Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TU LÀ NHẬN DIỆN VÀ THANH LỌC TÂM UẾ NHIỄM 1

2026-03-18 06:50:21
Kinh Nikāya Giảng Giải

TU LÀ NHẬN DIỆN & THANH LỌC TÂM UẾ NHIỄM 1

(Kinh Không Uế Nhiễm - Trung Bộ)

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn hạng người PAGEREF _Toc170898639 \h 1

1.Có cấu uế, không tuệ tri có cấu uế PAGEREF _Toc170898640 \h 1

2.Có cấu uế, tuệ tri có cấu uế PAGEREF _Toc170898641 \h 2

3.Không có cấu uế, không tuệ tri không có cấu uế PAGEREF _Toc170898642 \h 2

4.Không có cấu uế, tuệ tri không có cấu uế PAGEREF _Toc170898643 \h 2

II.Nhóm người hạ liệt và ưu thắng PAGEREF _Toc170898644 \h 3

III.Vì sao chia thành nhóm người hạ liệt – nhóm người ưu thắng? PAGEREF _Toc170898645 \h 5

IV.Những cấu uế của tâm PAGEREF _Toc170898646 \h 10

Bốn hạng người

Kính bạch chư tôn thiền đức và các vị Hiền trí! Nhân duyên chúng ta đã được nghe mục đích của bộ sách Tinh Hoa Nikāya, cũng như được nghe đoạn đầu của bài kinh Không Uế Nhiễm và tìm hiểu bài kinh Đoạn Giảm; ta thấy được những phần này có nội dung liên hệ nhau rất sâu sắc. Trong bộ Tinh Hoa Nikāya, tuy phần đầu có tiêu đề là Mục Đích Của Tập Sách nhưng đó cũng chính là mục đích của Thánh điển, Thánh giáo, cũng là mục đích của đạo Phật. Hôm nay, để làm rõ vấn đề này, chúng ta cùng tìm hiểu rõ Kinh Không Uế Nhiễm, bài số 5, Trung Bộ Kinh tập I:

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở tại đây, Tôn giả Sariputta (Xá lợi Phất) gọi các Tỷ-kheo. "Chư Hiền Tỷ-kheo". - "Thưa Hiền giả", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

Này chư Hiền, ở đời có bốn hạng người. Thế nào là bốn?

Có cấu uế, không tuệ tri có cấu uế

Chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế".

Loại người thứ nhất là người có cẫu nhiễm nhưng không như thật tuệ tri nội thân có cấu nhiễm. Trước đây Minh Thành ngồi học ở trường, được nghe các vị tôn đức giảng bài kinh này nhưng Minh Thành không hiểu. Hiện tại đọc câu kinh này, Minh Thành cảm thấy rất chấn động và có những cảm xúc rất sâu sắc. Câu kinh này bao trùm hết lục đạo chúng sanh. Câu kinh này có nghĩa là loại người thứ nhất là loại người có cấu nhiễm nhưng không biết đúng sự thật bằng trí tuệ rằng “mình đang bị cấu nhiễm”. Chỉ trừ những người có chánh kiến, mở được mắt pháp, nhận diện được ngũ uẩn thì mới như thật biết bằng trí tuệ rằng mình đang bị dơ bẩn, ô uế và cấu nhiễm. Cho nên đây là câu rất quan trọng, là đề tài cho chúng ta thiền quán đến khi nào diệt tận được tất cả lậu hoặc.

Như vậy, người thứ nhất là người “còn dơ nhưng không biết mình dơ”, chữ “biết” này là ta nói ngắn gọn, nói đầy đủ phải là “như thật tuệ tri” – biết bằng trí tuệ, đúng như sự thật. Đức Thế Tôn đã dùng bốn chữ “như thật tuệ tri”, đây là cả một trí tuệ to lớn, không phải cái biết bình thường, không phải cái biết của phàm phu, không phải cái biết của ý thức, cũng không phải cái biết do suy tưởng, tượng tượng, tư duy, suy luận. Đây phải là cái biết bằng trí tuệ, hơn nữa không phải trí tuệ bình thường, mà là trí tuệ của bậc Thánh.

Bản thân Minh Thành xuất gia 28 năm, trước khi đi vào dòng pháp này, suốt thời gian đó không có như thật tuệ tri nội thân mình có cấu nhiễm, nếu có biết chỉ là những cái thô bên ngoài, những cái trầm trọng; còn những điều vi tế thì không biết. Thậm chí biết những cái thô cũng không được chính xác, không đúng, không đầy đủ. Khi đã đi vào đạo tràng Nikāya, chìa khóa của Bậc Đạo Sư truyền trao là sự nhận diện năm uẩn. Phần còn lại là chúng ta có chịu đem chìa khóa đó để mở ổ khóa, đi vào nội tâm hay không? Người đã được hướng dẫn nhận diện năm uẩn nhưng không nhận diện thường xuyên thì cũng chỉ ở ngoài, là một kẻ lang thang, không đi được vào căn nhà nội tâm. Nếu ta không chịu khó, không siêng năng, không miên mật, không khít khao, không liên tục, không sát sao thường xuyên nhìn ngó vào trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm thì chúng ta vẫn còn ở ngoài đường, tức là tâm hướng ngoại, tâm hoang vu, tâm buông lung, buông thả, buông trôi, buông lơi, phóng dật.

Cho nên, chẳng những ta phải có được chìa khóa ngôi nhà nội tâm ra, mà ta còn phải mở cửa đi vào đó, phải có đôi mắt sáng để nhìn thấy căn nhà đó đang dơ. Sau khi thấy nhà đang dơ thì phải nỗ lực vệ sinh, quét dọn, hốt rác, lau chùi. Đây là công cuộc tu tập, không phải đơn giản.

