TRÙNG TUYÊN THÁNH ĐIỂN NIKAYA 20 ( 11.09.2024)
TRÙNG TUYÊN THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 20
(11/09/2024)
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên Thánh điển và chia sẻ cảm nhận PAGEREF _Toc213486755 \h 1
1.Các Lễ Uposatha – Tăng chi bộ - Tập 1 (Trích đoạn) PAGEREF _Toc213486756 \h 1
2.Nhất dạ, hiền giả - Trung bộ kinh PAGEREF _Toc213486757 \h 3
3.Không phải của các ông - Tương Ưng bộ kinh - Tập 3 PAGEREF _Toc213486758 \h 6
4.Cội Gốc của Đau Khổ - Tương Ưng bộ - Tập 3 PAGEREF _Toc213486759 \h 9
5.Niệm xứ - Trung Bộ 1- Bài 10 PAGEREF _Toc213486760 \h 10
6.Mahànàma - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 5 PAGEREF _Toc213486761 \h 12
7.Mặt trời - Tăng chi bộ - Tập 3 (Trích đoạn) PAGEREF _Toc213486762 \h 16
8.Kinh Pháp Cú-Phẩm Thế Gian PAGEREF _Toc213486763 \h 18
II.Sách tấn, phát nguyện và biết ơn PAGEREF _Toc213486764 \h 21
Thầy Thiện Huệ: Con kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên Chư tôn thiền đức tăng ni cùng toàn thể các bậc Hiền trí. Chiều nay đạo tràng chúng ta có một buổi Trùng Tuyên Thánh Điển, tuyên đọc lại những lời Đức Phật dạy khi Ngài còn tại thế, tức là đọc lại những bài kinh trong tạng kinh Nikāya. Mỗi vị sẽ trùng tuyên lại một bài kinh và chia sẻ chúng ta sẽ hiểu như thế nào về bài kinh chúng ta vừa đọc. Sự tu học của chúng ta đều nương tựa vào Pháp, nương tựa vào lời dạy của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Đức Phật là con mắt của Pháp, là Pháp chủ, là Pháp bổn, là gốc của Pháp. Ngoài Đức Phật ra không có người thứ hai có thể sánh ngang hàng, ngang bằng, về sự giác ngộ, về trí tuệ, về phước báu, công đức, thiền định.
Chiều nay đầy đủ nhân duyên lành đại chúng chúng ta bằng tất cả tấm lòng chân thành, cung kính, hoan hỷ, hân hoan trong Pháp, để chúng ta được trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật. Nhờ đó, hiện tại tất cả các hiền trí trong đạo tràng được lợi lạc và tất cả các hành giả trong đạo tràng ở khắp mọi nơi cũng được lợi lạc. Thậm chí cho đến Chư thiên và loài người khi được nghe chúng ta trùng tuyên lại những lời Thánh điển, Thánh ngôn, Thánh pháp cũng sẽ lợi lạc rất nhiều. Đây là lợi ích, hạnh phúc, an lạc, lâu dài cho số đông Chư thiên và loài người. Vào giờ này xin mời tất cả các bậc hiền trí bắt đầu trùng tuyên Thánh điển.
Trùng tuyên Thánh điển và chia sẻ cảm nhận
Các Lễ Uposatha – Tăng Chi Bộ - Tập 1 (Trích đoạn)
Thầy Tín: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cung kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên Chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí. Hôm nay đầy đủ nhân duyên được trùng tu Thánh điển, con xin trùng tuyên lại bài kinh Các Lễ Uposatha – Tăng Chi Bộ - Tập 1 (Trích đoạn)
Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh ? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi ? Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật : "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn." Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.
Con xin chia sẻ sự hiểu biết hạn hẹp của con trong bài kinh này, trong ngày lễ Bố Tát các Thánh đệ tử niệm Phật, nhớ Phật, quán tưởng đến Phật trong ngày trai giới làm cho tâm được tịnh tín, dựa vào dòng Thánh làm cho hoan hỷ, các phiền não được đoạn tận.
Niệm Phật là nhớ đến những lời Phật dạy, quán tưởng đến lời Phật dạy và thực hành theo lời Phật dạy. Đức Phật là ai? Ngài sinh ở đời và lớn lên trong đời này, Ngài tự mình thấy được những cấu uế của tham sân si, bản ngã và tự mình tu tập để thoát khỏi con đường của khổ đau. Ngài sinh ra trong đời, lớn lên trong đời nhưng không bị đời uế nhiễm vì vậy chúng ta khi nhớ phật, niệm Phật là phải nhớ mình. Chúng ta phải tu tập để đoạn tận được tham sân si, ngã mạn để thoát khỏi khổ đau, giống như Đức Phật
Chúng ta còn mãi khổ đau vì chúng ta không nghe lời Phật dạy như trong bài kinh Sadini trong Tương Ưng bộ, Đức Phật nói người nào không nghe ta người đó sẽ đau khổ dài dài và trong kinh V dụ tấm vải, Đức Phật nói: “Xưa và nay, ta chỉ nói về khổ và con đường diệt khổ”. Và sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, nên khi niệm Phật, nhớ Phật, là phải từ bỏ thân năm uẩn này, từ bỏ thân bất tịnh và khổ đau, từ bỏ những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng, những nhận thức sai lầm trong vô minh, thì chúng ta sẽ thoát khỏi khổ đau. Niệm Phật là niệm nhớ đến tâm thanh tịnh vô lượng, từ bi hỷ xả, rộng lớn của Đức Phật. Người con Phật thì không được sân, như trong bài kinh Ví dụ cái cưa, Đức Phật nói rằng, dù có bị người lấy cưa, cưa chân tay ra thành nhiều mảnh cũng không được sân giận.
Quán tưởng đến Phật, nhớ đến lời dạy của Phật thì phải thực hành theo, còn chỉ nhớ trên hình tướng, sắc tướng thì không đem lại lợi lạc gì nhiều, ví dụ như Tôn giả Vaskali nhớ đến Đức Phật trong hình tướng sắc thân, Đức Phật liền quở trách. Ngài dạy rằng: “Ai thấy Pháp người ấy thấy ta, ai đang thấy ta là người ấy đang thấy Pháp”. Chúng ta thấy Pháp là quán tưởng đến Đức phật, quán tưởng đến Pháp là quán tưởng đến Pháp thân ngũ uẩn và khổ đau cũng nằm ở đó, từ bỏ sắc thân năm uẩn và thực hành theo lời Đức Phật dạy sẽ đem lại nhiều lợi ích.
Khi chưa biết niệm Phật đúng cách con cũng niệm trong mê mờ, khi đã hiểu mỗi khi niệm Phật con quán tưởng đến lời dạy của Đức Phật, con phát nguyện rộng lớn mạnh mẽ, nhất định phải nhiếp phục tham sân si, đoạn trừ dục ái, không để nó lôi kéo. Mỗi lần niệm Phật tâm con được mạnh mẽ với những lời nhắc nhở, tâm con được an tịnh, phiền não giảm dần, thật là lợi lạc cho con và mỗi khi nhớ đến Sư Phụ, con quán tưởng đến lời Sư Phụ dạy và con thực hành theo tâm hiền, sám hối diệt ngã, nhiếp phục cảm thọ, biết ơn và nhớ ơn, con an trú vào trong sự thực hành, thấy được sự lợi lạc, nếu không có sự thực hành con đã xuống núi không có cơ hội được ngồi ở đây hôm nay. Đó là sự lợi lạc khi quán tưởng tác động để nhớ Phật, nhớ lời Sư Phụ dạy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nhất Dạ Hiền Giả - Trung Bộ Kinh
Thầy Pháp Định: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đệ tử con cung kính trên Sư Phụ tôn kính, con cung kính trên Chư tôn Thiền Đức Tăng, Chư tôn Thiền Đức Ni, cùng các chư vị hiền trí có mặt tại nơi đây. Nhân duyên hôm nay được Sư Phụ chỉ dạy, vì lòng thương tưởng, vì lợi ích cho chúng sanh, Sư Phụ cho chúng con được trùng tuyên thánh điển Nikāya. Trong khuôn khổ của buổi trùng tuyên này, con xin được trùng tuyên là một đoạn trong bài Nhất Dạ Hiền Giả - Trung bộ kinh
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt âm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Trú như vậy nhiệt tâm
Đêm này không mệt mỏi
Xứng gọi nhất dạ hiền
Bậc an tịnh trầm lặng.
Khi con mới lên đây và lần đầu tiên con được đón một cái Tết ở Linh Quy Pháp Ấn này. Những ngày chuẩn bị Tết, chúng con chuẩn bị những cành đào, gắn hoa giả, chuẩn bị những cái cây tre, cây trúc về trang trí. Sau khi tết đi qua, vào buổi tuyết pháp đầu tiên Sư Phụ hỏi: “Tết đâu rồi? thời khắc đón giao thừa đâu rồi?” Con cũng nhớ đến câu nói “Có hai ngày trong 365 ngày, ta không thể làm được gì, dù ta là ai, địa vị ta như thế nào, ta có tài sản, quyền lực như thế nào. Đó là ngày hôm qua và ngày mai”. Con suy tư về điều này rất nhiều và con chiêm nghiệm thấy, ta sẽ có một ngày mai tốt đẹp nếu ngay ngày hôm nay ta làm những điều thiện lành, những điều tốt đẹp thì ngày mai ta đã có một ngày hôm qua tốt đẹp và ngay lúc này, ta làm được điều thiện lành tốt đẹp thì ngày mai sẽ là ngày tốt đẹp với ta, cũng giống như việc tu tập hôm nay của chúng, không cần phải trông chờ trong tương lai nó sẽ thế nào nếu mà ngay thời khắc bây giờ chúng con tu học với cả một tấm lòng cả một sự nhiệt tâm một sự tinh tần một sự dũng mãnh một sự tinh tần.
Con nhớ đến bài kinh Samaddhi – Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1 (Trích đoạn):
Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
Chỉ có an chú ở pháp hiện tại thì chúng ta mới được an lạc hạnh phúc lâu dài
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt âm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Đời sống của chúng sanh rất là ngắn ngủi cho nên chúng ta không thể chờ đợi, như Sư Phụ nói không có ngày mai, không có lần sau, chỉ có ngay bây giờ tại chỗ này và ta có thể làm được gì thì ta sẽ cố gắng làm điều đó. Khi con được tu tập trong dòng Pháp này, con luôn luôn chiêm nghiệm về sự tu học của một người mới như con thì sẽ lấy cái gì để làm căn bản, con luôn tâm niệm đến chữ thiện. Những thiện Pháp dù là rất là nhỏ, những thiện Pháp nhỏ không có được bỏ qua, những cái ác Pháp nhỏ thì không có được làm. Vì vậy, chữ thiện luôn luôn được con quán chiếu, đưa vào trong đời sống tu hành, hay trong lao tác hàng ngày của bản thân. Và con sẽ cố gắng làm như Sư Phụ nói trong buổi sáng hôm qua, ngay cả sự hiểu biết về cái thiện thì cũng là một cái quá trình. Có khi đến chết, mình cũng chưa hiểu được một cái chữ thiện lấy chân chính. Vì vậy, con sẽ cố gắng bằng cái sự tu học của mình, bằng cái sự học hỏi và lắng nghe những lời chỉ dạy của Sư Phụ, chư tôn thiền đức và các bậc hiền trí để cho mình luôn luôn có những cái nhìn chân chính, nhìn đúng đắn trong cái chữ thiện này để thực hành, mang lại lợi ích cho mình, lợi ích cho người, lợi ích cho chúng sanh.
Kính thưa Đại chúng! Trên đây là một vài những lời chia sẻ của con trong bài trùng tuyên Thánh Điển “Nhất dạ hiền giả” vì sự tu học còn mới mẻ trong Pháp và Luật. Vì chưa nhìn thấy rõ thân tâm của mình trong lúc trình Pháp chia sẻ, không khỏi mắc những lỗi lầm. Con kính mong chư tôn thiền đức, các bậc hiền trí, thương tưởng chỉ dạy thêm cho con.
