TU NHƯ THẾ NÀO
TU NHƯ THẾ NÀO?
-Thích Minh Thành-
Kính bạch trên Thượng tọa Trụ trì và toàn thể chư Tăng.
Kính thưa tất cả quý Phật tử về dự Khóa tu Phật thất lần thứ 90.
Hôm nay chúng ta tiếp tục chương trình Phật học thường thức và tìm hiểu chủ đề rất quan trọng. Lâu nay chúng ta nghe nói tu, đi tu, nhưng không biết tu cái gì? Có rất nhiều kiểu tu, cách tu, lối tu, con đường tu nhưng đường nào là chính xác, chân xác đúng theo lời Phật dạy? Cho nên chủ đề của chúng ta hôm nay là “Tu như thế nào?”.
Tu làm sao để đúng theo Chánh Pháp, tu như thế nào mới là chính xác theo lời Đức Phật dạy – những lời từ kim khẩu của Đức Thế Tôn trong tạng kinh Nikāya? Còn nếu tu chung chung là chúng ta tu bằng cách cầu nguyện, van xin, hiện nay tu theo kiểu này rất nhiều. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh một người ở bên bờ bên đây, muốn qua bờ bên kia, nhưng người này không xuồng, không bè, không tàu, không ghe. Người này cứ quỳ trên bờ bên đây, lạy bờ bên kia: “Bờ bên kia ơi, qua đây đi! Ta cầu xin người qua đây đi.” Lạy như vậy từ sáng đến chiều, từ chiều đến tối, từ hôm nay tới ngày mai, rồi tới tuần sau, tháng sau, năm sau, rồi đến suốt đời, có qua được không? Quý vị có giống như vậy không? Nếu không khéo là mình tu theo dạng này. Đức Phật dạy sự chân chánh của việc tu hành không phải hướng ngoại cầu xin; cũng không phải nghe người này, người kia nói; không phải nghe đủ thứ cách để rồi cuối cùng không biết đi theo cách nào, giống như đang đứng ngoài ngã bảy. Thêm một cách nữa là tu theo cách tự suy nghĩ ra, nhưng mình suy nghĩ không đúng thì tu cũng trật. Cho nên trong sự tu, nếu tu đúng theo lời Phật dạy thì cần phải tìm hiểu thật sâu sắc, tìm hiểu tận căn nguyên, nguồn cội lời Phật dạy, như vậy tu mới có “hiệu quả thiết thực, hiện tại, tức thì, đến để mà thấy, hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
Có nhiều Phật tử tâm sự với Minh Thành rất xúc động: “Thầy ơi, con cũng tụng kinh, đi chùa, niệm Phật mấy chục năm, nhưng thưa thiệt với thầy, tham, sân, si của con còn nhiều quá.” Kinh nào cũng tụng, Phật nào cũng kêu tên, làm đủ thứ chuyện nhưng sao bản ngã vẫn phình lên? Nếu có như vậy thì mình cứ khai thiệt, để bác sĩ bắt mạch, biết bệnh chính xác rồi mới đưa thuốc đúng. Còn đến bác sĩ mà cứ giấu, nói hết tham, sân, si rồi thì có hết thật không? Đụng tới đi rồi biết liền. Miệng nói không còn tham, sân, si nhưng chạm vào là nó phựt lửa rồi cháy lan xa. Bây giờ nhìn nhận lại sự tu học của mình và nghe lời Đức Phật dạy để biết làm sao tu đúng và thật sự đạt được hiệu quả đúng như Đức Phật dạy mình?
Quý vị có biết đứa nào làm cho mình khổ không? Điều này nếu nói không đúng thì tu hoài cũng không có hiệu quả. Phải tìm ra cho được nguyên nhân nào làm mình khổ và từ đó mình chỉnh nguyên nhân này, lúc đó mình mới hết khổ, nếu không là khổ hoài. Ai làm mình khổ? Ông nào, bà nào làm mình khổ? Chỗ này rất quan trọng, không phải bà nào, ông nào, đứa nào, vật nào,… làm mình khổ, quý vị hãy vận dụng tư duy để tìm ra điều gì làm mình khổ, mình mà không hiểu được chính mình thì làm sao tu tập.
Trước hết, mình phải hiểu chính mình. Quý vị đang ngồi đây, quý vị có biết mình là cái gì không? Nếu không biết được mình là gì thì mình đang đi trong vô minh, nói trong bóng đêm, làm trong tăm tối và mình tu cũng ở trong mê tín và tà kiến. Mình là cái gì? Tất cả chúng ta ngàn người như một, vạn người như một, tỷ người như một. Mình nghĩ mình là sáu, bảy chục kí đang ngồi, nhưng có phải không? Trong tạng kinh Nikāya, Tương Ưng bộ kinh, Đức Phật nói con người chúng ta gồm năm yếu tố, năm thành phần, năm nhóm mà mỗi tối quý vị ai cũng tụng hết: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không…” Như vậy trí huệ trong đạo Phật là để cho mình thấu hiểu được tự thân, tự tâm chính mình. Mình không hiểu mình thì làm sao hiểu những cái bên ngoài. Cho nên gọi là tự giác, tự là tự mình, là thấu rõ được chính mình. Mình gồm năm yếu tố:
Thứ nhất, thân thể mấy chục kí là Sắc – do tứ đại tạo thành.
Thứ hai, những cảm giác là Thọ.
Thư ba, những hình bóng trong nội tâm là Tưởng.
Thứ tư, những suy nghĩ, lời nói thầm trong nội tâm là Hành.
Thứ năm, sự nhận thức, rõ biết là Thức.
Năm thứ này giống như năm ngón tay, nó kết hợp lại thì thành bàn tay năm ngón xinh xinh. Nhìn thì tưởng nó xinh, nhưng nếu không có năm ngón này, đưa cánh tay ra thì người ta gọi là tay cụt. Năm ngón tay kết hợp lại mới gọi là bàn tay, nắm tay. Rời năm ngón này ra là không có bàn tay. Cũng vậy nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là cảm giác, nhóm thứ ba là tưởng – những hình bóng trong nội tâm, nhóm thứ tư là hành – những lời nói thầm trong nội tâm. Mình xem tivi thì vừa có âm thanh, vừa có hình ảnh, trong tâm mình cũng vậy, có hình bóng thì có tiếng nói lầm thầm đi theo. Như vậy hình ảnh là tưởng, âm thanh nói lầm thầm là hành, biết được những thứ đó là thức. Đó chính là ngũ uẩn.
Minh Thành thí dụ cho quý vị thấy rõ năm uẩn. Trên Linh Quy Pháp Ấn có một loại sầu riêng rất đặc biệt: “không thuốc, không phân, không tưới” – sầu riêng ba “không”, nó rụng xuống, mình đem vào, mở ra thì thơm ngào ngạt, nếm thì ngon, bổ, béo, bùi, ngọt. Minh Thành sẽ phân tích năm uẩn của quý vị vận hành. Khi nghe Minh Thành nói vậy, quý vị có cảm giác gì? Miệng có tươm tươm nhẹ nhẹ, có thấy thích thích không? Cảm giác của mình lúc đó là lạc thọ – vui vui, thích thích, ngon ngon. Hình bóng trái sầu riêng hiện ra trong đầu quý vị là tưởng. Nó nói: “Bữa nào lên Linh Quy Pháp Ấn ăn thử.” – đó là hành. Trong tâm biết được có cảm giác, hình bóng, lời nói như vậy là thức. Năm uẩn rất rõ ràng. Thân đang ngồi đây nhưng nói về mấy loại me chua đặc biệt, diễn tả một hồi là tươm tươm ở miệng. Năm uẩn luôn luôn vận hành, mình sống chung với nó hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây. Nhưng mình không biết gì về năm uẩn nên Đức Phật nói đó là vô minh, không có sáng suốt.
Một điều quan trọng nhất trong Tứ Thánh Đế, sau khi nói về bảy cái khổ cuối cùng Đức Phật tóm kết lại: “Năm thủ uẩn là khổ”. Chữ “thủ” này rất quan trọng, thủ là nắm chặt vào. Mình có nắm chặt cái thân này không? Ai nói tới mình xa xa thôi, chưa nói đụng tới, thì đầu tiên là đã nực, kế đó nóng, sau đó phựt, cuối cùng là cháy và tiêu luôn. Như vậy là mình bấu chặt vào mấy chục kí lô này, cho rằng thân này là tôi, là của tôi. Cho nên ai đụng chạm tới là tham, sân, si, bản ngã nổi lên. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật ví dụ chúng sanh có ba dạng tâm:
Dạng thứ nhất, tâm giống như vết thương, vừa chạm vào là nhức nhói, sân hận, sừng sỏ, phẫn nộ.
Dạng thứ hai, tâm như ánh chớp. Người này thấy được Tứ Thánh Đế, thành tựu Chánh Tri Kiến.
Dạng thứ ba, tâm như kim cương, cứng chắc.
Cho nên sở dĩ chúng sanh đau khổ có nguồn gốc là do bám vào năm uẩn – gọi là ngũ thủ uẩn, tức là cho rằng đây là tôi, là của tôi. Đó là nhận lầm, không biết thân này là đất, nước, gió, lửa. Lúc sáng quý vị bỏ đồ ăn vào bao tử, trưa cũng chuẩn bị bỏ tiếp đồ ăn vào. Không có ai nói: “Thầy ơi, con khỏi cần ăn gì, tự con sống được rồi.” Đức Phật nói: “Thức ăn tập khởi, cho nên sắc tập khởi. Thức ăn đoạn diệt, sắc đoạn diệt.” Thức ăn của sắc là tứ đại, tức là hơi thở, thức ăn, nước uống, nhiệt độ, hơi ấm,… Đây là tứ đại chứ không phải mình, không phải của mình. Nhưng từ đầu đã nhìn sai, nên mình vun vén, tô bồi, trao chuốt, trang điểm, chăm sóc, tưới tẩm, o bế, cưng chiều rồi cuối cùng nó ra đi mà không lời từ biệt, đúng là vô ân bạc nghĩa. Mình lo cho thân này 50-60-70 năm, có khi mới mười mấy, hai mươi mấy tuổi là nó ra đi và không báo trước. Đó là vong ơn bội nghĩa. Vậy mà cưng lắm, thương lắm, yêu lắm, mê lắm, cho nên khổ thì ráng mà chịu.
