TÓM TẮT NGŨ UẨN 35
Tóm Tắt Ngũ Uẩn 35
TRÌNH PHÁP ƯỚC MUỐN SẮC BÉN
TĂNG THƯỢNG GIỚI HỌC-TÂM HỌC-TUỆ HỌC
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trình pháp-ước muốn sắc bén PAGEREF _Toc188025233 \h 1
II. Tăng thượng giới định tuệ PAGEREF _Toc188025234 \h 9
s
Trình pháp-ước muốn sắc bén
Hôm nay chúng ta tiếp tục dành thời gian cho quý thầy cô chia sẻ và có những câu hỏi để quyết nghi ngờ để nắm vững được pháp hành trong thời gian tới trong hai tháng không gặp lại thì tự mình có thể thực tập được. Chúng ta tiếp tục trình pháp trong thời gian qua đã tu học như thế nào về pháp hành kinh tạng Nikāya, đã thực hành, thực dụng được đến đâu, có đem lại hiệu quả, lợi ích ra sao hay là có những nghi vấn, nghi ngờ, chưa được sáng tỏ thì nêu lên, hãy nhiệt tâm mạnh mẽ lên các giảng sư tương lai.
Câu hỏi 1: Kính bạch thầy xin cho con được hỏi điều còn thắc mắc trong lòng, với những tâm bất thiện hoặc thiện sinh khởi, khi sắc tưởng, thanh tưởng, những hình bóng trong tâm của mười năm trước nay có duyên trong hiện tại làm cho sinh khởi trở lại thọ tưởng hành, ngay lúc đó chúng con chỉ nhìn nhận quan sát sự sinh khởi, sự hoạt động và sự kết thúc của thọ tưởng hành đó hay chúng ta phải như lý tác ý, dùng những lời dạy của Đức Phật, lời hướng dẫn của thầy giáo thọ để đoạn trừ diệt tận thọ tưởng hành đó. Mong được sự chỉ dạy trên thầy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đây là một câu hỏi quan trọng mà chúng ta cũng đã được học và có cơ hội thì nên nghe lại. Người tu, một người biết tu, ham tu, muốn tu, yêu tu, quý tu, kính tu, chân tu, thật tu là người luôn luôn lúc nào cũng nhìn ngũ uẩn của mình, tức là hướng nội, nội soi, hướng vào bên trong, nhìn vào bên trong, phản tỉnh, phản chiếu, phản quang, bên thiền tông có câu “phản quan tự kỷ, bổn phận sự”, tức là có sự thiết tha chân thành trong sự tu thì lúc nào cũng nhìn lại ngũ uẩn khi đã được học nhận diện ngũ uẩn. Người nào không quay nhìn lại nội tâm là người không biết tu, không thích tu, không ham tu, dù cho có được học nhận diện ngũ uẩn, có lỗi lầm cũng không chịu quay nhìn lại thân tâm nên không thấy không biết sân si bản ngã, tự mình đã không nhìn thấy, được người chỉ lỗi thì sân, tỏ thái độ chống đối, bản ngã, người như vậy không thể tu được.
Người biết tu, ham tu, thật tu là người luôn luôn lúc nào cũng nhìn lại từng giây từng phút, từng hình bóng, từng suy nghĩ, từng cảm thọ, từng nhận thức, nhất cử nhất động của thân tâm đều quán sát, như lý quán sát. Khi chưa học nhận diện ngũ uẩn, chúng ta nhìn nhận thân tâm trong lờ mờ, không đầy đủ, chỉ nhìn được một góc, một khía cạnh, nhìn một hướng, nhìn một cách phiến diện còn khi nhìn được một cách đầy đủ về sắc thọ tưởng hành thức được gọi là nhìn đúng với sự thật, như lý là nhìn đúng như chân lý và tỉnh giác quán sát. Khi chưa học nhận diện ngũ uẩn cũng có nghĩ là chúng ta chưa có sự thấy đúng về thân tâm, nếu có nhìn lại thân tâm thì cái nhìn đó là phiến diện trong hạn hẹp thiển cận một góc, một cạnh, một xó. Người có nhận diện ngũ uẩn đầy đủ là thấy được năm mặt của sắc thọ tưởng hành thức.