Không Phải Của Các Ông - Tương Ưng Bộ - Tập 3
Sư cô Ấn An: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngũ uẩn con giả danh Ấn An, kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên các chư vị tôn giả, cùng toàn thể các chư vị hiền trí hiện đang có mặt tại nơi này. Con xin phép được trùng tuyên bài kinh Không phải của các ông - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 3.
Nhân duyên ở Xa-Và-Thi, cái gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Và này các Tỳ kheo, cái gì không phải của các ông, sắc. Này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Thọ này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Tưởng này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Các hành này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Thức này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thông qua bài kinh Ngũ uẩn con mới vừa trùng tuyên lại. Trong đó Đức Phật dạy, sắc này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Theo sự hiểu biết của con, thì hiện tại sắc thân của mọi người ngũ uẩn đang có mặt ở đây. Sắc thân này chỉ do bốn đại tác thành. Đó là đất, nước, gió, lửa. Do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng nên có sắc thân này. Con muốn nói đến riêng phần sắc thân này để cho tất cả những ngũ uẩn hiện có nơi đây dễ nhận diện hơn. Thật ra sắc là bao trùm tất cả vạn vật. Cảnh vườn trúc nơi đây cũng là sắc, cây cỏ hiện đang mọc ở dưới chỗ ngồi của chúng ta cũng là sắc. Vì chúng ta biết cái sắc này, nó vô thường, khổ, biến hoại, không tồn tại. Nó sẽ dễ tan, dễ vỡ. Nếu như chúng ta cứ chấp vào cái sắc này thì chúng ta dễ dàng đau khổ. Có những người thậm chí từ lúc trẻ cho đến lúc trung niên và về già, không chấp nhận sắc này nó bị già, sắc này nó bị bệnh, sắc này nó sẽ bị chết. Chính vì không chấp nhận nên có nhiều người ở lứa tuổi già nhưng họ vẫn muốn mình trẻ mãi với thời gian. Đức Phật đã dạy điều này không thể xảy ra, không thể nào có được
Cho dù có đi thẩm mỹ viện để cắt mắt, cắt môi hay là căng da, đó chỉ là một thực tế hiện tại, chỉ được tạm một lúc mà thôi. Sự già luôn luôn, lúc nào cũng đến với cái thân sắc này. Chính vì nhờ con học được nhận diện ngũ uẩn, con mới hiểu được sắc thân này là vô thường, tạm bợ, rỗng không. Nó chỉ là một cái thân tứ đại, một bộ xương được bao bọc bởi da. Nên chả có cái gì là đẹp đẽ, chả có gì là bền chắc, chả có cái gì để cho mình luyến tiếc cái sắc này. Bởi vậy Đức Phật nói, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó, từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc và an lạc. Điều đó là con có chiêm nghiệm trên cái thân thể tứ đại của ngũ ẩn con và thấy đúng như vậy.
Thọ cũng vậy, thọ này cũng không phải của bản thân ngũ uẩn con. Mỗi lần cảm thọ sinh khởi lên, vui, buồn, giận, hờn, thương ghét, khi nhận diện ngũ uẩn, con quay vào để tự nói, cảm thọ này chỉ là cảm thọ mà thôi, nó có phải mình đâu mà phải lệ thuộc vào đó, để rồi mình phải bận tâm, phải tức, phải giận, phải buồn, rồi có thể mình sẽ làm cho những người xung quanh, quynh đệ, những người thân đau khổ bởi một lời nói, một hành động, một cử chỉ. Sau khi học, nghiền ngẫm, con thấy đúng. Thọ này không phải là của mình, vậy mình hãy từ bỏ nó đi. Từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho bản thân của mỗi ngũ uẩn chúng ta.
Tưởng, tưởng này cũng không phải là của mình, đôi lúc, có nhiều vị làm một vấn đề gì đó, con hỏi tại sao các vị lại làm như vậy? Thì có nhiều vị hiện giả trả lời với con là con tưởng nó như thế này, con tưởng nó như thế kia. Chính vì cái tưởng đưa mình đi rất xa vấn đề thực tế của cuộc sống hiện tại. Đức Phật có dạy trong bài kinh “Tưởng điên đảo” trong vô thường, mình cứ tưởng nó thường, trong đau khổ mà mình tưởng nó là lạc, thì cái đó là phi lý, không đúng. Tự vì sao, con đã có được học, có được sự hiểu thì những cái tưởng đó chỉ là tưởng, không có phù hợp với thực tế. Những gì mình đã học, mình đã hiểu, đối với các hành, cũng vậy. Tại vì khi mình có cái tưởng, thì cái sự suy nghĩ của mình, nó cũng chạy chung quanh với cái tưởng đó, để mình suy nghĩ. Mà cái suy nghĩ này, nó không phải là của mình. Bởi vậy mình hãy từ bỏ nó, từ bỏ những cái suy nghĩ ác, từ bỏ những cái suy nghĩ bất tiện. Hãy nghĩ làm sao ngũ uẩn này học được, hiểu được, hành được Pháp đã được Sư Phụ hướng dẫn, cũng như các quý thầy, quý sư ni hướng dẫn, thì mình phải dựa trên những cái pháp hành, pháp học đó, để thực hành, suy nghĩ làm sao, để có thể thoát ra được cái ngũ uẩn này, để không phải lệ thuộc vào ngũ uẩn này.
Ngũ uẩn này đã làm mình rất là đau khổ, rất là bi lụy. Có nhiều người cũng một chút suy nghĩ quẩn mà nghĩ đến cái chết, tự vẫn, chết đâu phải kết thúc, là hết đâu. Những cái chết như vậy sẽ đi theo mình miên man. Có những người thắt cổ, uống thuốc độc, vì suy nghĩ quá nông cạn, từ chỗ suy nghĩ nông cạn này, sẽ đẩy đưa mình vào vòng luân hồi triền miên, không lối thoát.
Đức Phật dạy, cái gì không phải của mình, thì mình hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc và an lạc. Điều đó con thấy rõ ràng như vậy. Tức là mình biết được những cảm thọ, những hình bóng, những suy nghĩ, nhưng mà chưa chắc gì, những cái đó là đúng. Giống như khi mình tận mắt thấy, tai nghe, rồi mình suy nghĩ, nhưng mà cái suy nghĩ của mình, nó ở cái nông cạn, nó ở một mức độ, chứ nó không được bao quát, nó không được bao trùm, thì thành ra mình sẽ có những cái suy nghĩ không đúng đắn, không đúng cái đường lối chánh pháp, không đúng theo những lời của Đức Phật dạy. Chỉ có theo những lời của Đức Phật dạy trong kinh, mình mới có thể nhìn đúng, toàn diện, mới đưa lại an lạc và hạnh phúc cho tất cả.
Bài kính này, do sức hiểu của con còn nông cạn, nên con có thể phân tích, có thể hiểu như vậy và chia sẻ như vậy với tất cả các ngũ uẩn hiện đang có mặt ở đây. Nếu trong quá trình chia sẻ, con có còn nhiều điểm khiếm khuyết, con xin mong trên Sư Phụ, trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô, cùng tất cả các vị hiền trí có thể hướng dẫn, chỉ thêm cho con, để mỗi một ngày, con sẽ tu học được tiến bộ nhiều hơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
…..
Cội Gốc của Đau Khổ - Tương Ưng Bộ - Tập 3
Sư cô Hương Nhân: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác. Con chân thành đảnh lễ trên Sư Phụ bậc Ân Sư Tôn Kính. Con kính bạch trên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng hiền thiện. Dạ con xin trùng tuyên bài kinh: Cội Gốc cCa Đau Khổ - Tương Ưng Bộ - Tập 3.
Nhân duyên ở Sàvatthi...
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe...
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Đây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là cội gốc của đau khổ? Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Dạ! Con xin phép được nói ý nghĩa tổng quát về bài kinh của Cội Góc Đau Khổ này. Trong bài kinh này, Đức Phật đã chỉ thẳng, nói thẳng, trong ngũ uẩn rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là đau khổ. Thì mình nắm giữ đau khổ làm gì? Chính vì vô minh, tà kiến, tà trí, cấp thủ, cho rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, nên mình nắm giữ đau khổ. Chính vì các cái nhìn, tà kiến, sai lầm, đặt tâm sai hướng, cho rằng ngũ uẩn này là thật, cho nên yêu thích tham đắm nơi ngũ uẩn, hoan hỉ với ngũ uẩn, bám víu tìm cầu nơi ngũ uẩn, để rồi bỏ hình bắt bóng, chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, làm cho mình phiền não, đau khổ, không có lối thoát, và ai tạo ra cho mình đau khổ, ai đưa đến sầu bi, khổ u não cho chính mình, chính là ngũ uẩn. Bởi vì các cái nhìn lệch lạc, sai lầm, không thấy, không biết, rõ ràng về ngũ uẩn là duyên sanh, bản chất của chúng là vô thường, khổ, hoại diệt, vô ngã, mà mình chấp thủ, nắm giữ nơi năm uẩn, nắm giữ nơi luân hồi sinh tử. Chính vì con chấp thủ ngũ uẩn, mà bây giờ con lại mang một cái ngũ uẩn được gọi là con người đang hiện diện ở đây. Vì sao mà mình sinh tử lân hồi mãi là do khác ái hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Vì khác ái yêu thích đối với ngũ uẩn, rồi đi tìm những ngũ uẩn mới. Sau khi thân hoại mạng chung, vì mình khác ái vô minh, cộng thêm với những nghiệp mình đã làm từ thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bất thiện mà chiêu cảm đến khác cõi luân hồi sinh tử, để rồi mình tái sanh vào cõi dục ái, hữu ái, phi hữu ái, và tạo ra một ngũ uẩn mới với thân tướng trang nghiêm, với chánh báo, y báo, hay một ngũ uẩn đầy khổ đau bất hạnh, phải mang lông đội sừng, hay một ngũ uẩn mới là mang thân súc sanh, hay một ngũ uẩn mới làm thay ma vất vơ vất vưởng, hay mang một cái ngũ uẩn mới làm ngạ quỷ đói, rồi mang một thân người đầy khổ đau bất hạnh, cùi hủi, mù lòa, câm điếc, câm ngọng.Tùy theo cái nghiệp lực mình đã gây tạo từ thân khẩu ý.
Khi con được nương theo trí tuệ Thánh trí ngũ uẩn, của Đức Thế Tôn từ Bậc Đạo Sư, Sư Phụ truyền dạy lại, đã giúp cho con thấy rõ sự thật về ngũ uẩn này, về thân tâm cuộc sống này, bản chất nó là vô thường, khổ, vô ngã. Chính Thánh trí ngũ uẩn đã giúp cho con thấy được cội gốc của đau khổ, và con thường xuyên tập an trú trong quán vô thường, quán bất tịnh, quán ly tham, quán từ bỏ, quán đoạn diệt, để mong rằng một ngày nào đó mình có thể ly tham, từ bỏ đối với sự yêu thích chấp thủ ngũ uẩn này. Dạ, đó là sự chiêm nghiệm của con về bài kinh Cội gốc của đau khổ này. Trong quá trình con chia sẻ, về sự học hiểu của con còn cạn cợt nên không tránh khỏi những sai sót, thiếu sót, con ngưỡng mong trên Sư Phụ, chư vị chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni vì lòng từ mẫn chỉ dạy thêm cho ngũ uẩn con. Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Niệm xứ - Trung Bộ Kinh 1- Bài 10
Giới tử Trí Bắc: Con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên Sư Phụ. Con kính bạch trên quý thầy. Con kính bạch trên quý ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể các bậc Hiền trí. Thân tứ đại con pháp danh là Trí Bắc, được sự ân trên của Sư Phụ cho trùng tuyên Thánh Điển. Con xin phép đọc bài kinh Niệm xứ - Trung Bộ 1- Bài 10.