Mỗi lần ăn, mình phải biết đó là đất, uống thì biết đó là đang mượn nước, hơi thở là gió. Bên ngoài là ngoại tứ đại, bên trong là nội tứ đại – hai cái kết hợp với nhau. Nếu trục trặc, ăn không được, uống không được, thở không được là chết, một là đi bán muối, hai là đi tắm suối vàng. Khi nhìn sâu sắc, quán chiếu hằng ngày, mỗi khi ăn, uống, thở, mình thấy đều là tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Như vậy từ từ sẽ chuyển hướng nhận định, sai suy nghĩ sai của mình, đó gọi là thâm nhập trí huệ. Còn cứ lo đọc đọc, tụng tụng bên ngoài, mà bên trong còn chần dần, y nguyên, lúc nào cũng “tôi”: tôi hơn, tôi hay, tôi tài, tôi giỏi, tôi đẹp, vừa có ai góp ý là sân giận. Mới chỉ có một điều thôi, nếu nhìn kĩ được thì quý vị sẽ bớt khổ 50%. Đây mới là chỗ vận dụng công phu tu, chỗ chân thật hành trì. Làm sao gỡ được suy nghĩ sai rằng thân này là mình. Nhìn thấy những tai nạn giao thông, văng cánh tay ra, lúc đó thì cánh tay đó của ai? Nói thân này là mình, nhưng khi nhảy mũi, lỡ văng ra gỉ mũi, thì cục đó của ai? Mình cưng thân này, lo đủ thứ, rồi khi đi vệ sinh, tại sao mình lại không muốn nhìn, không muốn nghe mùi, nhưng đó là sản phẩm, đặc sản của ai? Mình luôn luôn che đậy, che giấu tính chất bất tịnh, không sạch sẽ của thân này. Chính vì luôn che giấu, che đậy, che kín, che mờ, che bít, che tối cho nên mình sống trong sự dối lừa.
Minh Thành ví dụ nhỏ, đang ngồi đây, nhưng bất thình lình, Minh Thành lột miếng da mặt xuống, lòi mỡ, lòi tròng con mắt ra, thì còn ai dám ngồi đây không? Bây giờ một ngàn người cùng lột lớp da mặt ra thì vẫn giống nhau. Đi chụp X-quang, ai cũng là đầu sọ hết, chứ đâu còn gì khác. Chỉ một lớp da phủ lên là khắp thiên hạ bị gạt hết. Đau lòng không, có khổ vì lớp da này không? Có sầu, bi, ưu, não vì lớp da của ổng không? Vì một lớp da đó mà không biết bao nhiêu nước mắt, không biết bao nhiêu lo lắng, sợ hãi, thậm chí gây không biết bao nhiêu nghiệp, nhưng vẫn không thấy rằng đây chỉ là tứ đại. Cuối cùng là một đống xương, bên trong là bộ đầu lòng, phèo, phổi, ruột, phân, nước tiểu, máu, nước mắt, mủ, mỡ, nước miếng,… nghe nói là cũng ghê sợ, nhưng nó ở trong thân mình, chứ không ở đâu xa hết. Mình quên, mình không thấy vì bị lớp da này gạt rồi. Cho nên tu là thành tựu trí huệ để nhìn thấy bản chất của sắc thân này. Đó là điều thứ nhất.
Thứ hai là cảm giác, nó rất quan trọng. Bởi vì tưởng là hình ảnh lờ mờ, hành là những suy nghĩ phớt qua rồi mất, thức là nhận biết, không có hình tướng gì hết, nhưng cảm giác thì nó có biểu hiện trên gương mặt, trong ánh mắt. Cho nên cảm giác rất quan trọng. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm giác.” Thường thường nhìn lại cảm giác thì mình thấy rõ được tất cả pháp. Vậy pháp đó là gì? Pháp đó là căn cứ địa của phiền não; là hang ổ của tham, sân, si; là cội gốc, gốc rễ của bản ngã, chấp ngã, chấp thủ, tật đố, hơn thua trong cảm giác đó.
Minh Thành chỉ thực tế cho quý vị thấy. Khi giận lên, lúc đó mặt mình đẹp không? Có để ý nhìn lại cảm giác thì thấy hay lắm. Lúc giận, đầu tiên từ lồng ngực nóng lên, hơi nóng bốc lên, khí nóng xông lên. Hai má ửng hồng. Lỗ tai lùng bùng, đỏ lên. Hai con mắt trợn lên, lờ mờ. Miệng giật giật. Đó là cảm giác của sân, nó ở trong cảm giác. Trước nay mình nói mình tu, mục đích của đạo Phật là diệt tham, sân, si, nhưng lại không biết tham, sân, si ở đâu thì làm sao diệt được? Giống như đi đánh giặc, nhưng hỏi giặc ở đâu thì lại không biết, mặc đồ gì không biết, giặc cao lớn, thấp bé hay đen trắng cũng không biết, như vậy mình đi đánh giặc gì? Cũng vậy, tham, sân, si là kẻ thù, là tên ác độc, là thứ làm mình khổ đau, nhưng mình không biết nó ở đâu thì làm sao diệt trừ, nhiếp phục nó được. Cho nên nhìn lại cảm giác, mới thấy được hang ổ của tham, sân, si.
Thường thường nhìn lại cảm giác của mình, gồm có ba loại, nói dễ hiểu là: cảm giác khó chịu, cảm giác dễ chịu, cảm giác không khó chịu không dễ chịu. Tất cả cảm giác của quý vị gom lại là trong ba thứ này, chứ không đi ra ngoài. Minh Thành ví dụ, trưa nay có cúng dường Trai Tăng, một bàn dọn lên mười lăm món, toàn những món ruột, lúc đó cảm giác của mình như thế nào? Mình thấy ngon, gắp thức ăn nhanh hơn chứ không gắp thong thả, từ từ. Đức Phật nói mình khoan khoái, thích thú, ham muốn trong cảm giác dễ chịu, khi nhìn sâu vào thì có tham trú ẩn trong cảm giác dễ chịu đó. Hôm nay Minh Thành chỉ rõ tên giặc, chỉ ra hang ổ, sào huyệt của kẻ địch, như vậy mình mới chiến thắng được. Là bậc tu hành, mình phải sát tặc – giết giặc phiền não. Còn tu mà để cho giặc giết, chứ không giết giặc thì làm sao chiến thắng được. Cho nên tham luôn luôn trú ẩn trong cảm giác khoan khoái, thích thú, dễ chịu, vui sướng. Đức Phật dùng từ tham tùy miên: tùy là đi theo, miên là miên man, tham đi theo miên man trong cảm giác. Khắp thiên hạ tất cả đều chạy đi tìm cảm giác. Tại sao mình thích li cà phê sữa đó? Vì nó đem lại cảm giác cho mình. Thành ra mình chỉ nghĩ là mình thích chiếc xe, thích căn nhà, thích người đó, thích món đồ đó, như vậy chỉ là thấy ở bên ngoài. Mình chưa nương theo trí huệ Phật để thấy sâu sắc bên trong là vì những món đó đem lại cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu, êm ái cho mình nên mình mới thích nó. Nếu như nó đem lại cảm giác khó chịu, bực bội thì mình không còn thích nữa. Tham chuyển thành sân. Cảm giác này rất quan trọng, nên khi tu tập phải thường thường nhận diện cảm giác để thấy tham, sân, si có mặt trong cảm giác đó.
Si là sao? Có người bây giờ đang ngồi nghe pháp, nhưng nhắm mắt lại, thở vào, thở ra. Pháp âm cứ vang dội, còn người đó cứ thở. Bắt đầu vai thụng xuống, đầu quẹo một bên, không khéo là miệng chảy nước miếng. Lâu lâu bị như vậy, nhưng tại sao mình không phát hiện ra? Đó là bởi vì mình không nhìn lại cảm giác. Nếu có nhìn, khi bắt đầu đơ đơ là mình thấy và nhiếp phục liền: “Vô đây tu hay ngủ? Giờ này nghe pháp hay ngủ?” Cho nên khi nhìn lại cảm giác, mình phát hiện ra tham, sân, si. Nếu không nhìn thì không biết gì hết trong khi nó đang tấn công, xâm nhập, xâm chiếm, áp đảo mình, như vậy Đức Phật gọi là si mê. Nhìn lại cảm giác, thấy nó vừa thò đầu vào là cầm cây đập cái “cốp”, cho nó hoảng hồn bỏ chạy. Giống chăn trâu, cầm cây roi, ăn lúa là người ta quất con trâu tới tấp. Trong Tương Ưng bộ kinh, bài kinh Đàn tỳ bà, Đức Phật dạy cách trị tâm bằng cách dùng roi quất mạnh, siết mũi, lấy dây kéo, đánh một trận đau đớn cho nó sợ hãi, sau này không dám nữa. Mình làm việc từ sáng tới chiều, tối lên bàn Phật, ngồi tu, niệm Phật, thở vào thở ra, xong êm êm, đã đã, rồi ru ngủ luôn. Mình nói là “tu” nhưng thật sự là đang “ru”, như vậy là ăn gian với Tam bảo, ngồi trước ông Phật mà nói dối. Xong rồi trở ra nói hôm nay niệm Phật êm quá. Đó là trong vô minh, trong sự si mê, không tỉnh táo. Tại vì không nhìn lại cảm giác, không biết si đang bắt đầu tấn công.