Có cấu uế, tuệ tri có cấu uế

Có hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế".

Hạng người thứ hai là hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri thấy nội thân có cấu uế. Đây là người được hướng dẫn cái thấy chân xác vào thân tâm, là sự thấy đúng, có chánh kiến. Người này được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn; được hướng dẫn, được nhìn thấy những dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

Người có cấu uế mà như thật tuệ tri, biết bằng trí tuệ rằng mình đang có cấu uế là hạng người thứ hai trên cuộc đời.

Không có cấu uế, không tuệ tri không có cấu uế

Có hạng người không có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế".

Hạng người thứ ba là người không có cấu uế nhưng lại không biết bằng trí tuệ rằng thân tâm không có cấu uế. Hạng người này rất hiếm.

Không có cấu uế, tuệ tri không có cấu uế

Có hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế".

Hạng người thứ tư là hạng người không có cấu uế và bằng trí tuệ, biết một cách đúng sự thật rằng mình không có cấu uế. Đây là bậc Thánh cứu cánh, bậc A-la-hán.

Nhóm người hạ liệt và ưu thắng

Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.

Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.

Đối với hạng người thứ nhất và hạng người thứ hai là hai hạng người có cấu uế. Hai hạng người này được phân loại ra: người có cấu nhiễm mà không biết mình có cấu nhiễm, đây là hạng người thấp kém. Còn người có cấu uế và biết mình có cấu uế, Ngài Xá-Lợi Phật nói đó là hạng người ưu thắng. Người có cấu uế nói tiếng Việt dễ hiểu là hạng người “dơ mà không biết mình dơ” là hạng thấp kém; còn hạng người “dơ mà biết mình dơ” là hạng người ưu việt.

----

Chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.

Chư Hiền, ở đây, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng

Hạng người không có cấu uế nhưng không biết bằng trí tuệ rằng mình không có cấu uế, đây là hạng người hạ liệt. Hạng người không có cấu uế và biết bằng trí tuệ rằng mình không có cấu uế, đây là hạng người ưu thắng. Nói tiếng Việt dễ hiểu là hạng người “không có dơ nhưng không biết mình không có dơ” là hạng người hạ liệt; hạng người “không có dơ và biết rằng mình đã sạch sẽ, không dơ” là hạng người tối thượng, chỉ có bậc Thánh.

Như vậy, đầu tiên Ngài Xá-Lợi-Phất phân chúng sanh có bốn hạng người, tiếp theo Ngài phân bốn hạng người đó thành hai nhóm, gồm nhóm biết bằng trí tuệ và nhóm không biết bằng trí tuệ. Người biết bằng trí tuệ về tự thân mình là người tối thượng; người không biết về chính mình là người hạ liệt, thấp hèn, yếu kém. Vậy, tại sao biết và tại sao không biết? Người có ngũ uẩn sẽ biết, còn không nhận diện ngũ uẩn thì không thể biết được. Cho nên, trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, Trung Bộ Kinh tập I, Thế Tôn có nói. : “Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy”.

Thành ra chữ “thấy” và “biết” trong tạng kinh Nikāya là hết sức quan trọng, đó chính là Chánh Tri Kiến. Chữ “thấy” ở đây có nhiều cấp độ, đầu tiên ta phải được hướng dẫn cách thấy đúng, tức là nhận diện ngũ uẩn. Kế đó ta cần thường xuyên nhìn ngó, để tâm, quán sát. Sâu hơn nữa, cần xem xét sự quán sát đó có tinh vi, sắc bén, có chánh trực, có phản ánh trung thực, có trực diện, trực chỉ hay không? Hay ta nhìn thấy một chút rồi lại cho qua, thấy rồi cũng để đó, hoặc thấy rồi phớt lờ? Cho nên chữ “thấy đúng” ở đây có rất nhiều mức độ, khía cạnh.

Ví dụ, về góc độ sắc uẩn, ta đã thấy được kha khá, tương đối đầy đủ. Nhưng đến góc độ thọ uẩn thì có những góc mờ, góc khuất, những điểm mù nên ta không thấy được. Như khi lái xe, do có những điểm mù, những góc khuất mà người tài xế không thấy được nên đã dẫn đến ra tai nạn. Có một anh lái xe tải sau khi ngừng ăn cơm, anh vừa lên xe chạy ra khỏi quán thì phát hiện mình để quên điện thoại ở quán cơm, do đó anh lùi xe lại để lấy điện thoại, chẳng may do khuất tầm nhìn, xe đụng trúng một người mẹ và hai đứa con, làm chết cả ba người. Đó là điểm mù khi tham gia giao thông. Cũng vậy, không phải được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn là ta thấy rõ ràng hết thân tâm mình; mà vẫn cần phải có Bậc Đạo Sư, bậc Thầy chỉ dạy thêm. Bởi lẽ, có những điểm ta bị vô minh, bị năm triền cái phong tỏa nên tham ái, chấp thủ đối với những cảm giác, tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức đến một mức độ nào đó là ta không phá được. Cho nên, để có chánh kiến về Thánh trí Ngũ Uẩn là cả một lộ trình tu tập.

Đôi khi đối với quý thầy, quý cô mới đến, Minh Thành không dám nhắc nhở nhiều; thậm chí có những vị Minh Thành không nhắc. Vì Minh Thành để cho tâm các vị dần dần được mềm mại lại, vì hiện tại tâm họ còn cứng cỏi, còn ương ngạnh, còn kiêu ngạo. Nếu các vị nếu có duyên thì dần dần thấm được pháp và nhận ra. Cho đến lúc các vị ấy thật sự cần tu học, muốn chỉ dạy thì Minh Thành chỉ đôi phần. Còn thật sự muốn hạ thủ thì có lẽ các vị sẽ không chịu nổi.

