. Chúng ta suy nghĩ về sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, suy nghĩ về sáu trần. Làm sao để các pháp hiện hành trong thân tâm? Đó là phải khởi động suy nghĩ, tu chánh tư duy, làm cho sanh khởi những suy nghĩ chánh trí, chánh kiến, chánh Pháp. Suốt một tiếng thiền quán chúng ta suy nghĩ về diệt trừ chấp ngã, lúc đó liên tục có cảm giác, tưởng, hành vận hành theo chiều hướng của Pháp, của trí tuệ, của thiện lành, cho nên trong sự tu thì tác ý tuyệt đối quan trọng, phải thường xuyên tác ý, làm cho suy nghĩ được khởi động và chuyển chiều hướng suy nghĩ, đây là sự tu trong chánh tư duy và tà tư duy. Ví dụ xúc miệng nhả ra thấy máu lẫn trong kem thì tác ý "thân này là máu huyết tanh hôi, dơ bẩn. Không có gì sạch sẽ, không có gì bền chắc trong thân đất, nước, gió, lửa này, trong cái thân máu thịt, xương da này". Khi tác ý như vậy gọi là ly dục tư duy, là chánh tư duy. Trong tiếng ho, tiếng nhảy mũi đó phải khéo léo dùng Như lý tác ý để tu tập, ví dụ đang ngồi yên mà có người ho hoài thì mình khó chịu, lúc đó phải tác ý để chuyển cảm giác khó chịu đó "Thân này là ổ tật bệnh, là nơi chứa nhóm bệnh đau, bệnh khổ. Không có gì là tôi, là của tôi trong đây". Khi tác ý như vậy thì cảm giác khó chịu kia sẽ tan, suy nghĩ khó chịu kia sẽ biến và sanh lên suy nghĩ của trí tuệ, nhàm chán phá chấp ngã. Cho nên sự tu này liên tục phải tác ý vì có tác ý thì trí huệ mới sanh, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành. Đức Thế Tôn chúng ta thuyết pháp bốn mươi năm thì cái gì thuyết pháp? Đó là thân hành, khẩu hành, ý hành của Đức Phật thuyết pháp. Vì tất cả ý hành đó đều trí tuệ, không lẫn lộn vô minh, dục tham ái nên trở thành Thánh Pháp, còn bây giờ chúng ta nhận diện ngũ uẩn là đọc những lời nói trong tâm, đọc những suy nghĩ xem cái nào thiện thì giữ lại, bất thiện thì đánh phá và chuyển hướng suy nghĩ đó. Vì thế sự tu của chúng ta phần tác ý rất quan trọng, không có tác ý tu hoài trí tuệ vẫn không sanh, từ trong ý hành biểu hiện ra khẩu hành cho nên chúng ta phải tập tu trong suy nghĩ tức là thường xuyên tác ý, loại bỏ ác và bất thiện pháp trong suy nghĩ.
Làm thế nào loại bỏ ác bất thiện pháp trong suy nghĩ? Một người thành tựu chánh kiến không chấp nhận các pháp là ngã, là không suy nghĩ sắc này là tôi là của tôi, không suy nghĩ cảm giác này là tôi là của tôi, không có suy nghĩ rằng suy nghĩ, hình bóng này là tôi là của tôi, không có suy nghĩ sự nhận thức rõ biết này là tôi là của tôi. Cho đến lúc nào chúng ta đuổi hết các suy nghĩ thường còn, đẹp đẽ, vui sướng, tự ngã thì lúc đó thành tựu chánh kiến, cho nên bây giờ chỗ hơn nhau, thành hay bại là ở trong sự tác ý suy nghĩ. Lúc đầu toàn bộ là đen, khi tu tập tác ý thì đem pháp trắng vào thay thế cho pháp đen, lúc đó bên tà thắng chánh, khi mới nghe chánh Pháp thì tà chống cự chánh "làm sao không có tôi được? sao mà khổ không vậy?" nhưng người tu là người không chịu thua, tiếp tục tác ý, tiếp tục quán chiếu tu tập những lời giảng, lời kinh cho nhiều thì cái trắng sẽ hóa giải suy nghĩ đen của vô minh, tham ái, chấp thủ. Trong sự tu bây giờ đang bắt đầu đuổi cái đen, ví dụ mình suy nghĩ đi tu như vầy có bất hiếu không khi cha mẹ đang bệnh ở nhà, đây là suy nghĩ của ái, của thế tình, sau đó dùng chánh tư duy tác ý "Trong vòng luân hồi sanh tử này, thật là khó tìm một người không từng làm cha mình trong quá khứ, thật khó tìm ra một người không phải mẹ mình trong vòng sanh tử vừa qua. Sợi dây luyến ái này đã buộc mình tỉ kiếp, bây giờ may mắn gặp được Thánh Pháp, chánh kiến vậy chẳng lẽ mình còn tiếp tục buộc ràng nữa hay sao? Phải nắm bắt cơ hội thoát ra, thể nhập Thánh trí huệ mới thật sự đáp đền ân đức muôn kiếp của mẹ cha". "Thật là đáng thương cho ta trong trăm ngàn vạn kiếp vừa qua, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu thân xác, bao nhiêu cảnh sanh ly tử biệt, ta trở về nhà làm được gì hay cũng chỉ biết đứng nhìn. Ngược lại ta phải tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, dõng mãnh, quyết chí thể nhập Thánh Pháp này thì mới thật sự cứu giúp được mẹ cha". Mỗi lần suy nghĩ buồn nhớ, lo lắng khởi lên là phải tác ý như vậy và tác ý cành nhiều, càng sâu rộng sẽ bứng luôn những suy nghĩ luyến ái đó cho đến khi diệt tận, tức là dùng suy nghĩ đánh trừ suy nghĩ. Còn khi nó khởi mà mình để ý thì làm sao thắng được nó, dù không suy nghĩ nhưng mình không giải phá thì đúng duyên nó sẽ khởi lên vì mình không đào xới, bứng tận gốc rễ, bửa cây, chẻ ra, đốt thành tro bụi, cho gió mười phương tám hướng bay vào hư không, diệt tận hoàn toàn không cho sanh khởi trong tương lai, chính chỗ này mới có thể xuất ly tất cả hành.