Quý vị đang đi tu Phật thất, cái tủ nhỏ nhỏ, quý báu ở nhà có khóa kĩ không? Cửa nhà có đóng không hay mở suốt ngày, ai muốn vào cũng mặc kệ. Đâu phải ai mình cũng cho vào nhà, tâm mình cũng vậy, nhưng cửa nhà thì khóa kĩ, còn cửa tâm thì mình lại mở toang cho ăn trộm, ăn cướp vào. Đau đớn thay! Vật chất, tiền bạc, tài sản thì giữ kĩ, mà tâm thì không chịu phòng hộ, giữ gìn. Cho nên mỗi ngày tham, sân, si xâm nhập không biết bao nhiêu cử, bị ma nhập liên tục. Ma chính là tham, sân, si, đó mới thật sự là ma, nó xâm chiếm tâm mình. Nhìn người sân hận nổi lên, thì có còn làm chủ được không hay hoàn toàn bị cơn sân điều khiển. Cho nên trên báo chí, thấy rất rùng rợn, khiếp đảm. Thậm chí một cơn sân giận nổi lên thì có thể vợ chồng đi đến chỗ tan nát, giết hại lẫn nhau. Dùng thuốc làm cho si mê, ngáo đá, rồi xin tiền mẹ không cho, nên giết mẹ chết. Một cơn tham dục nổi lên, ông già tám chục tuổi hãm hiếp đứa trẻ chỉ mấy tháng tuổi. Một khi tham, sân, si xâm nhập, xâm chiếm, chế ngự, khủng bố nội tâm là mình không biết, không thấy và mình đi theo nghiệp quả đó, nó sẽ đưa mình tới ác thú, đọa xứ, vào chỗ tăm tối của ba đường ác.
Cho nên Đức Phật dạy tu thành tựu trí huệ, nhìn sâu sắc để thấy chỗ manh nha, khởi động. Mỗi khi tham, sân, si rục rịch, cục cựa, mới vừa sanh khởi, mình dập đầu, đánh cho nó tan nát, đánh nó không còn manh giáp, đánh cho nó ngóc đầu lên không nổi, diệt tận tham, sân, si và chiến thắng! Không phải tu là lúc nào cũng lờ khờ, lù khù, thấy gì đẹp đẹp là vác lu chạy. Không phải như vậy! Tu là trí huệ, từ bi ở bên ngoài, nhưng bên trong là sức mạnh đại hùng, đại lực, đại trí huệ, đại tinh tấn. Chứ không phải tu là cứ ngồi đó, nhưng không biết cái gì hết. Cho nên quý vị phải nhớ sự tu của mình là thường trực nhìn lại để thấy năm uẩn, thấy được thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình đang ra sao? Có nghĩ về xấu ác, tham, sân, si không?
Đặc biệt chú trọng nhất là cảm giác, trong cảm giác đó mới phát hiện ra được tham, sân, si. Cũng như khi đem nồi lên nấu canh, đổ nước vào đó, khi tim bọt nổi lên thì mình đã có thể thấy nước bắt đầu sôi, chứ không phải đợi nước sôi ùng ục 80-90-100ºC mới biết là nước sôi. Cũng vậy, người phàm phu không biết tu, không biết nhìn lại cảm giác thì giống như họ chờ nước sôi 90-100ºC thì mới biết đó là tham, sân, si. Cái biết này đã muộn, là cái biết của kẻ vô văn phàm phu, tức là phàm phu không học Chánh Pháp. Quý vị nhìn người đó chết tội nghiệp, người này vào tù tội nghiệp, nhìn hai vợ chồng kia li dị,… biết như vậy là biết cái ngọn, biết cái đã xảy ra rồi của người bình thường không biết tu, chỉ để biết như vậy thì cần gì tu. Còn biết của người tu là biết ngay khi những tim bọt nước bắt đầu nổi lên, đó mới là cái biết của người thành tựu trí huệ, gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Người có học, có tu, có thực hành pháp, nhìn thường trực vào cảm giác thì khi vừa mới bắt đầu bốc khí nóng lên, là biết nguy hiểm, biết cảm giác sân bắt đầu xuất hiện. Minh Thành sẽ chỉ quý vị cách nhiếp phục tham, sân, si và bản ngã. Chỉ hết tất cả về tên, tuổi, mặt mũi, tánh tình, biết được nó, mình mới xử lí nó.
Điều quan trọng nhất là quý vị có thật sự thấy tham, sân, si là độc không? Ví dụ, có hai li nước trước mặt: một li là nước cam tươi, một li là có thuốc độc. Mình uống li nào, có thật là uống cam tươi không? Có người nói với thầy: “Thưa thiệt với thầy, con giận bà đó, con không thể nào tha thứ được.” Như vây là mình uống li nào? Nếu thật sự biết trong đó có độc thì làm sao mình dám bưng uống. Vậy tại sao một cảm giác sân hận khởi lên nhưng mình vẫn chấp nhận nó, để nó an trú trong nội tâm, thậm chí nó còn tăng trưởng, phát triển, rộng lớn, mình nuôi dưỡng nó, như vậy chứng tỏ mình không thấy nó là độc. Mình chưa thật sự thành tựu trí huệ để thấy được nguy hại của tham, sân, si. Hiểm nguy và tác hại của nó đưa đến chỗ tan nhà nát cửa, li tán, đổ vỡ, phiền não, nóng bức, khổ đau, hại mình, hại người, hại cả hai và hại tất cả mọi người. Như vậy cơn sân giận đó nên chấp nhận, nên nuôi dưỡng, nên giữ gìn hay phải diệt tận? Khi cảm giác tham, sân, si nổi lên, mình không được chấp nhận nó: “Đi chỗ khác chơi, ta không chấp nhận cảm giác này. Cảm giác này làm cho ta khổ, người khổ, đem lại sự bất hạnh, khổ lụy, tan nát, đốt cháy, tàn hại, khổ đau, đem lại địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ta không chấp nhận cảm giác giận này. Đi chỗ khác, tan biến đi!” Câu nói này gọi là Như Lý Tác ý, tức là huấn luyện tâm của mình, không phải nói chỉ để giỡn chơi. Mình dùng những lời nói mạnh, còn gọi là tuệ lực, dùng sức mạnh của trí huệ để la nó, đánh nó, chưởi nó, không chấp nhận, nuôi dưỡng nó. Giống như ăn trộm vào nhà, thấy là phải là lên và rượt liền. Không được để nó vào nhà xâm chiếm, làm chủ, buộc tay, buộc chân, lấy băng keo dán miệng, không được có bao nhiêu tiền đưa hết cho nó. Cho nên chỗ quan trọng nhất là không chấp nhận tham, sân, si và biết nó là nguy hại.
Một người đã có gia đình, nhưng nhìn thấy người khác thì thích thích, có cảm giác khoan khoái, cảm giác đó cứ lặp đi lặp lại, người này chấp nhận và đi theo cảm giác đó, đây là bất hạnh. Sự tham dục đó phải bị từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận thì mới đem lại sự an lạc và hạnh phúc. Đó là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy pháp Phật là như vậy. Thật ra pháp môn của đạo Phật nói đơn giản là chỉ phát hiện tham, sân, si, thấy rõ bản chất nguy hại, khổ đau và nhiếp phục, diệt tận nó là mình thành tựu. Cội gốc của đạo Phật chỉ bao nhiêu đó chứ không nhiều. Đi như vậy là thẳng vào hồng tâm của Đức Phật, đi vào trái tim của Đức Thế Tôn, đi vào cốt tủy của Tam tạng. Nếu không tối ngày mình cứ lạy, cầu xin, cúng kiến hoài, trở lại vẫn tham, vì mình chấp nhận nó. Những thứ hình thức mình đều đi qua rồi, đó là tiểu học, bây giờ mình lên trung học. Học phải lên lớp, nhìn sâu vào để thấy rõ vấn đề, giải quyết ngay tận gốc rễ.
Cảm giác của bản ngã khi nhìn lại là thấy mặt hất hất lên, thấy ta đây, dương dương tự đắc. Cảm giác này là thứ giết mình, làm cho mình khổ, người đau, phải bắt nó cúi đầu xuống lạy. Quán tưởng hình ảnh mình mặc áo tràng quỳ lạy người bị xem thường, lạy họ mười lạy để tâm khiêm cung xuất hiện, để cho bản ngã cúi xuống, để trí huệ tăng trưởng. Nếu nó cứ hất hất, ngẩng ngẩng, bên kia cũng vậy thì cuối cùng bể hai cái cằm do đôi bên đều hất. Cái tôi của ai cũng lớn, đến đâu cũng không vừa lòng, không vừa ý, cứ bắt lỗi người ta, còn lỗi mình không thấy.
Minh Thành sẽ chỉ cho quý vị cách mà Đức Phật dạy để điều trị tham, sân, si và bản ngã. Đức Phật nói “tham chưa sanh được sanh khởi, tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại” là do Tịnh Tướng. Đây là từ chuyên môn, nói cho dễ hiểu: mình tham là do mình cho rằng cái đó là đẹp, là thiệt, là xịn, là đồ tốt, đồ quý. Vì cho rằng như vậy nên mình nuôi lớn lòng tham, tham chưa sanh sẽ sanh, tham sanh rồi sẽ lớn mạnh trong nội tâm của mình. Cho nên khi nghĩ sai, gọi là không Như Lý Tác Ý, tức là mình không suy xét đúng đạo lí, sự thật, trí huệ, mình cứ nuôi dưỡng cho rằng cái đó là thật, là đẹp, là bền, là chắc, nên mình thích, mình muốn, mình mơ, mình mộng. Hồi mới lúc gặp ông chồng, mình có mộng không? Gặp một chiếc xe hay món đồ nào nhìn thích quá, về có nằm chiêm bao không, tưởng có hiện lên hình bóng món đồ đó không? Tất cả là tại vì mình cho chúng là thật, đẹp, hấp dẫn. Đây là chỗ thâm sâu mà Chánh Đẳng Chánh Giác tu vô lượng kiếp mới nói ra được, chứ không phải người bình thường nói được. Quý vị cứ y theo đó, tu đúng 100% là tới được Thánh đạo, Thánh quả. Mình không cần suy nghĩ đi kiếm pháp tu nữa, Phật đã khám phá ra đường lối giải thoát, nếu mình không đi theo, tự mình tìm cái khác thì đó là chỗ sai lầm hết sức lớn lao mà nhiều người không thấy được vấn đề. Mình cứ y theo lời Đức Phật mà làm thì sẽ thành giống như Đức Phật thôi.