Qua đây, ta cũng thấy rằng, việc viết nhật ký tu học và phát lồ sám hối là cực kỳ quan trọng. Vì sự nhận diện ngũ uẩn không đơn giản chỉ là “thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức”, đây là mức độ tiểu học, cho các vị bước đầu tu tập. Còn đối với chúng ta, ngoài việc nhận diện được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, những rác thô được dạy trong tổng cương lĩnh trong gốc rễ thì ta còn phải nhận diện được những cành, nhánh, ngọn nhỏ nhiệm hơn trong tâm. Tâm ganh tỵ khi sanh khởi ra sao, tâm đố kị sanh khởi thế nào, tâm hơn thua sanh khởi ra sao… ta cũng cần nhìn thấy được. Tâm hẹp hòi, ích kỷ có cảm thọ thế nào? Tâm ái ái, luyến luyến, không muốn từ bỏ sắc uẩn ra sao, mình cũng cần nhìn thấy và chiếu phá nó. Ngoài ra còn cần phải Như Lý Tác Ý.

Nói thì đơn giản nhưng việc quyết tâm tu tập, tinh cần, tinh tấn hành trì là cả một vấn đề, không chỉ lúc ngồi trên thiền đường, mà cả khi làm việc. Lúc ấy phải xem bản ngã hoạt động như thế nào, tâm danh lợi ra sao, tâm hơn thua thế nào, tâm cao thấp thế nào. Chúng ta cần phải nhận diện được tâm mình trong khi làm việc, trong khi suy nghĩ, trong khi nói chuyện, trong khi hành xử. Mỗi nhất cử nhất động đều phải nhìn sâu vào bên trong tâm, xem lúc đó cái gì đang dẫn dắt. Không phải học sắc, thọ, tưởng, hành, thức là xong. Không phải lên tu vài thời đảnh lễ, sám hối diệt ngã là xong. Tu như vậy thì cũng trở về đường cũ như ngày xưa. Cho nên cần để ý thật nhiều vào hai chữ Chánh Kiến – Thấy Đúng.

Vì sao chia thành nhóm người hạ liệt – nhóm người ưu thắng?

Được nói như vậy, Tôn giả Mahamoggallana (Đại Mục-kiền-liên) nói với Tôn giả Sariputta như sau:

– Tôn giả Sariputta, do nhân gì, do duyên gì, trong hai hạng người có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng? Tôn giả Sariputta, do nhân gì, do duyên gì trong hai hạng người không có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng?

Đây là cuộc nói chuyện của hai vị tướng quân của Chánh Pháp. Ngài Mục-Kiền-Liên không phải không biết câu trả lời nhưng Ngài vẫn hỏi là để Ngài Xá-Lợi-Phất giảng thuyết một các rộng rãi, trình bài một cách đầy đủ, tận tường. Thứ nhất là vì Ngài Mục-Kiền-Liên trú trong hiện tại lạc trú, trú trong pháp hỷ và Thánh chúng lúc đó cũng vậy. Thứ hai là để những người được nghe ngay lúc đó được lợi lạc và để 2600 năm sau, chúng ta ngồi đây cũng được lợi lạc nhờ câu hỏi của Ngài Mục-Kiền-Liên.

– Ở đây, Hiền giả, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Với người này, có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm".

Hạng người thứ nhất là một người có tâm dơ bẩn mà không đúng như sự thật bằng trí tuệ để nhìn thấy nội tâm mình thật sự đang dơ bẩn thì điều có thể chờ đợi người này là không khởi lên ước muốn, không khởi lên sự cố gắng, không khởi lên sự tinh tấn, nỗ lực để tẩy rửa, quét dọn, để làm vệ sinh sạch sẽ nội tâm cấu nhiễm đó; vì người này không biết tâm họ đang có rác bẩn. Vì không biết tâm mình đang dơ nên họ không dọn dẹp, quét rác, hốt rác, chùi rửa. Do vậy, người này sẽ chết khi nội tâm còn đầy rẫy tham, sân, si, cùng vô số những đống rác bẩn ô uế, ô nhiễm.

Chúng ta hãy nhìn lại tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh. Ngay cả người xuất gia, có bao nhiêu người trong chúng ta luôn luôn lúc nào cũng quay lại nhìn chính mình để thấy xấu hổ, hổ thẹn với những cấu nhiễm, ô uế, bẩn thỉu, nhơ nhớp, dơ bẩn trong thân mình, trong tâm mình? Trong trăm triệu người Việt Nam có được mấy người? Giữa tám tỷ người trên hành tinh này được bao nhiêu người? Được bao nhiêu người xuất gia khi ngồi lại với nhau có những lời chia sẻ chân thành: “Con thật sự xấu hổ, con thật sự lo lắng, con thật sự là sợ hãi khi nội tâm con còn đầy rẫy những sự bẩn thỉu, những sự ô uế. Con thật sự vô cùng lo sợ, sợ hãi, bất an, con thao thức, con trăn trở, con ưu tư, vì nếu bất thình lình cái chết xảy đến, con có thể chết trong sự bất tường vì nội tâm con còn đầy rẫy tham, sân, si, dục, ái, bản ngã”. Nhưng vì không thấy được như vậy, không suy nghĩ như vậy nên ta không thể nói được những lời như vậy. Do không như thật tuệ tri những cấu nhiễm nên làm sao ta có thể nỗ lực, tinh tấn, ước muốn, cố gắng tẩy sạch cấu nhiễm. Thế nên, người này sẽ từ trần trong khi còn đầy rẫy tham, sân, si, dục, ái, bản ngã; đầy rẫy với một nội tâm ô nhiễm bởi ác, bất thiện pháp. Chưa kể ta còn dương dương tự đắc, hống hách, kiêu ngạo, ngạo mạn, tạo ra thêm nhiều nghiệp mới. Trong khi nghiệp cũ đang còn chất chồng đầy đầu, mà mình không lo quét dọn, lau chùi. Mình còn vay thêm nghiệp mới trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái tiếp xúc, cái nhận thức. Đi đến đâu là gây thêm nghiệp mới đến đó. Lúc nào cũng vác theo một ngọn núi Tu-Di của bản ngã để đè mình rồi đè người, làm khó cho mình rồi làm khó cho người.

