Trùng Tuyên Thánh Điển Nikāya 7
Trùng Tuyên Thánh Điển Nikāya 7
Tăng Ni Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 16 tháng 12 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ni sư Thông Tịnh PAGEREF _Toc175645355 \h 1
II. Sư cô Tuệ Quý PAGEREF _Toc175645356 \h 3
III. Sư Thầy Nhuận Tín PAGEREF _Toc175645357 \h 6
IV. Sư cô Hiền Trang PAGEREF _Toc175645358 \h 15
V. Sư cô 1 PAGEREF _Toc175645359 \h 18
VI. Sư cô Hiền Duyên PAGEREF _Toc175645360 \h 20
VII. Sư cô Diệu An: PAGEREF _Toc175645361 \h 23
Thương mình thật nhiều, và thương loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Tâm thương rộng lớn, rõ biết tâm thương rộng lớn, cảm giác tâm thương rộng lớn. Để bắt đầu buổi trùng tuyên pháp điển, con bắt đầu mời quý thầy, quý sư cô và đại chúng cùng niệm danh hiệu “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” 3 lần.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Được sự chỉ dạy của sư phụ, hôm nay quý thầy và quý sư cô cùng các bậc hiền trí, sẽ trùng tuyên thánh điển Nikāya. Và sẽ chia sẻ những ý nghĩa về những lời Thế Tôn đã truyền trao, đó là lý do của buổi tối ngày hôm nay. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Để bắt đầu buổi trùng tuyên thánh điển, con kính mời trên Ni sư Thông Tịnh sẽ bắt đầu, con kính mời Ni sư.
I. Ni sư Thông Tịnh
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên sư phụ, tối nay được sư cho phép của sư phụ, con trùng tuyên thánh điển, bài kinh “Chói Sáng Tăng Chúng”, Tăng Chi Bộ kinh, tập 1.
“Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo. Thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỳ-kheo, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Tỳ-kheo Ni, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Nam cư sĩ, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Nữ cư sĩ, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Ai là người thông minh, là người không sợ hãi, lại là người nghe nhiều, và cũng trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Người như vậy được gọi “vị chói sáng Tăng chúng”.
Vị Tỳ-kheo đủ giới, Tỳ-kheo Ni nghe nhiều, bậc cư sĩ tiếng nam, bậc cư sĩ tiếng nữ, họ chói sáng Tăng chúng, là ánh sáng chúng Tăng.”
Mô Phật thưa đại chúng, chói sáng chưa ạ? Con nhìn thấy các vị, con thấy ai cũng sáng trưng hết trơn. Qua bài kinh này Đức Phật dạy chúng ta, là người thông minh như vậy, thì con thấy như sư Tuệ Khanh, sư Tuệ Quý, sư Khánh An, sư Huệ Lý. Những vị đó người ta bỏ chùa, người ta chạy lên Linh Quy Pháp Ấn người ta tu, như vậy là chói sáng chưa ạ? Vì thấy được lợi ích của Phật pháp, mà các vị không màn, nên lên đây cùng với đại chúng tu tập. Quý thầy cũng là người thông minh, bỏ hết tất cả để lên Linh Quy Pháp Ấn tu tập, biết được sự thật của cuộc đời. Như vậy thì trong đạo tràng chúng ta rất là hạnh phúc, gặp được những vị Tăng như vậy, là ánh sáng để dìu dắt các bạn mới đến. Như vậy có xứng đáng là chói sáng không ạ?
Hơn nữa có những vị nam cư sĩ, khi mà biết được sự thật về ánh sáng Phật pháp nơi này, Chánh pháp của sự thật tại đây. Thì các vị về đây tu tập, lúc đầu các vị không biết ánh sáng Phật pháp là gì cả, về đây tu học gieo duyên. Gieo duyên xong thì không muốn gieo duyên nữa, ở lại luôn, như vậy là chói sáng chưa ạ? Hay các cô cư sĩ cũng vậy, về đây tu học, lúc đầu con thấy xuất gia gieo duyên thôi. Nhưng lần lần ở lại luôn, hơn nữa con thấy cô An Mỹ, con thấy cô học rất nhiệt huyết, chu đáo. Vì các vị này thấy được sự lợi ích của Chánh pháp, thì tập trung về đây tu học. Như Đức Phật nói: “Ai là người thông minh, là người không sợ hãi, lại là người nghe nhiều và cũng hạnh trì pháp. Đối với Chánh diệu pháp, vị Tỳ-kheo nghe nhiều, vị Tỳ-kheo đủ giới”.
Nếu như vị Tỳ-kheo tu hành không chơn chánh, thì có chói sáng Tăng chúng được không ạ? Như vậy thì vị Tỳ-kheo đầy đủ giới hạnh, đầy đủ oai nghi, sẽ làm cho ánh sáng Phật pháp ngày càng phát triển. Vì Tỳ-kheo Ni thì phải nghe nhiều Chánh pháp, gặp được bậc minh sự, gặp được bậc đạo sư, chúng ta ta nhiều để hành trì pháp. Bậc cư sĩ tiếng nam, bậc cư sĩ tiếng nữ, phải có lòng tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Thì họ sẽ là người làm rạng danh, rạng ngời giáo lý của Đức Phật. Và đem giáo pháp lan rộng ra để hộ trợ phạm hạnh, để giữ gìn giáo pháp của Đức Phật. Nếu như Đức Thế Tôn không lan tỏa ánh sáng này, như các vị cũng đã thấy, bậc đạo sư đã truyền trao ánh sáng trí tuệ của chúng ta. Và sư phụ đã đốt đền trí tuệ, truyền trao cho chúng ta.
Vậy thì chúng ta hãy cố gắng tu tập, giữ gìn giới luật, giữ gìn giới hạnh, để thành tựu những gì chưa thành tựu, để thành đạt những gì chưa thành đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc. Hội chúng của chúng ta thành tựu những cái đó, thì chính là ánh sáng của chúng Tăng. Con hy vọng rằng là đạo tràng chúng ta ngày càng tỏa sáng, ngày càng phát triển. Trước mặt con đây con thấy, vị nào vị nấy gương mặt cũng rạng rỡ. Con hy vọng rằng, ánh sáng này sẽ được tỏa sáng và lan tỏa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
(Tăng Chi Bộ I – kinh Chói Sáng Tăng Chúng)
Con cũng niệm ân sự chia sẻ của Ni sư. Và cũng là lời xách tấn cho bốn chúng, chúng ta tu học. Dạ mô Phật. Tiếp tục con xin mời sư cô Tuệ Quý.
II. Sư cô Tuệ Quý
“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, con kính thưa quý Ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Chúng con xin phép được trùng tuyên bài kinh “Thoát Li”, kinh Tăng Chi Bộ, tập IV.
“Pháp này, này các Tỳ-kheo, có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp này có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li?
Từ bỏ thoát li là con đường thoát li.
Từ bỏ lấy của không cho, là con đường thoát li lấy của không cho.
Từ bỏ tà hạnh trong các dục, là con đường thoát li tà hạnh trong các dục.
Từ bỏ nói láo, là con đường thoát li nói láo.
Từ bỏ nói hai lưỡi, là con đường thoát li nói hai lưỡi.
Từ bỏ nói lời độc ác, là con đường thoát li nói lời độc ác.
Từ bỏ nói lời phù phiếm, là con đường thoát li nói lời phù phiếm.
Không tham, là con đường thoát li sân.
Không sân, là con đường thoát li sân.
Có Chánh kiến, là con đường thoát li tà kiến.
Này các Tỳ-kheo, đây là con đường thoát li. Như vậy, này các Tỳ-kheo, pháp này có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập IV – kinh Thoát Li)
Con rất là tâm đắc bài kinh này, này kinh này nhắc nhở cho con trong đời trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, cũng như trong tu học. Phải luôn giữ gìn thân, khẩu, ý của mình. Trong đó giữ gìn thân, là giữ gìn không sát sanh, không trộm cắp và không tà hạnh trong các dục. Giữ gìn lời nói là không nói láo, không nói lời 2 lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm. Giữ gìn ý là không tham, không sân và có Chánh kiến. Nếu như trước đây con tu học trong dòng pháp Nikāya, thì con hiểu 10 điều này đó là 10 điều thiện rất là đơn giản. Nhưng mà khi tu tập trong dòng pháp Nikāya, con cảm thấy 10 điều thiện này rất là sâu sắc, không đơn giản như con hiểu trước đây.
Bởi vì để thực hiện được 10 điều này, là người tu tập phải dựa trên nền tảng của tâm hiền, tâm từ, và nền tảng của trí tuệ, hiểu biết về nghiệp quả. Một người tu tập trên nền tảng của tâm hiền, thì không thể nói những lời độc ác, hay là sân giận. Một người được tu tập trên nền tảng tâm từ, thì không thể sát sanh, hại vật… Cho nên khi con chiêm nghiệm sâu về 10 điều này, cùng với sự tu tập trong dòng pháp Nikāya vừa qua thì con cảm thấy rất là sâu sắc. Mười điều này đó là căn bản để làm người, và nó cũng là nền tảng căn bản để nên địa vị của bậc Thánh. Không thể thành tựu đạo quả của bậc Thánh, nếu như không bắt đầu từ những căn bản của những điều thiện này.
Mười điều thiện này cũng nói lên giới, định, tuệ ở trong đó. Trong điều thứ 10 là có Chánh kiến, là con đường thoát li tà kiến. Chánh kiến ở đây là thấy biết rõ về thân tâm mình, thấy biết thế nào? Thấy biết ngũ uẩn này là pháp duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã. Khi mà hiểu biết được sự thật của thân tâm này, từ đó mình mới không có chấp thủ vào ngũ uẩn này và những ngũ uẩn khác. Từ đó con đường thoát ly mới được rõ ràng. Nếu không thì sự thoát ly, sự giải thoát chỉ là những từ ngữ trống rỗng, mơ hồ, mông lung. Bài kinh này nói lên 1 điều rất là rõ ràng, sự thoát ly, sự giải thoát, hay là sự từ bỏ, bắt đầu từ nên tảng tu tập thân, khẩu, ý của mình.
Chỉ có sự tu tập, từ bỏ những cái đó, thì mới bước tiếp giai đoạn từ bỏ ngũ uẩn này. Không thể nói từ bỏ sự chấp thủ ngũ uẩn này, nếu như người đó còn có sự sát sanh hại vật, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói lời độc ác, nói 2 lưỡi, nói lời phù phiếm, có thâm dục, có sân hận và có tà kiến. Chỉ thành tựu Chánh kiến khi mà mình đã thành tựu được những cái giới căn bản, thấp nhất của 1 con người. Cho nên bài kinh này, là bài kinh luôn để nhắc nhở con trong đời sống hằng ngày, trong việc giữ gìn thân, khẩu, ý của mình. Khi mình nói ra thì mình phải luôn luôn nhắc nhở mình phải nói như thế nào? Lời nói đó có chân thật hay không? Trong lời nói đó có sự thiêu dệt, phù phiếm hay không? Trong lời nói đó là lời nói thiện lành hay là độc ác?
Lời nói đó là lời nói đúng đắn hay là nói hay lưỡi? Đến người này thì nói như thế này, đến người kia thì nói như thế kia. Đó là việc con tự nhắc nhở lời nói của mình, tỏng đời sống hằng ngày. Cũng như trong việc tu tập, đoạn trừ tham, sân, si, đó là mục đích của 1 người tu cần phải làm. Đó là những sự hiểu biết của con trong bài kinh. Con cũng đang trên con đường tu học, nên sự hiểu biết đó cũng còn hạn chế, con mong trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Dạ mô Phật, cảm ơn chia sẻ của sư cô Tuệ Quý. Con tiếp tục kính mời thầy Nhuận Tín, dạ mô Phật.
III. Sư Thầy Nhuận Tín
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền trí. Con rất là hạnh phúc khi học kinh Nikāya, con xin trùng tuyên lại 1 đoạn kinh trong kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Trường bộ, bài 16 trong căn bản trí, bài kinh “Niệm Gia Tài Của Phật”.
“Này các Tỳ-kheo, nay Chánh pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi. Các ngươi phải khéo học hỏi và thực chứng, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người.
Này các Tỳ-kheo, nay Chánh pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi. Các ngươi phải khéo học hỏi và thực chứng, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người? Chính là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, 5 căn, 5 lực, bảy bồ đề phần, 8 Thánh đạo phần.
Này các Tỳ-kheo, pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các ngươi phải khéo học hỏi, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người.”
(Trường Bộ kinh – kinh Đại Bát Niết Bàn)
Dạ mô Phật, con xin trình bày sự hiểu biết của con trong đoạn trích trên. Pháp mà Đức Phật tu tập chứng ngộ, đó là 37 pháp trợ đạo. Đây là gia tài của Đức Phật, đây là Chánh pháp, đây là lòng thương tưởng cho loài trời và loài người. Đức Phật rất là thương chúng sanh, thương hàng đại tử. Ngài dạy rất là kỹ: “Các ngươi phải khéo học hỏi, tu tập và truyền rộng”. Đức Phật truyền lại giáo pháp, nhắc các hàng đệ tử phải khéo học hỏi. Chúng ta phải khéo chọn Chánh pháp, khéo chọn bậc minh sư, khéo nhận diện ngũ uẩn, khéo hộ trì các căn, khéo tác ý. Khéo chọn những thiện pháp đưa đến lợi lạc, an lạc. Khéo giữ gìn các oai nghi, để làm hành trang hỗ trợ cho tu tập, đi theo con đường giới, định, tuệ, văn, tư, tu.
Đức Phật để lại Chánh pháp nhắc nhở chúng ta phải khéo học hỏi, chúng ta phải nỗ lực tinh tấn đi theo con đường Ngài chỉ dạy để tu tập có thành quả. Rồi sau đó mới hướng dẫn mọi người tu tập, đem lại lợi lạc cho tự thân mình, và lợi lạc cho chúng sanh. Ngài chỉ dạy đời sống hàng đệ tử của Đức Phật, của hàng Tỳ-kheo muốn có 1 đời sống Phạm Hạnh, thì phải thực hành theo Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, 5 căn, 5 lực, bát bồ đề phần, tám Thánh đạo phần. Đức Phật đã nhắc nhở, sống với các pháp kia để phạm hạnh được trường tồn, để làm lợi ích cho tự thân mình, cho chúng sanh, cho những người nương tựa. Để Chánh pháp nó sáng mãi, không bị mài mờ.