Ðây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (V) (36) Thiền)
Trước hết cần nhận ra suy nghĩ ác, bất thiện, dùng suy nghĩ thiện đuổi suy nghĩ ác đó. Nhà đầy rác mà ngồi yên thì không thể sạch được mà phải dùng chổi, có chổi mà không quét thì không sạch, có chổi rồi quét ẩu cũng không sạch hết bụi bẩn, có rất nhiều cấp độ, sự tác ý cũng vậy. Người quét qua loa, trong hốc, kẹt không đụng đến mà trong đó là gián chết, chuột chết… nhà sạch mà có mùi hôi vì nó ở trong kẹt. Cũng vậy, sự tác ý của chúng ta không đúng mức, ngồi trong Pháp hội thì tác ý nhưng khi trở ra thì hết tác ý, trở lại vị trí của vô minh và tham ái, buông lung phóng dật. Lúc thiền quán diệt ngã có tác ý, lúc quỳ lạy đại chúng thì có tác ý thân hành, khẩu hành, ý hành nhưng khi chúng ta bước ra khỏi thiền đường lại không tác ý, trở về trạng thái vô minh, tham ái, buông lung phóng dật, như vậy thì đến khi nào tu thành tựu? Phải thường xuyên liên tục tác ý cho đến khi nào thuần túy ở trong Pháp thì mới thành tựu, tức là sau này không cần tác ý cũng tự động thành tựu. Tại sao chúng ta quán vô thường không thành công? Quán khổ nhưng chỉ thấy vui, học Khổ Thánh Đế mà toàn thấy vui vì chúng ta không tác ý, ví dụ ngồi xe chạy ngang đám cưới, trang trí cổng hoa, áo dài khăn đống, nhạc vui tươi… Lúc đó bằng phàm tình, tâm thường không tu nhìn vào sẽ thấy thích là lạc thọ, dục ái tham sanh khởi. Lúc đó phải tác ý, quán chiếu sự nguy hại của nó, nhìn vào sự nguy hại trong đó và tiếp tục dùng suy nghĩ trói buộc, hệ lụy, không tự do, nhỏ hẹp, bị kiểm soát và khổ đau, phiền não trong đời sống gia đình để đánh đuổi thọ, tưởng, hành của lạc. Tác ý như vậy thì sau này nhìn vào đám cưới không thấy vui trong đó, không sanh khởi cảm thọ lạc, suy nghĩ lạc và không sanh khởi những hình bóng cho đó là vui sướng, muốn vậy phải tác ý thường xuyên và liên tục cho đến khi nào thâm nhập vào Thánh trí huệ đó, như vậy gọi là thể nhập Thánh trí. Nếu không, đời sau cũng bước vào cổng Vu Quy vì thấy nó là lạc, là vui. Khi tác động tâm ý thường xuyên sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành đi vào thức, tất cả tâm thức của mình trú trong Thánh trí huệ, trong Pháp, không đi tìm những thứ đó vì đã thấy đó là nhàm chán, là khổ đau, như vậy chỗ dựa của tái sanh (sanh y) sẽ chấm dứt hoặc sẽ sanh lên Thiên giới làm Thánh đệ tử Thiên. Vì vậy đầu tiên phải biết hành chỉ là hành, khi biết suy nghĩ là hành thì lúc đó mình đã phá được hành thủ uẩn một phần nào, khi mới vừa nhận diện ngũ uẩn thôi là lập tức trí tuệ thành tựu, đó là lý do con thường xuyên dặn dò phải dạy người mới tu nhận diện ngũ uẩn. Khi nhận diện được hành uẩn là hành uẩn, chỉ là một tổ hợp suy nghĩ, đây không phải tôi, không phải của tôi, do duyên xúc, từ tiếp xúc mới sanh khởi ra suy nghĩ, khi biết được vậy thì trí huệ đã thành tựu, vì đã tách ra khỏi nó, còn lúc trước mình và suy nghĩ là một, tôi suy nghĩ như vầy, suy nghĩ đó là tôi, tôi biết kiến thức như vậy… Khi vừa nhận diện hành uẩn đã thành tựu trí huệ, nhưng vì trí huệ này thậm thâm vi diệu cho nên không tiếp tục duy trì, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển tu tập quảng đại thì trí huệ này sẽ bị dừng lại, chỉ tới mức đó thôi. Khi trí huệ này tiếp tục soi rọi trong tất cả suy nghĩ, lúc nào cũng biết đó là hành uẩn, là duyên sanh, vô thường, suy nghĩ theo tham sân si là khổ đau… thì sẽ thành tựu tiếp trí huệ.