Cho nên, câu kinh này là chỗ quan trọng mà Tôn Giả Xá-Lợi Phất nhắc nhở chúng ta. Cần phải nhớ tới chính mình, nhớ địa vị của mình, nhớ chỗ đứng của mình là ở đâu. Nhớ ở đây là nhớ thực trạng, nhớ hiện thực về chính tự thân mình. Ta còn nhớ hay là đã quên? Trong tâm mình đầy rẫy những cấu nhiễm nhưng không chịu quay lại để nỗ lực lau chùi, hốt, rửa. Mình cứ nhìn người này, người kia, người nọ để rồi tự tìm phiền não, đem rác của nhà người sang nhà mình. Khiến cho nội tâm mình ngày càng hôi hám, dơ bẩn, hôi thối, bất tịnh. Vậy mà nhiều khi mình nghĩ rằng làm như vậy là thông minh, là khôn khéo, là ta đây. Thật sự vô cùng đáng thương!

Khi tu tập tâm từ, chúng ta sẽ thấy vô cùng thương mình và thương người. Nhìn đâu ta cũng có thể rơi lệ. Chứng kiến cách con người đối xử, nói chuyện, hành xử với nhau, tất cả đối tượng trong ngũ uẩn này đều là những cảnh làm ta sanh khởi tình thương lớn. Mà người đáng thương nhất trên hành tinh này là chính mình đấy! Quý vị có thương mình không? Có biết tự thương mình để mà chăm sóc cho một nội tâm đầy bệnh hoạn, đầy vết thương, một nội tâm tràn đầy những đống rác bốc mùi tanh hôi, bẩn thỉu, xú uế, ô nhiễm, cấu nhiễm, rác bẩn. Khi an trú được vào tâm này thì ta tu mới tiến. An trú được vào tâm này thì cảm thọ mới co rút lại, cúi đầu xuống, không còn dám phê phán lỗi của ai, vì tự thân mình còn làm chưa xong. Tâm mình lúc này giống như con bò bị cưa hai sừng, mình sẽ cảm thọ rõ ràng được như vậy. Tâm ta sẽ nhẹ nhàng, hiền hòa, hiền dịu, hiền lành, biết thương cảm cho mình và tất cả hữu tình chúng sanh. Như vậy mới thật sự là người thấy đúng. Thấy đúng là phải thấy được như vậy.

Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian càng ô nhiễm hơn, càng đầy bụi bặm hơn.

Ngài Xá-Lợi Phất ví tâm của hạng người này giống như một cái bát bằng đồng, phủ đầy bụi bặm, không được dùng đến, bị quăng vào chỗ dơ bẩn, bụi bặm. Trải qua thời gian càng lâu thì cái bát sẽ càng dơ bẩn, càng bụi bặm.

---

Ở đây, này Hiền giả, hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Với người này, có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm". Này Hiền giả, giống như cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian được thanh tịnh hơn, được sạch sẽ hơn.

Ngày xưa các Ngài ví dụ bằng hình ảnh chiếc bát, vì chiếc bát được sử dụng hàng ngày. Còn bây giờ chúng ta ít xài bình bát nên Minh Thành lấy ví dụ bằng hình ảnh căn nhà dơ để mọi người có cảm thọ.

Như đã nói, một người ý thức được rằng bản thân đang dơ, đang hôi, đang bẩn, đang vấy bùn, đang dính phân, dính máu, dính mủ, dính nước tiểu, dính đàm vãi thì đương nhiêm phải lẹ lẹ, nhanh nhanh đi chùi rửa, tắm giặt. Những ví dụ này không phải Minh Thành tự đưa ra, mà chính Đức Phật đã ví dụ. Ngài ví dụ một người thanh thiếu niên trẻ đẹp, ưa chưng diện, mặt đồ mới, trang sức đàng hoàng. Bỗng nhiên ra đường bị người khác quàng xác của con chó chết, rắn chết, người chết lên người thì người này sẽ sợ hãi, kinh hãi, quăng cái xác đó ra rồi bỏ chạy. Cũng vậy, khi biết thân này đầy máu, mủ, phân, nước tiểu, đàm vãi thì mình cũng muốn tẩy rửa sạch sẽ và tránh xa những thứ này.

Một ví dụ cho chúng ta dễ cảm thọ, chẳng hạn mình đang đắp y đàng hoàng, mặc áo tràng tươm tất chuẩn bị lên thiền đường thì bị dính phải phân của chó mèo vừa ị, còn tươi, còn ướt. Khi đó không ai có thể để yên như vậy mà đi lên thiền đường tu được. Mà tất cả đều cảm thấy nhờm tởm, hôi thối, bẩn thỉu, nhơ nhớp, rồi lập tức đi chà rửa, cởi áo ra giặt giũ. Cũng vậy, ta cũng phải nhờm tởm, gớm ghiếc, chán chê, ê chề, ngao ngán đối với những ác, bất thiện pháp, những tham, sân, si, dục, ái, bản ngã. Mình coi chúng như phân, như cứt đái. Những thứ này còn trong nội tâm ta là ta còn dơ bẩn, còn hôi thối, còn cấu uế, còn xấu hổ, còn lo lắng, còn sợ hãi, còn bất an, còn trăn trở, còn thao thức, còn khắc khoải. Người có tâm thái như vậy là “người còn dơ và biết mình dơ”.