Bây giờ cứ nhìn thứ đó rồi cho nó là đẹp nên mình mê hoài, vậy thì phải nhìn như thế nào mới đúng? Chúng ta phải nhìn đó là Bất Tịnh Tướng, cái này trị luôn tham, sân, si và bản ngã. Thí dụ khi nhìn ai, mình khởi lên giận là tại vì mình cho người đó là chướng ngại, rồi mình có những suy nghĩ nghĩ tiếp theo. Nhìn người đó thấy ghét, chướng tai, gai mắt, tướng đi nhìn cũng ghét, cái miệng nói nhìn méo méo cũng ghét. Từng hành động đến dáng ngồi cũng không ưa. Những điều đó là nguyên nhân làm “sân chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, sanh đã sanh khởi sẽ tăng trưởng, quảng đại” trong nội tâm của mình. Cho nên khi nhìn một người đó, cho rằng họ là chướng ngại, chướng tai, gai mắt, nếu vẫn còn nuôi dưỡng tư tưởng đó thì không bao giờ chấm dứt cơn sân được.
Đức Phật dạy phải tu Từ Tâm Giải Thoát. Tức là nhìn người đó mình phải thấy họ đáng thương, người ta không hiểu đạo, không biết tu. Còn mình hiểu đạo, đi tu Phật thất, nghe biết bao nhiêu bài pháp, đọc biết bao nhiêu cuốn kinh, thính bao nhiêu pháp hội nhưng vẫn còn sân như thế này, còn họ chưa có được gì hết, vậy sao mình không thương mà còn giận nữa? “Thôi tội nghiệp họ, thương đi, người ta không hiểu mà.” Không có một người nào đáng cho mình giận, tại vì ai cũng là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, mình cũng vậy. Ai cũng là người đáng thương, người đáng thương trong tất cả người đáng thương là chính mình. Phải tự thương chính mình vì luôn đắm chìm trong vô minh, tham ái, chấp ngã, khổ hoài. Cho nên hãy tu tập từ tâm giải thoát, thương mở ra.
Trở lại vấn đề tham lấy cái gì trị? Dùng Bất Tịnh Tướng trị là trị như thế nào? Khi thấy một đối tượng, một món đồ, mình cứ tham hoài không dừng, không giảm, không bớt, già rồi kêu về hưu tu nhưng cũng không chịu, muốn kiếm thêm, hốt thêm, cứ tham như vậy hoài thì phải quán làm sao? Quán bên trong thân là một bộ đồ lòng, một bộ xương. Nhìn ai cũng thấy đó là bộ xương đang di chuyển, mọi người xung quanh cười nói, nhưng toàn là những bộ xương đang cười. Bên trong là bộ xương, ai cũng giống ai, chứ không có gì hết. Rồi một ngày nào đó, mình sẽ nằm dài trên miếng ván, bốn người khiêng, kèn trống nổi lên. Ai chưởi, ai mắng, ai dằn vặt, ai dày xéo, ai buộc, ai xiết, ai thảy, vùi dập gì cũng không còn biết nữa. Bộ xương đó đốt xong rồi thì người ta bỏ vào máy nghiền ra thành bụi. Thấy rõ thân xác này chẳng có gì đáng để yêu mến, ham thích. Cuối cùng nó rã rời, tan nát, vô thường, tan hoại. “Tại sao mình cứ bám chấp vào tấm thân này hoài? Tại sao mình ngu quá vậy, tại sao mình mê quá vậy? Tại sao mình lại say đắm cái đồ giả này, dù biết sớm muốn gì cũng ra đi? Thôi, tỉnh đi!” Đó là dùng Như Lý Tác và dùng sự quán chiếu. Đầu tiên phải nhận diện, nhìn thấy tham ở trong cảm giác, kế đó dùng những lời Như Lý Tác Ý mạnh của pháp để mình la, rầy, chưởi, đánh, mắng nó. Cuối cùng là mình quán cho đến chỗ rã rời, nát hết. Tử thi nằm đó bị giòi ăn trong hai tròng mắt, ăn hết cái mặt, bò nheo nhút, nguyên cái thân toàn là giòi. Hãy tập khi có người nào nói gì làm mình tức giận, mình nhìn họ và nói: “Giòi không, có gì đâu mà giận. Giòi không, có gì đâu mà tham. Chỉ là một bộ xương toàn là giòi, chẳng có gì trong này để hơn thua, tranh chấp.”
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say, tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Suốt ngày lo nhặt hoa này, lượm hoa kia, nhặt hoa nọ. “Ý đắm say, tham nhiễm”, cứ lo phân biệt cái này đẹp, cái kia không đẹp; cái này tốt, cái kia không tốt; cái này thơm, cái kia không thơm. Đắm say, tham nhiễm nhưng “các dục chưa thỏa mãn”, còn muốn thêm, muốn thêm, nhưng “đã bị chết chinh phục”. Buồn không khi mình chính là người đó.
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hại,
Chỗ ấy, ai hiểu được,
Tranh luận được lắng yên.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Quý vị có biết mình đây đang bị hại không? Và đang bị cái gì hại? Chúng ta đang bị cái già hại, bị cái bệnh hại, bị cái chết hại và bị tham, sân, si, bản ngã, ganh tỵ, tật đố, hơn thua, tranh chấp cao thấp, nhân ngã bỉ thử hại, nhưng mình không biết. Nếu mình biết mình đang bị hại thì tất cả tranh luận được lắng yên. Biết rồi thì thời gian đâu nữa mà tranh cãi, tranh chấp, tranh tụng trong khi mái đầu đã điểm sương? Thời gian đâu nữa mà hơn thua trong khi tóc đã bạc phơ rồi. Hãy nỗ lực, tinh tấn hành trì, đừng bỏ quên ngày tháng trôi qua mau.
Ví như, , giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí huệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử.
Ví như, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí huệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử.
Ví như, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... với người đã sanh, không có bất tử. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập III, Chương Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, bài kinh Araka)
Không có không chết! Đừng tưởng sống hoài! Hãy nhớ cho kĩ mình đang bị hại. Phải phá vỡ cảm giác si mê, trì trệ, lười biếng, giải đãi không chịu tu. Nhìn kĩ cảm giác thì thấy nó mê ăn, mê chơi, mê ngủ, mê nói. Già rồi không biết còn ham không, lâu lâu vẫn có như thường. Cảm giác có dụ mình nhiều không, một ngày đi theo nó bao nhiêu lần? Đừng nói ở bên ngoài, ngay khi lên ngồi thiền, niệm Phật, bên trong cứ nói hoài, rồi mình đi theo nó luôn. Khi đó phải chấn chỉnh lại, ngồi thẳng lưng, thẳng cổ, vai đều đàng hoàng, mở mắt ra, nhìn cho sáng tỏ, chánh niệm trước mặt. Đừng cho nó lờ đờ, mờ mờ rồi “mớ” luôn. Ngồi “tu” nhưng một hồi là “mớ”. Phải mở trí huệ sáng suốt: “Già, bệnh, chết tới nơi rồi mà không lo. Nhắm mắt hoài rồi đi tới đâu? Cứ ngủ giấc ngủ ngàn thu không lo nghe chân diệu pháp. Thức dậy đi! Tỉnh giác!”
Quý vị thấy Đức Phật dạy mình tu có rõ không? Đây là sự tu tập được chính Đức Phật nói trong kinh Nikāya, là sự tu chân chánh, xác quyết trực tiếp vào đời sống, vào thân thể con người mình. Đầu tiên phải thấy được thân này không phải là tôi, không phải của tôi mà do tứ đại kết hợp thành. Những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức phải được quán chiếu để thấy chúng là năm uẩn. Gỡ từ từ chấp thủ cho là tôi, là của tôi. Phải nhớ thân này là tứ đại, không phải tôi, không phải của tôi. Cảm giác này vô thường, không đáng hoan hỉ, không phải đối tượng để ưa thích. Vui thì mình biết đó là vui, biết vui nhưng không đam mê trong đó, phải chánh niệm tỉnh giác, trú xả. Những nghĩ tưởng là vô thường, không được đam mê. Vui cũng biết là vui, khổ biết là khổ, không vui không khổ thì biết là không vui không khổ, nhưng mình không thấy đây là tôi, là của tôi. Mình phải gỡ ra, không bám chấp vào chúng, phải biết tất cả là vô thường, là tứ đại, phải luôn chánh niệm tỉnh giác. Sau đó luôn luôn nhìn lại cảm giác. Khi ăn nhìn trong cảm giác có tham không? Nếu có tham thì ngồi yên lại từ từ ăn, phạt nó. Khi nghe người khác chỉ trích, xem mình có sân không? Nếu có thì phải thấy, nhiếp phục, chuyển hóa và trừ sạch nó, không được nuôi dưỡng cảm giác sân này. Khi có si thì phải đánh nó, làm cho mình tỉnh táo. Phải đại hùng, đại lực quán chiếu trí tuệ, thấy bộ xương, thấy đống giòi, thấy một bao phèo, phổi, không có cái gì bên trong thân này hết. Phải phá sạch tham, sân, si. Có bản ngã thì bắt quỳ xuống lạy, đập tan bản ngã.
Làm được tất cả những điều này, quý vị sẽ thấy một bầu trời thanh lương, an lành, mát mẻ và thấy rằng: Phật pháp là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng đưa mình lên cao hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu. Tự mình sẽ thấy, tự mình sẽ biết, tự mình sẽ hiểu, tự mình sẽ nếm được một li nước cam tươi, mát mẻ, ngọt ngào./.