Sau đó thấy được suy nghĩ ác và suy nghĩ thiện. Dùng cái thiện để trị cái ác chính là Như lý tác ý hoặc là dùng ngộ trị mê, dùng trí trị phàm tình, thường tình, mê tình. Do mức độ diệt được ác bao nhiêu thì hành nghiệp sẽ có quả báo tương xứng nên mới sanh ra đau khổ, sung sướng, giàu nghèo, đen trắng… đều do hành nghiệp khác nhau. Đức Phật nói chúng sanh chết trong suy nghĩ, chúng sanh bị chết chìm trong tư tưởng, chính suy nghĩ hại mình chứ không có ai hại mình. Tại sao mình nổi sân? Vì mình nghĩ mình đúng người kia sai nên sân sanh khởi chứ mình không nghĩ sân là sai, nếu suy nghĩ đúng thì đưa đến chấm dứt suy nghĩ sai, còn suy nghĩ sai thì tiếp tục sai, không chấm dứt được. Cho nên chánh kiến mới phá được tà kiến, minh mới phá được vô minh chứ không thể vô minh phá được vô minh, suy nghĩ vô minh thì làm sao phá được vô minh, gặp manh sư thì làm sao giúp cho mình sanh được trí tuệ, manh tức là mù. Đức Phật nói rằng ông thầy mù dẫn một đám học trò mù chỉ có đi xuống vực sâu cho nên chúng ta sẽ chết trong suy nghĩ của chính chúng ta vì không biết đó chỉ là hành uẩn.
Bước thứ nhất phải biết hành là hành, tức là suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, suy nghĩ này không phải là mình. Bước thứ hai là phân loại suy nghĩ, Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trước khi suy nghĩ phải suy xét là thiện hay bất thiện, đang suy nghĩ phải dò xét cẩn thận là thiện hay bất thiện, sau khi suy nghĩ cũng phải kiểm tra xem suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại, trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm đều phải soi xét, dò xét, kiểm tra xem nó là thiện hay bất thiện, có lợi hay có hại, đó là sự chánh niệm và tỉnh giác trong các hành.
Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)
Còn mình muốn là làm, mình không biết lúc đó hành uẩn đang vận hành nên nhập cuộc với nó, đó là vô minh, không thấy sự vận hành, sự sanh khởi, sự chấm dứt của các suy nghĩ. Mình không có sự tỉnh giác, nếu không thấy làm sao phân loại thiện hay bất thiện? Đã không phân loại được thì làm sao nhiếp phục? Khi đã biết suy nghĩ thiện hay ác nhưng không thể tự động diệt được nó nếu không dùng chánh tri kiến đúng phương pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, chỉ làm cho lắng dịu, ngủ yên, đúng lúc nó sẽ bùng dậy. Chỉ có Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác mới nhìn thấy tất cả khía cạnh, phương diện, góc độ tinh vi, xảo quyệt của hành uẩn vì nó là ma, nó là sát nhân, là kẻ giết người mà chúng ta lại nhận nó là mình. Mình tham ái với hành uẩn, yêu thích suy nghĩ của mình, ngay cả khi gặp Thánh Pháp cũng còn thương tiếc, không bỏ hết mà vẫn còn chừa lại, đó là tham ái với hành uẩn, không những tham ái con người, vật chất tiền tài, danh vọng mà còn tham ái trong cả suy nghĩ, đây là chỗ thâm sâu chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới ra được, không thể có người bình thường thứ hai biết được điều này. Mình ưa thích, ái luyến suy nghĩ đó, không nỡ bỏ suy nghĩ đó dù biết suy nghĩ đó không đúng Chánh Pháp, vẫn nuôi dưỡng, ôm ấp nó, đó là tham ái với hành thủ uẩn, "thủ" là sự nắm chặt trong các suy nghĩ, kiến thủ là nắm chặt thân kiến, học thì biết như vậy, cũng dâng trào cảm xúc rồi khóc nhưng thâm sâu bên trong suy nghĩ không thể bỏ được, ngã luận thủ là những sự nói năng, bàn luận về cái tôi. Vì thế mà mức độ thiền quán, tác ý phải cực kì thâm sâu và liên tục, mức độ tháo gỡ phải thiện xảo đến mức nào cho nên trở thành Thánh nhân không phải chuyện đơn giản, dễ dàng. Trong suy nghĩ chúng ta bị cột vào ngũ uẩn, không thể mở ra được như con chó bị cột sợi dây thừng, đi lòng vòng quanh cây cột, có đi cũng đi trong ngũ uẩn, có nằm cũng nằm trong ngũ uẩn, làm cái gì cũng chạy lòng vòng trong ngũ uẩn.