Trong chúng này cũng có những vị tu lâu cũng có tâm thái này và cần phát huy lên thêm nữa. Khi tự thấy những cấu uế trong tâm mình thì phiền não rất khó xâm chiếm, áp đảo được mình. Nếu có chuyện xảy ra thì ta cũng bỏ qua một cách nhẹ nhàng, buông xả một cách nhẹ tênh. Ngược lại, nếu không có tự thấy tâm đầy rác bẩn của mình, dù chỉ một chuyện nhỏ xảy ra thì ta cũng ghim gút, hơn thua. Đó là tâm của phàm phu, tâm vô minh, tâm ngu si, tâm dài khờ, tâm ấu trĩ, tâm trẻ con, trẻ nít, trẻ thơ, tự làm mình khổ và những người xung quanh cũng khổ. Do đó, ta cần học tâm của “người lớn”, tâm của bậc Đại nhân như tám điều suy niệm của bậc đại nhân trong kinh bài kinh Tôn Giả Anurundha, Tăng Chi Bộ Kinh tập III (không phải kinh Bát Đại Nhân Giác). Khi ý thức được tâm mình đang dơ thì rất dễ tu. Tâm ta sẽ hướng đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Còn người không ý thực được tự thân đang dơ là rất khó tu, vì “mình dơ mà không biết mình dơ” thì không thể tẩy sạch cái dơ đó được.

Ở đây, hạng người thứ hai là người như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Với người này, có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm". Người từ trần khi không còn tham, không còn sân, không còn si chính là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, là vô thượng phước điền. Mục đích cứu cánh của người tu chỉ đơn giản là “ba không”: không tham, không sân, không si. Nói đầy đủ hơn là không dục, không ái, không bản ngã, không vô minh. Cho nên chúng ta tu là để đi tới cái “không”, chứ không phải tu để đi tới chỗ “được”. Nếu còn những tâm tham, sân, si này là còn mầm mống của bất an, tai họa, khổ sở, mầm mống của chiến tranh, mầm mống của hơn thua, được mất, mầm mống của phân biệt, của so sánh, của tính toán. Sạch được hết những tâm này chính là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Vì vậy, lúc nào ta cũng phải nhìn lại vào tâm mình, khi thấy còn tham, sân, si, dục, ái, bản ngã là phải dập, phải diệt chúng ngay lập tức. Ta phải đánh chúng túi bụi, đánh cho bành thây áo vũ, đánh cho tan tát, tả tơi, đánh cho sạch sành sanh tất cả những uế nhiễm trong tâm. Suốt cả ngày chúng ta phải chuyên chú làm việc này, dù cho làm bất cứ chuyện gì cũng không bằng việc đánh gục những tên giặc trong chính tâm mình. Đừng lo làm việc rồi chỉ thấy công việc, mà không thấy tâm của mình, không thấy tham, sân, si, dục, ái, bản ngã. Trong tất cả công việc, không có việc nào quan trọng bằng việc diệt kẻ thù nội tâm.

---

Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Với người này, có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm". Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ. Và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng ô nhiễm hơn, càng bụi bặm hơn.

Hạng người thứ ba là người có nội tâm sạch nhưng người này lại không có Thánh trí tuệ, không thành tựu được Chánh tri kiến thâm sâu, tận cùng nên người này không biết tâm mình đã hoàn toàn thanh tịnh. Rồi người này để cho sự thanh tịnh đó trống rỗng, không được Thánh trí tuệ soi chiếu. Do vậy, những tư niệm, những suy nghĩ về tịnh tướng sẽ sanh khởi vì người này không có chánh kiến để biết thực trạng thân tâm mình. Đây chính là chỗ trong kinh chúng ta thường thấy các vị ngoại đạo đạt được tứ thiền bát định, nhưng khi hết thiền định vẫn bị đọa. Đó là do họ không có Thánh trí Ngũ Uẩn để phá vỡ đến tận cùng thân kiến, phá vỡ tất cả lậu hoặc, chấp thủ. Có rất những vị tu tâm trống trơn, thanh tịnh, trùm khắp; khi trú vào tâm này thì được an an, ổn ổn nhưng khi trở ra đối duyên xúc cảnh thì vẫn khởi tham, sân, si, bản ngã. Vì chưa phá được gốc rễ trong ngũ uẩn nên tư niệm tịnh tướng khởi lên. Tư niệm tịnh tướng nghĩa là vẫn có suy nghĩ cho rằng đó là tốt, là đẹp ở trong ngũ uẩn này nên có cái tôi. Chính những cái thâm đó sẽ làm ô nhiễm tâm này. Và khi có tham thì đương nhiên có sân, có si, có bản ngã. Đây là Minh Thành chỉ ra lí do có những vị tu thâm sâu nhưng không thành tựu được Chánh tri kiến của bậc Thánh.

---

Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Với người này có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi không có tham, không có sân, không có si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm". Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng được thanh tịnh hơn, càng được sạch sẽ hơn.

Hạng người thứ tư này là chỉ các bậc Thánh, A-la-hán. Đây là những bậc đã phá sạch tất cả những cấu nhiễm, đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn trong thân tâm.

Này Hiền giả Moggallana, do nhân này, do duyên này, trong hai người có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng. Này Hiền giả Moggallana, do nhân này, do duyên này, trong hai người này không có cấu uế, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng.