“Này các Tỷ-kheo, đây là Con Đường Độc Nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ”. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, ở đây:
- Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Dạ! Nam Mô Phật! Sau đây con xin phép được chia sẻ về bài Kinh Niệm xứ. Trong bài kinh này, vị Tỳ Kheo sẽ quán thân, thọ, tâm và pháp. Ở phần thân gồm có niệm về hơi thở, niệm về oai nghi, niệm về hành động, niệm bất tịnh, niệm tứ đại và niệm chết ạ. Còn phần niệm về thọ thì gồm có lạc thọ, khổ thọ, không khổ, không lạc và thọ thuộc vật chất và thọ không thuộc vật chất ạ. Còn phần quán về tâm thì quán về 16 hành tướng của tâm ạ. Còn quán pháp trên các pháp thì ở phần quán thân thì có quán hơi thở. Quán hơi thở để cho mình an trú ở giây phút hiện tại và đưa tâm của mình trú ở trên thân ạ. Còn phần oai nghi thì mình sẽ quán về hình tướng và hành động là đi đứng nằm ngồi. Còn ở phần quán về bất tịnh thì quán về 32 thể trượt trên thân tứ đại để cho mình nhìn thấy rõ về sự thật của thân tứ đại này. Đều là nhờ những cái bộ phận đấy mới cấu tạo lên cái thân tứ đại này, chứ không phải là thân tứ đại này là của mình. Còn phần quán về tứ đại thì để cho mình phá hình tướng. Cuối cùng là quán về niệm chết để cho mình phá cái bản ngã và biết cái bản chất vô thường.
Từ quán hơi thở cho đến quán oai nghi, cho đến quán hành động, cho đến bất tịnh, cho đến tứ đại, quán xác chết thì là từ đấy để cho mình nhìn nhận lại quá trình thân tứ đại này, khi còn hơi thở thì nó còn mạng sống. Và cuối cùng là nó bị hủy hoại, các căn bị hủy hoại, cuối cùng chỉ còn lại xương. Ở phần quán thọ thì có phần lạc thọ, khổ thọ, thì phần lạc thọ là cảm giác dễ chịu, còn khổ thọ là cảm giác khó chịu. Còn không khổ, không lạc là không dễ chịu cũng không khó chịu. Và thọ thuộc vật chất và thọ không thuộc vật chất thì thọ thuộc vật chất là những cái tác động ở bên ngoài. Ví dụ như khi mà gặp đối duyên xúc cảnh với một người, ví dụ người ta khen mình thì lúc đấy là mình cảm thấy mình vui sướng, mình hoan hỉ. Và khi người ta chê thì bắt đầu mình sân hận, mình bực tức, mình khó chịu thì đấy là thọ thuộc vật chất. Còn thọ không thuộc vật chất là những thọ mà mình nhiếp phục được trong tự thân. Khi mà mình không còn dục ái tham sân si, chi phối điều kiện nữa, thì lúc đó thân cảm sự lạc thọ đó là thọ không thuộc vật chất.
Phần tâm thì có 16 hình tướng của tâm. Ở hai cái phần cuối này thì con cũng chưa có chiêm nghiệm sâu sắc gì nhiều thì con cũng không dám chia sẻ. Đây là sự học hỏi ít ỏi của con, con kính trình lên Sư Phụ, con kính trình lên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Trong lúc con chia sẻ Pháp mà con có mất chánh niệm hoặc con có bản ngã thì mong Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc hiền trí hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Mahànàma - Tương Ưng Bộ - Tập 5
Thầy Pháp Lực: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính trình lên Sư Phụ, con kính trình lên Quý Thầy, con kính trình lên Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trùng tuyên bài kinh Mahànàma - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 5.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
-- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?"
Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: " Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”, đối với Pháp : “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”, đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”, Vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tính bất động đối với Thánh giới, giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.
Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
-- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
-- Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con rất tâm đắc về bài kinh này, vì trong bài kinh này, ngài Mahànàma, một vị em họ của Đức Thế Tôn đã hỏi một câu hỏi rất là hay, là khi ngài đi thăm viếng Đức Thế Tôn và các vị Thánh khi trở về, thì gặp những tai nạn, cái chết đột ngột, thì lúc đó tâm hoảng sợ, nghĩ đến Phật, đến Pháp, đến chúng Tăng, tâm bị hoang mang, không nhớ đến Phật, Pháp, Tăng. Thì trong khi ấy chết sẽ đi về đâu? Thì con cũng có thắc mắc giờ mình đang tu, nhưng nếu mình chết đột ngột, thì mình sẽ đi về đâu? Thì Đức Thế Tôn có nói là chớ có sợ hãi, này Mahànàma, đừng có sợ, không ác sẽ là cái chết của ông. Do thành tựu bốn Pháp nên sẽ xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng nhập về Niết Bàn. Đầu tiên là thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật.
Thì trong Kinh Đức Phật có nói rõ là Đức Phật là gồm 10 danh hiệu là Như Lai, Bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Con thấy là khi lên đây học thì con mới biết được 10 danh hiệu của Đức Phật. Lâu nay con chỉ biết là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thôi. Và không chỉ may mắn khi biết được 10 hồng danh của Đức Phật mà trong bài Đảnh Lễ Trí Đức Như Lai thì Bậc Đạo Sư đã giảng giải 10 danh hiệu của Đức Thế Tôn. Thì con thấy mình muốn không vào cõi ác thì đầu tiên mình phải thành tựu lòng tin bất động đối với Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni với 10 danh hiệu đó nên con có lòng tin đối với Đức Thế Tôn.
Cái thứ 2 là vị Thánh Đệ Tử thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp, trước đây con cũng không biết rằng Đức Phật giảng về cái gì, nhưng khi học vào Nikāya và có thời gian đọc Đại Tạng Kinh, trong 2 bài kinh Ví dụ Con rắn và Anurudha thì Đức Thế Tôn có khẳng định là xưa và nay Như Lai chỉ nói có 2 điều khổ và con đường diệt khổ, khổ gồm có khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường diệt khổ thì chính Đức Thế Tôn khẳng định là xưa và nay Như Lai chỉ nói về Tứ Thánh Đế và trong bài kinh Các Bậc A-La-Hán thì Đức Thế Tôn cũng có nói những vị A-La-Hán Chánh Đẳng Giác nào trong thời quá khứ, thật sự như thật Chánh Đẳng Giác thì chính là Chánh Đẳng Giác Tứ Thánh Đế và những vị Phật tương lai vẫn vậy và hiện tại vẫn vậy nếu mà chứng thành Phật thì chứng ngộ Tứ Thánh Đế
Con thấy thật may mắn khi mình biết được ra rằng Tứ Thánh Đế là những gì Đức Thế Tôn dạy và trong rất nhiều bài kinh như trong bài kinh Mặt Trời thì Đức Thế Tôn cũng có nói khi nào Như Lai xuất hiện ở đời thì mới có thuyết giảng về Tứ Thánh Đế còn nếu như Lai mà không xuất hiện ở đời thì không có ai thuyết giảng về Tứ Thánh Đế và trong kinh Người Tái sinh, Đức Thế Tôn lấy ít đất trong đầu móng tay và hỏi các vị Tỳ Kheo là đất trong tay nhiều hay là đất trên quả đất nhiều thì các vị Tỳ Kheo trả lời đất trong móng tay rất ít, đất trên quả đất này rất là nhiều .Thế Tôn nói cũng vậy con người mà sau khi chết được trở lại làm người thì ít như đất trong móng tay và sau khi chết bị sinh vào ba cõi ác thì nhiều trên đất quả đất vì không thấy được Tứ Thánh Đế, nên con thấy khi biết được Tứ Thánh Đế là những gì Đức Thế Tôn đã giảng dạy thì con có niềm tin vào Tứ Thánh Đế đó là Pháp mà Đức Thế Tôn dạy, nhưng Tứ Thánh Đế là gì? là khổ, khổ tập, khổ diệt, khổ diệt đạo, nhưng trước đây con chỉ nghe nói khổ một cách chung chung nhưng trong kinh bài kinh Khổ - Tương Ưng bộ kinh, Đức Thế Tôn có nói rõ và này các Tỳ Kheo thế nào là khổ? phải trả lời là năm thủ uẩn, thế nào là năm, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, thì con mới thấy rằng có sự may mắn khi con được biết đến Tứ Thánh Đế nhưng nếu không biết ngũ uẩn thì làm sao biết được Tứ Thánh Đế, từ khổ nó mãi mãi chỉ là một bí ẩn.
May mắn khi được học về nhận diện ngũ uẩn, Sư Phụ cũng có nói Sư Phụ 30 năm tìm đạo khắp thế giới mới tìm ra được Thánh trí ngũ uẩn nên con thấy sự may mắn của mình khi biết được về ngũ uẩn, và con có niềm tin mạnh mẽ vào ngũ uẩn, không có thay đổi một pháp nào khác nếu như không được đọc kinh không được học thì niềm tin đối với Thánh trí ngũ uẩn của con không có mạnh mẽ nên con thấy rất là may mắn hạnh phúc khi biết được ngũ uẩn biết được ngũ uẩn cũng đó là Tứ Thánh Đế đó là sự may mắn trong kiếp người
Thứ ba là vì Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Chúng Tăng chính là bốn đôi tám chúng, chính là bốn thánh quả: Dư Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A La Hán và bốn quả hướng tới bốn đôi tám chúng. Trong bài kinh “Vị thuyết pháp” thì Đức Thế Tôn có nói là những ai mà thuyết pháp đi đến nhất hướng nhàm chán ly tham thì người đó mới chính là giảng đúng lời của ta. Con thấy rằng là những vị thầy nào mà phải giảng về nhàm chán ly tham thì đó mới đúng là giảng đúng lời dạy của Đức Thế Tôn. Mà nhàm chán ly tham với cái gì, chính là nhàm chán ly tham với cái khổ, khi mình nhàm chán, mình rời xa cái khổ, thì mình sẽ hết khổ và cái gì khổ đó chính là năm thủ uẩn. Chính là ai mà thuyết giảng nhàm chán ly tham đối với ngũ uẩn thì chính là làm theo lời dạy của Đức Thế Tôn, mà nếu như muốn nhàm chán ly tham với ngũ uẩn thì đầu tiên mình phải thấy được ngũ uẩn khi mình thấy rác mình mới có thể quét rác được nên con thấy thật là may mắn khi con được học về Thánh trí ngũ uẩn, trái tim của Đức Phật.
Và cái thứ tư là thành tựu tịnh tính bất động đối với Thánh giới, giới thì cư sĩ thì có mười giới, thập thiện giới, nếu tin vào những gì Đức Thế Tôn chỉ dạy giữ giới thì sẽ không bị rơi vào ba đường ác. Con rất là hoan hỉ với bài kinh này vì con thấy dù sự tu tập của mình chưa chắc chứng được thành quả nhưng dù sao vẫn có một sự đảm bảo rằng khi mình chết mình sẽ không bị rơi vào cõi ác. Đức Thế Tôn đã có nói không ác sẽ là cái chết của ông và khi mình chết mình không rơi vào ba đường ác, thì có thể sinh ở cõi trời hay cõi người để tiếp tục tu tập cho đến một ngày nào đó đi đến giác ngộ. Đức Thế Tôn có nói là xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng nhập về Niết Bàn, nên qua bài kinh này con có niềm tin mãnh liệt về Thánh trí ngũ uẩn, về Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, ngoài Phật Bổn Sư con không tin vào ai nữa, đó là những sự hoan hỉ của con trong bài kinh này. Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật.
Mặt trời - Tăng Chi Bộ - Tập 3 (Trích đoạn)
Giới tử Hiền Hạnh: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, con kính bạch trên Sư Phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc thiền trí đồng phạm hạnh. Một nhân duyên lành hôm nay con được phép trên Sư Phụ và quý thầy, quý ni sư cho phép con được trùng tuyên về bài kinh: Mặt trời - Tăng Chi Bộ - Tập 3 (Trích đoạn)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 2. - Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.
Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật. Hôm nay, con trùng tuyên bài kinh này là một sự trùng hợp, buổi trưa con được xem một video của Sư Phụ gửi sang trong nhóm xem về sự vô thường của đời sống này. Các hành ở đây Đức Phật đã chỉ dạy là sự vận hành của toàn bộ ngũ uẩn, thế giới ngũ uẩn từ vật chất đến thân tâm, thật là một lời dạy quý báu để chúng con nhìn thấy được sự thật của đời sống này mà hơn 2.000 năm nay, chúng con đã thật sự thấy được sự vô thường đó. Khi xem qua cái video đó, con thấy thật xúc động, một sự thương tâm trào dâng. Sự vô thường đối với tất cả thế giới ngũ uẩn này, từ vật chất đến thân tâm. Lời dạy của đức phật sao mà thấm thía. Con người đã sống rất tàn bạo, không sống được trong những giới mà Đức Phật đã chỉ dạy. Họ có những hành động độc ác, gây ra chiến tranh, bạo tàn, làm cho động đất, sống thần. Chỉ vì lòng tham, dù cho thiên nhiên đã ban tặng mà mình không biết gìn giữ, vì lòng tham nên mới có những sự kiện, những hiện tượng xảy ra hàng năm như vậy, con người đã đi đến đạo đức suy đồi, không còn biết hiền thiện, luôn sống trong những ác pháp, thế giới này phải gánh chịu những khổ đau như vậy.
Khi xem qua clip đó, có ai biết được vô thường đến với mình hay không? khi một chiếc xe vừa chạy đến chân cầu, thì chân cầu đã sập, chiếc xe tải đó đã lao xuống dưới cầu đó, lúc chưa chạy xe có biết được mình sẽ kết thúc cuộc đời của mình trong sự vô thường này không? những cơn lũ đi qua, cuốn đi bao người chết, đã tàn phá những ngôi làng, những gốc cây, làm đau thương cho toàn thể nhân loại, rồi chiến tranh làm đau thương, khi nhớ đến chiến tranh, thì con nhớ đến lời mẹ con dạy “con ơi, khổ nhất là chiến tranh”, vì chiến tranh, mẹ đã chứng kiến không có khổ đau nào bằng chiến tranh, chiến tranh sẽ đem lại một sự đau thương cho tất cả và chính cha con cũng đã chết trong chiến tranh. Khi con thấy chiến tranh đang diễn ra, con rất là thương tâm, có những đứa trẻ chưa đủ tuổi trưởng thành đã bắt phải mang súng ra chiến trường.
Thế giới này là như thế nào nếu ai cũng trở về tâm hiền, toàn thế giới này sẽ được an ổn và hạnh phúc. Tâm hiền này rất là quan trọng không phải đối với người tu, mà đối với tất cả toàn nhân loại “vô thường là đời sống, nay còn rồi mai không”. Nếu ai cũng trở về tâm hiền, tự bỏ con đường ác, quay về với hiền lương, con cũng mong tất cả, tất cả thân ngũ uẩn trên thế giới này gặp được Chánh pháp, nghe được Chánh pháp, hiểu được Chánh pháp, thực hành được Chánh pháp tu tập tâm hiền, từ đó thế giới này sẽ được bình an, hạnh phúc biết bao.
Đây là lời mà Đức Phật 2000 năm đã chỉ dạy cho chúng sanh, mà chúng sanh nào có biết, chỉ vì một cái bản ngã mà đã tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, rồi tất cả phải lãnh những cái quả báo như thế thật là đau thương. Trong bài kinh này, sự suy nghĩ của con chỉ được như vậy. Con kính trên Sư Phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô, và các bậc hiền trí đồng phạm hạnh chỉ dạy thêm cho con, Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật
Kinh Pháp Cú - Phẩm Thế Gian
Giới Tử Trí Dục: Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật, con kính thưa Sư Phụ, kính thưa quý sư tăng, sư ni cùng các bậc thiền trí. Ngày nay nhân duyên được Sư Phụ cho phép thì con xin trùng tuyên bài kinh Pháp Cú-Phẩm Thế Gian
Dù lợi người bao nhiêu
Chớ quên phần tư lợi
Nhờ thắng tri tư lợi
Hãy chuyên tâm lợi mình
Nỗ lực chớ phóng giật
Hãy sống theo chánh hạnh
Người chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời này đời sau
Hãy khéo sống chánh hạnh
Chớ sống theo tà hạnh
Người chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời này đời sau
Hãy nhìn như bọt nước
Hãy nhìn như cảnh huyển
Quán nhìn đời như vậy
Thần chết không bắt gặp
Hãy đến nhìn đời này
Như xe vua lộng lẫy
Kẻ ngu mới tham đắm
Người trí nào đắm say
Ai sống trước buông lung
Sau sống không phóng dật
Trói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che
Ai dùng các hạnh lành
Làm xóa mờ nghiệp ác
Trói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che
Đời này thật mù quáng
Ít kẻ thấy rõ ràng
Như chim thoát khỏi lưới
Rất ít đi thiên giới
Như chim thiên nga bay
Thần thông lượng giữa trời
Chiến thắng ma ma quân
Kẻ trí thoát đời này
Ai vi phạm một pháp
Ai nói lời vọng ngữ
Ai bác bỏ đời sau
Không ác nào không làm
Keo kiệt không sanh thiên
Kẻ ngu ghét bố thí
Người trí thích bố thí
Đời sau được hưởng lạc
Hơn thống lãnh cõi đất
Hơn được xanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ
Quả dự lưu tối thắng
Con cũng học hỏi và ấn tượng được một số triết lý trong bài kinh này, đầu tiên là con hiểu được rằng là dù tâm mình có hướng ra ngoài làm lợi lạc cho thế gian bao nhiêu thì cũng chớ quên phần là chuyên trú vào tăng thượng tâm và diệt trừ diện tận các lậu hoặc còn đang ngủ ngầm để chuyên tâm tu tập để đoạn tận và diệt tận các lậu hoặc. Điều thứ hai con hiểu được là theo nhân quả thì cuộc sống cuộc đời này thì cần phải cố gắng nỗ lực làm sao sống được trong chánh hạnh và tránh xa các tà hạnh bởi vì chỉ có sống chánh hạnh thì những cái quả mới có thể là được hưởng lạc và điều thứ ba nữa là con hiểu rằng tất cả những sai lầm trong quá khứ đều có thể được khắc phục, được thay đổi, được sửa chữa bằng các nghiệp lành, hạnh lành, cần cố gắng sống nỗ lực chánh niệm và không phóng giật. Điều cuối cùng thì con ấn tượng là dù cho thế gian này mình có làm vua, làm chúa, làm chuyển luân Thánh vương hay thống lãnh cả cõi đất này hay thậm chí được sinh vào cõi trời làm vua cõi trời cũng không thể sánh bằng một tấm vé giải thoát cho chính bản thân mình như Đức Phật đã nói rằng mọi sự hiện hữu trên thời này đều là khổ.
Con cũng còn hạn chế và sơ cơ nên cũng con cũng chỉ nắm bắt được một số điều căn bản trong bài kinh như vậy, có điều gì sai sót và còn thiếu thì mong các thầy, các cô và các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho. Con chân thành cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Sách tấn, phát nguyện và biết ơn
- Thế Tôn kều một ít đất dính trên móng tay và hỏi các thầy Tỳ Kheo, đất trên móng tay Ngày và đất trên địa cầu cái nào nhiều hơn.
- Bạch Thế Tôn, đất dính trên móng tay rất là ít, rất là ít, không thể so sánh với đất trên địa cầu.
- Này các Tỳ Kheo, con người sau khi chết, rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nhiều như đất trên địa cầu, được trở lại làm người ít như đất trên móng tay của ta.
- Bạch Thế Tôn! Tại sao như vậy, Bạch Thế Tôn, Bạch Đấng Thiện Thệ
- Này các Tỳ Kheo, phần lớn đại đa số chúng sanh sống không biết ơn, không có nhớ ơn
Có khi những bậc đại ân đức, đại ân nhân, mình coi đó là bổn phận của họ, cha mẹ có bổn phận lo cho mình, thầy tổ đem hết trái tim, hết tấm lòng trong âm thầm theo dõi, tác thành cho mình bằng tất cả trái tim, mình khó chịu, mình bực bội, thật sự Minh Thành nhức nhối tim gan, đau xót. Quý vị có nghĩ đến một người cả cuộc đời đi tìm kho báu bằng nước mắt, bằng mồ hôi, bằng sinh mạng cuối cùng, tìm ra được ngọc như ý, quỳ xuống dâng lên, cho người yêu thương nhất của mình mà người thân mình gạt tay ra thì trái tim mình tan nát như thế nào.
Cha mẹ có công ơn sinh thành dưỡng dục là nhục thân, thầy tổ có công ơn sinh ra pháp thân, huệ thân, trí thân, giải thoát thân. Đối với cha mẹ mà mình bất hiếu thì không có bất cứ một ai trên cuộc đời này mình có hiếu. Đối với thầy tổ mà mình quên ơn thì không có bất cứ một ai trên đời này mình nhớ ơn, cho nên đạo nghĩa làm người. Không biết bao nhiêu lần Minh Thành rơi lệ, như Bậc đạo sư thường nói với Minh Thành: “nếu có thể moi trái tim ra được con có thể moi móc ra đây để cho thầy nhìn thấy trái tim của con là mong muốn thầy thành tựu”.
Minh Thành cũng nói như vậy nếu Minh Thành có thể moi trái tim ra để cho các vị nhìn thấy thì Minh Thành cũng sẽ moi ra để quý vị thấy được rằng thật sự là Minh Thành mong muốn tất cả thành tựu tâm hiền đức, tâm từ bi, hãy thương yêu với nhau hãy kính quý với nhau, hãy biết ơn với nhau, hãy tôn trọng với nhau, hãy kính lễ với nhau, để rồi sau này mình ngừng thở mình không có hối hận.
Kính thưa đại chúng, Minh Thành thật là khổ tâm khi mà Minh Thành đi xuất gia hoặc là Minh Thành đi như một cái đứa trẻ lang bạt khắp mọi chỗ, mọi nơi, chỗ nào có đạo tràng, chỗ nào có thiền viện, chỗ nào có những nơi mà nơi đó có tu hành, có pháp hành rồi đi tới hết, lễ lạy, dập đầu khắp trong nước, ngoài nước, mấy chục năm trời nhưng mà giờ nay chúng ta tìm ra được Chánh pháp, lại thấy mọi người lần lượt rơi rớt, rơi rụng xuống núi, ra đi thấy rất là thương, đã xảy ra và đang xảy ra. Tại sao chúng ta đi tu, chúng ta lại không tôn trọng Chánh pháp một cách tuyệt đối, tại sao chúng ta lại rời xa Chánh pháp? mình biết đó là Chánh pháp
Ngày nay, thật là khó, thật là khó lòng người không có mãnh liệt, không có quyết chí trong sự cầu pháp, kính pháp, trọng pháp, quý pháp, yêu pháp, mến pháp, khao khát với pháp, tùy pháp, hành pháp, phải xem pháp, Chánh pháp còn hơn là sinh mạng của mình. Tại sao có pháp, có đại chúng, chúng ta không chịu nỗ lực để từ bỏ những cái đáng phải được từ bỏ, chúng ta bị những cái ái luyến thường tình và bị cái tâm hướng ngoại đó, chúng ta nghe tác ý cái tâm hướng ngoại đó, nó không để cho mình yên, nó đòi cái này, nó đòi cái kia nó so sánh cái này, nó đối chiếu cái kia phân biệt cái nọ. Phải tha thiết, nuôi dưỡng cái tâm tha thiết cầu pháp tùy pháp, hành pháp, phải quý cái Chánh pháp hơn cả sinh mạng của mình phải áp đặt mình về Chánh pháp, tha thiết Chánh pháp trong chánh pháp.
Chúng con nương tựa vào pháp, cung kính pháp, tôn trọng pháp, đảnh lễ pháp, cúng dường pháp. Con nguyện trở thành ngọn cờ chánh pháp, xem pháp làm thầy.
Nhớ mãi không quên biết ơn, biết nghĩa
Nhớ mãi không quên thiền thiện, từ bi
Nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính
Nhớ mãi không quên diệt tham sân si
Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này, tâm biết ơn này tỏa rộng khắp trời đất bao la, khắp trời đất bao la, khắp trời đất bao la./.