-Thích Minh Thành-
Kính bạch trên Thượng tọa Trụ trì và toàn thể chư Tăng.
Kính thưa tất cả quý Phật tử về dự Khóa tu Phật thất lần thứ 90.
Hôm nay chúng ta tiếp tục chương trình Phật học thường thức và tìm hiểu chủ đề rất quan trọng. Lâu nay chúng ta nghe nói tu, đi tu, nhưng không biết tu cái gì? Có rất nhiều kiểu tu, cách tu, lối tu, con đường tu nhưng đường nào là chính xác, chân xác đúng theo lời Phật dạy? Cho nên chủ đề của chúng ta hôm nay là “Tu như thế nào?”.
Tu làm sao để đúng theo Chánh Pháp, tu như thế nào mới là chính xác theo lời Đức Phật dạy – những lời từ kim khẩu của Đức Thế Tôn trong tạng kinh Nikāya? Còn nếu tu chung chung là chúng ta tu bằng cách cầu nguyện, van xin, hiện nay tu theo kiểu này rất nhiều. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh một người ở bên bờ bên đây, muốn qua bờ bên kia, nhưng người này không xuồng, không bè, không tàu, không ghe. Người này cứ quỳ trên bờ bên đây, lạy bờ bên kia: “Bờ bên kia ơi, qua đây đi! Ta cầu xin người qua đây đi.” Lạy như vậy từ sáng đến chiều, từ chiều đến tối, từ hôm nay tới ngày mai, rồi tới tuần sau, tháng sau, năm sau, rồi đến suốt đời, có qua được không? Quý vị có giống như vậy không? Nếu không khéo là mình tu theo dạng này. Đức Phật dạy sự chân chánh của việc tu hành không phải hướng ngoại cầu xin; cũng không phải nghe người này, người kia nói; không phải nghe đủ thứ cách để rồi cuối cùng không biết đi theo cách nào, giống như đang đứng ngoài ngã bảy. Thêm một cách nữa là tu theo cách tự suy nghĩ ra, nhưng mình suy nghĩ không đúng thì tu cũng trật. Cho nên trong sự tu, nếu tu đúng theo lời Phật dạy thì cần phải tìm hiểu thật sâu sắc, tìm hiểu tận căn nguyên, nguồn cội lời Phật dạy, như vậy tu mới có “hiệu quả thiết thực, hiện tại, tức thì, đến để mà thấy, hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
Có nhiều Phật tử tâm sự với Minh Thành rất xúc động: “Thầy ơi, con cũng tụng kinh, đi chùa, niệm Phật mấy chục năm, nhưng thưa thiệt với thầy, tham, sân, si của con còn nhiều quá.” Kinh nào cũng tụng, Phật nào cũng kêu tên, làm đủ thứ chuyện nhưng sao bản ngã vẫn phình lên? Nếu có như vậy thì mình cứ khai thiệt, để bác sĩ bắt mạch, biết bệnh chính xác rồi mới đưa thuốc đúng. Còn đến bác sĩ mà cứ giấu, nói hết tham, sân, si rồi thì có hết thật không? Đụng tới đi rồi biết liền. Miệng nói không còn tham, sân, si nhưng chạm vào là nó phựt lửa rồi cháy lan xa. Bây giờ nhìn nhận lại sự tu học của mình và nghe lời Đức Phật dạy để biết làm sao tu đúng và thật sự đạt được hiệu quả đúng như Đức Phật dạy mình?
Quý vị có biết đứa nào làm cho mình khổ không? Điều này nếu nói không đúng thì tu hoài cũng không có hiệu quả. Phải tìm ra cho được nguyên nhân nào làm mình khổ và từ đó mình chỉnh nguyên nhân này, lúc đó mình mới hết khổ, nếu không là khổ hoài. Ai làm mình khổ? Ông nào, bà nào làm mình khổ? Chỗ này rất quan trọng, không phải bà nào, ông nào, đứa nào, vật nào,… làm mình khổ, quý vị hãy vận dụng tư duy để tìm ra điều gì làm mình khổ, mình mà không hiểu được chính mình thì làm sao tu tập.
Trước hết, mình phải hiểu chính mình. Quý vị đang ngồi đây, quý vị có biết mình là cái gì không? Nếu không biết được mình là gì thì mình đang đi trong vô minh, nói trong bóng đêm, làm trong tăm tối và mình tu cũng ở trong mê tín và tà kiến. Mình là cái gì? Tất cả chúng ta ngàn người như một, vạn người như một, tỷ người như một. Mình nghĩ mình là sáu, bảy chục kí đang ngồi, nhưng có phải không? Trong tạng kinh Nikāya, Tương Ưng bộ kinh, Đức Phật nói con người chúng ta gồm năm yếu tố, năm thành phần, năm nhóm mà mỗi tối quý vị ai cũng tụng hết: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không…” Như vậy trí huệ trong đạo Phật là để cho mình thấu hiểu được tự thân, tự tâm chính mình. Mình không hiểu mình thì làm sao hiểu những cái bên ngoài. Cho nên gọi là tự giác, tự là tự mình, là thấu rõ được chính mình. Mình gồm năm yếu tố:
Thứ nhất, thân thể mấy chục kí là Sắc – do tứ đại tạo thành.
Thứ hai, những cảm giác là Thọ.
Thư ba, những hình bóng trong nội tâm là Tưởng.
Thứ tư, những suy nghĩ, lời nói thầm trong nội tâm là Hành.
Thứ năm, sự nhận thức, rõ biết là Thức.
Năm thứ này giống như năm ngón tay, nó kết hợp lại thì thành bàn tay năm ngón xinh xinh. Nhìn thì tưởng nó xinh, nhưng nếu không có năm ngón này, đưa cánh tay ra thì người ta gọi là tay cụt. Năm ngón tay kết hợp lại mới gọi là bàn tay, nắm tay. Rời năm ngón này ra là không có bàn tay. Cũng vậy nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là cảm giác, nhóm thứ ba là tưởng – những hình bóng trong nội tâm, nhóm thứ tư là hành – những lời nói thầm trong nội tâm. Mình xem tivi thì vừa có âm thanh, vừa có hình ảnh, trong tâm mình cũng vậy, có hình bóng thì có tiếng nói lầm thầm đi theo. Như vậy hình ảnh là tưởng, âm thanh nói lầm thầm là hành, biết được những thứ đó là thức. Đó chính là ngũ uẩn.
Minh Thành thí dụ cho quý vị thấy rõ năm uẩn. Trên Linh Quy Pháp Ấn có một loại sầu riêng rất đặc biệt: “không thuốc, không phân, không tưới” – sầu riêng ba “không”, nó rụng xuống, mình đem vào, mở ra thì thơm ngào ngạt, nếm thì ngon, bổ, béo, bùi, ngọt. Minh Thành sẽ phân tích năm uẩn của quý vị vận hành. Khi nghe Minh Thành nói vậy, quý vị có cảm giác gì? Miệng có tươm tươm nhẹ nhẹ, có thấy thích thích không? Cảm giác của mình lúc đó là lạc thọ – vui vui, thích thích, ngon ngon. Hình bóng trái sầu riêng hiện ra trong đầu quý vị là tưởng. Nó nói: “Bữa nào lên Linh Quy Pháp Ấn ăn thử.” – đó là hành. Trong tâm biết được có cảm giác, hình bóng, lời nói như vậy là thức. Năm uẩn rất rõ ràng. Thân đang ngồi đây nhưng nói về mấy loại me chua đặc biệt, diễn tả một hồi là tươm tươm ở miệng. Năm uẩn luôn luôn vận hành, mình sống chung với nó hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây. Nhưng mình không biết gì về năm uẩn nên Đức Phật nói đó là vô minh, không có sáng suốt.
Một điều quan trọng nhất trong Tứ Thánh Đế, sau khi nói về bảy cái khổ cuối cùng Đức Phật tóm kết lại: “Năm thủ uẩn là khổ”. Chữ “thủ” này rất quan trọng, thủ là nắm chặt vào. Mình có nắm chặt cái thân này không? Ai nói tới mình xa xa thôi, chưa nói đụng tới, thì đầu tiên là đã nực, kế đó nóng, sau đó phựt, cuối cùng là cháy và tiêu luôn. Như vậy là mình bấu chặt vào mấy chục kí lô này, cho rằng thân này là tôi, là của tôi. Cho nên ai đụng chạm tới là tham, sân, si, bản ngã nổi lên. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật ví dụ chúng sanh có ba dạng tâm:
Dạng thứ nhất, tâm giống như vết thương, vừa chạm vào là nhức nhói, sân hận, sừng sỏ, phẫn nộ.
Dạng thứ hai, tâm như ánh chớp. Người này thấy được Tứ Thánh Đế, thành tựu Chánh Tri Kiến.
Dạng thứ ba, tâm như kim cương, cứng chắc.
Cho nên sở dĩ chúng sanh đau khổ có nguồn gốc là do bám vào năm uẩn – gọi là ngũ thủ uẩn, tức là cho rằng đây là tôi, là của tôi. Đó là nhận lầm, không biết thân này là đất, nước, gió, lửa. Lúc sáng quý vị bỏ đồ ăn vào bao tử, trưa cũng chuẩn bị bỏ tiếp đồ ăn vào. Không có ai nói: “Thầy ơi, con khỏi cần ăn gì, tự con sống được rồi.” Đức Phật nói: “Thức ăn tập khởi, cho nên sắc tập khởi. Thức ăn đoạn diệt, sắc đoạn diệt.” Thức ăn của sắc là tứ đại, tức là hơi thở, thức ăn, nước uống, nhiệt độ, hơi ấm,… Đây là tứ đại chứ không phải mình, không phải của mình. Nhưng từ đầu đã nhìn sai, nên mình vun vén, tô bồi, trao chuốt, trang điểm, chăm sóc, tưới tẩm, o bế, cưng chiều rồi cuối cùng nó ra đi mà không lời từ biệt, đúng là vô ân bạc nghĩa. Mình lo cho thân này 50-60-70 năm, có khi mới mười mấy, hai mươi mấy tuổi là nó ra đi và không báo trước. Đó là vong ơn bội nghĩa. Vậy mà cưng lắm, thương lắm, yêu lắm, mê lắm, cho nên khổ thì ráng mà chịu.