Như vậy, ưu thắng là thấy và biết thân tâm mình bằng Thánh trí tuệ.

Những cấu uế của tâm

Này Hiền giả, cấu uế gọi là cấu uế, danh từ gì là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế? - Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế.

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo chớ có biết về ta rằng là đã phạm giới tội". Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo có thể biết được các Tỷ-kheo ấy đã phạm giới tội. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Các Tỷ-kheo đã biết được ta đã phạm giới tội". Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Một người phạm tội, mong rằng không ai biết, nhưng khi mọi người biết và chỉ lỗi, chỉ trích giới tội đó thì vị này phẫn nội và bất mãn. Nói dễ hiểu hơn là khi mình có lỗi, mình mong rằng không ai biết, rồi mình che đậy, che giấu, nhưng có người biết thì mình phẫn nội, tức giận. Tâm phẫn nội và bất mãn đó chính là cấu uế của tâm. Chẳng hạn trong cuộc sống, khi ta làm sai, có người chỉ lỗi đó của mình. Lúc đó ta ít hay nhiều cũng sẽ khó chịu. Sự khó chịu, phẫn nộ, bất mãn đó chính là sân, là cấu uế của tâm.

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo hãy quở trách ta ở chỗ kín đáo, không phải ở giữa Tăng chúng". Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo quở trách Tỷ-kheo ấy ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Các Tỷ-kheo quở trách ta ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo". Do đó vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ, và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Khi phạm lỗi, người này muốn các vị Tỷ-kheo khác quở trách, chỉ lỗi cho mình ở nơi kín đáo, không phải ở giữa Tăng chúng đông người. Nhưng người này bị chỉ lỗi ngay trước chúng nên người này phẫn nộ, bất mãn. Sự phẫn nộ, bất mãn này thuộc về cấu uế. Qua đây ta cũng thấy người này thiếu tâm hiền. Vì khi ta có lỗi, được chỉ lỗi thì ta nên cảm ơn người chỉ lỗi cho ta thấy, rồi tự nhìn lại bản thân, cảm thấy xấu hổ. Nhưng tại sao ta lại phẫn nộ, bất mãn? Đó là do bản ngã, do sĩ diện, do tự ái, không tu tập tâm từ.

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng một Tỷ-kheo đồng đẳng hãy quở trách ta, chớ không phải một vị không đồng đẳng". Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách Tỷ-kheo ấy, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách ta, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng". Do đó vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Khi phạm lỗi, người này muốn được người ngang hàng chỉ lỗi, quở trách; không muốn người thấp hơn chỉ lỗi mình. Nhưng thực tế vị này bị một người nhỏ hơn chỉ lỗi nên người này phẫn nộ, bất mãn. Đây là điểm rất thường thấy, Ni Sư thì phải được Ni Sư chỉ lỗi, Sư Phụ chỉ lỗi; chứ không để một cô tiểu mới vào chùa chỉ lỗi. Tuy nhiên, khi bị một người nhỏ hơn quở trách đây thật ra là cơ hội để nhìn lại tâm mình đang ở vị trí nào, đã tu học được đến đâu. Mặt khác, những vị nhỏ khi học điều này cũng không nên tự cho bản thân mình được quyền chỉ trích, chỉ lỗi người lớn, làm vậy vô tình sẽ khiến mình tổn phước, hoặc thêm tội. Thay vào đó, tất cả mọi người đều tu tập tâm hiền thì sẽ không có phiền não xảy ra. Dù góp ý, chỉ lỗi lẫn nhau thì cũng bằng tâm ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Khi đã tu tâm hiền, người khác chỉ lỗi sai của mình thì mình vẫn nhẹ nhàng, không tự ái, không sỉ diện, không bản ngã, mà lại còn chắp tay cúi đầu, nhận lỗi và cảm ơn. Thực hành được những đức hạnh này thì cả đạo tràng sẽ được êm ái, hòa thuận với nhau.

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng bậc Đạo Sư hãy hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo! Mong rằng bậc Đạo Sư không hỏi Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo!". Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: bậc Đạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư không hỏi Tỷ-kheo ấy nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Bậc Đạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Bậc Đạo Sư không hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo". Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Trong buổi nghe pháp, vị Tỷ-kheo này có suy nghĩ mong rằng Đức Phật sẽ gọi Ngài để hỏi nhiều lần giữa pháp hội, chứ không gọi vị khác. Đây cũng là chỗ để chúng ta ở đây chú ý, có những vị dự khóa tu buổi nào cũng lên trình pháp. Tuy nhiên, ta cần để ý và nhường cho những vị mới được tu tập, mới được về núi. Hơn nữa, đó cũng là dục nói, là bản ngã vi tế muốn thể hiện mình. Bữa nào cũng muốn nói, không chừa thời gian cho người khác, cứ làm theo tâm thúc giục của bản thân, mà quên rằng có rất nhiều người mới rất cần được bày tỏ, được chia sẻ, rất cần sự chăm sóc của quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Còn mình đã được chăm sóc nhiều rồi, hãy biết thương các vị khác và cho họ một chút không gian. Trong đạo tràng có hai trường hợp thường gặp: một là rất thích đứng lên được nói, hai là được gọi nhưng cũng không chịu nói…những tâm này không được mềm mại.

Và khi Đức Phật gọi vị Tỳ-kheo khác nhiều lần nhưng không gọi vị này thì vị này phẫn nộ, bất mãn. Thật sự dễ sợ với tâm này, khi Đức Phật không gọi tới nên sanh tâm phẫn nộ, bất mãn. Không biết Minh Thành có bị vị nào ở đây phẫn nộ không? Khi có những vị ngồi phía dưới muốn được kêu mà con không kêu. Có một số vị sau khi xuống núi đã gửi tin nhắn cho Minh Thành, nói rằng họ lên đây thầy không dòm ngó, không nhắc tới nên tâm cảm thấy bất mãn, không được hoan hỷ. Những điều trong kinh có nhắc đến, không có điều gì mà ở ngoài không có. Đó chính là những cấu uế trong tâm.