(11/09/2024)
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên Thánh điển và chia sẻ cảm nhận PAGEREF _Toc213486755 \h 1
1.Các Lễ Uposatha – Tăng chi bộ - Tập 1 (Trích đoạn) PAGEREF _Toc213486756 \h 1
2.Nhất dạ, hiền giả - Trung bộ kinh PAGEREF _Toc213486757 \h 3
3.Không phải của các ông - Tương Ưng bộ kinh - Tập 3 PAGEREF _Toc213486758 \h 6
4.Cội Gốc của Đau Khổ - Tương Ưng bộ - Tập 3 PAGEREF _Toc213486759 \h 9
5.Niệm xứ - Trung Bộ 1- Bài 10 PAGEREF _Toc213486760 \h 10
6.Mahànàma - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 5 PAGEREF _Toc213486761 \h 12
7.Mặt trời - Tăng chi bộ - Tập 3 (Trích đoạn) PAGEREF _Toc213486762 \h 16
8.Kinh Pháp Cú-Phẩm Thế Gian PAGEREF _Toc213486763 \h 18
II.Sách tấn, phát nguyện và biết ơn PAGEREF _Toc213486764 \h 21
Thầy Thiện Huệ: Con kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên Chư tôn thiền đức tăng ni cùng toàn thể các bậc Hiền trí. Chiều nay đạo tràng chúng ta có một buổi Trùng Tuyên Thánh Điển, tuyên đọc lại những lời Đức Phật dạy khi Ngài còn tại thế, tức là đọc lại những bài kinh trong tạng kinh Nikāya. Mỗi vị sẽ trùng tuyên lại một bài kinh và chia sẻ chúng ta sẽ hiểu như thế nào về bài kinh chúng ta vừa đọc. Sự tu học của chúng ta đều nương tựa vào Pháp, nương tựa vào lời dạy của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Đức Phật là con mắt của Pháp, là Pháp chủ, là Pháp bổn, là gốc của Pháp. Ngoài Đức Phật ra không có người thứ hai có thể sánh ngang hàng, ngang bằng, về sự giác ngộ, về trí tuệ, về phước báu, công đức, thiền định.
Chiều nay đầy đủ nhân duyên lành đại chúng chúng ta bằng tất cả tấm lòng chân thành, cung kính, hoan hỷ, hân hoan trong Pháp, để chúng ta được trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật. Nhờ đó, hiện tại tất cả các hiền trí trong đạo tràng được lợi lạc và tất cả các hành giả trong đạo tràng ở khắp mọi nơi cũng được lợi lạc. Thậm chí cho đến Chư thiên và loài người khi được nghe chúng ta trùng tuyên lại những lời Thánh điển, Thánh ngôn, Thánh pháp cũng sẽ lợi lạc rất nhiều. Đây là lợi ích, hạnh phúc, an lạc, lâu dài cho số đông Chư thiên và loài người. Vào giờ này xin mời tất cả các bậc hiền trí bắt đầu trùng tuyên Thánh điển.
Trùng tuyên Thánh điển và chia sẻ cảm nhận
Các Lễ Uposatha – Tăng Chi Bộ - Tập 1 (Trích đoạn)
Thầy Tín: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cung kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên Chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí. Hôm nay đầy đủ nhân duyên được trùng tu Thánh điển, con xin trùng tuyên lại bài kinh Các Lễ Uposatha – Tăng Chi Bộ - Tập 1 (Trích đoạn)
Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh ? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi ? Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật : "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn." Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.
Con xin chia sẻ sự hiểu biết hạn hẹp của con trong bài kinh này, trong ngày lễ Bố Tát các Thánh đệ tử niệm Phật, nhớ Phật, quán tưởng đến Phật trong ngày trai giới làm cho tâm được tịnh tín, dựa vào dòng Thánh làm cho hoan hỷ, các phiền não được đoạn tận.
Niệm Phật là nhớ đến những lời Phật dạy, quán tưởng đến lời Phật dạy và thực hành theo lời Phật dạy. Đức Phật là ai? Ngài sinh ở đời và lớn lên trong đời này, Ngài tự mình thấy được những cấu uế của tham sân si, bản ngã và tự mình tu tập để thoát khỏi con đường của khổ đau. Ngài sinh ra trong đời, lớn lên trong đời nhưng không bị đời uế nhiễm vì vậy chúng ta khi nhớ phật, niệm Phật là phải nhớ mình. Chúng ta phải tu tập để đoạn tận được tham sân si, ngã mạn để thoát khỏi khổ đau, giống như Đức Phật
Chúng ta còn mãi khổ đau vì chúng ta không nghe lời Phật dạy như trong bài kinh Sadini trong Tương Ưng bộ, Đức Phật nói người nào không nghe ta người đó sẽ đau khổ dài dài và trong kinh V dụ tấm vải, Đức Phật nói: “Xưa và nay, ta chỉ nói về khổ và con đường diệt khổ”. Và sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, nên khi niệm Phật, nhớ Phật, là phải từ bỏ thân năm uẩn này, từ bỏ thân bất tịnh và khổ đau, từ bỏ những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng, những nhận thức sai lầm trong vô minh, thì chúng ta sẽ thoát khỏi khổ đau. Niệm Phật là niệm nhớ đến tâm thanh tịnh vô lượng, từ bi hỷ xả, rộng lớn của Đức Phật. Người con Phật thì không được sân, như trong bài kinh Ví dụ cái cưa, Đức Phật nói rằng, dù có bị người lấy cưa, cưa chân tay ra thành nhiều mảnh cũng không được sân giận.
Quán tưởng đến Phật, nhớ đến lời dạy của Phật thì phải thực hành theo, còn chỉ nhớ trên hình tướng, sắc tướng thì không đem lại lợi lạc gì nhiều, ví dụ như Tôn giả Vaskali nhớ đến Đức Phật trong hình tướng sắc thân, Đức Phật liền quở trách. Ngài dạy rằng: “Ai thấy Pháp người ấy thấy ta, ai đang thấy ta là người ấy đang thấy Pháp”. Chúng ta thấy Pháp là quán tưởng đến Đức phật, quán tưởng đến Pháp là quán tưởng đến Pháp thân ngũ uẩn và khổ đau cũng nằm ở đó, từ bỏ sắc thân năm uẩn và thực hành theo lời Đức Phật dạy sẽ đem lại nhiều lợi ích.
Khi chưa biết niệm Phật đúng cách con cũng niệm trong mê mờ, khi đã hiểu mỗi khi niệm Phật con quán tưởng đến lời dạy của Đức Phật, con phát nguyện rộng lớn mạnh mẽ, nhất định phải nhiếp phục tham sân si, đoạn trừ dục ái, không để nó lôi kéo. Mỗi lần niệm Phật tâm con được mạnh mẽ với những lời nhắc nhở, tâm con được an tịnh, phiền não giảm dần, thật là lợi lạc cho con và mỗi khi nhớ đến Sư Phụ, con quán tưởng đến lời Sư Phụ dạy và con thực hành theo tâm hiền, sám hối diệt ngã, nhiếp phục cảm thọ, biết ơn và nhớ ơn, con an trú vào trong sự thực hành, thấy được sự lợi lạc, nếu không có sự thực hành con đã xuống núi không có cơ hội được ngồi ở đây hôm nay. Đó là sự lợi lạc khi quán tưởng tác động để nhớ Phật, nhớ lời Sư Phụ dạy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nhất Dạ Hiền Giả - Trung Bộ Kinh
Thầy Pháp Định: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đệ tử con cung kính trên Sư Phụ tôn kính, con cung kính trên Chư tôn Thiền Đức Tăng, Chư tôn Thiền Đức Ni, cùng các chư vị hiền trí có mặt tại nơi đây. Nhân duyên hôm nay được Sư Phụ chỉ dạy, vì lòng thương tưởng, vì lợi ích cho chúng sanh, Sư Phụ cho chúng con được trùng tuyên thánh điển Nikāya. Trong khuôn khổ của buổi trùng tuyên này, con xin được trùng tuyên là một đoạn trong bài Nhất Dạ Hiền Giả - Trung bộ kinh
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt âm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Trú như vậy nhiệt tâm
Đêm này không mệt mỏi
Xứng gọi nhất dạ hiền
Bậc an tịnh trầm lặng.
Khi con mới lên đây và lần đầu tiên con được đón một cái Tết ở Linh Quy Pháp Ấn này. Những ngày chuẩn bị Tết, chúng con chuẩn bị những cành đào, gắn hoa giả, chuẩn bị những cái cây tre, cây trúc về trang trí. Sau khi tết đi qua, vào buổi tuyết pháp đầu tiên Sư Phụ hỏi: “Tết đâu rồi? thời khắc đón giao thừa đâu rồi?” Con cũng nhớ đến câu nói “Có hai ngày trong 365 ngày, ta không thể làm được gì, dù ta là ai, địa vị ta như thế nào, ta có tài sản, quyền lực như thế nào. Đó là ngày hôm qua và ngày mai”. Con suy tư về điều này rất nhiều và con chiêm nghiệm thấy, ta sẽ có một ngày mai tốt đẹp nếu ngay ngày hôm nay ta làm những điều thiện lành, những điều tốt đẹp thì ngày mai ta đã có một ngày hôm qua tốt đẹp và ngay lúc này, ta làm được điều thiện lành tốt đẹp thì ngày mai sẽ là ngày tốt đẹp với ta, cũng giống như việc tu tập hôm nay của chúng, không cần phải trông chờ trong tương lai nó sẽ thế nào nếu mà ngay thời khắc bây giờ chúng con tu học với cả một tấm lòng cả một sự nhiệt tâm một sự tinh tần một sự dũng mãnh một sự tinh tần.
Con nhớ đến bài kinh Samaddhi – Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1 (Trích đoạn):
Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
Chỉ có an chú ở pháp hiện tại thì chúng ta mới được an lạc hạnh phúc lâu dài
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt âm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Đời sống của chúng sanh rất là ngắn ngủi cho nên chúng ta không thể chờ đợi, như Sư Phụ nói không có ngày mai, không có lần sau, chỉ có ngay bây giờ tại chỗ này và ta có thể làm được gì thì ta sẽ cố gắng làm điều đó. Khi con được tu tập trong dòng Pháp này, con luôn luôn chiêm nghiệm về sự tu học của một người mới như con thì sẽ lấy cái gì để làm căn bản, con luôn tâm niệm đến chữ thiện. Những thiện Pháp dù là rất là nhỏ, những thiện Pháp nhỏ không có được bỏ qua, những cái ác Pháp nhỏ thì không có được làm. Vì vậy, chữ thiện luôn luôn được con quán chiếu, đưa vào trong đời sống tu hành, hay trong lao tác hàng ngày của bản thân. Và con sẽ cố gắng làm như Sư Phụ nói trong buổi sáng hôm qua, ngay cả sự hiểu biết về cái thiện thì cũng là một cái quá trình. Có khi đến chết, mình cũng chưa hiểu được một cái chữ thiện lấy chân chính. Vì vậy, con sẽ cố gắng bằng cái sự tu học của mình, bằng cái sự học hỏi và lắng nghe những lời chỉ dạy của Sư Phụ, chư tôn thiền đức và các bậc hiền trí để cho mình luôn luôn có những cái nhìn chân chính, nhìn đúng đắn trong cái chữ thiện này để thực hành, mang lại lợi ích cho mình, lợi ích cho người, lợi ích cho chúng sanh.
Kính thưa Đại chúng! Trên đây là một vài những lời chia sẻ của con trong bài trùng tuyên Thánh Điển “Nhất dạ hiền giả” vì sự tu học còn mới mẻ trong Pháp và Luật. Vì chưa nhìn thấy rõ thân tâm của mình trong lúc trình Pháp chia sẻ, không khỏi mắc những lỗi lầm. Con kính mong chư tôn thiền đức, các bậc hiền trí, thương tưởng chỉ dạy thêm cho con.
