Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí 2 - Tôn Giả Xá Lợi Phất

2026-03-03 00:52:34
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÂM HIỀN TRÍ 2

TÔN GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT

–Thích Minh Thành–

Kính lễ ân đức Thế Tôn.

Kính lễ ân đức chánh pháp.

Kính lễ ân đức chúng Tăng.

Kính lễ ân đức bậc đạo sư.

Kính lễ ân đức Thánh giới.

Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử, chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm bài kinh Sau khi an cư. Nhìn kĩ lại sẽ thấy cảm thọ của mình còn dao động, còn rộn ràng, còn nổi loạn, cả một sự để tâm tu tập tâm hiền này không thể hiểu một cách sơ sài được, trước khi chúng ta chiêm nghiệm chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất thì chúng ta cần nhìn lại tâm hiền một chút. Cảm thọ của chúng ta cần để tâm vào sự tu tập an tịnh lắng dịu vì nếu tâm không an tịnh, lắng dịu sẽ phát ra tham, sân, si một cách mạnh mẽ và đưa mình đi trong luân hồi. Khi có người đến mách Thế Tôn ngài Xá-lợi-phất đối xử không tốt với họ thì Thế Tôn vẫn bình thản, gọi một thầy Tỳ-kheo đi mời ngài Xá-lợi-phất lại, còn ngài Xá-lợi-phất nghe tin bị người khác vu khống vẫn điềm nhiên vì cái thọ của ngài đã an tịnh, lắng dịu hoàn toàn. Còn mình nghe ai chỉ trích là cái thọ cuồn cuộn lên, sôi sục lên vì sự tu tập về cảm thọ an tịnh, lắng dịu chưa được bao nhiêu, lúc ngồi thiền hoặc lúc có hộ trì thì đỡ nhưng chỉ cần buông thả một chút là trở về với cảm thọ hung hăng, dao động, nổi loạn và mình không thấy không biết nên mới gọi là vô minh, nhưng ai chỉ cho là mình sân lên, đó là bản ngã. Mình bực bội, sân giận mà được ai chỉ cho là mình gằn giọng "tôi sân hồi nào", thật sự tâm hiền là cả một quá trình tu tập, thành tựu tâm hiền cứu cánh là bậc A-la-hán vì tâm hiền này là của bậc hiền Thánh cho nên chữ "hiền" trong kinh Nikāya rất tuyệt vời chứ không đơn giản như mình nghĩ. Sau đây là bài kinh Canda nói về tâm hiền mà Minh Thành đặt tựa đề là "tại sao có hung dữ và hiền lành".

" Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:

-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo? Do nhân gì, do duyên gì ở đây, có người được gọi là hiền lành (sùrato)?

-- Ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục (ràyo) chưa được đoạn tận. Do tham dục (ràga) chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Sân chưa được đoạn tận. Do sân chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Si chưa được đoạn tận. Do si chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo.

Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, I. Canda (Tàn bạo))

Hiện hành là biểu hiện ra hành động. Vì dục tham trong tâm vẫn còn lại bị người khác làm cho tức giận nên cái tức giận đó biểu hiện ra ngoài, hễ còn tham là còn sân vì hai cái này có liên quan đến nhau, trong kinh hay nói "tham ưu ở đời" nghĩa là sân cho nên tham sân là hai mặt của một bàn tay. Những cảm xúc chất chứa trong tâm đầy sự ham muốn, đầy sự tức giận, tàn bạo cho nên bị chọc tức là nhả nọc độc ra, phun độc ra. Do nọc độc chất chứa sẵn trong cảm thọ nên đụng vào là phun độc ra, đó là một cảm thọ hung hăng, bạo tàn, tranh đấu, hơn thua, nóng bức, do có sừng nên mới tấn công người khác chứ không có sừng thì làm sao tấn công được. Hễ còn vô minh là còn tham ái, còn tham ái là còn tham, sân, si, bản ngã, các pháp đó liên kết với nhau cho nên hễ còn kiến chấp về thân là còn tham, sân, si, bản ngã, si tức là thân kiến, tà kiến, vô minh. Nếu còn tâm u mê, không thấy ngũ uẩn, không thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, vẫn còn thấy cái tôi và của tôi mà bị người khác làm cho tức giận thì đương nhiên người này sẽ bộc phát ra hành động, ngôn ngữ, cử chỉ, đó là người tàn bạo, hung dữ. Qua bài kinh này Đức Phật cho mình biết tại sao người đó được gọi là hung dữ, hung hăng, tàn bạo.

"Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục được đoạn tận. Do tham dục được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Sân được đoạn tận. Do sân đã được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Si đã được đoạn tận. Do si đã đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành.

Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là hiền lành". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, I. Canda (Tàn bạo))

Không còn tham dục nữa thì không còn nguyên nhân để phẫn nộ, tức giận. Còn phẫn nộ là do còn tham muốn, vì tham muốn không được nên tức giận hoặc tham ái cái thân mà bị chê, bị làm hại là tức giận hoặc tham ái trong hình bóng, nhận thức, mình chấp thủ, nắm chặt trong đó mà ai đụng chạm vào là mình bức xúc, bực bội được thể hiện ra hành vi, lời nói nhưng những cái này không còn nữa, không yêu, không thích trong ngũ uẩn nữa nên không còn lý do gì để phẫn nộ. Sở dĩ còn phẫn nộ, còn tức giận là còn tham dục, tham ái đối với tự thân, đối với nội tâm thọ; tưởng; hành thức, đối với các sắc, từ thân xác đến tài sản còn tham, còn chấp thủ mà nếu ai đụng vào làm hư hao thì người này mới bực bội, sân giận lên, còn khi không tham muốn, thèm thuồng nữa thì không bị ai làm cho tức giận nên tức giận không hiện ra, đó là người hiền lành. Cho nên cái hiền của bậc hiền Thánh là đoạn tận tham, sân, si, không còn tham dục, tham ái nữa, khi Đức Phật đã giải thích cái gì là đi đến cứu cánh cùng cực, bất kể pháp nào được Đức Phật đưa ra cũng đi đến tột cùng chứ Đức Phật không nói trích ngang, cho nên tất cả những cái mình học trên thế gian đều là trích ngang cho nên không đi đến cứu cánh cùng cực của các pháp, Đức Phật được tôn xưng là bậc pháp vương, pháp chủ, là bậc pháp bổn, pháp nhãn là có lý do, khi ngài nhìn cái gì là đi đến cùng tận cứu cánh triệt để, không còn cái gì vượt hơn nữa cho nên mới gọi là Vô Thượng Giác, Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó cũng là lý do cần phải dành thật nhiều thời gian đọc tụng, nghiền ngẫm kinh Nikāya để nương theo trí tuệ tối tôn, tối thượng, cùng cực của Thế Tôn. Có những người đã chấm dứt cảm thọ sân hận, tức giận là do tu tập tâm từ thành căn cứ địa, thành cỗ xe, tức giận không còn sanh khởi trở lại nữa, tất cả mọi hoàn cảnh không thể làm người này phẫn nộ được vì trong cảm thọ không còn chút nào giận thì làm sao có thể biểu hiện ra sự hung dữ được nữa, giống như con bò bị cưa sừng thì làm sao húc người ta bị thương được. Cái pháp được Đức Phật dạy trong ngoài rất rõ ràng, còn giờ mình học chỉ nói có một chiều, mình thường hay nghe "khẩu xà tâm Phật", câu này không đúng vì tâm Phật thì làm sao khẩu xà được, bên trong tâm là Phật thì làm sao phát ra ngoài miệng là rắn được, đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và bậc Đa văn Thánh đệ tử, một khi đã thành tựu trí tuệ có con mắt pháp là không ai trên thế gian này gạt được mình, nhìn cái gì là thấu đáo cái đó vì sư phụ của mình là bậc tối tôn, tối thượng, là bậc danh sư xuất cao độ, thầy giỏi thì phải có trò hay, thầy là bậc đại trí đại tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác thì học trò cũng phải đi trên con đường chánh tri kiến cao thượng đó cho nên phải học với Đức Phật chứ đừng học lan man ra bên ngoài. Cảm thọ sân trong tâm không còn, chỉ thuần túy là cảm thọ hiền lành, từ bi thì làm sao có thể phát ra bên ngoài sự phẫn nộ, tức giận được cho nên đó là người hiền lành, chúng ta ở đây tu được phần nào tâm hiền nên cuộc sống được bình an, không cự cãi, đó là chỉ mới tu được phần nào tâm hiền thôi đã được an lạc, hòa hợp như vậy thì huống gì tu được toàn phần tâm hiền sẽ còn tuyệt vời hơn nữa, còn chín pháp quán của ngài Xá-lợi-phất có cả tâm hiền lẫn tâm từ đi chung với nhau cho nên đoạn nào trong kinh cũng có câu "rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân", câu này nằm trong phần tứ vô lượng tâm cho nên thường thì tâm hiền và tâm từ đi chung với nhau. Người nào không hiểu giá trị của kinh Nikāya giống như bản thân Minh Thành ngày xưa sẽ thấy rất khó học, chán nản vì nhiều khi chỉ có một ý mà lặp lại rất nhiều lần, chỉ có một vấn đề nhưng được nhắc tới nhắc lui, lặp đi lặp lại vì ngài sợ mình không nhớ, không hiểu, sợ mình lẫn lộn vậy mà mình cũng chán không muốn nghe hoặc nghe xong là quên, chỉ nhớ những tham dục, ái, bản ngã, còn Thánh trí thì quên cho nên ngài dặn dò nhiều lần là vì tình thương. Đối với si cũng vậy, trong tâm không còn si mê, si ám nữa nên không bị người khác làm cho phẫn nộ, đó là người hiền lành. Còn hung dữ, tàn bạo là do có tham, sân, si tích tụ trong cảm thọ cho nên đụng chuyện là biểu hiện ra hành động thì đó là người hung dữ, hung hăng. Còn người hiền lành là người đã đoạn tận, dứt sạch tham, sân, si cho nên không bị người khác làm cho phẫn nộ, tức giận, người này luôn ở trong trạng thái an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, đó là người hiền lành.