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng các Tỷ-kheo hãy để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm! Mong rằng các Tỷ-kheo không để một Tỷ kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm!" Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để Tỷ-kheo ấy đi trước trong khi vào làng để dùng cơm. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm". Do đó vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Vị Tỳ-kheo này mong muốn được đi đầu khi vào làng dùng cơm, nhưng thực tế vị Tỳ-kheo khác được đi trước. Do vậy, vị này phẫn nộ và bất mãn, đây là cấu uế của tâm.

---

Này Hiền giả, sự tình xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng tại chỗ ăn, ta được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất! Mong rằng Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất!" Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất; còn Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tại chỗ ăn, ta không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất". Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Vị Tỷ-kheo này mong muốn mình được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất, còn những vị khác không được chỗ tốt nhất. Nhưng thực tế thì ngược lại, vị Tỷ-kheo khác được những thứ tốt nhất còn vị này không được nên vị này phẫn nộ, bất mãn, bực tức, khó chịu, đó là cấu uế của tâm. Khi nghe những điều này, các vị hiền trí nơi đây hãy nhìn vào tự thân mình để xem mình có hay không?

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng tại chỗ ăn sau khi ăn xong, ta sẽ thuyết tùy hỷ pháp, không phải Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, sẽ thuyết pháp tùy hỷ pháp!" Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp; Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp. Tỷ kheo này nghĩ rằng: "Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp. Ta tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp". Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Vào thời Đức Phật, Đức Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo được các vị cư sĩ mời đền nhà cúng dường thức ăn (không phải cúng trai tăng như bây giờ). Sau khi thọ trai xong, gia chủ cúng dường sẽ lấy một chiếc ghế nhỏ và ngồi ở dưới, lúc này các thầy Tỷ-kheo sẽ thuyết pháp cho họ, ngắn dài tùy theo hoàn cảnh, căn cơ, nhân duyên của người gia chủ ấy. Đó chính là thuyết tùy hỷ pháp, tức là nói lời hoan hỷ, chúc phước lành cho gj chủ nhà cúng dường.

Vị Tỷ-kheo này nghĩ rằng mình sẽ được nói những lời tùy hỷ, chúc phúc đó nhưng cuối cùng sự kiện xảy ra không phải như vậy, mà là một vị khác nói nên người này bực tức, khó chịu.

Lâu lâu chúng ta có rơi vào trường hợp này không. Có những lúc chia nhóm ra học pháp, trong khi các vị khác được phân công hướng dẫn những vị mới đến thì mình không được phân công hướng dẫn. Lúc đó cảm thọ của ta như thế nào. Ta hãy nhìn lại tâm mình những lúc đó.

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta; các vị Tỷ-kheo chớ có cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường một Tỷ-kheo khác!" Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác, các Tỷ kheo không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: "Các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ kheo khác chớ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta". Do đó vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Vị này mong mình được mọi người cung kính, đảnh lễ, cúng dường mình; chứ không cung kính, đảnh lễ, cúng dường người khác. Nhưng cuối cùng người bên cạnh mình được cung kính, đảnh lễ, cúng dường, còn mình thì không được. Lúc đó vị này phẫn nộ, bất mãn.

Kinh Nikāya vô cùng đặc biệt, vì những bài kinh này chỉ ra những điều hết sức gần gũi, thực tế, rõ ràng, cụ thể. Trong tự thân chúng ta nếu không có những tâm cấu uế này thì mình đã là bậc Thánh, cho nên, khi người khác được cung kính, mà ta không được cung kính như vậy, ta cần xem xét kỹ sự vận hành trong tâm mình.

---

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: "Mong rằng ta nhận được các y phục tối thắng, Tỷ-kheo khác không nhận được các y phục tối thắng!"…."Mong rằng ta nhận được các đồ ăn khất thực tối thắng... (như trên)... các sàng tọa tối thắng, các dược phẩm trị bịnh tối thắng. Tỷ-kheo khác không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng!" Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng, còn Tỷ-kheo ấy không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng". Tỷ kheo này nghĩ rằng: "Một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng; còn ta không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng". Do đó vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

Vị Tỳ-kheo này mong muốn được nhận đồ tốt, đồ đẹp, chứ không phải người khác. Người này mong muốn được nhận đồ ăn ngon nhất, sàng tọa tốt nhất, dược phẩm tốt nhất; còn những người khác không được. Nhưng thực tế thì người khác được nhận đồ ăn ngon, y phục tốt… còn mình không được. Cho nên vị này phẫn nộ, bất mãn.

---

Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế.

Trên đây là những cấu uế, là tham, bản ngã, sân hận, si mê, không thấy những thứ đó là những thứ vô thường, duyên sanh, là những thứ do nhân quả biểu hiện tác thành. Không phải ta muốn được người khác cung kính là được, mà còn do nhân quả, do duyên phước với người đó mà họ cung kính, cúng dường mình. Đây là phước duyên của từng người. Thế nhưng, đối với phước duyên của người khác, mình lại sân hận, đố kị, ganh tỵ, bất mãn, khó chịu; như là si mê, là vô minh. Những điều này chịu sự chi phối bởi tham, sân, si, bản ngã, dục, ái. Rồi dẫn đến khổ đau, sầu bi, ưu não.