Chúng ta được học, được hướng dẫn rất kỹ nhưng khi trình pháp chỉ trình bày được ở phần cảm thọ, chưa trình bày được tưởng, hành, với sự trình bày đơn giản như vậy một thời sẽ quên. Tâm chúng ta bản chất vốn là làm biếng, thích dễ, nên rất nhiều người cho rằng duyên đến thì để tự sinh tự diệt không cần tác ý đánh đuổi. Minh Thành có giảng dạy rất nhiều về vấn đề này, ví dụ đang ngủ trong phòng mà có rắn hổ mang chúa bò vào nằm cạnh giường, mình thấy mà vẫn ngủ, kệ cho nó tự bò vô rồi tự bò ra, lý luận này có đúng với thực tế không hay mình phải vùng dậy dùng hết tất cả sức lực đánh đuổi nó ra khỏi phòng rồi mới yên tâm đi ngủ.
Sau khi tỉnh giác quán sát đúng với sự thật của bậc Thánh thì chúng ta sẽ nhìn thấy được những cấu nhiễm, rác bẩn trong ba năm, mười năm có khi từ những kiếp trước. Có một vị thầy lớn tuổi tu ở thiền viện, kể chuyện ngồi thiền trong tâm hoàn toàn tĩnh lặng bỗng nhiên tưởng hiện lên hình ảnh của một em bé ba tuổi, ông suy nghĩ lục lọi tìm kiếm trong ký ức và nhớ lại đã gặp em bé đó bốn mươi năm về trước, cũng giống như vừa rồi thầy trình bày có những duyên xúc ở hiện tại làm cho hình bóng của mười năm trong quá khứ khởi hiện trở lại, có khi đó là những duyên xúc gặp gỡ nhẹ nhàng không có tham sân, nhưng có những dục ái tham sân thì mình phải xử lý những cấu nhiễm này như thế nào. Trong phòng mình thằn lằn, chuột, mèo ị hết đống này đến đống kia, mùi hôi thối bốc mùi nồng nặc, mình có để im cho nó tự phân hủy, tự hết mùi hôi hay phải nhanh chóng hốt phân, dọn dẹp, lau chùi làm cho sạch sẽ. Sự thật rành rành ra như vậy mà tâm chúng ta vẫn chưa quyết nghi, đó là tâm thụ động, làm biếng. Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta phải tinh cần, tinh tấn.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ- kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng…khi đang ngồi…khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
(Hành - Tăng chi bộ kinh - Tập 1 - Phẩm hành)
Nếu như có Tỳ-kheo nào đang trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm, nói, im lặng mà trong nội tâm sinh khởi lên những dục, tham ái, sân giận, vô minh, bản ngã mà không gấp rút, quyết liệt, mạnh mẽ, mau chóng trừ khử, diệt tận làm cho không còn sinh khởi trở lại trong tương lai, Tỳ-kheo như vậy là Tỳ-kheo hèn hạ, thấp kém, hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng
(Hành - Tăng chi bộ kinh - Tập 1 - Phẩm hành)
Còn nếu như Tỷ-kheo nào trong khi đang đi, đứng, nằm, ngồi, nói, làm việc mà sinh khởi lên những dục tầm, sân tầm, hại tầm, những suy nghĩ về bản ngã, lập tức trừ khử, tẩy sạch, diện tận làm cho không còn sinh khởi trở lại trong tương lai thì đó là vị Tỳ- kheo tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm trong giáo pháp của Như Lai, kinh văn rỏ ràng như mặt trời, nghe đến đây chúng ta có nên xử lý không hay còn muốn để cho tự sinh tự diệt, câu hỏi này được giải thích không phải chỉ cho riêng một cá nhân nào. Một số vị lúc chưa tu thì tâm sắc bén, lanh lợi, bén nhạy, nhanh nhẹn, tu được một thời gian thì ù ù lù lù ngơ ngơ mà tưởng đâu mình tu hay, tu giỏi vì không nhiệt tâm tinh tấn nên tâm đi vào trong chỗ si mê mà không biết. Chúng ta đọc trong quyển Linh Quy Nhật tụng có bài niệm Ước muốn sắc bén
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
- Thọ trì tăng thượng Giới học
- Thọ trì tăng thượng Tâm học
- Thọ trì tăng thượng Tuệ học.
Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm của Sa-môn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Giới học.
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Tâm học.
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Tuệ học.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Kinh SAMÔN -Tăng chi bộ - Tập I, 415)
Ước muốn không là chưa đủ phải thêm sự sắc bén, Đức Phật dùng từ sâu sắc như vậy, những vị Tỳ-kheo nào không có được ba ước muốn này thì không phải là đệ tử của Như Lai, chỉ là một con lừa đi theo sau lưng đàn bò và nghĩ rằng ta cũng là con bò, ta cũng là con bò, nhưng vị này không có màu sắc, tiếng kêu, không có chân giống như con bò, tức là nếu tu mà không có một ước muốn để làm cho tăng thượng giới đức, không có ước muốn tiến lên trong việc tu học để cho nội tâm càng ngày càng hướng thượng, tăng thượng, cao thượng, thánh thiện, không có những ước muốn như vậy thì không phải là đệ tử của Như Lai. Người như vậy không thể học Thánh pháp, phải có ước muốn, khao khát, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhiệt tình, tha thiết để tầm cầu trí tuệ của bậc Thánh, để thành tựu Chánh tri kiến, cái thấy biết của bậc Thánh. Nhiều khi lòng đầy ước muốn, khao khát, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhiệt tình, tha thiết như vậy mà chưa chắc đạt được, đừng nói chi là không có một chút ước muốn nào. Giống như nhiều người có tâm khao khát làm giàu họ đầu tư nghiên cứu suy tư, mất ăn mất ngủ thức khuya dậy sớm, lăn lộn sớm hôm, bỏ ra không biết bao nhiêu là tiền của công sức mà còn không giàu được huống chi đối với người ngày chỉ lo hai bữa thì làm sao thành tỷ phú. Đối với người tu cũng vậy, cần phải có mong muốn tha thiết để đoạn tận các lậu hoặc
Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao? Các tầm ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: "Ðây là khổ"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ tập"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ diệt"... hãy suy tầm: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao? Các suy tầm ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"
(Các tầm - Tương ưng bộ- Tập IV – Thiên sáu xứ)
Chúng ta bây giờ tu tập không có sự cố gắng nỗ lực nên mãi là phàm phu, với sự hướng dẫn để duyên tự nhiên đến thì duyên tự nhiên đi, tự sinh, tự diệt không cần đoạn trừ, cái này là nguy hiểm, thậm chí còn cho rằng tham sân si không bao giờ hết được, suy nghĩ như vậy là tà kiến. Không hết tham sân si thì làm sao có được các bậc Thánh, có được các bậc A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác, không hết tham sân si làm sao có được đạo lộ diệt khổ, nói như vậy là đang phủ nhận Tứ Thánh Đế, phủ nhận Thánh trí của Đức Phật, phủ nhận luôn đời sống cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Cho nên học là phải cho sâu sắc, nắm cho vững, cho chắc, cho chặt để có được kiến chiếu yêu, có được mắt thần, mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, mắt đạo, nhìn là thấy cái đúng sai, chánh tà. Muốn được vậy phải là người đa văn, nghe nhiều và có sự tu tập, đây là bước tẩy sạch các cấu nhiễm sẽ đi đến chỗ rốt ráo.
Khi Minh Thành trả lời là chung cho tất cả ngũ uẩn, cho chúng ta có pháp mà hành trì, không mang mục đích cá nhân hay chê bai một người nào vì ở đây không có ai mà chỉ là một đống máu mỡ, phân nước tiểu, những bộ xương chứa đầy tâm hôn mê đầy dục ái tham sân si, vô minh, bản ngã, không có ai ở đây.