Không Phải Của Các Ông - Tương Ưng Bộ - Tập 3
Sư cô Ấn An: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngũ uẩn con giả danh Ấn An, kính bạch trên Sư Phụ, kính bạch trên các chư vị tôn giả, cùng toàn thể các chư vị hiền trí hiện đang có mặt tại nơi này. Con xin phép được trùng tuyên bài kinh Không phải của các ông - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 3.
Nhân duyên ở Xa-Và-Thi, cái gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Và này các Tỳ kheo, cái gì không phải của các ông, sắc. Này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Thọ này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Tưởng này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Các hành này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Thức này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thông qua bài kinh Ngũ uẩn con mới vừa trùng tuyên lại. Trong đó Đức Phật dạy, sắc này các tỳ kheo, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Theo sự hiểu biết của con, thì hiện tại sắc thân của mọi người ngũ uẩn đang có mặt ở đây. Sắc thân này chỉ do bốn đại tác thành. Đó là đất, nước, gió, lửa. Do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng nên có sắc thân này. Con muốn nói đến riêng phần sắc thân này để cho tất cả những ngũ uẩn hiện có nơi đây dễ nhận diện hơn. Thật ra sắc là bao trùm tất cả vạn vật. Cảnh vườn trúc nơi đây cũng là sắc, cây cỏ hiện đang mọc ở dưới chỗ ngồi của chúng ta cũng là sắc. Vì chúng ta biết cái sắc này, nó vô thường, khổ, biến hoại, không tồn tại. Nó sẽ dễ tan, dễ vỡ. Nếu như chúng ta cứ chấp vào cái sắc này thì chúng ta dễ dàng đau khổ. Có những người thậm chí từ lúc trẻ cho đến lúc trung niên và về già, không chấp nhận sắc này nó bị già, sắc này nó bị bệnh, sắc này nó sẽ bị chết. Chính vì không chấp nhận nên có nhiều người ở lứa tuổi già nhưng họ vẫn muốn mình trẻ mãi với thời gian. Đức Phật đã dạy điều này không thể xảy ra, không thể nào có được
Cho dù có đi thẩm mỹ viện để cắt mắt, cắt môi hay là căng da, đó chỉ là một thực tế hiện tại, chỉ được tạm một lúc mà thôi. Sự già luôn luôn, lúc nào cũng đến với cái thân sắc này. Chính vì nhờ con học được nhận diện ngũ uẩn, con mới hiểu được sắc thân này là vô thường, tạm bợ, rỗng không. Nó chỉ là một cái thân tứ đại, một bộ xương được bao bọc bởi da. Nên chả có cái gì là đẹp đẽ, chả có gì là bền chắc, chả có cái gì để cho mình luyến tiếc cái sắc này. Bởi vậy Đức Phật nói, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó, từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc và an lạc. Điều đó là con có chiêm nghiệm trên cái thân thể tứ đại của ngũ ẩn con và thấy đúng như vậy.
Thọ cũng vậy, thọ này cũng không phải của bản thân ngũ uẩn con. Mỗi lần cảm thọ sinh khởi lên, vui, buồn, giận, hờn, thương ghét, khi nhận diện ngũ uẩn, con quay vào để tự nói, cảm thọ này chỉ là cảm thọ mà thôi, nó có phải mình đâu mà phải lệ thuộc vào đó, để rồi mình phải bận tâm, phải tức, phải giận, phải buồn, rồi có thể mình sẽ làm cho những người xung quanh, quynh đệ, những người thân đau khổ bởi một lời nói, một hành động, một cử chỉ. Sau khi học, nghiền ngẫm, con thấy đúng. Thọ này không phải là của mình, vậy mình hãy từ bỏ nó đi. Từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho bản thân của mỗi ngũ uẩn chúng ta.
Tưởng, tưởng này cũng không phải là của mình, đôi lúc, có nhiều vị làm một vấn đề gì đó, con hỏi tại sao các vị lại làm như vậy? Thì có nhiều vị hiện giả trả lời với con là con tưởng nó như thế này, con tưởng nó như thế kia. Chính vì cái tưởng đưa mình đi rất xa vấn đề thực tế của cuộc sống hiện tại. Đức Phật có dạy trong bài kinh “Tưởng điên đảo” trong vô thường, mình cứ tưởng nó thường, trong đau khổ mà mình tưởng nó là lạc, thì cái đó là phi lý, không đúng. Tự vì sao, con đã có được học, có được sự hiểu thì những cái tưởng đó chỉ là tưởng, không có phù hợp với thực tế. Những gì mình đã học, mình đã hiểu, đối với các hành, cũng vậy. Tại vì khi mình có cái tưởng, thì cái sự suy nghĩ của mình, nó cũng chạy chung quanh với cái tưởng đó, để mình suy nghĩ. Mà cái suy nghĩ này, nó không phải là của mình. Bởi vậy mình hãy từ bỏ nó, từ bỏ những cái suy nghĩ ác, từ bỏ những cái suy nghĩ bất tiện. Hãy nghĩ làm sao ngũ uẩn này học được, hiểu được, hành được Pháp đã được Sư Phụ hướng dẫn, cũng như các quý thầy, quý sư ni hướng dẫn, thì mình phải dựa trên những cái pháp hành, pháp học đó, để thực hành, suy nghĩ làm sao, để có thể thoát ra được cái ngũ uẩn này, để không phải lệ thuộc vào ngũ uẩn này.
Ngũ uẩn này đã làm mình rất là đau khổ, rất là bi lụy. Có nhiều người cũng một chút suy nghĩ quẩn mà nghĩ đến cái chết, tự vẫn, chết đâu phải kết thúc, là hết đâu. Những cái chết như vậy sẽ đi theo mình miên man. Có những người thắt cổ, uống thuốc độc, vì suy nghĩ quá nông cạn, từ chỗ suy nghĩ nông cạn này, sẽ đẩy đưa mình vào vòng luân hồi triền miên, không lối thoát.
Đức Phật dạy, cái gì không phải của mình, thì mình hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc và an lạc. Điều đó con thấy rõ ràng như vậy. Tức là mình biết được những cảm thọ, những hình bóng, những suy nghĩ, nhưng mà chưa chắc gì, những cái đó là đúng. Giống như khi mình tận mắt thấy, tai nghe, rồi mình suy nghĩ, nhưng mà cái suy nghĩ của mình, nó ở cái nông cạn, nó ở một mức độ, chứ nó không được bao quát, nó không được bao trùm, thì thành ra mình sẽ có những cái suy nghĩ không đúng đắn, không đúng cái đường lối chánh pháp, không đúng theo những lời của Đức Phật dạy. Chỉ có theo những lời của Đức Phật dạy trong kinh, mình mới có thể nhìn đúng, toàn diện, mới đưa lại an lạc và hạnh phúc cho tất cả.
Bài kính này, do sức hiểu của con còn nông cạn, nên con có thể phân tích, có thể hiểu như vậy và chia sẻ như vậy với tất cả các ngũ uẩn hiện đang có mặt ở đây. Nếu trong quá trình chia sẻ, con có còn nhiều điểm khiếm khuyết, con xin mong trên Sư Phụ, trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô, cùng tất cả các vị hiền trí có thể hướng dẫn, chỉ thêm cho con, để mỗi một ngày, con sẽ tu học được tiến bộ nhiều hơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
…..
Cội Gốc của Đau Khổ - Tương Ưng Bộ - Tập 3
Sư cô Hương Nhân: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác. Con chân thành đảnh lễ trên Sư Phụ bậc Ân Sư Tôn Kính. Con kính bạch trên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng hiền thiện. Dạ con xin trùng tuyên bài kinh: Cội Gốc cCa Đau Khổ - Tương Ưng Bộ - Tập 3.
Nhân duyên ở Sàvatthi...
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe...
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Đây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là cội gốc của đau khổ? Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Dạ! Con xin phép được nói ý nghĩa tổng quát về bài kinh của Cội Góc Đau Khổ này. Trong bài kinh này, Đức Phật đã chỉ thẳng, nói thẳng, trong ngũ uẩn rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là đau khổ. Thì mình nắm giữ đau khổ làm gì? Chính vì vô minh, tà kiến, tà trí, cấp thủ, cho rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, nên mình nắm giữ đau khổ. Chính vì các cái nhìn, tà kiến, sai lầm, đặt tâm sai hướng, cho rằng ngũ uẩn này là thật, cho nên yêu thích tham đắm nơi ngũ uẩn, hoan hỉ với ngũ uẩn, bám víu tìm cầu nơi ngũ uẩn, để rồi bỏ hình bắt bóng, chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, làm cho mình phiền não, đau khổ, không có lối thoát, và ai tạo ra cho mình đau khổ, ai đưa đến sầu bi, khổ u não cho chính mình, chính là ngũ uẩn. Bởi vì các cái nhìn lệch lạc, sai lầm, không thấy, không biết, rõ ràng về ngũ uẩn là duyên sanh, bản chất của chúng là vô thường, khổ, hoại diệt, vô ngã, mà mình chấp thủ, nắm giữ nơi năm uẩn, nắm giữ nơi luân hồi sinh tử. Chính vì con chấp thủ ngũ uẩn, mà bây giờ con lại mang một cái ngũ uẩn được gọi là con người đang hiện diện ở đây. Vì sao mà mình sinh tử lân hồi mãi là do khác ái hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Vì khác ái yêu thích đối với ngũ uẩn, rồi đi tìm những ngũ uẩn mới. Sau khi thân hoại mạng chung, vì mình khác ái vô minh, cộng thêm với những nghiệp mình đã làm từ thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bất thiện mà chiêu cảm đến khác cõi luân hồi sinh tử, để rồi mình tái sanh vào cõi dục ái, hữu ái, phi hữu ái, và tạo ra một ngũ uẩn mới với thân tướng trang nghiêm, với chánh báo, y báo, hay một ngũ uẩn đầy khổ đau bất hạnh, phải mang lông đội sừng, hay một ngũ uẩn mới là mang thân súc sanh, hay một ngũ uẩn mới làm thay ma vất vơ vất vưởng, hay mang một cái ngũ uẩn mới làm ngạ quỷ đói, rồi mang một thân người đầy khổ đau bất hạnh, cùi hủi, mù lòa, câm điếc, câm ngọng.Tùy theo cái nghiệp lực mình đã gây tạo từ thân khẩu ý.
Khi con được nương theo trí tuệ Thánh trí ngũ uẩn, của Đức Thế Tôn từ Bậc Đạo Sư, Sư Phụ truyền dạy lại, đã giúp cho con thấy rõ sự thật về ngũ uẩn này, về thân tâm cuộc sống này, bản chất nó là vô thường, khổ, vô ngã. Chính Thánh trí ngũ uẩn đã giúp cho con thấy được cội gốc của đau khổ, và con thường xuyên tập an trú trong quán vô thường, quán bất tịnh, quán ly tham, quán từ bỏ, quán đoạn diệt, để mong rằng một ngày nào đó mình có thể ly tham, từ bỏ đối với sự yêu thích chấp thủ ngũ uẩn này. Dạ, đó là sự chiêm nghiệm của con về bài kinh Cội gốc của đau khổ này. Trong quá trình con chia sẻ, về sự học hiểu của con còn cạn cợt nên không tránh khỏi những sai sót, thiếu sót, con ngưỡng mong trên Sư Phụ, chư vị chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni vì lòng từ mẫn chỉ dạy thêm cho ngũ uẩn con. Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Niệm xứ - Trung Bộ Kinh 1- Bài 10
Giới tử Trí Bắc: Con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên Sư Phụ. Con kính bạch trên quý thầy. Con kính bạch trên quý ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể các bậc Hiền trí. Thân tứ đại con pháp danh là Trí Bắc, được sự ân trên của Sư Phụ cho trùng tuyên Thánh Điển. Con xin phép đọc bài kinh Niệm xứ - Trung Bộ 1- Bài 10.