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chúng sanh vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được ngũ uẩn cho nên mới có luân hồi bất tận không có ngày ra, Đức Phật nói biển cả khô còn thấy đáy, Trái Đất này hoại thành cát bụi nhưng nỗi khổ của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc không thể chấm dứt khổ đau. Hễ được thiện thì sanh ra làm người tốt đẹp, ác thì làm con vật, ác hơn thì xuống địa ngục, phước nhiều thì lên chư Thiên, cứ lòng vòng như vậy hoài, vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ có ngày xuất ly ra khỏi ngũ uẩn. Trong vô lượng vô biên kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, đúng thời Chánh Pháp mới gặp được ngài để nghe thuyết Pháp, trong khi ngài tồn tại ở thế gian không được lâu, Đức Thế Tôn tại thế tám mươi năm và hoằng Pháp chính thức có bốn mươi năm thôi. Trong vòng luân hồi vô tận này thì bốn mươi năm chỉ là hạt cát, sau đó Chánh Pháp chỉ có năm trăm năm nhưng không phải chỗ nào cũng là Chánh Pháp, chỉ có ở chỗ các bậc Thánh Tăng mới có Thánh Pháp vậy mà mình cách họ ba ngàn năm, những tấm thân vô minh, tham ái, si mê, ngã mạn, sân hận đang ngồi đây. Cho nên sự tác ý rất khủng khiếp, mỗi một suy nghĩ phải bóc tách nó ra cho đến khi nào ác diệt hết thì còn lại sự thuần thiện của chư Thiên hoặc đi đến chỗ bất động là các cảnh giới của vô sắc giới, thiện hành, ác hành, bất động hành là các vị trú trong thiền định vô lượng vô số kiếp nhưng khi hết thiền định lại rớt xuống địa ngục, súc sanh vì bản chất của ngũ uẩn là vậy.
Một người thành tựu chánh kiến không chấp nhận bất cứ một Pháp nào là ngã, nếu còn một chút bản ngã, cái tôi thì người đó chưa phải là bậc chánh kiến. Người thành tựu chánh kiến không chấp nhận bất cứ một hành nào là lạc, là vui thì đó mới là bậc Thánh nhân của Phật Giáo, hành ở đây là những lời nói, suy nghĩ, hành động và hành cũng chính là sự vận hành của ngũ uẩn. Vì đó là bốn sự kiến chấp điên đảo của chúng sanh, phải loại bỏ những suy nghĩ tức giận, hễ còn chấp nhận những suy nghĩ đó thì không thể diệt sân được, bất cứ có suy nghĩ nào về sân hận sanh khởi lên phải lấy suy nghĩ từ bi đuổi suy nghĩ sân ra khỏi tâm mình, cho đến lúc nào loại bỏ hoàn toàn thì mới thành công. Trong khi sân sanh khởi lên mình còn chấp nhận, bảo vệ, đó là thủ uẩn hành, mình không có từ bỏ, tẩy sạch, diệt tận nó, Thánh quả thứ ba bậc Bất lai là bậc đoạn tận tham sân, phải dứt bỏ vì còn nó là còn khổ, muốn hết khổ phải chấm dứt tham sân, Đức Phật không bắt mình mà Pháp phải như vậy, hễ còn sân giận, cảm giác tức giận, ganh ghét, đố kị thì còn khổ, không thể giải thoát khỏi khổ đau, còn cái tôi và của tôi thì còn khổ. Ở trong Ni xá mà nhìn toàn bộ từ trần nhà, phòng ốc ra cửa đều không có cái gì là tôi, là của tôi trong này, tất cả đồ mình đang dùng không có gì của mình, đến cái thân này khi nhìn vào gương thì mắt này của ai, gương mặt này của ai, tất cả là tứ đại bất tịnh, vì tham muốn máu thịt, phèo phổi, tinh huyết nên mới có tướng hình của nghiệp này nên không có gì là tôi, là của tôi. Như vậy mới thoát ra khỏi sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn và hành thủ uẩn, tổ hợp nào mình cũng dính cứng chắc trong đó nên sự tu học của chúng ta chỉ mới nhìn thấy và nhiếp phục, còn chúng ta vẫn chưa thoát ra được nhưng hướng thoát ra phải được nuôi dưỡng. Cho nên tu trong suy nghĩ này rất đặc biệt, mình muốn nấu món này mà người ta không chịu thì lúc đó ra sao? Mình suy nghĩ như vầy mà người ta không chịu, người ta suy nghĩ khác thì lúc đó ra sao? Phải thường tác ý vì tác ý trí huệ mới sanh.
Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành. Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, Ðáng Ðược Ăn)
Nếu không có suy nghĩ hoặc không nói ra thì không ai biết mình nghĩ cái gì, có nói ra thì người ta mới biết và mình nghĩ cái đó là nghĩ về ngũ uẩn cho nên phải khéo tu trong suy nghĩ. Bây giờ có suy nghĩ già cả rồi, bệnh tật học mệt mỏi quá, học chậm hơn người ta, gần chết rồi nên học để có chút vốn liếng để kịp chuyến đò nếu không ở lại, tác ý như vậy để làm tinh cần, tinh tấn. Chuẩn bị làm việc thì muốn nghỉ, làm việc mới xong thì mệt nên muốn nghỉ dưỡng còn người tinh tấn thì chuẩn bị làm việc không có giờ tu nên giờ phải tu học, mới làm việc xong mất giờ tu nên giờ phải tu, đi xa cũng vậy, mới bệnh hay bệnh mới hết, hoặc không có đồ ăn cũng vậy, tất cả đều do tác ý, suy nghĩ làm cho mình tinh tấn và suy nghĩ làm cho mình lười biếng. Thường mình hay chọn suy nghĩ nào? Có một vị hỏi Minh Thành sợ trở thành người vong ơn bội nghĩa với thầy, thấy đúng Chánh Pháp rồi nhưng theo thì bỏ thầy nên sợ trở thành người vong ơn bội nghĩa, Minh Thành nói mình là đại vong ơn bội nghĩa vì bỏ hết mấy chục người thầy, những gì đưa đến tham ái, dính mắc, ràng buộc thì phải nỗ lực đoạn tận những thứ đó.
Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VI. Ðoạn Tận)
Như vậy niềm tin của mình chưa đủ đối với Chánh Pháp, nếu đủ rồi mình có thể bỏ cả sinh mạng này để thực hành Chánh Pháp, một khi niềm tin đủ thì chính niềm tin đó trở thành sức mạnh, lúc nào mình cũng chiêm nghiệm, suy nghĩ, thực tập về Pháp, tâm mình sẽ chuyên chú vào đó, trí huệ của mình sẽ rực sáng, đó là ngũ căn, ngũ lực, tín – tấn – niệm – định – huệ. Một khi người đã thành tựu được lòng tin thì lòng tin đó sẽ trở thành sức mạnh để tiến tới sự suy niệm, thực hành hoài không bao giờ quên, suy niệm này làm tâm mình tập trung tất cả tâm ý thì gọi là định, một khi đã định thì trí huệ rực sáng, năm căn cứ địa này làm thành năm sức mạnh vĩ đại của người tu, ngũ căn, ngũ lực, lòng tin, sự nỗ lực, nhớ nghĩ, tập trung tâm ý và trí huệ. Người nào đầy đủ ngũ căn cũng thành tựu bậc A-la-hán, cho nên khi mình đang do dự không biết nên chọn cái nào là lòng tin chưa đủ. Các Phật tử muốn lên núi, muốn ở tu mà chưa dám là do tín chưa đủ, một khi đủ sẽ bỏ hết mọi thứ. Cuộc đời này bây giờ đầy sự hiểm nguy, lại gần mình ho một cái là nguy cơ mất mạng trước mắt, bản chất cuộc đời này là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không. Đó là mình tác ý, mọi thứ đều phải tác ý, ý hành hoặc khẩu hành và thân hành, viên mãn như vậy là thành tựu. Phải tác động tâm ý theo Chánh Pháp chứ đừng suy nghĩ theo hướng thường tình, bà Năm bây giờ đã thành cát bụi, thành hư không, sự thật rõ ràng trước mắt mà không chấp nhận vì bị vô minh và tham ái che đậy, vô minh là bóng tối, sự yêu thích che đậy và người ta sống một cuộc đời mù lòa, vất vưởng, lẩn quẩn không có lối ra, vẫn biết là khổ nhưng lại cam chịu cái khổ đó. Con ngồi đây với đại chúng nhưng có thể sáng mai không dậy nữa, cái bàn này sẽ trở thành bàn thờ, phải suy nghĩ như vậy mới có thể từ bỏ những suy nghĩ chấp thủ, dính mắc, những suy nghĩ mê muội, ngu mê. Làm gì có ngày mai? Có thể tối nay chúng ta không dậy nữa, cho nên hãy sống hết mình trong giây phút hiện tại, làm được điều gì thiện lành, phụng sự Tam Bảo, giúp đỡ mọi người thì hãy làm hết tất cả khả năng, biết đâu ngày mai là kiếp sau của chúng ta vì không có gì bền vững, kiên cố, thật sự an ổn trên cuộc đời này, hoàn toàn không có. Đây là món đồ làm bằng gốm dễ tan vỡ, đừng nghĩ một con người như vậy là kiên cố.
Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Một em bé mới ba tuổi mà chết vì đột quỵ, điều đó cho thấy các hành là vô thường, các hành là không kiên cố, các hành là bất an, là đáng lo lắng và sợ hãi. Chúng ta đang ở trong chỗ rất hiểm nguy mà lại không biết lo lắng vì chúng ta đã mù từ khi mới sanh, mù trong trăm ngàn vạn kiếp, con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là mù lòa, những suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức đều mù lòa. Chúng ta sống trong bóng tối như vậy lại không đi tìm cầu ánh sáng, phải tha thiết chân thành, thậm chí đem cả thân xác này đánh đổi để tìm cầu Thánh Pháp. Đừng tiếc thời gian, công sức, thân xác này, hãy dấn thân đem hết tất cả tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực để tìm ra mục đích tối thượng của nhân sinh là gì, nếu không chúng ta sẽ sống sai chết mộng, chúng ta làm chỉ toàn những chuyện vô ích, hại mình hại người, khổ mình khổ người. Chúng ta nói vì mọi người, tôi giúp mọi người, điều này có thật sự là vậy không hay vì bản ngã, danh lợi, sự phô trương. Không được những cái đó thì đau khổ, sầu bi ưu não và chúng ta lòng vòng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, cứ trôi nổi, chìm đắm trầm luân, quanh quẩn trong hiểm họa vì luân hồi này là hiểm họa. Chúng ta chỉ nhìn thấy mấy chục năm vừa qua chứ không nhìn thấy được vô thỉ là luân hồi này, các ông đã đau khổ, các cô và chúng ta đã đau khổ vì thân thể tay chân đổ máu, chúng ta đã đau khổ vì chồng chết, con chết, cha mẹ chết… chúng ta đã đau khổ vì tai nạn, hoạn nạn trong vô số vô biên kiếp chứ không chỉ một kiếp này, chúng ta đã từng bị sỉ nhục, chửi mắng, khinh khi ngàn vạn lần, chúng ta đã từng tham dục, ái dục triệu tỉ lần vẫn không thỏa mãn, chúng ta đã từng thèm ái, ăn khắp hành tinh cũng vẫn còn thèm thuồng, đói khát, chúng ta đã đi tất cả tứ đại hải dương, đi khắp năm châu bốn biển trong vô lượng vô biên kiếp mà giờ vẫn còn chạy, còn tìm kiếm hoài. Vì vậy hãy lắng dịu hết đi, đây là sự an tịnh, đây là sự thù thắng, tức là tự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham Niết-bàn.
Làm sao chúng ta có thể dừng yên (tịnh chỉ) tất cả các suy nghĩ? Không phải nói không nghĩ là không có bất kì suy nghĩ gì mà là dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ, dùng chánh tư duy diệt tà tư duy. Dùng suy nghĩ bất tịnh, nhơ nhớp để dẹp bỏ suy nghĩ đẹp đẽ, ham muốn, đánh đuổi hoài như vậy thì suy nghĩ cho rằng sạch đẹp đó không còn nữa, bứng tận gốc rễ. Khi đi vào dòng Pháp này rồi mới thấy không thể tưởng tượng được trí huệ của ngài, lấy độc trị độc, gậy ông đập lưng ông, chỉ có dùng suy nghĩ mới dẹp được suy nghĩ. Lấy ví dụ thực tế ngoài đời, khi hai người mới quen nhau ai cũng nghĩ về cái tốt của người kia, có sai cũng nghĩ người đó đúng, chính vì phi Như ý tác ý như thế nên mới cưới hỏi rước về, về ở chung thì lộ ra mặt thật, lộ ra những cái xấu, đến khi không chịu nổi thì trong suy nghĩ của họ không còn những cái tốt đẹp lúc xưa mà chỉ là những thứ xấu xa, tiêu cực, vũ phu nên họ ly dị, từ bỏ, chấm dứt, "đường anh anh đi, đường tôi tôi đi. Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi" là đoạn tận. Tức là trong suy nghĩ của họ không còn suy nghĩ vẹn toàn, mến, tốt như lúc trước nữa mà chỉ còn suy nghĩ xấu nên chấm dứt, ly tham, dập tắt mọi thứ là Niết-bàn. Trong tâm mình cũng giống như vậy, tức là dùng suy nghĩ của chánh trí để phá suy nghĩ của vô minh, tham ái và chấp thủ, như vậy mới thấy tầm quan trọng của sự tác ý. Còn một suy nghĩ cho rằng đây là đẹp, là hấp dẫn thì mình sẽ còn bị cái đó trói cột, còn bị đau khổ, ràng buộc, hệ lụy với nó, còn bị khống chế, chinh phục, áp đảo và mình còn làm nô lệ cho nó. Qua đây chúng ta mới thấy phương pháp Như lý tác ý của Đức Phật rất khủng khiếp, tức là đuổi bản ngã để đưa vô ngã vào, đuổi cái sạch để đưa bất tịnh vào, đuổi cái thường bằng cái vô thường.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, X. Được Chấm Dứt)