Con đọc qua đoạn kinh, con cũng bất ngờ vì mình học nhiều giáo pháp mới không có điểm trọng tâm. Bất ngờ vì nó thiếu 12 nhân duyên và tứ diệu đế, nó vẫn có liên quan đến 37 phẩm trợ đạo nhưng nó không có trọng tâm, con cũng thấy hơi bất ngờ. Qua bài kinh này con thấy được Chánh pháp, mình phải dựa vào những cái Đức Phật để lại. Để khỏi bị phân vân, khỏi đi tìm kiếm cái đúng, cái sai. Biết được giáo pháp mà Đức Phật đã tu tập, chứng ngộ, sau này mình cố gắng học hỏi, hay để hướng dẫn mọi người đúng theo Chánh pháp. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin cảm ơn trên bài trùng tuyên và chia sẻ của thầy Nhuận Tín. Tiếp tục chương trình con kính mời sư cô Đồng Dương.
Sư cô Đồng Dương:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên bậc đạo sư tôn kính
Con kính bạch trên sư phụ tôn kính
Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Mô Phật, đệ tử con pháp danh Đồng Dương, trước khi con trùng tuyên Thánh điển, cho phép con được nói đôi lời cảm tạ, tri ân trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Thời gian qua đã hỗ trợ và cho phép con được nhập thất 1 tháng. Hôm nay cho con được thành kính tri ân, niệm ân tất cả mọi nhân duyên lành để cho con được nhập thất thuận lợi trong thời gian qua, con thành kính tri ân lên tất cả. Hôm nay được sự cho phép của sư phụ, con phép con được trùng tuyên Thánh điển. Con xin phép đọc “Niệm Thân Vô Chủ”, kinh Ratthapala, Trung Bộ kinh tập II, bài 82.
“Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt
Thân này là vô hữu, vô chủ
Thân này là vô sở hữu, ả đi bỏ lại tất cả
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái”
(Trung Bộ Kinh II – Kinh Niệm Thân Vô Chủ)
Dạ Mô Phật con kính bạch sư phụ và đại chúng, thật sự lúc trước con đọc bài này trong căn bản trí 2, thì cảm thọ của con nó cũng không có được sâu sắc lắm. Nhưng mà khi con có duyên được nhập thất, thì việc đầu tiên con hướng đến, là con phải tác ý mình phải làm như thế nào để mình phải tác ý vô sơ thiền. Khi con chiêm nghiệm những lời của bậc đạo sư, và sư phụ chỉ dạy. Thì con nghĩ sơ thiền li dục, li ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do li dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy thì thế giới và thân tâm con người là ngũ uẩn, thì li dục có nghĩa là rời xa lòng mong muốn, lòng dục đối với ngũ uẩn này. Và con phải tìm mọi cách để con tác ý, để con li dục.
Không ngờ trong quá trình con tu tập như vậy, thì hôm nay con đọc tới bài “Niệm Thân Vô Chủ”, thì con thấy có như 1 trình tự mà con đã trải qua trong thất. Hôm nay thật sự khi con nghiệm lại con mới thấy, chứ lúc ra thất con cũng không có biết vô tình nó lại nằm trong cái trình tự của bài “Niệm Thân Vô Chủ” này. Con cũng xin chia sẻ 1 chút, là “thân này là vô thường đi đến hoại diệt”. Thì co có 1 cái duyên rất là may mắn cho con, khi con vô thất thì có rất nhiều duyên lành hỗ trợ cho con để mà con tu tập. Trong 1 lần con đi kinh hành, thì con thấy cái thân của 1 con chuột nó bị cắn đứt cái đầu, nó còn có phần thân thôi. Nó bị kiến bu rất là nhiều, nó rỉa, nó bu trên cái thân con chuột đó.
Thì con lấy đồ ra, con ngồi con thiền quán về cái thân đó. Khi con ngồn thiền quán về cái thân con chuột, thì con tác ý: “Ồ, từ cái thân này thì con tưởng ra cái thân của sư phó của con. Từ 1 người khỏe mạnh, ăn to nói lớn, chỉ trong vòng vài tháng thôi, con chứng kiến sư phó con bị bệnh tiểu đường, bị lao xương. Trong vòng vài tháng mà cái thân của ngài bị lở loét, nó càng ngày càng rộng ra. Do bị tiểu đường nó không lành vết thương, và mình có thể nhìn thấu đến cái xương trắng. Rồi trong thời gian ngắn tự nhiên rồi chết, còn lại hủ cốt”. Con chấn động, bàn hoàng nhớ lại sự kiện này đã thúc đẩy cho mình đi cầu pháp khắp nơi, không còn muốn bằng cấp của học viện gì hết, muốn bỏ hết để đi cầu đạo, mình mới nhớ lại tâm niệ, của mình.
Tiếp tục con triển khai thiền quán ra, con nhớ cái thân của bà nội con cũng bị tiểu đường. Bà tám mươi mấy tuổi nằm trên bệnh viện, cô của con chăm sóc, mà cô của con mắt kém không thấy đường. Cái thân của bà nội con thì bị mất cảm giác, cho nên kiến nó bu vô thân của bà nội con làm tổ trong đó luôn. Cô con mắt kém không có thấy, đến khi con lên con phát hiện ra, thì cô con lấy cái khăn đuổi kiến trong người bà nội con ra. Phủi chừng nào thì kiến bò ra chừng nấy, con nổi hết gay óc. Bắt đầu từ bên ngoài, con hướng vào bên trong, con nhớ lại cái gì nó diễn ra trên thân của mình, để mình thấy được sự vô thường, biến hoại của thân này.
Con nhớ lúc nhỏ con bị ghẻ ruồi, ruồi nó bu đầy người hết, mỗi lần ruồi nó bu là cảm thọ rất là khó chịu. Bắt đầu mình nhìn bộ phận trên cơ thể của mình, chỗ nào mình ưa thích mình triển khai ra mình thấy sự vô thường. Từ chỗ mình cho là nó hấp dẫn, nó đẹp, bây giờ nó xuề xòa. Bàn tay lúc trước nhớ năm mười mấy tuổi, mình cứ hay đứng rọi trước nắng mình thấy da nó óng ánh. Bây giờ ba mươi mấy tuổi nhìn lại đôi bàn tay đó, tuy là nó không gân guốc, xương xẩu, nhưng mà mình nó không còn được như năm mười mấy tuổi nữa. Rồi cái tai của mình rất là nhanh nhẹn. Giờ thì chỉ cần đeo tai nghe vào một chập thôi là bắt đầu rung rung, giật giật reo những tiếng kêu trong tai.
Những chỗ mình cho là đẹp nhất, thì bây giờ nhìn lại cũng rạn lên những vết rạn, bị thâm đen. Khi quán tự thân mình có rất nhiều cảm thọ trong đó, để mà nhàm chán, để nó li dục, rời xa sự ham thích, ham muốn trong ngũ uẩn này. Lúc trước con nghe sư phụ, chư tôn đức trình pháp về thân này vô thường, thực sự khi nghe về cái thân của người khác thì cảm thọ nó ít lắm. Khi mình tự quán trên cái thân của người, hoặc những người xung quanh mình đã từng chứng kiến, thì cảm thọ rất là sâu sắc. “Thân này là vô hữu, vô chủ”, thì con có nhớ là lúc trước bậc đạo sư có nói là: ““Vô hữu, vô chủ” là mình không có làm chủ cái thân mình đâu, cái thân mình bị phi nhân họ đi ra đi vô hoài à”, thì con chủ biết vậy thôi.
Khi ở trong thất con ngồi trước cái màn hình laptop, thì nó chỉ hiện trên màn hình laptop phần cổ con trở xuống thôi chứ không có cái đầu. Lúc này con bắt đầu triển khai thiền quán thì con thấy: “Ồ, tí là mày hay sửu là mày, dần là mày hay mẹo là mày…” Mười hai con giáp con ráp vô phần đầu, thì con thấy con nổi hết gai óc. Thì con thấy 12 con giáp không có tuổi nào hợp với tuổi nào hết, mà nó nhắc nhở mình là vô lượng, vô biên kiếp vừa qua, là mày toàn đội thân súc sanh không à, mày phải nhớ điều đó phải mày tu. Nhất là khi con xúc với 1 vòng quay may mắn, thì ô trúng thưởng có 1 ô là trúng thưởng giá trị. Còn trúng ba cái đồ vớ va vớ vẩn, hoặc không có trúng là chiếm đa số còn lại của vòng quay may mắn đó.
Con bắt đầu con cũng triển khai thiền quán, con nhìn vòng ô may mắn đó con nói: “Vậy Đức Phật nói đúng rồi, vô lượng, vô số, vô biên kiếp vừa qua mà mình được làm người hoặc làm chư thiên ít như ô trúng thưởng. Còn những kiếp mình trải qua vào địa ngục, cõi ngạ quỷ, súc sanh thì nó nhiều như những ô còn lại vậy đó”. Bắt đầu con triển khai ra, nội cái súc sanh thôi, ví dụ như heo, gà, chó gì đó, mà chia ra từng loài. Mà cả tỷ tỷ loài, nó lại chia ra từng giống loại khác nhau nữa. Nội chó thôi mà có chó bẹc rê, chó cỏ, chó mực, chó Phú Quốc gì tùm lum hết. Chứ kể những loài khác nữa, nào là loài trên không, trên đất, trong lòng đất, trong nước, thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh…biết bao nhiêu mà kể.
Như vậy đâu có được mấy ô chư thiên, mấy ô loài người. còn lại là mấy loài phân chia như vậy, rồi phân chia ngạ quỷ, quỷ nọ quỷ kia. Địa ngục thì biết bao nhiêu tầng, bao nhiêu ngục. Như vậy xát suất mình quay trúng ô chư thiên và loài người nó rất là thấp, còn xát suất mình quay vô ô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nó rất là nhiều. Như vậy lời Phật dạy là chính xác rồi, là đúng rồi. Thảo nào Ngài nói: “Đất trong móng tay của Ngài, giống như là chết đi mà sanh được làm người hoặc chư thiên. Còn sanh vào 3 đường ác thì giống như là đất trong địa cầu vậy đó”. Như vậy lời Đức Phật dạy quá thấm thía.
“Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả”, lúc trước con chỉ hiểu cạn cợt là chết thì nhà cửa, đất đai để lại cho người khác, chuyển tên cho người khác sở hữu, mình chỉ đem theo cái nghiệp của mình. Rồi 1 lúc ngồi suy tư con nói: “Mình đâu phải kiếp nào cũng làm người đâu, mà để lại nhà cửa, xe hơi choi người khác, đôi khi còn để lại 1 đống nợ nữa. Hay là mình đã từng là 1 con dòi, ra đi để lại 1 đống phân. Mình đã từng là con chuột, ra đi để lại rất nhiều cái hang”. Cứ như vậy mà con ráp các con vật vô từng kiếp sống, tự nhiên 1 cảm thọ ngao ngán nó khởi lên. Tự nhiên thấy cuộc đời của mình, mình làm quá chừng, dù là kiếp sống nào mình cũng phải làm mới có ăn. Để rồi cái mình đem theo chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả. Cảm thọ nó không có còn mong muốn gì trong cái ngũ uẩn này.
“Thân này là khao khát, là thiếu thốn, là nô lệ cho tham ái”. Khi mà vô thất, con mới hiểu câu này 1 cách thấm thía. Khi mình sống 1 mình, những cảm thọ về dục khởi lên rất là mạnh mẽ. Lúc trước con nghĩ sư phụ sao mà hào phóng quá, xây cái thất to quá, ở có 1 người mà rộng dữ. Con có nói điều này với Ni sư, khi mà Ni sư dẫn con đi thăm mấy cái thất. Nhưng mà khi vô thất rồi con mới hiểu được, thật ra mình không có ở 1 mình ở trổng đâu ạ. Mình ở với 5 đứa nữa, tổng cộng là 6 người ở trong cái thất, cho nên nó cũng không rộng lắm. Vô đó thì tự mình chiến đấu với chính mình. Năm đứa kia khi mà không có sư phụ, không có mọi người thì nó tấn công mình rất là mạnh mẽ.
Nó sai xử mình rất là nhiều, nhất là về phần dục. Con là 1 người mà mỗi lần con phát dục, thì con như con nghiện vậy đó, con lăn lộn, quằn quại trên cái giường. Lúc đó con chẳng nhớ gì hết, con chỉ nhớ sư phụ ơi cứu con sư phụ ơi. Rồi khi con thấm thía câu: “Thân này là khao khát, là thiếu thốn, là nô lệ cho tham ái”, thì thật sự cái mà sai xử cái thân này như vậy là cái tâm dục bên trong. Còn nếu mình nghe câu đó là mình nghĩ thân này là thiếu thốn, là khao khát…mà mình đem triệt cái thân này thì cũng không có triệt hết cái lòng dục đâu ạ. Nếu mà triệt được thì mấy ông thái giám, mấy ổng hết dục rồi. Lúc trong thất con ngồi con nghĩ: “Bây giờ mình làm gì với cái thân này, dù cho mình có lấy dao mình bằm nó đi chăng nữa thì cũng còn dục à. Như mấy ổng thái giám cũng bị thiến rồi, nhưng cũng còn dục đấy thôi”.
Con ngồi con suy tư, con ngồi thiền xuyên đêm, con làm sao phải nói chuyện với cái thân này mới được. Khi con nhớ bài kinh của Đức Phật, Ngài nói về sự trôi lăn trong sanh tử của chúng sanh, con ngồi con tác ý theo, con nói: “Ồ, ví dụ như bây giờ có 8 tỷ người, 4 tỷ là đàn ông, 4 tỷ là đàn bà, mà cho ưng hết 4 tỷ ổng đó, lần lượt làm vợ của 4 tỷ ông đó. Thì 1 hồi mình làm bà bán bánh mì, bà bán bánh bèo, bà bán rau, công nhân…Rồi lần lượt cưới hết 4 tỷ ông đó thì được cái gì, mình chung cuộc cái gì? Thật sự thì dù mình cưới 4 tỷ ông đó đi, thì lòng dục mình cũng không thỏa mãn đâu. Chung cuộc lại thì Đức Phật có nói, khi Ngài chứng đạo thì Ngài nhớ được các kiếp sống quá khứ, 1 đời, 2 đời, 3 đời, 10 đời, 100 đời, 1000 đời, thành kiếp và hoại kiếp.