"Ðược nghe nói vậy, thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, I. Canda (Tàn bạo))

Sự quy y ngày xưa hay ở chỗ người ta thấy được giá trị, lợi ích, ý nghĩa thiết thực thì người ta mới phát tâm xin quy y, còn bây giờ quy y có khi là vì trong nhà ai cũng quy y nên mình cũng làm theo, hoặc nghĩ rằng quy y có phước lắm nên cứ thế mà làm cho nên cái quy y pháp không thành tựu. Việc quy y phải xuất phát từ lòng quý kính, hiểu được giá trị, lợi ích, ý nghĩa giúp cho đời sống của mình rồi người này mới một lòng một dạ thành kính khát ngưỡng thì mới thành tựu pháp quy y, bây giờ thì nghĩ rằng cứ quy y đi cho có phước thì việc này cũng có một chút thiện pháp nhưng không được viên mãn. Ở Linh Quy không thông báo ngày giờ làm lễ quy y, ai nghe pháp và hiểu được giá trị, ý nghĩa thì xin quy y, ngay tại đó tụng kinh rồi làm lễ đơn giản, những chỗ làm lễ trang nghiêm long trọng cũng có lợi ích chứ không phải không có, đó là tùy thuộc vào môi trường hoàn cảnh của mỗi nơi nhưng tinh thần quy y ngày xưa thời Đức Phật là xuất phát từ tâm của mọi người. Hôm nay Minh Thành giới thiệu một bài kinh ngắn để thấy được ý nghĩa của hiền và dữ, qua đây cho ta thấy ba chữ "tham, sân, si" bao trùm tất cả tạng kinh Nikāya, không có gì ra khỏi những chữ này, sự tu hành từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc chỉ nằm gói gọn trong ba chữ đó. Mục đích tu tâm hiền là để làm cho những cảm giác, cảm thọ hung tàn, hung bạo của tham, sân, si được giảm bớt, nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại của nó, suy tư sự tàn phá hiểm độc của nó để bắt đầu thấy sợ hãi nó, tránh né nó, giảm thiểu nó, tu tâm hiền để giảm bớt những thứ này xuống, tu tâm từ là để hóa giải nó, tu tập trí tuệ là nhổ tận gốc rễ, diệt tận nó, tất cả pháp từ Bát Chánh Đạo đến Tứ Niệm Xứ, ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều nhằm phát hiện ra tham, sân, si, bằng mọi cách nhiếp phục tham, sân, si và đi đến chỗ diệt tận tham, sân, si, do mức độ thấy biết về tham, sân, si như thế nào, thấy có được trọn vẹn hay không, trí tuệ người đó thành tựu đến mức nào là do trí tuệ thấy biết tham, sân, si trong cảm thọ ở mức nào. Nếu không học về Thánh trí tham, sân, si thì chúng ta chỉ thấy chuyện đã rồi, khi xảy ra rồi mới thấy, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy được căn cứ địa, thấy được sào huyệt của cảm thọ, của suy nghĩ, hình bóng của nó, phát hiện ra nó rồi tìm đủ mọi thứ nhiếp phục nó và cuối cùng là diệt tận nó, nói theo tinh thần ở đây