Đối với người xuất gia hay người cư sĩ cũng vậy. Có những thứ mình muốn nhưng người đó không cho mình, mà họ đưa người khác. Có những người mình thương mà họ không thương mình, thậm chí họ còn ghét mình. Tất cả những điều này cần phải nhìn bằng con mắt nhân quả, nghiêp quả, đều là những sự kiện đương nhiên, không có gì phải bất ngờ, phải như vậy mới đúng, không như vậy là không đúng. Những điều ta muốn chỉ là những dục, tham, ái của mình. Còn các Pháp vẫn diễn ra đúng như nó đang là, diễn ra theo nhân quả, diễn ra theo nhân duyên, diễn ra theo hạnh nghiệp. Khi thấy được như vậy, tâm ta mới được nhẹ nhàng, bằng không, tham sân si sanh khởi không ngừng.

---

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới dục của Tỷ-kheo chưa được diệt trừ.

Này Hiền giả, ví như một bát bằng đồng, mang từ chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Nhưng người chủ của bát ấy đựng đầy bát với xác rắn, xác chó hay xác người, đậy lại với một cái bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Có người thấy vậy bèn hỏi: "Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?" Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì với người ấy, không ưa thích khởi lên, sự ghê tởm khởi lên, và sự yếm ố khởi lên. Những người đói còn chưa muốn ăn các thứ ấy, huống nữa là những người đã no.

Đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và nghe là chưa được diệt trừ. Người khác nhìn xa xa thấy đẹp nhưng nhìn gần giống như cái bát bằng đồng bên ngoài tốt đẹp nhưng bên trong đựng xác rắn, xác chó, xác người, khiến ai ai cũng kinh hoàng, hoảng sợ. Do đó, chúng ta không phải chỉ tu trên hình tướng, dáng vẻ, màu sắc ở bên ngoài; mà phải làm sạch tâm từ bên trong, giống như làm sạch chiếc bát đựng xác chết vậy.

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và được nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là chưa được diệt trừ.

---

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục của vị Tỷ kheo ấy đã được diệt trừ.

Này Hiền giả, ví như một bát đồng, mang từ hàng chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Người chủ cái bát ấy dựng đầy với gạo ngon, cơm lành, các hột đen đã lấy ra, các loại đồ ăn, đậy lại với một bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Các người thấy vậy bèn hỏi: "Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?" Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì đối với người ấy, ưa thích khởi lên, sự không ghê tởm khởi lên, sự không yếm ố khởi lên. Người no còn muốn ăn các thứ ấy huống nữa là người đói.

Những vị nào đã đoạn trừ được những ác, bất thiện pháp thì các bậc đồng Phạm hạnh, đồng tu cung kính, lễ bái, cúng dường. Giống như một chiếc bát đồng thanh tịnh đựng thức ăn thơm ngon, thanh tịnh. Người ngoài nhìn vào thấy chiếc bát ấy bên ngoài đã đẹp, bên trong còn được chứa đựng cơm ngon, canh ngọt nên ai cũng hoan hỷ, ưa thích, người no còn muốn ăn, đừng nói chi là người đói.

Này Hiền giả, cũng vậy, đối với vị Tỷ-kheo nào, mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống ở biên giới gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng lễ bái cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp cảnh giới của dục này đã được diệt trừ.

---

Được nghe nói vậy, Tôn giả Mahamoggallana thưa với Tôn giả Sariputta

– Hiền giả Sariputta, một ví dụ khởi lên cho tôi!

– Hiền giả Moggallana, hãy nói lên ví dụ ấy.

– Hiền giả, một thời tôi ở thành Vương Xá, tại Giribbaja. Này Hiền giả, rồi tôi đắp y vào buổi sáng, mang theo y bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Lúc bấy giờ, Samiti, con một người làm xe, đang đẽo một vành xe, và tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con của một người làm xe, đang đứng một bên. Rồi tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con một người làm xe, khởi lên ý nghĩ như sau: "Mong rằng Samiti, con người thợ xe, hãy đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này, để vành xe này không có cong, không có đường méo, không có mắt gỗ, được trơn tru và được đặt vào trong trục chính". Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con một người làm xe suy nghĩ như thế nào, thời đúng như vậy, Samiti, con người làm xe, đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này của vành xe ấy. Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con người làm xe, hoan hỷ nói lên lời hoan hỷ như sau: "Hình như người này đang đẽo (vành xe ấy) như là với tâm của anh ta, anh ta biết tâm ta vậy".

Này Hiền giả, những ai không có lòng tin, vì mục đích sinh sống, không phải vì lòng tin mà xuất gia, sống đời sống vô gia đình, những vị gian ngụy, xảo trá, khi cuống, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, tạp thoại, không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không tha thiết với hạnh Sa-môn, không nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, ưa sống sung túc, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, chối bỏ trọng trách sống viễn ly, giải đãi không tinh tấn, lãng quên không chú niệm, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, đần độn. Tôn giả Sariputta với pháp môn này, như là với tâm của Tôn giả, Tôn giả biết tâm của những hạng người ấy.

Những kẻ Thiện nam tử, do lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; những vị nào không gian ngụy, không xảo trá, không khi cuống, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, không tạp thoại, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, tha thiết với hạnh Sa-môn, nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, không sống trong sung túc, không biếng nhác, bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc, dẫn đầu về viễn ly, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chú tâm cảnh giác, định tâm, nhất tâm, có trí tuệ, không đần độn. Những vị này sau khi nghe pháp môn này của Tôn giả Sariputta, hình như đang uống, hình như đang nếm với lời nói và tâm ý. Thật lành thay, một vị Tôn giả đồng phạm hạnh đã khiến cho vượt khỏi bất thiện và an trú vào chánh thiện!

./.