Thì chung cuộc lại Ngài chỉ thấy lại 1 chữ, là “khổ” thôi, đó là khổ Thánh đế. Bây giờ mình có ưng lần lượt hết 4 tỷ ông đó, thì chung cuộc của mỗi kiếp sống đó cũng là khổ thôi. Như vậy mày thèm khát gì của những người đàn ông đó, bộ vô lượng kiếp qua mày ế lắm, ông ai ưng mày hả? Bộ mày ở giá nhiều kiếp lắm sao mà bây giờ mình thèm dữ vậy? Mày thèm yêu thương, thèm được quan tâm dữ vậy? Bộ đây là kiếp đầu tiên của mày hả? Bao nhiều kiếp mày trải qua rồi mà. Rồi bây giờ mày vẫn còn ngồi đây, chứ đâu phải mày ngồi trên tịnh cư thiên đâu”. Con cứ nói chuyện với nó, rồi bắt đầu con lấy bài của bậc đạo sư dạy về nghiệp dục, con tác ý theo lời chỉ dạy của bậc đạo sư.
Khi quán bất tịnh, lúc trước mình quán trên cái thân người khác mình không có cảm thọ. Mình cứ quán bất tịnh ngay trên thân của mình, mình thấy có cảm thọ rất là nhiều. Cứ chỗ nào hồi nào tới giờ mình thấy nó đẹp, nó hấp dẫn, thì mình quán dòi, quán dơ, quán nó hoại diệt, lão hóa. Rồi chỗ nào mình thấy nguyên cái thân nó ráp lại nhiều phần thì nó mới đẹp, bây giờ mình ráp lại từ trên xuống dưới toàn tóc không à. Chỗ nào cũng mọc tóc, cũng có lông, có mống hết. Như vậy thì nguyên 1 cái thân chỉ có 1 bộ phận đó thôi, thì tự nhiên thấy nó nản, bắt đầu nó nhả nhả lần ra. Con không có dám nói là con diệt hết dục, nhưng con thấy nó giảm.
Thì hôm nay được sự chỉ dạy của sư phụ, khi con ngồi con tìm bài kinh nào đó để hôm nay con trùng tuyên. Thì con ráp lại, con nhớ quá trình con tu tập trong thất. Con cũng có 1 chút hiểu biết nho nhỏ của con, con kính trình trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Con có nói gì không đúng thì mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, sư cô và đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Để con được tu tập tinh tấn trong pháp và luật này. Con cũng xin chia sẻ 1 chút nữa là, lúc trước con nghe khổ thì con bị tâm lý ở nhà, mẹ con hay nói là đừng có nói khổ trên miệng. Đừng bao giờ nói xui, nói vô thường, nghe mấy cái đó nói là nó tới.
Nhưng mà khi con học Phật rồi con mới biết, khi mình nói là mình có cái trí về ngũ uẩn, nhận diện được 5 uẩn, thực hành được 3 pháp, mình thấy được sự thật của Đức Phật rồi. Thì mình thấy cái tâm mình nó khác, mình không còn lo lắng, sợ hãi, phiền não khi mình thấy khổ nữa. Mà cái tâm của mình là cái tâm thấy khổ, nhưng mà cái tâm nó bình thản trước cái khổ, vì mình có cái trí. Đó là tất cả những gì con muốn chia sẻ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Dạ mô Phật, xin cảm ơn những chia sẻ trực quan và đầy sống động của sư cô Đồng Dương. Khi nghe những lời chia sẻ của cô, con cũng cảm thấy thật là rùng mình. Con thấy thật là chán cho cái thân tứ đại này, mình đã từng là thân nam, thân nữ rất là nhiều. Mà cứ bị dục ái chi phối, và cũng hay thường gán cho mình là tuổi này tuổi kia. Và những gì sư cô chia sẻ rất là sinh động, và cũng mong tất cả mọi người cũng lấy đây là đề tài thiền quán cho mình. Làm người chưa đủ, bây giờ lại đặt thêm tuổi thìn, tuổi tí, tuổi rắn, tuổi chuột, khổ như vậy là chưa đủ sao. Cảm ơn sự chia sẻ của sư cô, tiếp theo con kính mời sư cô Hiền Trang.
IV. Sư cô Hiền Trang
“Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể chư vị hiền trí. Hôm nay được sự cho phép của sư phụ, con cũng xin đọc 1 bài kinh mà con khá là tâm đắc. Bài kinh “Người Vợ Trẻ”, Tăng Chi Bộ kinh tập 1.
“1. - Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: “Hãy đi đi, các người có biết được gì!”
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: “Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!”
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập I – kinh Người Vợ Trẻ)
Khi con mới được đọc bài kinh này đầu tiên, cảm nhận trong côn rất là bất ngờ. Con thấy Đức Phật rất là gần gũi, Ngài đã đưa ra 1 ví vụ rất là dễ hiểu, sinh động. Để Ngài nhắn nhủ với hàng đệ tử rằng phải luôn gìn giữ, nuôi dưỡng cái sơ tâm ban đầu. Ngày mình mới được xuất gia, thì cái tâm ban đầu của mình thường hay e dè, cung kính, tôn kính đối với Phật, pháp, đối với thầy của mình, đối với huynh đệ đồng tu. Cái tâm chân thành, chân chánh, tha thiết cầu đạo, giải thoát của mình rất là mạnh mẽ. Nhưng mà sau 1 thời gian, khi mà được chung sống gần gũi, tiếp xúc nhiều 1 thời gian thì thường hay sanh ra tâm nhàm chán, sanh lờn. Và tâm địa ấy không còn sự chân thành, chân chánh, mất đi sự e dè, cung kính, sợ hãi lúc ban đầu.
Điều này rất là nguy hiểm, tai hại, con rất là sợ điều đó xảy đến với mình. Và quả thật, cái tâm này đã xảy ra đối với con. Lúc mà mới tu thì con có 1 sự sợ hãi, e dè, cẩn trọng, thận trọng trong từng oai nghi, lời nói, hành động khi tiếp xúc. Nhưng mà sau 1 thời gian, khi mà ở lâu được vài tháng, nhiều tháng, thì con thấy tâm mình mất đi sự e dè, cung kính đối với các bạn đồng tu. Ví dụ như lúc đầu con mới lên Linh Quy, con gặp quý thầy bắt cứ ở đâu thì con cũng xá chào, giữ lễ rất là cung kính. Nhưng mà sau 1 thời gian thì con thấy mình có thay đổi, nhiều lúc con gặp quý thầy ở dưới bếp, con cũng không có xá. Và ý hành trong con nó nói: “Mình gặp quý thầy quài, 1 ngày gặp không biết bao nhiêu lần thì xá chi, chắc mình không xá cũng không sao”.
Khi mà con nhìn lại cái tâm mình như vậy, thì con thấy rất là xấu hổ, và con thấy sợ cho cái tâm của mình. Nếu mà mình không nhận diện ngũ uẩn, mình sẽ không thấy thọ, tưởng, hành nó qua mặt mình, nó lừa mình đi vào trong bất thiện pháp hồi nào không có hay. Khi mà mình chưa có chứng dự lưu, chưa có Chánh kiến, vẫn còn là phàm phu như con thì con nhắc nhở mình không có tin vào cái tâm của mình được. Cái tâm của mình rất là vô thường, rất là phản trắc, nó thay đổi liên tục. Giờ này nó có thể nghĩ thiện như thế này, những chút nữa nó có thể nghĩ ác, nó nghĩ kiểu khác. Chỉ khi nào chứng được dự lưu quả, thì mình mới có được 1 cái tâm nhất hướng, bất thoái chuyển.
Bởi vì vậy cho nên con luôn tác ý rằng, mình phải thật cẩn thận với cái tâm của mình. Mình phải luôn luôn như lý tác ý, để nuôi dưỡng và gìn giữ cái tâm ban đầu, cái tâm cung kính, giữ lễ, tương kính như tân đối với sư phụ, chư vị, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô. Giống như ở trong bài kinh lúc này, khi lúc đầu mình đối với thầy của mình, đối với huynh đệ, ngay cả những người làm vườn, những Sadi nhỏ hơn mình, mình cũng e dè, giữ lễ, cung kính. Khi đó mình rất là hiền lành, dễ bảo, dễ nghe, rất là ngoan. Nhưng mà sau 1 thời gian mình tu lâu rồi, mình thấy không còn mới mẻ nữa, bắt đầu mình sẽ sanh ra cái tâm sanh nhờn. Sanh ra cái tâm nhiều khi là bản ngã to đùng, chống đối, không còn sợ, không còn kính ai nữa hết. Thì đó là 1 chuyện vô cùng bất hạnh cho 1 người tu.
Chính vì vậy con lấy làm tâm đắc đối với bài kinh “Người Vợ Trẻ”. Và luôn lấy những lời Đức Phật dạy trong bài đó: “Ta sẽ sống với tâm của người vợ trẻ khi mới về nhà chồng”. Thì con nhắc nhở tâm mình phải giữ được sơ tâm ban đầu, đúng như lời Phật dạy. Đó là phần chia sẻ cảm nhận của con đối với bài kinh “Người Vợ Trẻ”, Tăng Chi Bộ kinh tập I. Con xin cảm ơn đại chúng đã lắng nghe, Nam Mô bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin cảm ơn trên sự chia sẻ của sư cô Hiền Trang, với một chủ đề không mới nhưng mà rất là khí để tu tập. Lúc nào mình thử nhìn lại lúc ban đầu mình mới lên chùa, mới vào cổng chùa, thì luôn luôn với 1 cái tâm cung kính, sợ sệt, e dè. Rồi sau 1 thời gian chung sống thân mật, thân cận, thì những cái tâm đó nó bị mài mòn, hao mòn đi rất là nhiều. Đối với 1 người tu hay là 1 người Phật tử, cư sĩ, đi đến chùa cần phải cẩn trọng. Lời chia sẻ của sư cô cùng là lời nhắc nhở cho chính con, vì thường thường mình nghĩa những cái cao siêu, mà những cái tầm thường, bình thường, hay những điều nhỏ nhặt mình không có sợ hãi. Thì đúng là 1 tội lỗi, 1 sự đáng chê trách đối với chính mình.
Con xin cảm ơn trên lời chia sẻ của trên sư cô, tiếp tục con kính mời 1 sư cô chia sẻ.
V. Sư cô 1
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con xin kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con xin thành kính đảnh lễ thầy trụ trì Linh Quy Pháp Ấn. Con xin thành kính đảnh lễ quý thầy, Ni cô, chư vị hiền trí. Nhân duyên có duyên lành con đến Linh Quy Pháp Ấn, thì con chỉ có vài lời ngắn gọn thôi. Con thì theo học ở Miến Điện, thì truyền thống ở Miến Điện thì nguyên thủy kinh Nikāya là tạng kinh. Còn về giới luật hay là luận tạng, cũng đều từ kinh nguyên thủy ra hết, chứ không có 1 lời nào khác. Thì con có lời chia sẻ từ trong kinh “Tứ Niệm Xứ”, thì Đức Phật có dạy: “Tứ niệm xứ là con đường độc nhất đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên chỉ có tứ niệm xứ mới đưa mình đến thoát được ngũ uẩn hay không. Để có tứ niệm xứ, mới đưa mình nhận biết rõ tứ Thánh đế”.
Và trong kinh Tứ Niệm Xứ có dạy: “Khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi co duỗi, mặt áo, ăn cơm cho đến đại tiểu tiện vị Tỳ-kheo cũng nên biết rõ”. Tại sao như vậy? Khi những hành động của vị Tỳ-kheo thiền quán ở trên thân mình, quán thân trên thân, tức là Khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi co duỗi, mặt áo, ăn cơm cho đến đại tiểu tiện, ngủ cũng 24 giờ tỉnh thức. Khi cái tâm mình trú tâm chánh niệm trên cái thân đó, thì nó sẽ có 1 định lực. Do định lực đó bắt đầu tâm tỏa sáng lần lần, tỏa sáng là ở chỗ đây. Từ đó khi bắt đầu ngồi thiền, hoặc là mình trong lúc đi thiền hành, thì mình sẽ thấy ở cái tâm vi tế, thấy ở 2 tiến trình của thân và tâm.
Thay vì nói thân mình là sắc, thọ, tưởng, hành thức. Thì thân là sắc uẩn, còn tâm là thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên chỉ nói 2 tiến trình của thân và tâm, qua con đường hành thiền của tứ niệm xứ, thì vị hành giả sẽ nhận thấy được tiến trình của tâm và của thân. Từ đó sẽ thấy được bản ngã bớt lần lần, đến lúc nào đó sẽ thấy được sự thật vô thường, khổ, vô ngã. Và niềm hỷ lạc sẽ mang đến cho vị hành giả đó. Thì lúc đầu mình không cần phải do tâm tỏa sáng, mà khi tâm nhận biết rõ tiến trình của thân và tâm, thì tự nhiên cái trí tuệ mình được khai mở. Mình không cần phải dồn ép, bắt buộc phải cung kính quý thầy, hoặc là mình phải nhìn sự vật mình đoạn dục đâu, mà do quá trình công phụ chánh niệm ở trên tứ niệm xứ đó, thì tâm sẽ thấy rõ. Dạ con xin hết ạ.”
Dạ mô Phật, cám ơn trên sự chia sẻ của sư cô. Và con cũng thưa trên sư cô, ở đây cũng có hàng ngày tu tập tứ niệm xứ, cũng đanh tụng niệm và hành trì tứ niệm xứ. Con xin chia sẻ sư cô 1 câu sư cô chiêm nghiệm, và cũng được lấy trong kinh tạng Nikāya: “Không bệnh lợi tối thượng, Niết-bàn lạc tối thượng, bát chánh là độc đạo, an ổn và bất tử”. Cho nên nhiều lúc mình chỉ nghĩ tứ niệm xứ là con đường độc nhất, mà nó sẽ có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong những lời dạy của Thế Tôn. Trong 4 câu kệ Đức Phật cũng đã nói: “Bát chánh là độc đạo”. Rất mong trên sư cô chiêm nghiệm, nếu có điều gì thắc mắc, sư cô cứ hỏi sư phụ con. Để được cùng nhau giải đáp những điều mà mình đã học, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tiếp theo con xin mời giới tử Hiền My ngồi tại chỗ, mình chia sẻ về trùng tuyên Thánh điển. Mời 2 vị ngồi gần chúng ta lui xuống, để cho cô Hiền Duyên và cô Dịu An ngồi lên đó.