Chánh quán thân xác này, đời sống là vô thường, khổ, vô ngã, phiền não, khổ đau, bứng gốc suy nghĩ đời sống này là đẹp, vui sướng, hạnh phúc, khi suy nghĩ này không còn nữa thì không đeo bám vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, vì trong suy nghĩ có hình ảnh, có cảm giác, có rõ biết nên tuy chia ra từng cái nhưng trong một cái có những cái còn lại. Khi đó sự nhàm chán, ly tham sẽ sanh khởi, làm cho tịnh chỉ tất cả các hành, tức là không còn khao khát, thèm muốn, tìm tòi nữa thì không còn suy nghĩ gì nữa, đây là chỗ tối thượng. Tức là dùng suy nghĩ chánh kiến đuổi suy nghĩ tà kiến cho đến khi tà kiến dẹp hết thì tà kiến sẽ an tịnh vì tà kiến không còn nữa thì chánh kiến sẽ bình lặng, như một người cầm gươm đao đánh giặc, khi giặc không còn nữa thì gươm đao cũng được yên lặng theo, cho nên chánh tư duy làm xong nhiệm vụ của nó thì đưa đến chánh định, không còn phải mệt mỏi, cực khổ nữa, không cần phải vận dụng tác ý nữa mà sẽ vô vi thái bình, dứt đau bệnh, hết chiến tranh là bậc A-la-hán nhưng giờ chỉ cần là bậc Tu-đà-hoàn cũng tốt lắm rồi, tức là trong suy nghĩ xác quyết chắc chắn từ nay trở về sau bất thối chuyển, không còn lui sụp nữa. Bây giờ tu là đuổi ác bất thiện pháp trong suy nghĩ cho đến khi tịnh chỉ tất cả các hành, từ bỏ tất cả sanh y. Sanh y là chỗ dựa của tái sanh, tại sao có chỗ dựa cho tái sanh? Vì cái hành còn đeo bám thọ, tưởng, nhận thức, còn yêu thích có thân giống vầy nữa thì đó là chỗ nương dựa của tái sanh, còn giờ thấy bất tịnh, khổ đau, phiền não, không ưa thích nữa thì từ bỏ tất cả chỗ dựa của tái sanh, chấm dứt tất cả sự khát ái, không còn khao khát, ham thích nữa, đó là đoạn diệt, Niết-bàn. Không sản sanh ra những cảm giác, hình bóng, nhận thức theo vô minh nữa mà xuất ly khỏi ngũ uẩn, đó mới gọi là giải thoát trong đạo Phật, nghĩa là trong suy nghĩ không còn bất kì suy nghĩ nào ham thích, tham đắm trong năm uẩn nữa nên tất cả chỗ dựa của tái sanh bị sụp đổ, sự suy nghĩ này không còn hướng đến đối tượng nào để dục ái tham, không còn sân với ai, vô minh và si ám được phá trừ, bản ngã không còn, đã thấy được thực tướng của ngũ uẩn là vô ngã, không gì là tôi, không gì là của tôi thì tất cả những căn cứ địa, hang ổ, thành trì, những chỗ dựa để đời sống tiếp tục trong vô minh, tham ái, chấp thủ, sanh già bệnh chết hoàn toàn bị sụp đổ.
Ðây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (V) (36) Thiền)
Con đi tu ba mươi năm bây giờ con mới hiểu được hai chữ "giải thoát" thật sự trong đạo Phật, đó là không còn trở lại trong dòng ngũ uẩn nữa, Đức Thế Tôn và các bậc Thánh A-la-hán là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người, tuy rằng các ngài mang thân xác con người nhưng đó là đời sống cuối cho nên các vị vua trời, Phạm Thiên, chư Thiên, tất cả các chúng sanh trong bao nhiêu thế giới đều quy tụ đến lạy bậc đại đạo sư. Các ngài xem tấm thân này là thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, các ngài hoàn toàn chấm dứt hết tất cả khái át trong ngũ uẩn nên không còn cái gì có thể làm các ngài đau khổ, đó là bất động tâm giải thoát, tâm giải thoát là khi tâm ra khỏi khát ái, tuệ giải thoát là tâm hoàn toàn diệt tận vô minh, đó là hai quả của phá vô minh và khát ái vì tâm bị khát ái trói cột nên không được tự do, còn giờ đã cắt đứt khát ái nên tâm được giải thoát. Trong truyện Aladin và cây đèn thần, khi lấy tay chà vào thân cây đèn sẽ có luồn khói bay lên tỏa ra, một vị thần xuất hiện sau đó, tâm giải thoát cũng giống như vậy, thân này là chai sành và mình bị nhốt trong đây, suốt ngày không ra khỏi cái chai này, đi đứng suy nghĩ, cảm giác, nghe nhìn cũng không ra khỏi sắc uẩn. Tuệ giải thoát là vô minh bị phá hoàn toàn, trí huệ lâu nay sáng nhưng bị bóng đêm che phủ nên không sáng lên được, lâu lâu được lóe sáng một chút. Còn giờ tất cả bóng tối bị phá tung ra, chỉ còn ánh sáng