Câu hỏi 2: Kính bạch trên thầy con có một người bạn bị bệnh và chết cách đây hai mươi lăm năm. Thời gian sau hai năm bạn mất con đã dần cố quên đi người bạn đó, đời người là vô thường và cảm xúc theo thời gian cũng dần nhạt nhòa, nhưng từ khi con đi tu cách đây cũng mười bảy mười tám năm, mỗi khi tịnh tâm nhắm mắt ngồi thiền thì hình ảnh người đó hiện ra rõ trước mặt mặc dù con trước đó con không bao giờ thấy, con cố gắng tịnh tâm để quên đi nhưng thỉnh thoảng hình ảnh người bạn đó vẫn cứ hiện về, xin thầy chỉ cho con cách quán chiếu để tâm con không còn bị ám ảnh.
Trình pháp 1: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ, kính thưa toàn thể đại chúng, sau một thời gian tu tập pháp thực hành ngũ uẩn, con quay về nhìn lại nội tâm, cho tâm hướng nội thì con nhìn thấy rõ tham sân si của mình. Khi đi thọ thực nhìn thấy có món ăn yêu thích dọn lên bàn, sinh tâm tham, có cảm thọ vui sướng vì có món ăn mình yêu thích, khi ngồi vào bàn ăn lòng tham dục càng tăng trưởng muốn gắp cho nhiều, nhưng con nhìn lại và nghĩ rằng thức ăn chỉ để nuôi thân không bị ốm đau để tu hành sao mình lại tham đắm trong đó nhiều vậy. Trong khi đi đứng cũng vậy, làm cái gì cũng vội vội vàng vàng thấy mình đang đi trong dục đi nhanh và con quán chiếu để đi chậm lại, nhưng sự quán chiếu trong con còn yếu ớt nên lòng dục, lòng tham vẫn cứ tái diễn lại, con đã nhìn thấy được tham sân si của mình, cố gắng nhiếp phục, đoạn trừ ngay lúc đó nhưng lúc khác lại vẫn cứ tái diễn lại như cũ. Lúc đầu con đặt ra cho mình thời khóa là tụng kinh xong thì hành thiền và lạy sám hối rồi mới được trở về phòng, nhưng gặp duyên có huynh đệ mượn đồ phải về phòng lấy, mặc dù con cũng có nghĩ rằng về phòng lấy xong rồi lên lại chánh điện để tiếp tục thời khóa, nhưng khi về đến phòng sự lười biếng, dải đải sinh khởi và con không chiến thắng được tâm mình, con ở lại phòng luôn.
Trình pháp 2: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Sau một tuần trở về làm đám cho sư bà, con có gặp lại vị thầy lúc com đi xuất gia, vị đó lo cho con rất nhiều, cảm thọ trong con rất buồn, hình bóng về người thấy hiện ra, con suy nghĩ về những lỗi lầm đối với thầy, trong lúc làm việc bị thầy la rầy hay nhìn thấy thầy sân giận con cũng buồn.
Sư cô trình bày chưa thấy pháp trong đó, chỉ thấy cái nhìn của thường tình, chúng ta hãy trình bày bằng pháp, chia sẻ chính vào sự tu học của mình.
Khi có có cảm thọ buồn, con nhìn lại cảm thọ và nhắc nhở mình, cảm thọ này là vô thường và khi có buồn thì con nhắc nhở tâm an tịnh, lắng dịu, cảm thọ buồn này rồi cũng sẽ qua đi.
Hình bóng tự ngã trong tâm mình sư cô có biết cách phá thân kiến, phá bản ngã, phá sắc uẩn không?
Bạch thầy con không biết phá.
Trình pháp 3: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Bản thân con ngoài việc đi học, con trở về chùa làm công quả, chấp tác. Có hôm đang ngồi tụng kinh con bất giác nhìn lại thấy mình đã chạy theo những suy nghĩ mông lung miên man, mà miệng thì vẫn đọc như một cái máy, mỏ vẫn đi trường canh, con giật mình thấy tâm thức mình hoạt động đi quá xa, buông lung, phóng dật, con có cảm thọ sợ hãi khi nhận diện thấy con hoàn toàn không có được sự an tịnh, chánh niệm trong khi tu học, ngay trong giây phút hiện tại ngồi tụng kinh với chúng mà trong đầu toàn có những suy nghĩ, tính toán cho những công việc khác.