VI. Sư cô Hiền Duyên
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ trên pháp ân của bậc đạo sư tôn kính.
Con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con pháp danh Hiên Duyên, cho phép trên sư phụ, con xin được trùng tuyên bài kinh “Lỗ Khóa”, một bài kinh trong đại tạng kinh Nikāya, kinh Tương Ưng Bộ. Bài kinh này đã làm cho con có niềm tin với Tam Bảo rất là lớn, giúp con có thêm nhiều động lực, để con bước trên con đường tu này. Thì hôm nay con xin được trùng tuyên, và chia sẻ đến với đại chúng:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷkheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?
Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?
Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
(Tương Ưng Bộ IV – kinh Lỗ Khóa 2)
Thì mới lúc đầu con đọc bài kinh này, con không hiểu vì sao mà con rùa mù ấy chỉ nổi lên mỗi 100 năm chỉ 1 lần. Nhưng mà nó được chui cổ vào lỗ hổng ấy, có chỉ duy nhất 1 lỗ hỏng, mà nó còn dễ hơn là kẻ ngu khi 1 lần rơi vào đọa xứ mà có thể được làm người trở lại. Khi con bắt đầu chiêm nghiệm vào lời kinh, lời dạy của Đức Phật. Thì con cảm thấy sao lời nói của Đức Phật hay quá, nó không phải là cái gì viễn vong, mà nó rất là khoa học và thực thế. Con đưa ra ví dụ và suy nghĩ rằng, nếu kiếp này giả sử con tạo nghiệp, con bị đọa xuống cõi súc sanh, bàn sanh, con mang cái thân con mèo. Thì trong cõi súc sanh đó, đâu có pháp hành, còn nói gì đến chánh hành.
Cũng đâu có biết nghiệp, phước, nhân, quả. Thì con mèo đó chỉ sống theo tập tính của nó. Thì khi đã mang nghiệp bị đọa vào thân con mèo rồi, mà sống với tập tính giả sử 1 kiếp sống con mèo ăn 100 con chuột. Thì không phải là cái nghiệp cũ chưa giải được, thì đã thêm 100 cái nghiệp mới. Thì khi đó phải trôi lăn, phải chịu nghiệp quả đến bao giờ mới được giác ngộ, mới đầy thai lên được làm người trở lại. Khi con chiêm nghiệm, con thật là sợ vòng sanh tử luân hồi. Mà không phải đến khi chết mới sợ, mà con đưa vào đời sống thực tại. Thì con thấy đời sống này đâu cần phải đến khi chết đi, khi vào đời sống khác nó mới ghê sợ đâu. Mà chính ngay vào đời sống thực tại này cũng đâu khác gì địa ngục, hay cõi súc sanh đâu.
Vì con người càng ngày càng ác, con thấy người giết người còn dễ, còn xảy ra hằng ngày càng nhiều hơn. Thậm chí là máu mủ ruột thịt, con mà còn giết cha giết mẹ, thì kẻ mạnh ăn hiếp ngày càng nhiều. Thì con cảm thấy rất là ngao ngán đời sống hiện tại, ở ngoài thế tục. Khi mà con chiêm nghiệm, thì con cảm thấy mình còn may mắn hơn là con rùa mù ấy. Vì giống như lời sư Dương có chia sẻ, thì con cảm thấy: “Tại sao mình lại may mắn như vậy, kiếp này mình sanh ra được làm người, được mang cái thân người này. Trong khi đó biết bao nhiêu mạng sống khác phải mang loài thú, loài mèo, loài chó, loài động vật trên cạn, dưới nước…Thậm chí là không kể những loài hữu tình, mà còn biết bao nhiêu loài chúng sanh vô tình.
Thì con thấy là mình rất là may mắn, kể cả trở về thực tại con còn thấy mình may mắn hơn nữa. Vì hiện tại đây biết bao nhiêu sanh mạng sanh ra và chết đi, trong 8 tỷ người thì con lại được mang thân người lành lặn. Được gặp Chánh pháp, sống trong Chánh pháp của Đức Phật. Thì con thấy mình còn may mắn hơn con rùa mù đấy. Cũng như là con cảm thấy mình rất may mắn, khi con được sư phụ chỉ dạy về 4 sự thật của Thánh đế, như là lời tuyên bố của Đức Phật đã dạy. Đó là thấy khổ, thấy nguyên nhân của khổ, thấy sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Cũng như sư phụ đã dạy, khổ do đâu? Khổ là do sự chấp thủ ngũ uẩn, là phiền não và khổ đau.
Nguyên nhân của khổ chính là do vô minh và khát ái, đối với ngũ uẩn. Sự chấm dứt khổ là khi vô minh, khát ái dứt sạch đối với ngũ uẩn. Và con đường đưa đến diệt khổ, chính là con đường Thánh đạo 8 nghành. Sư phụ đã đưa ra rất là rõ ràng trình tự, đúng như lời Đức Phật. Thì khi con chiêm nghiệm, con thấy mình rất là may mắn. Con rất là hoan hỉ, khi những ngày qua con được sống trong ngôi nhà Chánh pháp. Con sanh ra trong dục, lớn lên trong dục, nhưng con đang đi dần trên con đường thoát li khỏi dục. Những ngày con được sống trong nếp nhà Nikāya, là những ngày con hạnh phúc nhất trong cuộc đời của con. Mà con thấy không phải chỉ con mới cảm nhận được niềm hạnh phúc ấy, mà có phải quý vị trong 2 tuần qua cũng đã cảm nhận được đúng không ạ?
Thì con cảm thấy cái nguyên nhân con muốn trùng tuyên lại bài kinh này, là con muốn nhắc nhở bản thân mình, và muốn truyền động lực cho mọi người. Những ai đã tìm thấy Chánh pháp, mà chưa quyết định mạnh mẽ. Thì hãy nắm bắt cơ hội này, phải biết mình đang may mắn hơn con rùa mù ấy. Hãy nắm bắt cơ hội ngàn năm có 1, để có thể thoát lìa ra khỏi cái vòng sanh tử đau khổ. Những ai đã và đang bước trên con đường Thánh đạo, thì hãy cùng con, cùng sư phụ nắm chặt tay để lan tỏa Chánh pháp. Cũng như cùng nhau tiến tới con đường Niết-bàn, để lìa xa dục lạc phàm phu thấp hèn. Để đạt được cái niềm hỷ lạc tối thượng, đó chính là thoát khỏi vòng sanh tử, để đạt được an lạc, Niết-bàn.
Đó là vài dòng chiêm nghiệm trong sự hiểu biết còn non cạn của con, con kính trình lên trên sư phụ. Kính mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí sẽ chỉ dạy con thêm. Con cám ơn sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí đã lắng nghe con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
VII. Sư cô Diệu An:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Hôm nay con được sư phụ chỉ dạy con trùng tuyên Thánh pháp, con xin được trùng tuyên bài con đường độc nhất, kinh “Niệm Xứ”, Trung Bộ Kinh tập I, bài 10:
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây:
– Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
– Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”
(Trung Bộ kinh I – Kinh Niệm Xứ)
Trong quá trình con học pháp, thì con rất tâm đắc bài kinh này. Khi con ở nhà, con đã lấy bài kinh này để làm động lực. Con cắt ái, li gia, theo sư phụ về núi yên tu. Bài kinh Đức Phật dạy chính là luôn quay lại thâm tâm của mình, để mình quán sát thân tâm của mình. Mình quán sát thân và nội tâm, cảm thọ và các pháp nó vận hành trong thân tâm của mình. Và đây con đường duy nhất, độc nhất và tối thượng nhất để đưa chúng ta vượt khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não trong cuộc đời này. Con rất là tâm đắc bài kinh này, con luôn tác ý để con mạnh mẽ bước lên trên con đường này để mà con đi. Vì trong đời sống của con, con cũng rất là khổ đau. Từ bé cho đến lớn chưa 1 ngày nào con được bình an trong cuộc sống.
Khi con gặp được sư phụ, thì con vỡ òa cảm xúc, con không còn suy nghĩ nhiều nữa. Con xin sư phụ về núi yên tu, để con được đi trên con đường Thánh đạo mà Đức Thế Tôn đã để lại, và sư phụ đã truyên trao. Đây là những dòng cảm xúc của con, khi con đọc bài kinh này. Sự hiểu biết của con còn non kém, vì con cũng mới vào học tập, tu tập, hành trì thời gian rất là ngắn. Chính vì vậy mà con kính mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Sư cô 2:
“Mọi người vừa mới nghe tiếng chuông Chánh niệm, mọi người có nghe thấy không ạ?
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ơn Đức Thế Tôn
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ơn đức sư phụ, Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí và tri thức. Trong kinh Pháp Cú thì Đức Phật có dạy:
“Đêm dài cho kẻ thức
Đường dài cho kẻ mệt
Luân hồi dài cho kẻ ngu
Không biết chơn diệu pháp”
Trong khóa tu cách đây mấy hôm, thì sư phu cùng chư Tăng Ni đã cho chúng con đi thăm lò sát sanh ở trên Youtube. Con thật sự chấn động, và rất biết ơn cuộc viếng thăm này. Con xin được chia sẻ về kinh nghiệm của mình, trong 1 căn phòng tối tăm, dơ bẩn, máu me lênh láng. Ở trên sàn nhà, 1 người thanh niên dùng hết sức mình để kéo lê 1 bao tiền rất là lớn. Trong bao thì có rất là nhiều cục tiền, xấp tiền đủ kích cỡ. Có xấp thì bằng 1 cái thau, có sấp thì bằng đống ruột có dính phân hôi trong đó. Cái thau đựng máu tanh tưởi bán được là tiền, cái bộ đồ lòng nhầy nhụa, nhơ nhớp, cũng bán được tiền. Cái lỗ tai dính đầy cứt ráy, lỗ mũi dính cứt mũi, rồi cái lưỡi ăn cám rất là dơ, cũng như trong cái miệng đầy ổ vi trùng, vi khuẩn.
Tất cả đều là những nguồn hái ra tiền, gặt ra tiền. Heo là tiền, là cái bao thịt, bị thịt, bao da, túi da. Lôi heo đi giết, thì đồng nghĩa với việc kéo được bao tiền to. Đồng tiền là 1 đống phiền não, 1 đống khổ cho con heo. Nhưng mà tiền là tiên cho người thanh niên. Tiền nó có 1 sức hút rất là mạnh, nó cho anh ta sức mạnh để kéo heo thật mạnh, đâm thật mạnh vào cái cổ cho máu ọc ra. Cái lòng tham là sợi dây, con heo là cây cột, nhưng cây cột này nó có dây thần kinh nên nó giãy giụa, gào thét, hét lên, rú lên, rống lên. Chân nó bấu vô cái sàn nhà, ghì chặt, ghìm chặt lại để chống lại lòng tham, chống lại sự độc ác của người đồ tể.
Máu phun ra, trào ra, bắn ra, xịt ra, con heo bị ném vào trong 1 nồi nước rất là trong, nó trở nên loang lỗ. Làm cho con thấy rất là thấm thía lời Phật dạy, về máu và nước mắt nhiều hơn biển. Bộ phim về đồng tiền dính máu này, nó kết thúc thật là bi thương. Nhưng mà trước và sau bộ phim này, là nhiều những bộ phim khác dài đằng đẵng. Vô minh, nghiệp và nhân quả làm đạo diễn rất là tài tình, luôn luôn có máu và nước mắt đổ ra biển lớn, biển khổ. Không có sóng êm dịu ở đó, mà là sự gào thét, vũng vẫy, giãy giụa. Sóng của tham, sân, si, bản ngã, dâng cao và đập cuồn cuộn vào chúng sanh. Làm cho họ thịt nát xương tan, thân bại danh liệt, và tuôn ra những dòng nước mắt đầy tràn thương đau.
Người ta bằm, chặt, đâm, chém thịt heo, thịt chó để ăn. Ăn xong thì họ chửi ngu như chó, ngu như bò. Người tây phương thì người không có nghĩ là chó ngu, hay heo ngu. Họ nói chó và heo rất thông minh, họ rất cưng chó heo. Đức Phật nói: “Luân hồi dài kẻ ngu”, đường luân hồi nó tăm tối, nó đen giống như là bầu trời đêm ngoài kia lúc này. Đầy tràn những hiểm nguy, nguy nan, ách nạn, oan nghiệp, oan gia. Đâm đầu vào vòng luân hồi, mà còn yêu thích trong luân hồi mới thật là ngu. Chó khi mà bị kéo đi giết, con chưa bao giờ con thấy con chó mà cái lưng nó lại bị vòng lên, heo thì ì người nó ra, ưỡn ra chống lại, ghì chặt cái chân lại. Chó và heo nỗ lực hết sức nhưng mà muộn rồi, và muộn là vô ích.
Như cô Dương lúc nãy có nói đất trong mống tay, hay con rùa mù như cô Duyên chia sẻ. Thì cơ hội được làm người thật là quý báu, không thể nào mà nỗ lực muộn được, phải nỗ lực hết sức. Phải ghì cho thật chặt lại, ghì cho đứt được sợi dây tham ái, sợi dây tái sanh, phải nỗ lực hết sức ở đây và ngay bây giờ. Đã thấy được cái bóng của cây thúc ngựa, thì chúng ta còn chờ gì nữa. Đã biết Chơn dịu pháp, chúng ta còn chờ gì nữa. Niết-bàn là vui tối thượng, hãy mau lẹ làm thanh tịnh, con đường tới Niết-bàn, để rồi chúng ta còn chạy, chạy thật là nhanh. Con xin biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn sưu phụ và đại chúng.”
Mô Phật, gần 2 giờ trôi qua thật là nhanh, tối nay được trên quý thầy, quý sư cô, Ni sư chia sẻ, con thấy thật là hạnh phúc, thì chúng ta cho 1 tràng pháo tay. Con biết là ngày hôm nay mọi người dọn dẹp rất là mệt, mà vì tình thương, sư phụ muốn cho mọi người an trú trong pháp, cho nên mới có buổi tối ngày hôm nay. Để kết thúc buổi tu tập, con kính mời thầy Nhuận Tín, chúng ta mời thầy và đại chúng đọc lại bài “Niệm gia tài của Đức Phật”. Để chúng ta nhớ, nghĩ, và để tu học cho đúng trên con đường đạo lộ của Thế Tôn.