“Này các Tỷ-kheo, đây là Con Đường Độc Nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ”. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, ở đây:
- Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
- Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Dạ! Nam Mô Phật! Sau đây con xin phép được chia sẻ về bài Kinh Niệm xứ. Trong bài kinh này, vị Tỳ Kheo sẽ quán thân, thọ, tâm và pháp. Ở phần thân gồm có niệm về hơi thở, niệm về oai nghi, niệm về hành động, niệm bất tịnh, niệm tứ đại và niệm chết ạ. Còn phần niệm về thọ thì gồm có lạc thọ, khổ thọ, không khổ, không lạc và thọ thuộc vật chất và thọ không thuộc vật chất ạ. Còn phần quán về tâm thì quán về 16 hành tướng của tâm ạ. Còn quán pháp trên các pháp thì ở phần quán thân thì có quán hơi thở. Quán hơi thở để cho mình an trú ở giây phút hiện tại và đưa tâm của mình trú ở trên thân ạ. Còn phần oai nghi thì mình sẽ quán về hình tướng và hành động là đi đứng nằm ngồi. Còn ở phần quán về bất tịnh thì quán về 32 thể trượt trên thân tứ đại để cho mình nhìn thấy rõ về sự thật của thân tứ đại này. Đều là nhờ những cái bộ phận đấy mới cấu tạo lên cái thân tứ đại này, chứ không phải là thân tứ đại này là của mình. Còn phần quán về tứ đại thì để cho mình phá hình tướng. Cuối cùng là quán về niệm chết để cho mình phá cái bản ngã và biết cái bản chất vô thường.
Từ quán hơi thở cho đến quán oai nghi, cho đến quán hành động, cho đến bất tịnh, cho đến tứ đại, quán xác chết thì là từ đấy để cho mình nhìn nhận lại quá trình thân tứ đại này, khi còn hơi thở thì nó còn mạng sống. Và cuối cùng là nó bị hủy hoại, các căn bị hủy hoại, cuối cùng chỉ còn lại xương. Ở phần quán thọ thì có phần lạc thọ, khổ thọ, thì phần lạc thọ là cảm giác dễ chịu, còn khổ thọ là cảm giác khó chịu. Còn không khổ, không lạc là không dễ chịu cũng không khó chịu. Và thọ thuộc vật chất và thọ không thuộc vật chất thì thọ thuộc vật chất là những cái tác động ở bên ngoài. Ví dụ như khi mà gặp đối duyên xúc cảnh với một người, ví dụ người ta khen mình thì lúc đấy là mình cảm thấy mình vui sướng, mình hoan hỉ. Và khi người ta chê thì bắt đầu mình sân hận, mình bực tức, mình khó chịu thì đấy là thọ thuộc vật chất. Còn thọ không thuộc vật chất là những thọ mà mình nhiếp phục được trong tự thân. Khi mà mình không còn dục ái tham sân si, chi phối điều kiện nữa, thì lúc đó thân cảm sự lạc thọ đó là thọ không thuộc vật chất.
Phần tâm thì có 16 hình tướng của tâm. Ở hai cái phần cuối này thì con cũng chưa có chiêm nghiệm sâu sắc gì nhiều thì con cũng không dám chia sẻ. Đây là sự học hỏi ít ỏi của con, con kính trình lên Sư Phụ, con kính trình lên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Trong lúc con chia sẻ Pháp mà con có mất chánh niệm hoặc con có bản ngã thì mong Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc hiền trí hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Mahànàma - Tương Ưng Bộ - Tập 5
Thầy Pháp Lực: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính trình lên Sư Phụ, con kính trình lên Quý Thầy, con kính trình lên Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trùng tuyên bài kinh Mahànàma - Tương Ưng Bộ Kinh - Tập 5.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
-- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?"
Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: " Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”, đối với Pháp : “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”, đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”, Vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tính bất động đối với Thánh giới, giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.
Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
-- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
-- Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con rất tâm đắc về bài kinh này, vì trong bài kinh này, ngài Mahànàma, một vị em họ của Đức Thế Tôn đã hỏi một câu hỏi rất là hay, là khi ngài đi thăm viếng Đức Thế Tôn và các vị Thánh khi trở về, thì gặp những tai nạn, cái chết đột ngột, thì lúc đó tâm hoảng sợ, nghĩ đến Phật, đến Pháp, đến chúng Tăng, tâm bị hoang mang, không nhớ đến Phật, Pháp, Tăng. Thì trong khi ấy chết sẽ đi về đâu? Thì con cũng có thắc mắc giờ mình đang tu, nhưng nếu mình chết đột ngột, thì mình sẽ đi về đâu? Thì Đức Thế Tôn có nói là chớ có sợ hãi, này Mahànàma, đừng có sợ, không ác sẽ là cái chết của ông. Do thành tựu bốn Pháp nên sẽ xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng nhập về Niết Bàn. Đầu tiên là thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật.
Thì trong Kinh Đức Phật có nói rõ là Đức Phật là gồm 10 danh hiệu là Như Lai, Bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Con thấy là khi lên đây học thì con mới biết được 10 danh hiệu của Đức Phật. Lâu nay con chỉ biết là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thôi. Và không chỉ may mắn khi biết được 10 hồng danh của Đức Phật mà trong bài Đảnh Lễ Trí Đức Như Lai thì Bậc Đạo Sư đã giảng giải 10 danh hiệu của Đức Thế Tôn. Thì con thấy mình muốn không vào cõi ác thì đầu tiên mình phải thành tựu lòng tin bất động đối với Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni với 10 danh hiệu đó nên con có lòng tin đối với Đức Thế Tôn.
Cái thứ 2 là vị Thánh Đệ Tử thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp, trước đây con cũng không biết rằng Đức Phật giảng về cái gì, nhưng khi học vào Nikāya và có thời gian đọc Đại Tạng Kinh, trong 2 bài kinh Ví dụ Con rắn và Anurudha thì Đức Thế Tôn có khẳng định là xưa và nay Như Lai chỉ nói có 2 điều khổ và con đường diệt khổ, khổ gồm có khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường diệt khổ thì chính Đức Thế Tôn khẳng định là xưa và nay Như Lai chỉ nói về Tứ Thánh Đế và trong bài kinh Các Bậc A-La-Hán thì Đức Thế Tôn cũng có nói những vị A-La-Hán Chánh Đẳng Giác nào trong thời quá khứ, thật sự như thật Chánh Đẳng Giác thì chính là Chánh Đẳng Giác Tứ Thánh Đế và những vị Phật tương lai vẫn vậy và hiện tại vẫn vậy nếu mà chứng thành Phật thì chứng ngộ Tứ Thánh Đế
Con thấy thật may mắn khi mình biết được ra rằng Tứ Thánh Đế là những gì Đức Thế Tôn dạy và trong rất nhiều bài kinh như trong bài kinh Mặt Trời thì Đức Thế Tôn cũng có nói khi nào Như Lai xuất hiện ở đời thì mới có thuyết giảng về Tứ Thánh Đế còn nếu như Lai mà không xuất hiện ở đời thì không có ai thuyết giảng về Tứ Thánh Đế và trong kinh Người Tái sinh, Đức Thế Tôn lấy ít đất trong đầu móng tay và hỏi các vị Tỳ Kheo là đất trong tay nhiều hay là đất trên quả đất nhiều thì các vị Tỳ Kheo trả lời đất trong móng tay rất ít, đất trên quả đất này rất là nhiều .Thế Tôn nói cũng vậy con người mà sau khi chết được trở lại làm người thì ít như đất trong móng tay và sau khi chết bị sinh vào ba cõi ác thì nhiều trên đất quả đất vì không thấy được Tứ Thánh Đế, nên con thấy khi biết được Tứ Thánh Đế là những gì Đức Thế Tôn đã giảng dạy thì con có niềm tin vào Tứ Thánh Đế đó là Pháp mà Đức Thế Tôn dạy, nhưng Tứ Thánh Đế là gì? là khổ, khổ tập, khổ diệt, khổ diệt đạo, nhưng trước đây con chỉ nghe nói khổ một cách chung chung nhưng trong kinh bài kinh Khổ - Tương Ưng bộ kinh, Đức Thế Tôn có nói rõ và này các Tỳ Kheo thế nào là khổ? phải trả lời là năm thủ uẩn, thế nào là năm, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, thì con mới thấy rằng có sự may mắn khi con được biết đến Tứ Thánh Đế nhưng nếu không biết ngũ uẩn thì làm sao biết được Tứ Thánh Đế, từ khổ nó mãi mãi chỉ là một bí ẩn.
May mắn khi được học về nhận diện ngũ uẩn, Sư Phụ cũng có nói Sư Phụ 30 năm tìm đạo khắp thế giới mới tìm ra được Thánh trí ngũ uẩn nên con thấy sự may mắn của mình khi biết được về ngũ uẩn, và con có niềm tin mạnh mẽ vào ngũ uẩn, không có thay đổi một pháp nào khác nếu như không được đọc kinh không được học thì niềm tin đối với Thánh trí ngũ uẩn của con không có mạnh mẽ nên con thấy rất là may mắn hạnh phúc khi biết được ngũ uẩn biết được ngũ uẩn cũng đó là Tứ Thánh Đế đó là sự may mắn trong kiếp người
Thứ ba là vì Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Chúng Tăng chính là bốn đôi tám chúng, chính là bốn thánh quả: Dư Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A La Hán và bốn quả hướng tới bốn đôi tám chúng. Trong bài kinh “Vị thuyết pháp” thì Đức Thế Tôn có nói là những ai mà thuyết pháp đi đến nhất hướng nhàm chán ly tham thì người đó mới chính là giảng đúng lời của ta. Con thấy rằng là những vị thầy nào mà phải giảng về nhàm chán ly tham thì đó mới đúng là giảng đúng lời dạy của Đức Thế Tôn. Mà nhàm chán ly tham với cái gì, chính là nhàm chán ly tham với cái khổ, khi mình nhàm chán, mình rời xa cái khổ, thì mình sẽ hết khổ và cái gì khổ đó chính là năm thủ uẩn. Chính là ai mà thuyết giảng nhàm chán ly tham đối với ngũ uẩn thì chính là làm theo lời dạy của Đức Thế Tôn, mà nếu như muốn nhàm chán ly tham với ngũ uẩn thì đầu tiên mình phải thấy được ngũ uẩn khi mình thấy rác mình mới có thể quét rác được nên con thấy thật là may mắn khi con được học về Thánh trí ngũ uẩn, trái tim của Đức Phật.
Và cái thứ tư là thành tựu tịnh tính bất động đối với Thánh giới, giới thì cư sĩ thì có mười giới, thập thiện giới, nếu tin vào những gì Đức Thế Tôn chỉ dạy giữ giới thì sẽ không bị rơi vào ba đường ác. Con rất là hoan hỉ với bài kinh này vì con thấy dù sự tu tập của mình chưa chắc chứng được thành quả nhưng dù sao vẫn có một sự đảm bảo rằng khi mình chết mình sẽ không bị rơi vào cõi ác. Đức Thế Tôn đã có nói không ác sẽ là cái chết của ông và khi mình chết mình không rơi vào ba đường ác, thì có thể sinh ở cõi trời hay cõi người để tiếp tục tu tập cho đến một ngày nào đó đi đến giác ngộ. Đức Thế Tôn có nói là xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng nhập về Niết Bàn, nên qua bài kinh này con có niềm tin mãnh liệt về Thánh trí ngũ uẩn, về Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, ngoài Phật Bổn Sư con không tin vào ai nữa, đó là những sự hoan hỉ của con trong bài kinh này. Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật.
Mặt trời - Tăng Chi Bộ - Tập 3 (Trích đoạn)
Giới tử Hiền Hạnh: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, con kính bạch trên Sư Phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc thiền trí đồng phạm hạnh. Một nhân duyên lành hôm nay con được phép trên Sư Phụ và quý thầy, quý ni sư cho phép con được trùng tuyên về bài kinh: Mặt trời - Tăng Chi Bộ - Tập 3 (Trích đoạn)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 2. - Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.
Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật. Hôm nay, con trùng tuyên bài kinh này là một sự trùng hợp, buổi trưa con được xem một video của Sư Phụ gửi sang trong nhóm xem về sự vô thường của đời sống này. Các hành ở đây Đức Phật đã chỉ dạy là sự vận hành của toàn bộ ngũ uẩn, thế giới ngũ uẩn từ vật chất đến thân tâm, thật là một lời dạy quý báu để chúng con nhìn thấy được sự thật của đời sống này mà hơn 2.000 năm nay, chúng con đã thật sự thấy được sự vô thường đó. Khi xem qua cái video đó, con thấy thật xúc động, một sự thương tâm trào dâng. Sự vô thường đối với tất cả thế giới ngũ uẩn này, từ vật chất đến thân tâm. Lời dạy của đức phật sao mà thấm thía. Con người đã sống rất tàn bạo, không sống được trong những giới mà Đức Phật đã chỉ dạy. Họ có những hành động độc ác, gây ra chiến tranh, bạo tàn, làm cho động đất, sống thần. Chỉ vì lòng tham, dù cho thiên nhiên đã ban tặng mà mình không biết gìn giữ, vì lòng tham nên mới có những sự kiện, những hiện tượng xảy ra hàng năm như vậy, con người đã đi đến đạo đức suy đồi, không còn biết hiền thiện, luôn sống trong những ác pháp, thế giới này phải gánh chịu những khổ đau như vậy.
Khi xem qua clip đó, có ai biết được vô thường đến với mình hay không? khi một chiếc xe vừa chạy đến chân cầu, thì chân cầu đã sập, chiếc xe tải đó đã lao xuống dưới cầu đó, lúc chưa chạy xe có biết được mình sẽ kết thúc cuộc đời của mình trong sự vô thường này không? những cơn lũ đi qua, cuốn đi bao người chết, đã tàn phá những ngôi làng, những gốc cây, làm đau thương cho toàn thể nhân loại, rồi chiến tranh làm đau thương, khi nhớ đến chiến tranh, thì con nhớ đến lời mẹ con dạy “con ơi, khổ nhất là chiến tranh”, vì chiến tranh, mẹ đã chứng kiến không có khổ đau nào bằng chiến tranh, chiến tranh sẽ đem lại một sự đau thương cho tất cả và chính cha con cũng đã chết trong chiến tranh. Khi con thấy chiến tranh đang diễn ra, con rất là thương tâm, có những đứa trẻ chưa đủ tuổi trưởng thành đã bắt phải mang súng ra chiến trường.
Thế giới này là như thế nào nếu ai cũng trở về tâm hiền, toàn thế giới này sẽ được an ổn và hạnh phúc. Tâm hiền này rất là quan trọng không phải đối với người tu, mà đối với tất cả toàn nhân loại “vô thường là đời sống, nay còn rồi mai không”. Nếu ai cũng trở về tâm hiền, tự bỏ con đường ác, quay về với hiền lương, con cũng mong tất cả, tất cả thân ngũ uẩn trên thế giới này gặp được Chánh pháp, nghe được Chánh pháp, hiểu được Chánh pháp, thực hành được Chánh pháp tu tập tâm hiền, từ đó thế giới này sẽ được bình an, hạnh phúc biết bao.
Đây là lời mà Đức Phật 2000 năm đã chỉ dạy cho chúng sanh, mà chúng sanh nào có biết, chỉ vì một cái bản ngã mà đã tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, rồi tất cả phải lãnh những cái quả báo như thế thật là đau thương. Trong bài kinh này, sự suy nghĩ của con chỉ được như vậy. Con kính trên Sư Phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô, và các bậc hiền trí đồng phạm hạnh chỉ dạy thêm cho con, Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật
Kinh Pháp Cú - Phẩm Thế Gian
Giới Tử Trí Dục: Nam Mô bổn sư thích ca mâu ni Phật, con kính thưa Sư Phụ, kính thưa quý sư tăng, sư ni cùng các bậc thiền trí. Ngày nay nhân duyên được Sư Phụ cho phép thì con xin trùng tuyên bài kinh Pháp Cú-Phẩm Thế Gian
Dù lợi người bao nhiêu
Chớ quên phần tư lợi
Nhờ thắng tri tư lợi
Hãy chuyên tâm lợi mình
Nỗ lực chớ phóng giật
Hãy sống theo chánh hạnh
Người chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời này đời sau
Hãy khéo sống chánh hạnh
Chớ sống theo tà hạnh
Người chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời này đời sau
Hãy nhìn như bọt nước
Hãy nhìn như cảnh huyển
Quán nhìn đời như vậy
Thần chết không bắt gặp
Hãy đến nhìn đời này
Như xe vua lộng lẫy
Kẻ ngu mới tham đắm
Người trí nào đắm say
Ai sống trước buông lung
Sau sống không phóng dật
Trói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che
Ai dùng các hạnh lành
Làm xóa mờ nghiệp ác
Trói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che
Đời này thật mù quáng
Ít kẻ thấy rõ ràng
Như chim thoát khỏi lưới
Rất ít đi thiên giới
Như chim thiên nga bay
Thần thông lượng giữa trời
Chiến thắng ma ma quân
Kẻ trí thoát đời này
Ai vi phạm một pháp
Ai nói lời vọng ngữ
Ai bác bỏ đời sau
Không ác nào không làm
Keo kiệt không sanh thiên
Kẻ ngu ghét bố thí
Người trí thích bố thí
Đời sau được hưởng lạc
Hơn thống lãnh cõi đất
Hơn được xanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ
Quả dự lưu tối thắng
Con cũng học hỏi và ấn tượng được một số triết lý trong bài kinh này, đầu tiên là con hiểu được rằng là dù tâm mình có hướng ra ngoài làm lợi lạc cho thế gian bao nhiêu thì cũng chớ quên phần là chuyên trú vào tăng thượng tâm và diệt trừ diện tận các lậu hoặc còn đang ngủ ngầm để chuyên tâm tu tập để đoạn tận và diệt tận các lậu hoặc. Điều thứ hai con hiểu được là theo nhân quả thì cuộc sống cuộc đời này thì cần phải cố gắng nỗ lực làm sao sống được trong chánh hạnh và tránh xa các tà hạnh bởi vì chỉ có sống chánh hạnh thì những cái quả mới có thể là được hưởng lạc và điều thứ ba nữa là con hiểu rằng tất cả những sai lầm trong quá khứ đều có thể được khắc phục, được thay đổi, được sửa chữa bằng các nghiệp lành, hạnh lành, cần cố gắng sống nỗ lực chánh niệm và không phóng giật. Điều cuối cùng thì con ấn tượng là dù cho thế gian này mình có làm vua, làm chúa, làm chuyển luân Thánh vương hay thống lãnh cả cõi đất này hay thậm chí được sinh vào cõi trời làm vua cõi trời cũng không thể sánh bằng một tấm vé giải thoát cho chính bản thân mình như Đức Phật đã nói rằng mọi sự hiện hữu trên thời này đều là khổ.
Con cũng còn hạn chế và sơ cơ nên cũng con cũng chỉ nắm bắt được một số điều căn bản trong bài kinh như vậy, có điều gì sai sót và còn thiếu thì mong các thầy, các cô và các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho. Con chân thành cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Sách tấn, phát nguyện và biết ơn
- Thế Tôn kều một ít đất dính trên móng tay và hỏi các thầy Tỳ Kheo, đất trên móng tay Ngày và đất trên địa cầu cái nào nhiều hơn.
- Bạch Thế Tôn, đất dính trên móng tay rất là ít, rất là ít, không thể so sánh với đất trên địa cầu.
- Này các Tỳ Kheo, con người sau khi chết, rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nhiều như đất trên địa cầu, được trở lại làm người ít như đất trên móng tay của ta.
- Bạch Thế Tôn! Tại sao như vậy, Bạch Thế Tôn, Bạch Đấng Thiện Thệ
- Này các Tỳ Kheo, phần lớn đại đa số chúng sanh sống không biết ơn, không có nhớ ơn
Có khi những bậc đại ân đức, đại ân nhân, mình coi đó là bổn phận của họ, cha mẹ có bổn phận lo cho mình, thầy tổ đem hết trái tim, hết tấm lòng trong âm thầm theo dõi, tác thành cho mình bằng tất cả trái tim, mình khó chịu, mình bực bội, thật sự Minh Thành nhức nhối tim gan, đau xót. Quý vị có nghĩ đến một người cả cuộc đời đi tìm kho báu bằng nước mắt, bằng mồ hôi, bằng sinh mạng cuối cùng, tìm ra được ngọc như ý, quỳ xuống dâng lên, cho người yêu thương nhất của mình mà người thân mình gạt tay ra thì trái tim mình tan nát như thế nào.
Cha mẹ có công ơn sinh thành dưỡng dục là nhục thân, thầy tổ có công ơn sinh ra pháp thân, huệ thân, trí thân, giải thoát thân. Đối với cha mẹ mà mình bất hiếu thì không có bất cứ một ai trên cuộc đời này mình có hiếu. Đối với thầy tổ mà mình quên ơn thì không có bất cứ một ai trên đời này mình nhớ ơn, cho nên đạo nghĩa làm người. Không biết bao nhiêu lần Minh Thành rơi lệ, như Bậc đạo sư thường nói với Minh Thành: “nếu có thể moi trái tim ra được con có thể moi móc ra đây để cho thầy nhìn thấy trái tim của con là mong muốn thầy thành tựu”.
Minh Thành cũng nói như vậy nếu Minh Thành có thể moi trái tim ra để cho các vị nhìn thấy thì Minh Thành cũng sẽ moi ra để quý vị thấy được rằng thật sự là Minh Thành mong muốn tất cả thành tựu tâm hiền đức, tâm từ bi, hãy thương yêu với nhau hãy kính quý với nhau, hãy biết ơn với nhau, hãy tôn trọng với nhau, hãy kính lễ với nhau, để rồi sau này mình ngừng thở mình không có hối hận.
Kính thưa đại chúng, Minh Thành thật là khổ tâm khi mà Minh Thành đi xuất gia hoặc là Minh Thành đi như một cái đứa trẻ lang bạt khắp mọi chỗ, mọi nơi, chỗ nào có đạo tràng, chỗ nào có thiền viện, chỗ nào có những nơi mà nơi đó có tu hành, có pháp hành rồi đi tới hết, lễ lạy, dập đầu khắp trong nước, ngoài nước, mấy chục năm trời nhưng mà giờ nay chúng ta tìm ra được Chánh pháp, lại thấy mọi người lần lượt rơi rớt, rơi rụng xuống núi, ra đi thấy rất là thương, đã xảy ra và đang xảy ra. Tại sao chúng ta đi tu, chúng ta lại không tôn trọng Chánh pháp một cách tuyệt đối, tại sao chúng ta lại rời xa Chánh pháp? mình biết đó là Chánh pháp
Ngày nay, thật là khó, thật là khó lòng người không có mãnh liệt, không có quyết chí trong sự cầu pháp, kính pháp, trọng pháp, quý pháp, yêu pháp, mến pháp, khao khát với pháp, tùy pháp, hành pháp, phải xem pháp, Chánh pháp còn hơn là sinh mạng của mình. Tại sao có pháp, có đại chúng, chúng ta không chịu nỗ lực để từ bỏ những cái đáng phải được từ bỏ, chúng ta bị những cái ái luyến thường tình và bị cái tâm hướng ngoại đó, chúng ta nghe tác ý cái tâm hướng ngoại đó, nó không để cho mình yên, nó đòi cái này, nó đòi cái kia nó so sánh cái này, nó đối chiếu cái kia phân biệt cái nọ. Phải tha thiết, nuôi dưỡng cái tâm tha thiết cầu pháp tùy pháp, hành pháp, phải quý cái Chánh pháp hơn cả sinh mạng của mình phải áp đặt mình về Chánh pháp, tha thiết Chánh pháp trong chánh pháp.
Chúng con nương tựa vào pháp, cung kính pháp, tôn trọng pháp, đảnh lễ pháp, cúng dường pháp. Con nguyện trở thành ngọn cờ chánh pháp, xem pháp làm thầy.
Nhớ mãi không quên biết ơn, biết nghĩa
Nhớ mãi không quên thiền thiện, từ bi
Nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính
Nhớ mãi không quên diệt tham sân si
Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này, tâm biết ơn này tỏa rộng khắp trời đất bao la, khắp trời đất bao la, khắp trời đất bao la./.