là trải qua ba chữ, thứ nhất là tâm từ, thứ hai là tâm hiền và thứ ba là Thánh trí tuệ mới diệt tận được nó. Tâm hiền làm lắng dịu cái sân, tâm từ diệt tận cái sân, còn Thánh trí sau cùng là hoàn toàn nhổ sạch tham ái. Cái thô bạo nhất trong thân hành của mình là sân, một khi cơn sân nổi lên là giống như nổi điên, đó là một cảm thọ hung bạo, hung tàn, hung dữ, cái bạo động nhất chính là sân, cái sân này càng mãnh liệt, hung hăng thì càng dễ đọa xứ, càng rơi xuống vực sâu nhanh chừng đó cho nên để làm cho sân lắng dịu, giảm bớt để bớt khổ thì phải tập tâm hiền. Ở giai đoạn đầu chúng ta chưa thể tu được tâm từ nên cần tu tâm hiền vì tâm hiền sẽ nhắc nhở mình đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, nhắc nhở mỗi ngày một chút thì những cái nổi loạn trong cảm thọ được lắng dịu, giảm bớt từ từ, còn nếu không tu cái này thì dù có cạo đầu đắp y ở suốt đời trong chùa cũng không thay đổi, thô tháo vẫn là thô tháo, thô bạo vẫn là thô bạo, có kiềm chế thì chỉ ở chút đỉnh bên ngoài nhưng những cảm thọ đó vẫn chất chứa bên trong tâm cho nên không chạm được vào hang ổ của nó thì làm sao trị được nó, mình đánh ở bên ngoài thì bắn tỉa được vài đứa nhưng không vào được sào huyệt của giặc thì làm sao diệt tận được nó. Tâm hiền là tác dụng ở bên ngoài để những cái thô lắng dịu xuống, khi cái thô lắng xuống mới bắt đầu tu tâm từ để diệt tận những cái sân vi tế, trở nên thương những người làm cho mình khổ, vì thế khi bị người ta vu khống nhưng ngài Xá-lợi-phất vẫn nói với Thế Tôn "con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con", điều này thể hiện ngài đã đi đến tâm từ cứu cánh cùng cực không còn cái tôi nữa, những cảm thọ sân hận, si mê, vô minh, bản ngã đã hoàn toàn tẩy sạch cho nên Đức Phật nói chỉ có Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên mới thay được ngài lãnh đạo Tăng đoàn, Thánh chúng, như vậy vị trí của hai ngài vô cùng cao trong Tăng đoàn thế mà ngài Xá-lợi-phất lại bị một Tỳ-kheo vu khống rồi sau khi trình bày xong sự tu tập của mình và nếu vị kia xin tha thứ thì ngài sẽ tha thứ, đồng thời ngài lại mong người vu khống tha thứ cho mình, đó chính là tiếng rống của con sư tử chứ không phải ở giữa Đức Phật và các vị Tỳ-kheo khác rồi gào lên, thét lên vì bị vu khống. Một cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, đức độ như vậy, đó là bậc tôn đức của chúng Tăng, bậc cao đức của Thánh chúng, bậc tướng quân chánh pháp, Đức Phật nói những trí tuệ nào ngài có thì Xá-lợi-phất đều có và khen ngợi ngài hết lời.

"Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ) 

Cho nên đừng xem thường việc tu tập tâm hiền, tâm hiền lắng dịu cái sân thô, tâm từ làm lắng dịu, diệt tận sân tế, sự quán chiếu Thân Hành Niệm bất tịnh để phá dục tham và Thánh trí tuệ để phá si mê, vô minh. Toàn bộ sự tu hành trong kinh Nikāya theo tinh thần gốc của Đức Phật là phát giác tham, sân, si là Thánh quả thứ nhất, nhiếp phục tham, sân, si là các tầng Thánh quả thứ hai, thứ ba, đoạn tận sạch tham, sân, si là Thánh quả thứ tư cứu cánh phạm hạnh. Chúng ta cần nhớ điều quan trọng là tham, sân, si, bản ngã và vô minh đối với ngũ uẩn, đó là lý do chúng ta phải học về ngũ uẩn, đó là trí về vũ trụ, tất cả các pháp như tật đố, ganh tỵ, hơn thua, xảo trá… đều đối với ngũ uẩn, khi giải mã được vấn đề này mới làm rực sáng trí tuệ, nếu không chỉ có tưởng tượng, có thấy chỉ thấy một góc độ nhỏ của tham, sân, si mà thôi, không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc đó ra sao. Toàn bộ phạm hạnh này là nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, lấy đó làm thước đo trong sự tu, để biết tu tiến hay thối đọa chỉ cần nhìn vào tham, sân, si là biết. Tham dục tăng trưởng là thối đọa, sân si tăng trưởng là thối đọa, còn khi tham dục đang giảm bớt, sân si đang giảm bớt thì đó là đang tiến tu, đang có bước tiến trong sự hành trì.

Bài kệ tán thán đức hạnh ngài Xá-lợi-phất của bậc thiện tri thức biên soạn được rút kết từ bài kinh Sau khi an cư này, bài kệ đó là một trong những pháp tu quan trọng trong đạo tràng Nikāya cũng như tại Linh Quy Pháp Ấn. Vì thế bài kinh này phải học thật kĩ vì đây là bài kinh nói lên pháp môn mình hành trì, đó là tâm hiền thiện, hiền trí. Minh Thành mong đại chúng chiêm nghiệm bài kinh này thật kĩ, quán chiếu và viết ra sự chiêm nghiệm của mình về thái độ ứng xử của tôn giả Xá-lợi-phất, đức hạnh, lòng từ cũng như chín pháp quán an trú tâm của ngài, phải viết bài về chín pháp quán thật kĩ và đầy đủ, cái viết đó chính là tác ý, quán chiếu và cảm nhận. Bài kinh này mang tính chất quyết định, là một pháp tu đại biểu quan trọng trong đạo tràng Nikāya cũng như dòng pháp Nikāya.

./.