Tăng Ni Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 16 tháng 12 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ni sư Thông Tịnh PAGEREF _Toc175645355 \h 1
II. Sư cô Tuệ Quý PAGEREF _Toc175645356 \h 3
III. Sư Thầy Nhuận Tín PAGEREF _Toc175645357 \h 6
IV. Sư cô Hiền Trang PAGEREF _Toc175645358 \h 15
V. Sư cô 1 PAGEREF _Toc175645359 \h 18
VI. Sư cô Hiền Duyên PAGEREF _Toc175645360 \h 20
VII. Sư cô Diệu An: PAGEREF _Toc175645361 \h 23
Thương mình thật nhiều, và thương loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Tâm thương rộng lớn, rõ biết tâm thương rộng lớn, cảm giác tâm thương rộng lớn. Để bắt đầu buổi trùng tuyên pháp điển, con bắt đầu mời quý thầy, quý sư cô và đại chúng cùng niệm danh hiệu “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” 3 lần.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Được sự chỉ dạy của sư phụ, hôm nay quý thầy và quý sư cô cùng các bậc hiền trí, sẽ trùng tuyên thánh điển Nikāya. Và sẽ chia sẻ những ý nghĩa về những lời Thế Tôn đã truyền trao, đó là lý do của buổi tối ngày hôm nay. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Để bắt đầu buổi trùng tuyên thánh điển, con kính mời trên Ni sư Thông Tịnh sẽ bắt đầu, con kính mời Ni sư.
I. Ni sư Thông Tịnh
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên sư phụ, tối nay được sư cho phép của sư phụ, con trùng tuyên thánh điển, bài kinh “Chói Sáng Tăng Chúng”, Tăng Chi Bộ kinh, tập 1.
“Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo. Thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỳ-kheo, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Tỳ-kheo Ni, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Nam cư sĩ, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Nữ cư sĩ, này các Tỳ-kheo, thông minh được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng Tăng chúng.
Ai là người thông minh, là người không sợ hãi, lại là người nghe nhiều, và cũng trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Người như vậy được gọi “vị chói sáng Tăng chúng”.
Vị Tỳ-kheo đủ giới, Tỳ-kheo Ni nghe nhiều, bậc cư sĩ tiếng nam, bậc cư sĩ tiếng nữ, họ chói sáng Tăng chúng, là ánh sáng chúng Tăng.”
Mô Phật thưa đại chúng, chói sáng chưa ạ? Con nhìn thấy các vị, con thấy ai cũng sáng trưng hết trơn. Qua bài kinh này Đức Phật dạy chúng ta, là người thông minh như vậy, thì con thấy như sư Tuệ Khanh, sư Tuệ Quý, sư Khánh An, sư Huệ Lý. Những vị đó người ta bỏ chùa, người ta chạy lên Linh Quy Pháp Ấn người ta tu, như vậy là chói sáng chưa ạ? Vì thấy được lợi ích của Phật pháp, mà các vị không màn, nên lên đây cùng với đại chúng tu tập. Quý thầy cũng là người thông minh, bỏ hết tất cả để lên Linh Quy Pháp Ấn tu tập, biết được sự thật của cuộc đời. Như vậy thì trong đạo tràng chúng ta rất là hạnh phúc, gặp được những vị Tăng như vậy, là ánh sáng để dìu dắt các bạn mới đến. Như vậy có xứng đáng là chói sáng không ạ?
Hơn nữa có những vị nam cư sĩ, khi mà biết được sự thật về ánh sáng Phật pháp nơi này, Chánh pháp của sự thật tại đây. Thì các vị về đây tu tập, lúc đầu các vị không biết ánh sáng Phật pháp là gì cả, về đây tu học gieo duyên. Gieo duyên xong thì không muốn gieo duyên nữa, ở lại luôn, như vậy là chói sáng chưa ạ? Hay các cô cư sĩ cũng vậy, về đây tu học, lúc đầu con thấy xuất gia gieo duyên thôi. Nhưng lần lần ở lại luôn, hơn nữa con thấy cô An Mỹ, con thấy cô học rất nhiệt huyết, chu đáo. Vì các vị này thấy được sự lợi ích của Chánh pháp, thì tập trung về đây tu học. Như Đức Phật nói: “Ai là người thông minh, là người không sợ hãi, lại là người nghe nhiều và cũng hạnh trì pháp. Đối với Chánh diệu pháp, vị Tỳ-kheo nghe nhiều, vị Tỳ-kheo đủ giới”.
Nếu như vị Tỳ-kheo tu hành không chơn chánh, thì có chói sáng Tăng chúng được không ạ? Như vậy thì vị Tỳ-kheo đầy đủ giới hạnh, đầy đủ oai nghi, sẽ làm cho ánh sáng Phật pháp ngày càng phát triển. Vì Tỳ-kheo Ni thì phải nghe nhiều Chánh pháp, gặp được bậc minh sự, gặp được bậc đạo sư, chúng ta ta nhiều để hành trì pháp. Bậc cư sĩ tiếng nam, bậc cư sĩ tiếng nữ, phải có lòng tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Thì họ sẽ là người làm rạng danh, rạng ngời giáo lý của Đức Phật. Và đem giáo pháp lan rộng ra để hộ trợ phạm hạnh, để giữ gìn giáo pháp của Đức Phật. Nếu như Đức Thế Tôn không lan tỏa ánh sáng này, như các vị cũng đã thấy, bậc đạo sư đã truyền trao ánh sáng trí tuệ của chúng ta. Và sư phụ đã đốt đền trí tuệ, truyền trao cho chúng ta.
Vậy thì chúng ta hãy cố gắng tu tập, giữ gìn giới luật, giữ gìn giới hạnh, để thành tựu những gì chưa thành tựu, để thành đạt những gì chưa thành đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc. Hội chúng của chúng ta thành tựu những cái đó, thì chính là ánh sáng của chúng Tăng. Con hy vọng rằng là đạo tràng chúng ta ngày càng tỏa sáng, ngày càng phát triển. Trước mặt con đây con thấy, vị nào vị nấy gương mặt cũng rạng rỡ. Con hy vọng rằng, ánh sáng này sẽ được tỏa sáng và lan tỏa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
(Tăng Chi Bộ I – kinh Chói Sáng Tăng Chúng)
Con cũng niệm ân sự chia sẻ của Ni sư. Và cũng là lời xách tấn cho bốn chúng, chúng ta tu học. Dạ mô Phật. Tiếp tục con xin mời sư cô Tuệ Quý.
II. Sư cô Tuệ Quý
“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, con kính thưa quý Ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Chúng con xin phép được trùng tuyên bài kinh “Thoát Li”, kinh Tăng Chi Bộ, tập IV.
“Pháp này, này các Tỳ-kheo, có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp này có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li?
Từ bỏ thoát li là con đường thoát li.
Từ bỏ lấy của không cho, là con đường thoát li lấy của không cho.
Từ bỏ tà hạnh trong các dục, là con đường thoát li tà hạnh trong các dục.
Từ bỏ nói láo, là con đường thoát li nói láo.
Từ bỏ nói hai lưỡi, là con đường thoát li nói hai lưỡi.
Từ bỏ nói lời độc ác, là con đường thoát li nói lời độc ác.
Từ bỏ nói lời phù phiếm, là con đường thoát li nói lời phù phiếm.
Không tham, là con đường thoát li sân.
Không sân, là con đường thoát li sân.
Có Chánh kiến, là con đường thoát li tà kiến.
Này các Tỳ-kheo, đây là con đường thoát li. Như vậy, này các Tỳ-kheo, pháp này có con đường thoát li, pháp này không phải không có con đường thoát li.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập IV – kinh Thoát Li)
Con rất là tâm đắc bài kinh này, này kinh này nhắc nhở cho con trong đời trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, cũng như trong tu học. Phải luôn giữ gìn thân, khẩu, ý của mình. Trong đó giữ gìn thân, là giữ gìn không sát sanh, không trộm cắp và không tà hạnh trong các dục. Giữ gìn lời nói là không nói láo, không nói lời 2 lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm. Giữ gìn ý là không tham, không sân và có Chánh kiến. Nếu như trước đây con tu học trong dòng pháp Nikāya, thì con hiểu 10 điều này đó là 10 điều thiện rất là đơn giản. Nhưng mà khi tu tập trong dòng pháp Nikāya, con cảm thấy 10 điều thiện này rất là sâu sắc, không đơn giản như con hiểu trước đây.
Bởi vì để thực hiện được 10 điều này, là người tu tập phải dựa trên nền tảng của tâm hiền, tâm từ, và nền tảng của trí tuệ, hiểu biết về nghiệp quả. Một người tu tập trên nền tảng của tâm hiền, thì không thể nói những lời độc ác, hay là sân giận. Một người được tu tập trên nền tảng tâm từ, thì không thể sát sanh, hại vật… Cho nên khi con chiêm nghiệm sâu về 10 điều này, cùng với sự tu tập trong dòng pháp Nikāya vừa qua thì con cảm thấy rất là sâu sắc. Mười điều này đó là căn bản để làm người, và nó cũng là nền tảng căn bản để nên địa vị của bậc Thánh. Không thể thành tựu đạo quả của bậc Thánh, nếu như không bắt đầu từ những căn bản của những điều thiện này.
Mười điều thiện này cũng nói lên giới, định, tuệ ở trong đó. Trong điều thứ 10 là có Chánh kiến, là con đường thoát li tà kiến. Chánh kiến ở đây là thấy biết rõ về thân tâm mình, thấy biết thế nào? Thấy biết ngũ uẩn này là pháp duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã. Khi mà hiểu biết được sự thật của thân tâm này, từ đó mình mới không có chấp thủ vào ngũ uẩn này và những ngũ uẩn khác. Từ đó con đường thoát ly mới được rõ ràng. Nếu không thì sự thoát ly, sự giải thoát chỉ là những từ ngữ trống rỗng, mơ hồ, mông lung. Bài kinh này nói lên 1 điều rất là rõ ràng, sự thoát ly, sự giải thoát, hay là sự từ bỏ, bắt đầu từ nên tảng tu tập thân, khẩu, ý của mình.
Chỉ có sự tu tập, từ bỏ những cái đó, thì mới bước tiếp giai đoạn từ bỏ ngũ uẩn này. Không thể nói từ bỏ sự chấp thủ ngũ uẩn này, nếu như người đó còn có sự sát sanh hại vật, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói lời độc ác, nói 2 lưỡi, nói lời phù phiếm, có thâm dục, có sân hận và có tà kiến. Chỉ thành tựu Chánh kiến khi mà mình đã thành tựu được những cái giới căn bản, thấp nhất của 1 con người. Cho nên bài kinh này, là bài kinh luôn để nhắc nhở con trong đời sống hằng ngày, trong việc giữ gìn thân, khẩu, ý của mình. Khi mình nói ra thì mình phải luôn luôn nhắc nhở mình phải nói như thế nào? Lời nói đó có chân thật hay không? Trong lời nói đó có sự thiêu dệt, phù phiếm hay không? Trong lời nói đó là lời nói thiện lành hay là độc ác?
Lời nói đó là lời nói đúng đắn hay là nói hay lưỡi? Đến người này thì nói như thế này, đến người kia thì nói như thế kia. Đó là việc con tự nhắc nhở lời nói của mình, tỏng đời sống hằng ngày. Cũng như trong việc tu tập, đoạn trừ tham, sân, si, đó là mục đích của 1 người tu cần phải làm. Đó là những sự hiểu biết của con trong bài kinh. Con cũng đang trên con đường tu học, nên sự hiểu biết đó cũng còn hạn chế, con mong trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Dạ mô Phật, cảm ơn chia sẻ của sư cô Tuệ Quý. Con tiếp tục kính mời thầy Nhuận Tín, dạ mô Phật.
III. Sư Thầy Nhuận Tín
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền trí. Con rất là hạnh phúc khi học kinh Nikāya, con xin trùng tuyên lại 1 đoạn kinh trong kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Trường bộ, bài 16 trong căn bản trí, bài kinh “Niệm Gia Tài Của Phật”.
“Này các Tỳ-kheo, nay Chánh pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi. Các ngươi phải khéo học hỏi và thực chứng, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người.
Này các Tỳ-kheo, nay Chánh pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi. Các ngươi phải khéo học hỏi và thực chứng, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người? Chính là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, 5 căn, 5 lực, bảy bồ đề phần, 8 Thánh đạo phần.
Này các Tỳ-kheo, pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các ngươi phải khéo học hỏi, tu tập và truyền rộng, để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu. Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho trời và loài người.”
(Trường Bộ kinh – kinh Đại Bát Niết Bàn)
Dạ mô Phật, con xin trình bày sự hiểu biết của con trong đoạn trích trên. Pháp mà Đức Phật tu tập chứng ngộ, đó là 37 pháp trợ đạo. Đây là gia tài của Đức Phật, đây là Chánh pháp, đây là lòng thương tưởng cho loài trời và loài người. Đức Phật rất là thương chúng sanh, thương hàng đại tử. Ngài dạy rất là kỹ: “Các ngươi phải khéo học hỏi, tu tập và truyền rộng”. Đức Phật truyền lại giáo pháp, nhắc các hàng đệ tử phải khéo học hỏi. Chúng ta phải khéo chọn Chánh pháp, khéo chọn bậc minh sư, khéo nhận diện ngũ uẩn, khéo hộ trì các căn, khéo tác ý. Khéo chọn những thiện pháp đưa đến lợi lạc, an lạc. Khéo giữ gìn các oai nghi, để làm hành trang hỗ trợ cho tu tập, đi theo con đường giới, định, tuệ, văn, tư, tu.
Đức Phật để lại Chánh pháp nhắc nhở chúng ta phải khéo học hỏi, chúng ta phải nỗ lực tinh tấn đi theo con đường Ngài chỉ dạy để tu tập có thành quả. Rồi sau đó mới hướng dẫn mọi người tu tập, đem lại lợi lạc cho tự thân mình, và lợi lạc cho chúng sanh. Ngài chỉ dạy đời sống hàng đệ tử của Đức Phật, của hàng Tỳ-kheo muốn có 1 đời sống Phạm Hạnh, thì phải thực hành theo Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, 5 căn, 5 lực, bát bồ đề phần, tám Thánh đạo phần. Đức Phật đã nhắc nhở, sống với các pháp kia để phạm hạnh được trường tồn, để làm lợi ích cho tự thân mình, cho chúng sanh, cho những người nương tựa. Để Chánh pháp nó sáng mãi, không bị mài mờ.