Mỗi lần ăn, mình phải biết đó là đất, uống thì biết đó là đang mượn nước, hơi thở là gió. Bên ngoài là ngoại tứ đại, bên trong là nội tứ đại – hai cái kết hợp với nhau. Nếu trục trặc, ăn không được, uống không được, thở không được là chết, một là đi bán muối, hai là đi tắm suối vàng. Khi nhìn sâu sắc, quán chiếu hằng ngày, mỗi khi ăn, uống, thở, mình thấy đều là tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Như vậy từ từ sẽ chuyển hướng nhận định, sai suy nghĩ sai của mình, đó gọi là thâm nhập trí huệ. Còn cứ lo đọc đọc, tụng tụng bên ngoài, mà bên trong còn chần dần, y nguyên, lúc nào cũng “tôi”: tôi hơn, tôi hay, tôi tài, tôi giỏi, tôi đẹp, vừa có ai góp ý là sân giận. Mới chỉ có một điều thôi, nếu nhìn kĩ được thì quý vị sẽ bớt khổ 50%. Đây mới là chỗ vận dụng công phu tu, chỗ chân thật hành trì. Làm sao gỡ được suy nghĩ sai rằng thân này là mình. Nhìn thấy những tai nạn giao thông, văng cánh tay ra, lúc đó thì cánh tay đó của ai? Nói thân này là mình, nhưng khi nhảy mũi, lỡ văng ra gỉ mũi, thì cục đó của ai? Mình cưng thân này, lo đủ thứ, rồi khi đi vệ sinh, tại sao mình lại không muốn nhìn, không muốn nghe mùi, nhưng đó là sản phẩm, đặc sản của ai? Mình luôn luôn che đậy, che giấu tính chất bất tịnh, không sạch sẽ của thân này. Chính vì luôn che giấu, che đậy, che kín, che mờ, che bít, che tối cho nên mình sống trong sự dối lừa.
Minh Thành ví dụ nhỏ, đang ngồi đây, nhưng bất thình lình, Minh Thành lột miếng da mặt xuống, lòi mỡ, lòi tròng con mắt ra, thì còn ai dám ngồi đây không? Bây giờ một ngàn người cùng lột lớp da mặt ra thì vẫn giống nhau. Đi chụp X-quang, ai cũng là đầu sọ hết, chứ đâu còn gì khác. Chỉ một lớp da phủ lên là khắp thiên hạ bị gạt hết. Đau lòng không, có khổ vì lớp da này không? Có sầu, bi, ưu, não vì lớp da của ổng không? Vì một lớp da đó mà không biết bao nhiêu nước mắt, không biết bao nhiêu lo lắng, sợ hãi, thậm chí gây không biết bao nhiêu nghiệp, nhưng vẫn không thấy rằng đây chỉ là tứ đại. Cuối cùng là một đống xương, bên trong là bộ đầu lòng, phèo, phổi, ruột, phân, nước tiểu, máu, nước mắt, mủ, mỡ, nước miếng,… nghe nói là cũng ghê sợ, nhưng nó ở trong thân mình, chứ không ở đâu xa hết. Mình quên, mình không thấy vì bị lớp da này gạt rồi. Cho nên tu là thành tựu trí huệ để nhìn thấy bản chất của sắc thân này. Đó là điều thứ nhất.
Thứ hai là cảm giác, nó rất quan trọng. Bởi vì tưởng là hình ảnh lờ mờ, hành là những suy nghĩ phớt qua rồi mất, thức là nhận biết, không có hình tướng gì hết, nhưng cảm giác thì nó có biểu hiện trên gương mặt, trong ánh mắt. Cho nên cảm giác rất quan trọng. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm giác.” Thường thường nhìn lại cảm giác thì mình thấy rõ được tất cả pháp. Vậy pháp đó là gì? Pháp đó là căn cứ địa của phiền não; là hang ổ của tham, sân, si; là cội gốc, gốc rễ của bản ngã, chấp ngã, chấp thủ, tật đố, hơn thua trong cảm giác đó.
Minh Thành chỉ thực tế cho quý vị thấy. Khi giận lên, lúc đó mặt mình đẹp không? Có để ý nhìn lại cảm giác thì thấy hay lắm. Lúc giận, đầu tiên từ lồng ngực nóng lên, hơi nóng bốc lên, khí nóng xông lên. Hai má ửng hồng. Lỗ tai lùng bùng, đỏ lên. Hai con mắt trợn lên, lờ mờ. Miệng giật giật. Đó là cảm giác của sân, nó ở trong cảm giác. Trước nay mình nói mình tu, mục đích của đạo Phật là diệt tham, sân, si, nhưng lại không biết tham, sân, si ở đâu thì làm sao diệt được? Giống như đi đánh giặc, nhưng hỏi giặc ở đâu thì lại không biết, mặc đồ gì không biết, giặc cao lớn, thấp bé hay đen trắng cũng không biết, như vậy mình đi đánh giặc gì? Cũng vậy, tham, sân, si là kẻ thù, là tên ác độc, là thứ làm mình khổ đau, nhưng mình không biết nó ở đâu thì làm sao diệt trừ, nhiếp phục nó được. Cho nên nhìn lại cảm giác, mới thấy được hang ổ của tham, sân, si.
Thường thường nhìn lại cảm giác của mình, gồm có ba loại, nói dễ hiểu là: cảm giác khó chịu, cảm giác dễ chịu, cảm giác không khó chịu không dễ chịu. Tất cả cảm giác của quý vị gom lại là trong ba thứ này, chứ không đi ra ngoài. Minh Thành ví dụ, trưa nay có cúng dường Trai Tăng, một bàn dọn lên mười lăm món, toàn những món ruột, lúc đó cảm giác của mình như thế nào? Mình thấy ngon, gắp thức ăn nhanh hơn chứ không gắp thong thả, từ từ. Đức Phật nói mình khoan khoái, thích thú, ham muốn trong cảm giác dễ chịu, khi nhìn sâu vào thì có tham trú ẩn trong cảm giác dễ chịu đó. Hôm nay Minh Thành chỉ rõ tên giặc, chỉ ra hang ổ, sào huyệt của kẻ địch, như vậy mình mới chiến thắng được. Là bậc tu hành, mình phải sát tặc – giết giặc phiền não. Còn tu mà để cho giặc giết, chứ không giết giặc thì làm sao chiến thắng được. Cho nên tham luôn luôn trú ẩn trong cảm giác khoan khoái, thích thú, dễ chịu, vui sướng. Đức Phật dùng từ tham tùy miên: tùy là đi theo, miên là miên man, tham đi theo miên man trong cảm giác. Khắp thiên hạ tất cả đều chạy đi tìm cảm giác. Tại sao mình thích li cà phê sữa đó? Vì nó đem lại cảm giác cho mình. Thành ra mình chỉ nghĩ là mình thích chiếc xe, thích căn nhà, thích người đó, thích món đồ đó, như vậy chỉ là thấy ở bên ngoài. Mình chưa nương theo trí huệ Phật để thấy sâu sắc bên trong là vì những món đó đem lại cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu, êm ái cho mình nên mình mới thích nó. Nếu như nó đem lại cảm giác khó chịu, bực bội thì mình không còn thích nữa. Tham chuyển thành sân. Cảm giác này rất quan trọng, nên khi tu tập phải thường thường nhận diện cảm giác để thấy tham, sân, si có mặt trong cảm giác đó.
Si là sao? Có người bây giờ đang ngồi nghe pháp, nhưng nhắm mắt lại, thở vào, thở ra. Pháp âm cứ vang dội, còn người đó cứ thở. Bắt đầu vai thụng xuống, đầu quẹo một bên, không khéo là miệng chảy nước miếng. Lâu lâu bị như vậy, nhưng tại sao mình không phát hiện ra? Đó là bởi vì mình không nhìn lại cảm giác. Nếu có nhìn, khi bắt đầu đơ đơ là mình thấy và nhiếp phục liền: “Vô đây tu hay ngủ? Giờ này nghe pháp hay ngủ?” Cho nên khi nhìn lại cảm giác, mình phát hiện ra tham, sân, si. Nếu không nhìn thì không biết gì hết trong khi nó đang tấn công, xâm nhập, xâm chiếm, áp đảo mình, như vậy Đức Phật gọi là si mê. Nhìn lại cảm giác, thấy nó vừa thò đầu vào là cầm cây đập cái “cốp”, cho nó hoảng hồn bỏ chạy. Giống chăn trâu, cầm cây roi, ăn lúa là người ta quất con trâu tới tấp. Trong Tương Ưng bộ kinh, bài kinh Đàn tỳ bà, Đức Phật dạy cách trị tâm bằng cách dùng roi quất mạnh, siết mũi, lấy dây kéo, đánh một trận đau đớn cho nó sợ hãi, sau này không dám nữa. Mình làm việc từ sáng tới chiều, tối lên bàn Phật, ngồi tu, niệm Phật, thở vào thở ra, xong êm êm, đã đã, rồi ru ngủ luôn. Mình nói là “tu” nhưng thật sự là đang “ru”, như vậy là ăn gian với Tam bảo, ngồi trước ông Phật mà nói dối. Xong rồi trở ra nói hôm nay niệm Phật êm quá. Đó là trong vô minh, trong sự si mê, không tỉnh táo. Tại vì không nhìn lại cảm giác, không biết si đang bắt đầu tấn công.