thì lúc đó là tuệ giải thoát, trở thành bậc A-la-hán. Đời sống của mình rất nhỏ bé, nhỏ hẹp so với các bậc Thánh, chỉ toàn tạo ra ác nghiệp, tham sân si, bản ngã, nghe gì cũng dục tham, tiếp xúc một chút là sân, cho nên tu để tâm giải thoát, tuệ giải thoát vì thế phải tác ý thường xuyên là liên tục. Khi nhìn thấy tượng Phật đẹp thì phải biết nó cũng là tứ đại nên không tham, không mê. Nhìn thấy cây đẹp trên núi nên muốn có nó thì đó là tham ái, "Mình lên đây cầu Pháp hay cầu cây? Cầu đạo hay cầu cảnh?", bất cứ cái gì sanh khởi không tương ưng với Pháp thì tác ý ngay, nếu tương ưng với Pháp thì nuôi dưỡng phát huy sẽ rất mau chóng thành tựu. Hai tháng con nhập thất là một ngày tác ý mười hai tiếng, chỉ trừ giờ ngồi thiền, tác ý la mắng, chỉ trích, quở trách mình. Khi ra thất mình có sự thay đổi đến bất ngờ, chỉ trong thời gian ngắn so với lúc trước tu hơn hai mươi năm là hoàn toàn khác biệt, nhận thức được chuyển đổi là nhờ sự tinh tấn, siêng năng nhìn lại thọ; tưởng; hành liên tục, tu như vậy tiến bộ rất nhanh. Khi mệt mỏi tác ý sẽ hết mệt, vì tác ý Pháp sẽ sanh ra, hồi xưa Đức Thế Tôn giảng Pháp thấy mỏi lưng vì ngài hơn bảy mươi tuổi, ngài nói Anan trải y ra để Thế Tôn nằm xuống, Thế Tôn nói với ngài Mục-kiền-liên rằng các thầy Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ rồi nên hãy tiếp tục nói Pháp cho đại chúng nghe, ngài Mục-kiền-liên nói Pháp sáng đêm.
Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Có rất nhiều bài kinh ghi lại như vậy, con nói mà không mệt là nhờ sự tác ý, giúp cho mình phá được giới hạn bản thân. Những giới hạn trong người mình sẽ bị phá vỡ nhờ tác ý vì mình cứ nghĩ không làm được là suốt đời mình sẽ không bao giờ làm được, còn nếu nghĩ phải làm được, sẽ làm được thì tất cả thọ; tưởng; hành đều nghe theo và mình sẽ làm được. Đừng suy nghĩ những cái nhỏ hẹp, thường tình mà hãy nghĩ những điều rộng lớn tương ưng với bậc Thánh thì sẽ đi trên Thánh đạo, mình chỉ toàn nghĩ làm không được thì làm sao tu? Vì thế tác ý quyết định hết tất cả, cả đại tạng kinh Nikāya là sự tác ý của Đức Phật, từ sự tác ý tu tập chứng ngộ nên Đức Phật nói lên Pháp, còn giờ mình lại không dùng suy nghĩ để tu thì không thể tu được, phải tác ý mới có sự mãnh liệt, mạnh mẽ trong tu tập. Đừng yếu đuối, đừng nhu nhược, từ cái cao thượng mới có thể đạt được cái cao thượng, không phải cái hạ liệt mà có thể đạt được cao thượng.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Tại sao người ta có thể ngồi thiền hai tiếng là bình thường ở Thiền Viện Trúc Lâm? Còn mình ngồi mới nửa tiếng, bốn mươi lăm phút là "chắc tôi chết", như vậy làm sao có thể tiến tu? Có những vị có thể ngồi thiền bảy ngày bảy đêm, có nhiều vị tâm sự ngồi thiền đau quá nên tác ý "tao cho mày chết luôn" thì tự nhiên lát sau hết đau, an tịnh trở lại và ngồi thiền được tăng tiến, nếu không tác ý sẽ thấy đau rồi bỏ không ngồi thiền nữa, đó là ái tấm thân này. Chúng ta phải để ý tu tập trong suy nghĩ sẽ làm chúng ta xuất cách, vượt ra cung cách bình thường không còn là người tầm thường nữa, nếu không suốt đời cũng không có gì thay đổi. Khi tác ý trí huệ sẽ sanh, dũng lực, tinh tấn, mạnh mẽ sanh khởi trong thân tâm, khi buồn ngủ mà tác ý sẽ mạnh mẽ lên, còn ngồi thiền, nghe pháp mà cứ gục lên gục xuống vì buồn ngủ thì làm sao thành tựu? Con pháp đàm tám tiếng, có khi nói chuyện với Hòa Thượng mười tiếng đồng hồ không biết mệt, nói xong vẫn bình thường, vẫn an lạc, đó là Pháp hỷ. Vì thế phải nhớ tác ý để bản thân vượt ra khỏi giới hạn, từ đó siêu phàm nhập Thánh, chuyển mê khai ngộ. Phải để ý trong lúc đi đứng ngồi nằm đều phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, khi thấy dục tham sân, năm triền cái sanh khởi thì phải tác ý đánh đuổi thì từ từ sẽ đổi đời, không cần đợi kiếp sau mà ngay trong đời này mình sẽ trở thành con người khác, không còn là con người lúc trước mà là con người của pháp, của trí, tuệ, minh./.