Con đọc qua đoạn kinh, con cũng bất ngờ vì mình học nhiều giáo pháp mới không có điểm trọng tâm. Bất ngờ vì nó thiếu 12 nhân duyên và tứ diệu đế, nó vẫn có liên quan đến 37 phẩm trợ đạo nhưng nó không có trọng tâm, con cũng thấy hơi bất ngờ. Qua bài kinh này con thấy được Chánh pháp, mình phải dựa vào những cái Đức Phật để lại. Để khỏi bị phân vân, khỏi đi tìm kiếm cái đúng, cái sai. Biết được giáo pháp mà Đức Phật đã tu tập, chứng ngộ, sau này mình cố gắng học hỏi, hay để hướng dẫn mọi người đúng theo Chánh pháp. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin cảm ơn trên bài trùng tuyên và chia sẻ của thầy Nhuận Tín. Tiếp tục chương trình con kính mời sư cô Đồng Dương.
Sư cô Đồng Dương:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên bậc đạo sư tôn kính
Con kính bạch trên sư phụ tôn kính
Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Mô Phật, đệ tử con pháp danh Đồng Dương, trước khi con trùng tuyên Thánh điển, cho phép con được nói đôi lời cảm tạ, tri ân trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Thời gian qua đã hỗ trợ và cho phép con được nhập thất 1 tháng. Hôm nay cho con được thành kính tri ân, niệm ân tất cả mọi nhân duyên lành để cho con được nhập thất thuận lợi trong thời gian qua, con thành kính tri ân lên tất cả. Hôm nay được sự cho phép của sư phụ, con phép con được trùng tuyên Thánh điển. Con xin phép đọc “Niệm Thân Vô Chủ”, kinh Ratthapala, Trung Bộ kinh tập II, bài 82.
“Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt
Thân này là vô hữu, vô chủ
Thân này là vô sở hữu, ả đi bỏ lại tất cả
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái”
(Trung Bộ Kinh II – Kinh Niệm Thân Vô Chủ)
Dạ Mô Phật con kính bạch sư phụ và đại chúng, thật sự lúc trước con đọc bài này trong căn bản trí 2, thì cảm thọ của con nó cũng không có được sâu sắc lắm. Nhưng mà khi con có duyên được nhập thất, thì việc đầu tiên con hướng đến, là con phải tác ý mình phải làm như thế nào để mình phải tác ý vô sơ thiền. Khi con chiêm nghiệm những lời của bậc đạo sư, và sư phụ chỉ dạy. Thì con nghĩ sơ thiền li dục, li ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do li dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy thì thế giới và thân tâm con người là ngũ uẩn, thì li dục có nghĩa là rời xa lòng mong muốn, lòng dục đối với ngũ uẩn này. Và con phải tìm mọi cách để con tác ý, để con li dục.
Không ngờ trong quá trình con tu tập như vậy, thì hôm nay con đọc tới bài “Niệm Thân Vô Chủ”, thì con thấy có như 1 trình tự mà con đã trải qua trong thất. Hôm nay thật sự khi con nghiệm lại con mới thấy, chứ lúc ra thất con cũng không có biết vô tình nó lại nằm trong cái trình tự của bài “Niệm Thân Vô Chủ” này. Con cũng xin chia sẻ 1 chút, là “thân này là vô thường đi đến hoại diệt”. Thì co có 1 cái duyên rất là may mắn cho con, khi con vô thất thì có rất nhiều duyên lành hỗ trợ cho con để mà con tu tập. Trong 1 lần con đi kinh hành, thì con thấy cái thân của 1 con chuột nó bị cắn đứt cái đầu, nó còn có phần thân thôi. Nó bị kiến bu rất là nhiều, nó rỉa, nó bu trên cái thân con chuột đó.
Thì con lấy đồ ra, con ngồi con thiền quán về cái thân đó. Khi con ngồn thiền quán về cái thân con chuột, thì con tác ý: “Ồ, từ cái thân này thì con tưởng ra cái thân của sư phó của con. Từ 1 người khỏe mạnh, ăn to nói lớn, chỉ trong vòng vài tháng thôi, con chứng kiến sư phó con bị bệnh tiểu đường, bị lao xương. Trong vòng vài tháng mà cái thân của ngài bị lở loét, nó càng ngày càng rộng ra. Do bị tiểu đường nó không lành vết thương, và mình có thể nhìn thấu đến cái xương trắng. Rồi trong thời gian ngắn tự nhiên rồi chết, còn lại hủ cốt”. Con chấn động, bàn hoàng nhớ lại sự kiện này đã thúc đẩy cho mình đi cầu pháp khắp nơi, không còn muốn bằng cấp của học viện gì hết, muốn bỏ hết để đi cầu đạo, mình mới nhớ lại tâm niệ, của mình.
Tiếp tục con triển khai thiền quán ra, con nhớ cái thân của bà nội con cũng bị tiểu đường. Bà tám mươi mấy tuổi nằm trên bệnh viện, cô của con chăm sóc, mà cô của con mắt kém không thấy đường. Cái thân của bà nội con thì bị mất cảm giác, cho nên kiến nó bu vô thân của bà nội con làm tổ trong đó luôn. Cô con mắt kém không có thấy, đến khi con lên con phát hiện ra, thì cô con lấy cái khăn đuổi kiến trong người bà nội con ra. Phủi chừng nào thì kiến bò ra chừng nấy, con nổi hết gay óc. Bắt đầu từ bên ngoài, con hướng vào bên trong, con nhớ lại cái gì nó diễn ra trên thân của mình, để mình thấy được sự vô thường, biến hoại của thân này.
Con nhớ lúc nhỏ con bị ghẻ ruồi, ruồi nó bu đầy người hết, mỗi lần ruồi nó bu là cảm thọ rất là khó chịu. Bắt đầu mình nhìn bộ phận trên cơ thể của mình, chỗ nào mình ưa thích mình triển khai ra mình thấy sự vô thường. Từ chỗ mình cho là nó hấp dẫn, nó đẹp, bây giờ nó xuề xòa. Bàn tay lúc trước nhớ năm mười mấy tuổi, mình cứ hay đứng rọi trước nắng mình thấy da nó óng ánh. Bây giờ ba mươi mấy tuổi nhìn lại đôi bàn tay đó, tuy là nó không gân guốc, xương xẩu, nhưng mà mình nó không còn được như năm mười mấy tuổi nữa. Rồi cái tai của mình rất là nhanh nhẹn. Giờ thì chỉ cần đeo tai nghe vào một chập thôi là bắt đầu rung rung, giật giật reo những tiếng kêu trong tai.
Những chỗ mình cho là đẹp nhất, thì bây giờ nhìn lại cũng rạn lên những vết rạn, bị thâm đen. Khi quán tự thân mình có rất nhiều cảm thọ trong đó, để mà nhàm chán, để nó li dục, rời xa sự ham thích, ham muốn trong ngũ uẩn này. Lúc trước con nghe sư phụ, chư tôn đức trình pháp về thân này vô thường, thực sự khi nghe về cái thân của người khác thì cảm thọ nó ít lắm. Khi mình tự quán trên cái thân của người, hoặc những người xung quanh mình đã từng chứng kiến, thì cảm thọ rất là sâu sắc. “Thân này là vô hữu, vô chủ”, thì con có nhớ là lúc trước bậc đạo sư có nói là: ““Vô hữu, vô chủ” là mình không có làm chủ cái thân mình đâu, cái thân mình bị phi nhân họ đi ra đi vô hoài à”, thì con chủ biết vậy thôi.
Khi ở trong thất con ngồi trước cái màn hình laptop, thì nó chỉ hiện trên màn hình laptop phần cổ con trở xuống thôi chứ không có cái đầu. Lúc này con bắt đầu triển khai thiền quán thì con thấy: “Ồ, tí là mày hay sửu là mày, dần là mày hay mẹo là mày…” Mười hai con giáp con ráp vô phần đầu, thì con thấy con nổi hết gai óc. Thì con thấy 12 con giáp không có tuổi nào hợp với tuổi nào hết, mà nó nhắc nhở mình là vô lượng, vô biên kiếp vừa qua, là mày toàn đội thân súc sanh không à, mày phải nhớ điều đó phải mày tu. Nhất là khi con xúc với 1 vòng quay may mắn, thì ô trúng thưởng có 1 ô là trúng thưởng giá trị. Còn trúng ba cái đồ vớ va vớ vẩn, hoặc không có trúng là chiếm đa số còn lại của vòng quay may mắn đó.
Con bắt đầu con cũng triển khai thiền quán, con nhìn vòng ô may mắn đó con nói: “Vậy Đức Phật nói đúng rồi, vô lượng, vô số, vô biên kiếp vừa qua mà mình được làm người hoặc làm chư thiên ít như ô trúng thưởng. Còn những kiếp mình trải qua vào địa ngục, cõi ngạ quỷ, súc sanh thì nó nhiều như những ô còn lại vậy đó”. Bắt đầu con triển khai ra, nội cái súc sanh thôi, ví dụ như heo, gà, chó gì đó, mà chia ra từng loài. Mà cả tỷ tỷ loài, nó lại chia ra từng giống loại khác nhau nữa. Nội chó thôi mà có chó bẹc rê, chó cỏ, chó mực, chó Phú Quốc gì tùm lum hết. Chứ kể những loài khác nữa, nào là loài trên không, trên đất, trong lòng đất, trong nước, thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh…biết bao nhiêu mà kể.
Như vậy đâu có được mấy ô chư thiên, mấy ô loài người. còn lại là mấy loài phân chia như vậy, rồi phân chia ngạ quỷ, quỷ nọ quỷ kia. Địa ngục thì biết bao nhiêu tầng, bao nhiêu ngục. Như vậy xát suất mình quay trúng ô chư thiên và loài người nó rất là thấp, còn xát suất mình quay vô ô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nó rất là nhiều. Như vậy lời Phật dạy là chính xác rồi, là đúng rồi. Thảo nào Ngài nói: “Đất trong móng tay của Ngài, giống như là chết đi mà sanh được làm người hoặc chư thiên. Còn sanh vào 3 đường ác thì giống như là đất trong địa cầu vậy đó”. Như vậy lời Đức Phật dạy quá thấm thía.
“Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả”, lúc trước con chỉ hiểu cạn cợt là chết thì nhà cửa, đất đai để lại cho người khác, chuyển tên cho người khác sở hữu, mình chỉ đem theo cái nghiệp của mình. Rồi 1 lúc ngồi suy tư con nói: “Mình đâu phải kiếp nào cũng làm người đâu, mà để lại nhà cửa, xe hơi choi người khác, đôi khi còn để lại 1 đống nợ nữa. Hay là mình đã từng là 1 con dòi, ra đi để lại 1 đống phân. Mình đã từng là con chuột, ra đi để lại rất nhiều cái hang”. Cứ như vậy mà con ráp các con vật vô từng kiếp sống, tự nhiên 1 cảm thọ ngao ngán nó khởi lên. Tự nhiên thấy cuộc đời của mình, mình làm quá chừng, dù là kiếp sống nào mình cũng phải làm mới có ăn. Để rồi cái mình đem theo chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả. Cảm thọ nó không có còn mong muốn gì trong cái ngũ uẩn này.
“Thân này là khao khát, là thiếu thốn, là nô lệ cho tham ái”. Khi mà vô thất, con mới hiểu câu này 1 cách thấm thía. Khi mình sống 1 mình, những cảm thọ về dục khởi lên rất là mạnh mẽ. Lúc trước con nghĩ sư phụ sao mà hào phóng quá, xây cái thất to quá, ở có 1 người mà rộng dữ. Con có nói điều này với Ni sư, khi mà Ni sư dẫn con đi thăm mấy cái thất. Nhưng mà khi vô thất rồi con mới hiểu được, thật ra mình không có ở 1 mình ở trổng đâu ạ. Mình ở với 5 đứa nữa, tổng cộng là 6 người ở trong cái thất, cho nên nó cũng không rộng lắm. Vô đó thì tự mình chiến đấu với chính mình. Năm đứa kia khi mà không có sư phụ, không có mọi người thì nó tấn công mình rất là mạnh mẽ.
Nó sai xử mình rất là nhiều, nhất là về phần dục. Con là 1 người mà mỗi lần con phát dục, thì con như con nghiện vậy đó, con lăn lộn, quằn quại trên cái giường. Lúc đó con chẳng nhớ gì hết, con chỉ nhớ sư phụ ơi cứu con sư phụ ơi. Rồi khi con thấm thía câu: “Thân này là khao khát, là thiếu thốn, là nô lệ cho tham ái”, thì thật sự cái mà sai xử cái thân này như vậy là cái tâm dục bên trong. Còn nếu mình nghe câu đó là mình nghĩ thân này là thiếu thốn, là khao khát…mà mình đem triệt cái thân này thì cũng không có triệt hết cái lòng dục đâu ạ. Nếu mà triệt được thì mấy ông thái giám, mấy ổng hết dục rồi. Lúc trong thất con ngồi con nghĩ: “Bây giờ mình làm gì với cái thân này, dù cho mình có lấy dao mình bằm nó đi chăng nữa thì cũng còn dục à. Như mấy ổng thái giám cũng bị thiến rồi, nhưng cũng còn dục đấy thôi”.
Con ngồi con suy tư, con ngồi thiền xuyên đêm, con làm sao phải nói chuyện với cái thân này mới được. Khi con nhớ bài kinh của Đức Phật, Ngài nói về sự trôi lăn trong sanh tử của chúng sanh, con ngồi con tác ý theo, con nói: “Ồ, ví dụ như bây giờ có 8 tỷ người, 4 tỷ là đàn ông, 4 tỷ là đàn bà, mà cho ưng hết 4 tỷ ổng đó, lần lượt làm vợ của 4 tỷ ông đó. Thì 1 hồi mình làm bà bán bánh mì, bà bán bánh bèo, bà bán rau, công nhân…Rồi lần lượt cưới hết 4 tỷ ông đó thì được cái gì, mình chung cuộc cái gì? Thật sự thì dù mình cưới 4 tỷ ông đó đi, thì lòng dục mình cũng không thỏa mãn đâu. Chung cuộc lại thì Đức Phật có nói, khi Ngài chứng đạo thì Ngài nhớ được các kiếp sống quá khứ, 1 đời, 2 đời, 3 đời, 10 đời, 100 đời, 1000 đời, thành kiếp và hoại kiếp.