Quý vị đang đi tu Phật thất, cái tủ nhỏ nhỏ, quý báu ở nhà có khóa kĩ không? Cửa nhà có đóng không hay mở suốt ngày, ai muốn vào cũng mặc kệ. Đâu phải ai mình cũng cho vào nhà, tâm mình cũng vậy, nhưng cửa nhà thì khóa kĩ, còn cửa tâm thì mình lại mở toang cho ăn trộm, ăn cướp vào. Đau đớn thay! Vật chất, tiền bạc, tài sản thì giữ kĩ, mà tâm thì không chịu phòng hộ, giữ gìn. Cho nên mỗi ngày tham, sân, si xâm nhập không biết bao nhiêu cử, bị ma nhập liên tục. Ma chính là tham, sân, si, đó mới thật sự là ma, nó xâm chiếm tâm mình. Nhìn người sân hận nổi lên, thì có còn làm chủ được không hay hoàn toàn bị cơn sân điều khiển. Cho nên trên báo chí, thấy rất rùng rợn, khiếp đảm. Thậm chí một cơn sân giận nổi lên thì có thể vợ chồng đi đến chỗ tan nát, giết hại lẫn nhau. Dùng thuốc làm cho si mê, ngáo đá, rồi xin tiền mẹ không cho, nên giết mẹ chết. Một cơn tham dục nổi lên, ông già tám chục tuổi hãm hiếp đứa trẻ chỉ mấy tháng tuổi. Một khi tham, sân, si xâm nhập, xâm chiếm, chế ngự, khủng bố nội tâm là mình không biết, không thấy và mình đi theo nghiệp quả đó, nó sẽ đưa mình tới ác thú, đọa xứ, vào chỗ tăm tối của ba đường ác.
Cho nên Đức Phật dạy tu thành tựu trí huệ, nhìn sâu sắc để thấy chỗ manh nha, khởi động. Mỗi khi tham, sân, si rục rịch, cục cựa, mới vừa sanh khởi, mình dập đầu, đánh cho nó tan nát, đánh nó không còn manh giáp, đánh cho nó ngóc đầu lên không nổi, diệt tận tham, sân, si và chiến thắng! Không phải tu là lúc nào cũng lờ khờ, lù khù, thấy gì đẹp đẹp là vác lu chạy. Không phải như vậy! Tu là trí huệ, từ bi ở bên ngoài, nhưng bên trong là sức mạnh đại hùng, đại lực, đại trí huệ, đại tinh tấn. Chứ không phải tu là cứ ngồi đó, nhưng không biết cái gì hết. Cho nên quý vị phải nhớ sự tu của mình là thường trực nhìn lại để thấy năm uẩn, thấy được thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình đang ra sao? Có nghĩ về xấu ác, tham, sân, si không?
Đặc biệt chú trọng nhất là cảm giác, trong cảm giác đó mới phát hiện ra được tham, sân, si. Cũng như khi đem nồi lên nấu canh, đổ nước vào đó, khi tim bọt nổi lên thì mình đã có thể thấy nước bắt đầu sôi, chứ không phải đợi nước sôi ùng ục 80-90-100ºC mới biết là nước sôi. Cũng vậy, người phàm phu không biết tu, không biết nhìn lại cảm giác thì giống như họ chờ nước sôi 90-100ºC thì mới biết đó là tham, sân, si. Cái biết này đã muộn, là cái biết của kẻ vô văn phàm phu, tức là phàm phu không học Chánh Pháp. Quý vị nhìn người đó chết tội nghiệp, người này vào tù tội nghiệp, nhìn hai vợ chồng kia li dị,… biết như vậy là biết cái ngọn, biết cái đã xảy ra rồi của người bình thường không biết tu, chỉ để biết như vậy thì cần gì tu. Còn biết của người tu là biết ngay khi những tim bọt nước bắt đầu nổi lên, đó mới là cái biết của người thành tựu trí huệ, gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Người có học, có tu, có thực hành pháp, nhìn thường trực vào cảm giác thì khi vừa mới bắt đầu bốc khí nóng lên, là biết nguy hiểm, biết cảm giác sân bắt đầu xuất hiện. Minh Thành sẽ chỉ quý vị cách nhiếp phục tham, sân, si và bản ngã. Chỉ hết tất cả về tên, tuổi, mặt mũi, tánh tình, biết được nó, mình mới xử lí nó.
Điều quan trọng nhất là quý vị có thật sự thấy tham, sân, si là độc không? Ví dụ, có hai li nước trước mặt: một li là nước cam tươi, một li là có thuốc độc. Mình uống li nào, có thật là uống cam tươi không? Có người nói với thầy: “Thưa thiệt với thầy, con giận bà đó, con không thể nào tha thứ được.” Như vây là mình uống li nào? Nếu thật sự biết trong đó có độc thì làm sao mình dám bưng uống. Vậy tại sao một cảm giác sân hận khởi lên nhưng mình vẫn chấp nhận nó, để nó an trú trong nội tâm, thậm chí nó còn tăng trưởng, phát triển, rộng lớn, mình nuôi dưỡng nó, như vậy chứng tỏ mình không thấy nó là độc. Mình chưa thật sự thành tựu trí huệ để thấy được nguy hại của tham, sân, si. Hiểm nguy và tác hại của nó đưa đến chỗ tan nhà nát cửa, li tán, đổ vỡ, phiền não, nóng bức, khổ đau, hại mình, hại người, hại cả hai và hại tất cả mọi người. Như vậy cơn sân giận đó nên chấp nhận, nên nuôi dưỡng, nên giữ gìn hay phải diệt tận? Khi cảm giác tham, sân, si nổi lên, mình không được chấp nhận nó: “Đi chỗ khác chơi, ta không chấp nhận cảm giác này. Cảm giác này làm cho ta khổ, người khổ, đem lại sự bất hạnh, khổ lụy, tan nát, đốt cháy, tàn hại, khổ đau, đem lại địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ta không chấp nhận cảm giác giận này. Đi chỗ khác, tan biến đi!” Câu nói này gọi là Như Lý Tác ý, tức là huấn luyện tâm của mình, không phải nói chỉ để giỡn chơi. Mình dùng những lời nói mạnh, còn gọi là tuệ lực, dùng sức mạnh của trí huệ để la nó, đánh nó, chưởi nó, không chấp nhận, nuôi dưỡng nó. Giống như ăn trộm vào nhà, thấy là phải là lên và rượt liền. Không được để nó vào nhà xâm chiếm, làm chủ, buộc tay, buộc chân, lấy băng keo dán miệng, không được có bao nhiêu tiền đưa hết cho nó. Cho nên chỗ quan trọng nhất là không chấp nhận tham, sân, si và biết nó là nguy hại.
Một người đã có gia đình, nhưng nhìn thấy người khác thì thích thích, có cảm giác khoan khoái, cảm giác đó cứ lặp đi lặp lại, người này chấp nhận và đi theo cảm giác đó, đây là bất hạnh. Sự tham dục đó phải bị từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận thì mới đem lại sự an lạc và hạnh phúc. Đó là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy pháp Phật là như vậy. Thật ra pháp môn của đạo Phật nói đơn giản là chỉ phát hiện tham, sân, si, thấy rõ bản chất nguy hại, khổ đau và nhiếp phục, diệt tận nó là mình thành tựu. Cội gốc của đạo Phật chỉ bao nhiêu đó chứ không nhiều. Đi như vậy là thẳng vào hồng tâm của Đức Phật, đi vào trái tim của Đức Thế Tôn, đi vào cốt tủy của Tam tạng. Nếu không tối ngày mình cứ lạy, cầu xin, cúng kiến hoài, trở lại vẫn tham, vì mình chấp nhận nó. Những thứ hình thức mình đều đi qua rồi, đó là tiểu học, bây giờ mình lên trung học. Học phải lên lớp, nhìn sâu vào để thấy rõ vấn đề, giải quyết ngay tận gốc rễ.
Cảm giác của bản ngã khi nhìn lại là thấy mặt hất hất lên, thấy ta đây, dương dương tự đắc. Cảm giác này là thứ giết mình, làm cho mình khổ, người đau, phải bắt nó cúi đầu xuống lạy. Quán tưởng hình ảnh mình mặc áo tràng quỳ lạy người bị xem thường, lạy họ mười lạy để tâm khiêm cung xuất hiện, để cho bản ngã cúi xuống, để trí huệ tăng trưởng. Nếu nó cứ hất hất, ngẩng ngẩng, bên kia cũng vậy thì cuối cùng bể hai cái cằm do đôi bên đều hất. Cái tôi của ai cũng lớn, đến đâu cũng không vừa lòng, không vừa ý, cứ bắt lỗi người ta, còn lỗi mình không thấy.
Minh Thành sẽ chỉ cho quý vị cách mà Đức Phật dạy để điều trị tham, sân, si và bản ngã. Đức Phật nói “tham chưa sanh được sanh khởi, tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại” là do Tịnh Tướng. Đây là từ chuyên môn, nói cho dễ hiểu: mình tham là do mình cho rằng cái đó là đẹp, là thiệt, là xịn, là đồ tốt, đồ quý. Vì cho rằng như vậy nên mình nuôi lớn lòng tham, tham chưa sanh sẽ sanh, tham sanh rồi sẽ lớn mạnh trong nội tâm của mình. Cho nên khi nghĩ sai, gọi là không Như Lý Tác Ý, tức là mình không suy xét đúng đạo lí, sự thật, trí huệ, mình cứ nuôi dưỡng cho rằng cái đó là thật, là đẹp, là bền, là chắc, nên mình thích, mình muốn, mình mơ, mình mộng. Hồi mới lúc gặp ông chồng, mình có mộng không? Gặp một chiếc xe hay món đồ nào nhìn thích quá, về có nằm chiêm bao không, tưởng có hiện lên hình bóng món đồ đó không? Tất cả là tại vì mình cho chúng là thật, đẹp, hấp dẫn. Đây là chỗ thâm sâu mà Chánh Đẳng Chánh Giác tu vô lượng kiếp mới nói ra được, chứ không phải người bình thường nói được. Quý vị cứ y theo đó, tu đúng 100% là tới được Thánh đạo, Thánh quả. Mình không cần suy nghĩ đi kiếm pháp tu nữa, Phật đã khám phá ra đường lối giải thoát, nếu mình không đi theo, tự mình tìm cái khác thì đó là chỗ sai lầm hết sức lớn lao mà nhiều người không thấy được vấn đề. Mình cứ y theo lời Đức Phật mà làm thì sẽ thành giống như Đức Phật thôi.