Thì chung cuộc lại Ngài chỉ thấy lại 1 chữ, là “khổ” thôi, đó là khổ Thánh đế. Bây giờ mình có ưng lần lượt hết 4 tỷ ông đó, thì chung cuộc của mỗi kiếp sống đó cũng là khổ thôi. Như vậy mày thèm khát gì của những người đàn ông đó, bộ vô lượng kiếp qua mày ế lắm, ông ai ưng mày hả? Bộ mày ở giá nhiều kiếp lắm sao mà bây giờ mình thèm dữ vậy? Mày thèm yêu thương, thèm được quan tâm dữ vậy? Bộ đây là kiếp đầu tiên của mày hả? Bao nhiều kiếp mày trải qua rồi mà. Rồi bây giờ mày vẫn còn ngồi đây, chứ đâu phải mày ngồi trên tịnh cư thiên đâu”. Con cứ nói chuyện với nó, rồi bắt đầu con lấy bài của bậc đạo sư dạy về nghiệp dục, con tác ý theo lời chỉ dạy của bậc đạo sư.
Khi quán bất tịnh, lúc trước mình quán trên cái thân người khác mình không có cảm thọ. Mình cứ quán bất tịnh ngay trên thân của mình, mình thấy có cảm thọ rất là nhiều. Cứ chỗ nào hồi nào tới giờ mình thấy nó đẹp, nó hấp dẫn, thì mình quán dòi, quán dơ, quán nó hoại diệt, lão hóa. Rồi chỗ nào mình thấy nguyên cái thân nó ráp lại nhiều phần thì nó mới đẹp, bây giờ mình ráp lại từ trên xuống dưới toàn tóc không à. Chỗ nào cũng mọc tóc, cũng có lông, có mống hết. Như vậy thì nguyên 1 cái thân chỉ có 1 bộ phận đó thôi, thì tự nhiên thấy nó nản, bắt đầu nó nhả nhả lần ra. Con không có dám nói là con diệt hết dục, nhưng con thấy nó giảm.
Thì hôm nay được sự chỉ dạy của sư phụ, khi con ngồi con tìm bài kinh nào đó để hôm nay con trùng tuyên. Thì con ráp lại, con nhớ quá trình con tu tập trong thất. Con cũng có 1 chút hiểu biết nho nhỏ của con, con kính trình trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Con có nói gì không đúng thì mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, sư cô và đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Để con được tu tập tinh tấn trong pháp và luật này. Con cũng xin chia sẻ 1 chút nữa là, lúc trước con nghe khổ thì con bị tâm lý ở nhà, mẹ con hay nói là đừng có nói khổ trên miệng. Đừng bao giờ nói xui, nói vô thường, nghe mấy cái đó nói là nó tới.
Nhưng mà khi con học Phật rồi con mới biết, khi mình nói là mình có cái trí về ngũ uẩn, nhận diện được 5 uẩn, thực hành được 3 pháp, mình thấy được sự thật của Đức Phật rồi. Thì mình thấy cái tâm mình nó khác, mình không còn lo lắng, sợ hãi, phiền não khi mình thấy khổ nữa. Mà cái tâm của mình là cái tâm thấy khổ, nhưng mà cái tâm nó bình thản trước cái khổ, vì mình có cái trí. Đó là tất cả những gì con muốn chia sẻ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Dạ mô Phật, xin cảm ơn những chia sẻ trực quan và đầy sống động của sư cô Đồng Dương. Khi nghe những lời chia sẻ của cô, con cũng cảm thấy thật là rùng mình. Con thấy thật là chán cho cái thân tứ đại này, mình đã từng là thân nam, thân nữ rất là nhiều. Mà cứ bị dục ái chi phối, và cũng hay thường gán cho mình là tuổi này tuổi kia. Và những gì sư cô chia sẻ rất là sinh động, và cũng mong tất cả mọi người cũng lấy đây là đề tài thiền quán cho mình. Làm người chưa đủ, bây giờ lại đặt thêm tuổi thìn, tuổi tí, tuổi rắn, tuổi chuột, khổ như vậy là chưa đủ sao. Cảm ơn sự chia sẻ của sư cô, tiếp theo con kính mời sư cô Hiền Trang.
IV. Sư cô Hiền Trang
“Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô, cùng toàn thể chư vị hiền trí. Hôm nay được sự cho phép của sư phụ, con cũng xin đọc 1 bài kinh mà con khá là tâm đắc. Bài kinh “Người Vợ Trẻ”, Tăng Chi Bộ kinh tập 1.
“1. - Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: “Hãy đi đi, các người có biết được gì!”
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: “Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!”
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập I – kinh Người Vợ Trẻ)
Khi con mới được đọc bài kinh này đầu tiên, cảm nhận trong côn rất là bất ngờ. Con thấy Đức Phật rất là gần gũi, Ngài đã đưa ra 1 ví vụ rất là dễ hiểu, sinh động. Để Ngài nhắn nhủ với hàng đệ tử rằng phải luôn gìn giữ, nuôi dưỡng cái sơ tâm ban đầu. Ngày mình mới được xuất gia, thì cái tâm ban đầu của mình thường hay e dè, cung kính, tôn kính đối với Phật, pháp, đối với thầy của mình, đối với huynh đệ đồng tu. Cái tâm chân thành, chân chánh, tha thiết cầu đạo, giải thoát của mình rất là mạnh mẽ. Nhưng mà sau 1 thời gian, khi mà được chung sống gần gũi, tiếp xúc nhiều 1 thời gian thì thường hay sanh ra tâm nhàm chán, sanh lờn. Và tâm địa ấy không còn sự chân thành, chân chánh, mất đi sự e dè, cung kính, sợ hãi lúc ban đầu.
Điều này rất là nguy hiểm, tai hại, con rất là sợ điều đó xảy đến với mình. Và quả thật, cái tâm này đã xảy ra đối với con. Lúc mà mới tu thì con có 1 sự sợ hãi, e dè, cẩn trọng, thận trọng trong từng oai nghi, lời nói, hành động khi tiếp xúc. Nhưng mà sau 1 thời gian, khi mà ở lâu được vài tháng, nhiều tháng, thì con thấy tâm mình mất đi sự e dè, cung kính đối với các bạn đồng tu. Ví dụ như lúc đầu con mới lên Linh Quy, con gặp quý thầy bắt cứ ở đâu thì con cũng xá chào, giữ lễ rất là cung kính. Nhưng mà sau 1 thời gian thì con thấy mình có thay đổi, nhiều lúc con gặp quý thầy ở dưới bếp, con cũng không có xá. Và ý hành trong con nó nói: “Mình gặp quý thầy quài, 1 ngày gặp không biết bao nhiêu lần thì xá chi, chắc mình không xá cũng không sao”.
Khi mà con nhìn lại cái tâm mình như vậy, thì con thấy rất là xấu hổ, và con thấy sợ cho cái tâm của mình. Nếu mà mình không nhận diện ngũ uẩn, mình sẽ không thấy thọ, tưởng, hành nó qua mặt mình, nó lừa mình đi vào trong bất thiện pháp hồi nào không có hay. Khi mà mình chưa có chứng dự lưu, chưa có Chánh kiến, vẫn còn là phàm phu như con thì con nhắc nhở mình không có tin vào cái tâm của mình được. Cái tâm của mình rất là vô thường, rất là phản trắc, nó thay đổi liên tục. Giờ này nó có thể nghĩ thiện như thế này, những chút nữa nó có thể nghĩ ác, nó nghĩ kiểu khác. Chỉ khi nào chứng được dự lưu quả, thì mình mới có được 1 cái tâm nhất hướng, bất thoái chuyển.
Bởi vì vậy cho nên con luôn tác ý rằng, mình phải thật cẩn thận với cái tâm của mình. Mình phải luôn luôn như lý tác ý, để nuôi dưỡng và gìn giữ cái tâm ban đầu, cái tâm cung kính, giữ lễ, tương kính như tân đối với sư phụ, chư vị, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô. Giống như ở trong bài kinh lúc này, khi lúc đầu mình đối với thầy của mình, đối với huynh đệ, ngay cả những người làm vườn, những Sadi nhỏ hơn mình, mình cũng e dè, giữ lễ, cung kính. Khi đó mình rất là hiền lành, dễ bảo, dễ nghe, rất là ngoan. Nhưng mà sau 1 thời gian mình tu lâu rồi, mình thấy không còn mới mẻ nữa, bắt đầu mình sẽ sanh ra cái tâm sanh nhờn. Sanh ra cái tâm nhiều khi là bản ngã to đùng, chống đối, không còn sợ, không còn kính ai nữa hết. Thì đó là 1 chuyện vô cùng bất hạnh cho 1 người tu.
Chính vì vậy con lấy làm tâm đắc đối với bài kinh “Người Vợ Trẻ”. Và luôn lấy những lời Đức Phật dạy trong bài đó: “Ta sẽ sống với tâm của người vợ trẻ khi mới về nhà chồng”. Thì con nhắc nhở tâm mình phải giữ được sơ tâm ban đầu, đúng như lời Phật dạy. Đó là phần chia sẻ cảm nhận của con đối với bài kinh “Người Vợ Trẻ”, Tăng Chi Bộ kinh tập I. Con xin cảm ơn đại chúng đã lắng nghe, Nam Mô bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin cảm ơn trên sự chia sẻ của sư cô Hiền Trang, với một chủ đề không mới nhưng mà rất là khí để tu tập. Lúc nào mình thử nhìn lại lúc ban đầu mình mới lên chùa, mới vào cổng chùa, thì luôn luôn với 1 cái tâm cung kính, sợ sệt, e dè. Rồi sau 1 thời gian chung sống thân mật, thân cận, thì những cái tâm đó nó bị mài mòn, hao mòn đi rất là nhiều. Đối với 1 người tu hay là 1 người Phật tử, cư sĩ, đi đến chùa cần phải cẩn trọng. Lời chia sẻ của sư cô cùng là lời nhắc nhở cho chính con, vì thường thường mình nghĩa những cái cao siêu, mà những cái tầm thường, bình thường, hay những điều nhỏ nhặt mình không có sợ hãi. Thì đúng là 1 tội lỗi, 1 sự đáng chê trách đối với chính mình.
Con xin cảm ơn trên lời chia sẻ của trên sư cô, tiếp tục con kính mời 1 sư cô chia sẻ.
V. Sư cô 1
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con xin kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con xin thành kính đảnh lễ thầy trụ trì Linh Quy Pháp Ấn. Con xin thành kính đảnh lễ quý thầy, Ni cô, chư vị hiền trí. Nhân duyên có duyên lành con đến Linh Quy Pháp Ấn, thì con chỉ có vài lời ngắn gọn thôi. Con thì theo học ở Miến Điện, thì truyền thống ở Miến Điện thì nguyên thủy kinh Nikāya là tạng kinh. Còn về giới luật hay là luận tạng, cũng đều từ kinh nguyên thủy ra hết, chứ không có 1 lời nào khác. Thì con có lời chia sẻ từ trong kinh “Tứ Niệm Xứ”, thì Đức Phật có dạy: “Tứ niệm xứ là con đường độc nhất đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên chỉ có tứ niệm xứ mới đưa mình đến thoát được ngũ uẩn hay không. Để có tứ niệm xứ, mới đưa mình nhận biết rõ tứ Thánh đế”.
Và trong kinh Tứ Niệm Xứ có dạy: “Khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi co duỗi, mặt áo, ăn cơm cho đến đại tiểu tiện vị Tỳ-kheo cũng nên biết rõ”. Tại sao như vậy? Khi những hành động của vị Tỳ-kheo thiền quán ở trên thân mình, quán thân trên thân, tức là Khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi co duỗi, mặt áo, ăn cơm cho đến đại tiểu tiện, ngủ cũng 24 giờ tỉnh thức. Khi cái tâm mình trú tâm chánh niệm trên cái thân đó, thì nó sẽ có 1 định lực. Do định lực đó bắt đầu tâm tỏa sáng lần lần, tỏa sáng là ở chỗ đây. Từ đó khi bắt đầu ngồi thiền, hoặc là mình trong lúc đi thiền hành, thì mình sẽ thấy ở cái tâm vi tế, thấy ở 2 tiến trình của thân và tâm.
Thay vì nói thân mình là sắc, thọ, tưởng, hành thức. Thì thân là sắc uẩn, còn tâm là thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên chỉ nói 2 tiến trình của thân và tâm, qua con đường hành thiền của tứ niệm xứ, thì vị hành giả sẽ nhận thấy được tiến trình của tâm và của thân. Từ đó sẽ thấy được bản ngã bớt lần lần, đến lúc nào đó sẽ thấy được sự thật vô thường, khổ, vô ngã. Và niềm hỷ lạc sẽ mang đến cho vị hành giả đó. Thì lúc đầu mình không cần phải do tâm tỏa sáng, mà khi tâm nhận biết rõ tiến trình của thân và tâm, thì tự nhiên cái trí tuệ mình được khai mở. Mình không cần phải dồn ép, bắt buộc phải cung kính quý thầy, hoặc là mình phải nhìn sự vật mình đoạn dục đâu, mà do quá trình công phụ chánh niệm ở trên tứ niệm xứ đó, thì tâm sẽ thấy rõ. Dạ con xin hết ạ.”
Dạ mô Phật, cám ơn trên sự chia sẻ của sư cô. Và con cũng thưa trên sư cô, ở đây cũng có hàng ngày tu tập tứ niệm xứ, cũng đanh tụng niệm và hành trì tứ niệm xứ. Con xin chia sẻ sư cô 1 câu sư cô chiêm nghiệm, và cũng được lấy trong kinh tạng Nikāya: “Không bệnh lợi tối thượng, Niết-bàn lạc tối thượng, bát chánh là độc đạo, an ổn và bất tử”. Cho nên nhiều lúc mình chỉ nghĩ tứ niệm xứ là con đường độc nhất, mà nó sẽ có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong những lời dạy của Thế Tôn. Trong 4 câu kệ Đức Phật cũng đã nói: “Bát chánh là độc đạo”. Rất mong trên sư cô chiêm nghiệm, nếu có điều gì thắc mắc, sư cô cứ hỏi sư phụ con. Để được cùng nhau giải đáp những điều mà mình đã học, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tiếp theo con xin mời giới tử Hiền My ngồi tại chỗ, mình chia sẻ về trùng tuyên Thánh điển. Mời 2 vị ngồi gần chúng ta lui xuống, để cho cô Hiền Duyên và cô Dịu An ngồi lên đó.