Bây giờ cứ nhìn thứ đó rồi cho nó là đẹp nên mình mê hoài, vậy thì phải nhìn như thế nào mới đúng? Chúng ta phải nhìn đó là Bất Tịnh Tướng, cái này trị luôn tham, sân, si và bản ngã. Thí dụ khi nhìn ai, mình khởi lên giận là tại vì mình cho người đó là chướng ngại, rồi mình có những suy nghĩ nghĩ tiếp theo. Nhìn người đó thấy ghét, chướng tai, gai mắt, tướng đi nhìn cũng ghét, cái miệng nói nhìn méo méo cũng ghét. Từng hành động đến dáng ngồi cũng không ưa. Những điều đó là nguyên nhân làm “sân chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, sanh đã sanh khởi sẽ tăng trưởng, quảng đại” trong nội tâm của mình. Cho nên khi nhìn một người đó, cho rằng họ là chướng ngại, chướng tai, gai mắt, nếu vẫn còn nuôi dưỡng tư tưởng đó thì không bao giờ chấm dứt cơn sân được.
Đức Phật dạy phải tu Từ Tâm Giải Thoát. Tức là nhìn người đó mình phải thấy họ đáng thương, người ta không hiểu đạo, không biết tu. Còn mình hiểu đạo, đi tu Phật thất, nghe biết bao nhiêu bài pháp, đọc biết bao nhiêu cuốn kinh, thính bao nhiêu pháp hội nhưng vẫn còn sân như thế này, còn họ chưa có được gì hết, vậy sao mình không thương mà còn giận nữa? “Thôi tội nghiệp họ, thương đi, người ta không hiểu mà.” Không có một người nào đáng cho mình giận, tại vì ai cũng là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, mình cũng vậy. Ai cũng là người đáng thương, người đáng thương trong tất cả người đáng thương là chính mình. Phải tự thương chính mình vì luôn đắm chìm trong vô minh, tham ái, chấp ngã, khổ hoài. Cho nên hãy tu tập từ tâm giải thoát, thương mở ra.
Trở lại vấn đề tham lấy cái gì trị? Dùng Bất Tịnh Tướng trị là trị như thế nào? Khi thấy một đối tượng, một món đồ, mình cứ tham hoài không dừng, không giảm, không bớt, già rồi kêu về hưu tu nhưng cũng không chịu, muốn kiếm thêm, hốt thêm, cứ tham như vậy hoài thì phải quán làm sao? Quán bên trong thân là một bộ đồ lòng, một bộ xương. Nhìn ai cũng thấy đó là bộ xương đang di chuyển, mọi người xung quanh cười nói, nhưng toàn là những bộ xương đang cười. Bên trong là bộ xương, ai cũng giống ai, chứ không có gì hết. Rồi một ngày nào đó, mình sẽ nằm dài trên miếng ván, bốn người khiêng, kèn trống nổi lên. Ai chưởi, ai mắng, ai dằn vặt, ai dày xéo, ai buộc, ai xiết, ai thảy, vùi dập gì cũng không còn biết nữa. Bộ xương đó đốt xong rồi thì người ta bỏ vào máy nghiền ra thành bụi. Thấy rõ thân xác này chẳng có gì đáng để yêu mến, ham thích. Cuối cùng nó rã rời, tan nát, vô thường, tan hoại. “Tại sao mình cứ bám chấp vào tấm thân này hoài? Tại sao mình ngu quá vậy, tại sao mình mê quá vậy? Tại sao mình lại say đắm cái đồ giả này, dù biết sớm muốn gì cũng ra đi? Thôi, tỉnh đi!” Đó là dùng Như Lý Tác và dùng sự quán chiếu. Đầu tiên phải nhận diện, nhìn thấy tham ở trong cảm giác, kế đó dùng những lời Như Lý Tác Ý mạnh của pháp để mình la, rầy, chưởi, đánh, mắng nó. Cuối cùng là mình quán cho đến chỗ rã rời, nát hết. Tử thi nằm đó bị giòi ăn trong hai tròng mắt, ăn hết cái mặt, bò nheo nhút, nguyên cái thân toàn là giòi. Hãy tập khi có người nào nói gì làm mình tức giận, mình nhìn họ và nói: “Giòi không, có gì đâu mà giận. Giòi không, có gì đâu mà tham. Chỉ là một bộ xương toàn là giòi, chẳng có gì trong này để hơn thua, tranh chấp.”
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say, tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Suốt ngày lo nhặt hoa này, lượm hoa kia, nhặt hoa nọ. “Ý đắm say, tham nhiễm”, cứ lo phân biệt cái này đẹp, cái kia không đẹp; cái này tốt, cái kia không tốt; cái này thơm, cái kia không thơm. Đắm say, tham nhiễm nhưng “các dục chưa thỏa mãn”, còn muốn thêm, muốn thêm, nhưng “đã bị chết chinh phục”. Buồn không khi mình chính là người đó.
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hại,
Chỗ ấy, ai hiểu được,
Tranh luận được lắng yên.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Quý vị có biết mình đây đang bị hại không? Và đang bị cái gì hại? Chúng ta đang bị cái già hại, bị cái bệnh hại, bị cái chết hại và bị tham, sân, si, bản ngã, ganh tỵ, tật đố, hơn thua, tranh chấp cao thấp, nhân ngã bỉ thử hại, nhưng mình không biết. Nếu mình biết mình đang bị hại thì tất cả tranh luận được lắng yên. Biết rồi thì thời gian đâu nữa mà tranh cãi, tranh chấp, tranh tụng trong khi mái đầu đã điểm sương? Thời gian đâu nữa mà hơn thua trong khi tóc đã bạc phơ rồi. Hãy nỗ lực, tinh tấn hành trì, đừng bỏ quên ngày tháng trôi qua mau.
Ví như, , giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí huệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử.
Ví như, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí huệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử.
Ví như, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... với người đã sanh, không có bất tử. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập III, Chương Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, bài kinh Araka)
Không có không chết! Đừng tưởng sống hoài! Hãy nhớ cho kĩ mình đang bị hại. Phải phá vỡ cảm giác si mê, trì trệ, lười biếng, giải đãi không chịu tu. Nhìn kĩ cảm giác thì thấy nó mê ăn, mê chơi, mê ngủ, mê nói. Già rồi không biết còn ham không, lâu lâu vẫn có như thường. Cảm giác có dụ mình nhiều không, một ngày đi theo nó bao nhiêu lần? Đừng nói ở bên ngoài, ngay khi lên ngồi thiền, niệm Phật, bên trong cứ nói hoài, rồi mình đi theo nó luôn. Khi đó phải chấn chỉnh lại, ngồi thẳng lưng, thẳng cổ, vai đều đàng hoàng, mở mắt ra, nhìn cho sáng tỏ, chánh niệm trước mặt. Đừng cho nó lờ đờ, mờ mờ rồi “mớ” luôn. Ngồi “tu” nhưng một hồi là “mớ”. Phải mở trí huệ sáng suốt: “Già, bệnh, chết tới nơi rồi mà không lo. Nhắm mắt hoài rồi đi tới đâu? Cứ ngủ giấc ngủ ngàn thu không lo nghe chân diệu pháp. Thức dậy đi! Tỉnh giác!”
Quý vị thấy Đức Phật dạy mình tu có rõ không? Đây là sự tu tập được chính Đức Phật nói trong kinh Nikāya, là sự tu chân chánh, xác quyết trực tiếp vào đời sống, vào thân thể con người mình. Đầu tiên phải thấy được thân này không phải là tôi, không phải của tôi mà do tứ đại kết hợp thành. Những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức phải được quán chiếu để thấy chúng là năm uẩn. Gỡ từ từ chấp thủ cho là tôi, là của tôi. Phải nhớ thân này là tứ đại, không phải tôi, không phải của tôi. Cảm giác này vô thường, không đáng hoan hỉ, không phải đối tượng để ưa thích. Vui thì mình biết đó là vui, biết vui nhưng không đam mê trong đó, phải chánh niệm tỉnh giác, trú xả. Những nghĩ tưởng là vô thường, không được đam mê. Vui cũng biết là vui, khổ biết là khổ, không vui không khổ thì biết là không vui không khổ, nhưng mình không thấy đây là tôi, là của tôi. Mình phải gỡ ra, không bám chấp vào chúng, phải biết tất cả là vô thường, là tứ đại, phải luôn chánh niệm tỉnh giác. Sau đó luôn luôn nhìn lại cảm giác. Khi ăn nhìn trong cảm giác có tham không? Nếu có tham thì ngồi yên lại từ từ ăn, phạt nó. Khi nghe người khác chỉ trích, xem mình có sân không? Nếu có thì phải thấy, nhiếp phục, chuyển hóa và trừ sạch nó, không được nuôi dưỡng cảm giác sân này. Khi có si thì phải đánh nó, làm cho mình tỉnh táo. Phải đại hùng, đại lực quán chiếu trí tuệ, thấy bộ xương, thấy đống giòi, thấy một bao phèo, phổi, không có cái gì bên trong thân này hết. Phải phá sạch tham, sân, si. Có bản ngã thì bắt quỳ xuống lạy, đập tan bản ngã.
Làm được tất cả những điều này, quý vị sẽ thấy một bầu trời thanh lương, an lành, mát mẻ và thấy rằng: Phật pháp là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng đưa mình lên cao hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu. Tự mình sẽ thấy, tự mình sẽ biết, tự mình sẽ hiểu, tự mình sẽ nếm được một li nước cam tươi, mát mẻ, ngọt ngào./.