VI. Sư cô Hiền Duyên
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ trên pháp ân của bậc đạo sư tôn kính.
Con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con pháp danh Hiên Duyên, cho phép trên sư phụ, con xin được trùng tuyên bài kinh “Lỗ Khóa”, một bài kinh trong đại tạng kinh Nikāya, kinh Tương Ưng Bộ. Bài kinh này đã làm cho con có niềm tin với Tam Bảo rất là lớn, giúp con có thêm nhiều động lực, để con bước trên con đường tu này. Thì hôm nay con xin được trùng tuyên, và chia sẻ đến với đại chúng:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷkheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?
Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?
Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
(Tương Ưng Bộ IV – kinh Lỗ Khóa 2)
Thì mới lúc đầu con đọc bài kinh này, con không hiểu vì sao mà con rùa mù ấy chỉ nổi lên mỗi 100 năm chỉ 1 lần. Nhưng mà nó được chui cổ vào lỗ hổng ấy, có chỉ duy nhất 1 lỗ hỏng, mà nó còn dễ hơn là kẻ ngu khi 1 lần rơi vào đọa xứ mà có thể được làm người trở lại. Khi con bắt đầu chiêm nghiệm vào lời kinh, lời dạy của Đức Phật. Thì con cảm thấy sao lời nói của Đức Phật hay quá, nó không phải là cái gì viễn vong, mà nó rất là khoa học và thực thế. Con đưa ra ví dụ và suy nghĩ rằng, nếu kiếp này giả sử con tạo nghiệp, con bị đọa xuống cõi súc sanh, bàn sanh, con mang cái thân con mèo. Thì trong cõi súc sanh đó, đâu có pháp hành, còn nói gì đến chánh hành.
Cũng đâu có biết nghiệp, phước, nhân, quả. Thì con mèo đó chỉ sống theo tập tính của nó. Thì khi đã mang nghiệp bị đọa vào thân con mèo rồi, mà sống với tập tính giả sử 1 kiếp sống con mèo ăn 100 con chuột. Thì không phải là cái nghiệp cũ chưa giải được, thì đã thêm 100 cái nghiệp mới. Thì khi đó phải trôi lăn, phải chịu nghiệp quả đến bao giờ mới được giác ngộ, mới đầy thai lên được làm người trở lại. Khi con chiêm nghiệm, con thật là sợ vòng sanh tử luân hồi. Mà không phải đến khi chết mới sợ, mà con đưa vào đời sống thực tại. Thì con thấy đời sống này đâu cần phải đến khi chết đi, khi vào đời sống khác nó mới ghê sợ đâu. Mà chính ngay vào đời sống thực tại này cũng đâu khác gì địa ngục, hay cõi súc sanh đâu.
Vì con người càng ngày càng ác, con thấy người giết người còn dễ, còn xảy ra hằng ngày càng nhiều hơn. Thậm chí là máu mủ ruột thịt, con mà còn giết cha giết mẹ, thì kẻ mạnh ăn hiếp ngày càng nhiều. Thì con cảm thấy rất là ngao ngán đời sống hiện tại, ở ngoài thế tục. Khi mà con chiêm nghiệm, thì con cảm thấy mình còn may mắn hơn là con rùa mù ấy. Vì giống như lời sư Dương có chia sẻ, thì con cảm thấy: “Tại sao mình lại may mắn như vậy, kiếp này mình sanh ra được làm người, được mang cái thân người này. Trong khi đó biết bao nhiêu mạng sống khác phải mang loài thú, loài mèo, loài chó, loài động vật trên cạn, dưới nước…Thậm chí là không kể những loài hữu tình, mà còn biết bao nhiêu loài chúng sanh vô tình.
Thì con thấy là mình rất là may mắn, kể cả trở về thực tại con còn thấy mình may mắn hơn nữa. Vì hiện tại đây biết bao nhiêu sanh mạng sanh ra và chết đi, trong 8 tỷ người thì con lại được mang thân người lành lặn. Được gặp Chánh pháp, sống trong Chánh pháp của Đức Phật. Thì con thấy mình còn may mắn hơn con rùa mù đấy. Cũng như là con cảm thấy mình rất may mắn, khi con được sư phụ chỉ dạy về 4 sự thật của Thánh đế, như là lời tuyên bố của Đức Phật đã dạy. Đó là thấy khổ, thấy nguyên nhân của khổ, thấy sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Cũng như sư phụ đã dạy, khổ do đâu? Khổ là do sự chấp thủ ngũ uẩn, là phiền não và khổ đau.
Nguyên nhân của khổ chính là do vô minh và khát ái, đối với ngũ uẩn. Sự chấm dứt khổ là khi vô minh, khát ái dứt sạch đối với ngũ uẩn. Và con đường đưa đến diệt khổ, chính là con đường Thánh đạo 8 nghành. Sư phụ đã đưa ra rất là rõ ràng trình tự, đúng như lời Đức Phật. Thì khi con chiêm nghiệm, con thấy mình rất là may mắn. Con rất là hoan hỉ, khi những ngày qua con được sống trong ngôi nhà Chánh pháp. Con sanh ra trong dục, lớn lên trong dục, nhưng con đang đi dần trên con đường thoát li khỏi dục. Những ngày con được sống trong nếp nhà Nikāya, là những ngày con hạnh phúc nhất trong cuộc đời của con. Mà con thấy không phải chỉ con mới cảm nhận được niềm hạnh phúc ấy, mà có phải quý vị trong 2 tuần qua cũng đã cảm nhận được đúng không ạ?
Thì con cảm thấy cái nguyên nhân con muốn trùng tuyên lại bài kinh này, là con muốn nhắc nhở bản thân mình, và muốn truyền động lực cho mọi người. Những ai đã tìm thấy Chánh pháp, mà chưa quyết định mạnh mẽ. Thì hãy nắm bắt cơ hội này, phải biết mình đang may mắn hơn con rùa mù ấy. Hãy nắm bắt cơ hội ngàn năm có 1, để có thể thoát lìa ra khỏi cái vòng sanh tử đau khổ. Những ai đã và đang bước trên con đường Thánh đạo, thì hãy cùng con, cùng sư phụ nắm chặt tay để lan tỏa Chánh pháp. Cũng như cùng nhau tiến tới con đường Niết-bàn, để lìa xa dục lạc phàm phu thấp hèn. Để đạt được cái niềm hỷ lạc tối thượng, đó chính là thoát khỏi vòng sanh tử, để đạt được an lạc, Niết-bàn.
Đó là vài dòng chiêm nghiệm trong sự hiểu biết còn non cạn của con, con kính trình lên trên sư phụ. Kính mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí sẽ chỉ dạy con thêm. Con cám ơn sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí đã lắng nghe con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
VII. Sư cô Diệu An:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Hôm nay con được sư phụ chỉ dạy con trùng tuyên Thánh pháp, con xin được trùng tuyên bài con đường độc nhất, kinh “Niệm Xứ”, Trung Bộ Kinh tập I, bài 10:
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây:
– Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
– Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”
(Trung Bộ kinh I – Kinh Niệm Xứ)
Trong quá trình con học pháp, thì con rất tâm đắc bài kinh này. Khi con ở nhà, con đã lấy bài kinh này để làm động lực. Con cắt ái, li gia, theo sư phụ về núi yên tu. Bài kinh Đức Phật dạy chính là luôn quay lại thâm tâm của mình, để mình quán sát thân tâm của mình. Mình quán sát thân và nội tâm, cảm thọ và các pháp nó vận hành trong thân tâm của mình. Và đây con đường duy nhất, độc nhất và tối thượng nhất để đưa chúng ta vượt khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não trong cuộc đời này. Con rất là tâm đắc bài kinh này, con luôn tác ý để con mạnh mẽ bước lên trên con đường này để mà con đi. Vì trong đời sống của con, con cũng rất là khổ đau. Từ bé cho đến lớn chưa 1 ngày nào con được bình an trong cuộc sống.
Khi con gặp được sư phụ, thì con vỡ òa cảm xúc, con không còn suy nghĩ nhiều nữa. Con xin sư phụ về núi yên tu, để con được đi trên con đường Thánh đạo mà Đức Thế Tôn đã để lại, và sư phụ đã truyên trao. Đây là những dòng cảm xúc của con, khi con đọc bài kinh này. Sự hiểu biết của con còn non kém, vì con cũng mới vào học tập, tu tập, hành trì thời gian rất là ngắn. Chính vì vậy mà con kính mong sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Sư cô 2:
“Mọi người vừa mới nghe tiếng chuông Chánh niệm, mọi người có nghe thấy không ạ?
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ơn Đức Thế Tôn
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ơn đức sư phụ, Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí và tri thức. Trong kinh Pháp Cú thì Đức Phật có dạy:
“Đêm dài cho kẻ thức
Đường dài cho kẻ mệt
Luân hồi dài cho kẻ ngu
Không biết chơn diệu pháp”
Trong khóa tu cách đây mấy hôm, thì sư phu cùng chư Tăng Ni đã cho chúng con đi thăm lò sát sanh ở trên Youtube. Con thật sự chấn động, và rất biết ơn cuộc viếng thăm này. Con xin được chia sẻ về kinh nghiệm của mình, trong 1 căn phòng tối tăm, dơ bẩn, máu me lênh láng. Ở trên sàn nhà, 1 người thanh niên dùng hết sức mình để kéo lê 1 bao tiền rất là lớn. Trong bao thì có rất là nhiều cục tiền, xấp tiền đủ kích cỡ. Có xấp thì bằng 1 cái thau, có sấp thì bằng đống ruột có dính phân hôi trong đó. Cái thau đựng máu tanh tưởi bán được là tiền, cái bộ đồ lòng nhầy nhụa, nhơ nhớp, cũng bán được tiền. Cái lỗ tai dính đầy cứt ráy, lỗ mũi dính cứt mũi, rồi cái lưỡi ăn cám rất là dơ, cũng như trong cái miệng đầy ổ vi trùng, vi khuẩn.
Tất cả đều là những nguồn hái ra tiền, gặt ra tiền. Heo là tiền, là cái bao thịt, bị thịt, bao da, túi da. Lôi heo đi giết, thì đồng nghĩa với việc kéo được bao tiền to. Đồng tiền là 1 đống phiền não, 1 đống khổ cho con heo. Nhưng mà tiền là tiên cho người thanh niên. Tiền nó có 1 sức hút rất là mạnh, nó cho anh ta sức mạnh để kéo heo thật mạnh, đâm thật mạnh vào cái cổ cho máu ọc ra. Cái lòng tham là sợi dây, con heo là cây cột, nhưng cây cột này nó có dây thần kinh nên nó giãy giụa, gào thét, hét lên, rú lên, rống lên. Chân nó bấu vô cái sàn nhà, ghì chặt, ghìm chặt lại để chống lại lòng tham, chống lại sự độc ác của người đồ tể.
Máu phun ra, trào ra, bắn ra, xịt ra, con heo bị ném vào trong 1 nồi nước rất là trong, nó trở nên loang lỗ. Làm cho con thấy rất là thấm thía lời Phật dạy, về máu và nước mắt nhiều hơn biển. Bộ phim về đồng tiền dính máu này, nó kết thúc thật là bi thương. Nhưng mà trước và sau bộ phim này, là nhiều những bộ phim khác dài đằng đẵng. Vô minh, nghiệp và nhân quả làm đạo diễn rất là tài tình, luôn luôn có máu và nước mắt đổ ra biển lớn, biển khổ. Không có sóng êm dịu ở đó, mà là sự gào thét, vũng vẫy, giãy giụa. Sóng của tham, sân, si, bản ngã, dâng cao và đập cuồn cuộn vào chúng sanh. Làm cho họ thịt nát xương tan, thân bại danh liệt, và tuôn ra những dòng nước mắt đầy tràn thương đau.
Người ta bằm, chặt, đâm, chém thịt heo, thịt chó để ăn. Ăn xong thì họ chửi ngu như chó, ngu như bò. Người tây phương thì người không có nghĩ là chó ngu, hay heo ngu. Họ nói chó và heo rất thông minh, họ rất cưng chó heo. Đức Phật nói: “Luân hồi dài kẻ ngu”, đường luân hồi nó tăm tối, nó đen giống như là bầu trời đêm ngoài kia lúc này. Đầy tràn những hiểm nguy, nguy nan, ách nạn, oan nghiệp, oan gia. Đâm đầu vào vòng luân hồi, mà còn yêu thích trong luân hồi mới thật là ngu. Chó khi mà bị kéo đi giết, con chưa bao giờ con thấy con chó mà cái lưng nó lại bị vòng lên, heo thì ì người nó ra, ưỡn ra chống lại, ghì chặt cái chân lại. Chó và heo nỗ lực hết sức nhưng mà muộn rồi, và muộn là vô ích.
Như cô Dương lúc nãy có nói đất trong mống tay, hay con rùa mù như cô Duyên chia sẻ. Thì cơ hội được làm người thật là quý báu, không thể nào mà nỗ lực muộn được, phải nỗ lực hết sức. Phải ghì cho thật chặt lại, ghì cho đứt được sợi dây tham ái, sợi dây tái sanh, phải nỗ lực hết sức ở đây và ngay bây giờ. Đã thấy được cái bóng của cây thúc ngựa, thì chúng ta còn chờ gì nữa. Đã biết Chơn dịu pháp, chúng ta còn chờ gì nữa. Niết-bàn là vui tối thượng, hãy mau lẹ làm thanh tịnh, con đường tới Niết-bàn, để rồi chúng ta còn chạy, chạy thật là nhanh. Con xin biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn sưu phụ và đại chúng.”
Mô Phật, gần 2 giờ trôi qua thật là nhanh, tối nay được trên quý thầy, quý sư cô, Ni sư chia sẻ, con thấy thật là hạnh phúc, thì chúng ta cho 1 tràng pháo tay. Con biết là ngày hôm nay mọi người dọn dẹp rất là mệt, mà vì tình thương, sư phụ muốn cho mọi người an trú trong pháp, cho nên mới có buổi tối ngày hôm nay. Để kết thúc buổi tu tập, con kính mời thầy Nhuận Tín, chúng ta mời thầy và đại chúng đọc lại bài “Niệm gia tài của Đức Phật”. Để chúng ta nhớ, nghĩ, và để tu học cho đúng trên con đường đạo lộ của Thế Tôn.