Trong tuần qua con có nhận một công việc chỉnh sửa chứng nhận khóa tu, nhưng sư phụ khuyên nên tập trung cho tu học còn làm việc làm thêm bên ngoài chỉ là làm cho vui. Trong công việc khi có sự xung đột, bất đồng ý kiến không hòa hợp, bên đối tác họ nổi sân, con cũng chạy theo cái tâm sân của họ, con có xin ý kiến của sư phụ thì sư phụ khuyên mọi chuyện điều rất đơn giản, không có gì phải làm khó cho nhau. Con nhận ra rằng cảm thọ của mình thay đổi rất nhanh, lúc thì bực tức, lúc thì giận dỗi, lúc thì dễ chịu, con hoàn toàn không làm chủ được cảm thọ, dễ chạy theo ngoại cảnh bên ngoài, dễ bị các đối tượng bên ngoài tác động vào trong tâm, hình bóng của những người khó chịu với nhau cũng hiện trong đầu con, khi hai bên cải nhau con ngồi lắng nghe diễn biến của câu chuyện xung đột đó, con thấy mình rất tệ, bất kỳ chuyện gì cũng hỏi người lớn, làm phiền người lớn, chưa đủ khả năng, chưa có chánh kiến để sát quyết một vấn đề, con suy nghĩ phải cố gắng hơn trong công phu và nhìn nhận về ngũ uẩn thì sẽ đỡ khổ hơn, phải luôn nhận diện thân này do năm uẩn tạo thành, nếu năm uẩn tan rã thì trở về với hư không, nên đừng chấp nhận vào thân này để cho tâm được an tịnh lắng dịu, lắng dịu, trải tâm từ thì mọi chuyện sẽ an ổn, con mong mình tu tập được như vậy để cho con đường tu tập của tự thân được thuận lợi. Con đang quán và tu học như vậy Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Trình pháp 4: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi chúng con được học về nền tảng Nikāya là nền tảng cơ bản trong giáo lý của Đức Thế Tôn và sau khi được sự giảng dạy trên thầy con thấy rõ con đường đi của các bậc Thánh, đây là những điều con tâm đắc nhất trong cuộc đời tu học của mình, con xuất gia chỉ với một mục đích là đi đến giác ngộ và giải thoát. Chúng con đang số trong một môi trường làm thay đổi những tố chất, những chân lý mà Đức Phật đã chỉ dạy, có nhiều lai căng theo những con đường khác, một cái cây mà không tìm thấy được gốc rễ để chăm sóc cho đúng thì rất khó trên con đường tu học. Con tâm đắc nhất là phương pháp như lý tác ý, nếu không như lý tác ý sẽ sinh vào bốn cõi khổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, nếu có như lý tác ý sẽ được sinh vào cõi người trời, nếu tinh tấn sẽ thoát ra khỏi luân hồi. Những ý niệm trong tâm khi nhận diện nếu là ác pháp, con tác ý về những thiện pháp, mình là người tu phải có phạm hạnh, có đạo đức, đạp trên danh lợi tiền tài để tâm không còn ham muốn, dính mắc. Về tình cảm cũng vậy, con thường tác ý, gia đình là sợ dây tham ái, con thường tác ý đi tu phải giữ gìn để trở thành người tu có đạo hạnh, đức hạnh, có hương thơm để gia đình được hãnh diện. Phương pháp như lý tác ý là rất tuyệt vời đối với con, con rất biết ơn thầy khi con học được phương pháp như lý tác ý từ thầy.
Trong thời gian qua con thấy bản chất của sân giận là do khi tiếp xúc với cảnh mà tâm mình không tỉnh giác thì sẽ dễ dàng đi theo, mình không có được sự tỉnh thức về lời nói, hành động cũng như tác ý nên tạo ra một chuỗi nghiệp, mình không còn được sự kính trọng, vì không có tố chất của người tu.
Nhờ được học về nhận diện ngũ uẩn, trong khi ngồi thiền con nhìn thấy được sắc thọ tưởng hành thức diễn ra trong hiện tại một là khởi lên từ trong quá khứ, hai là những ước vọng trong tương lai, con nguyện ước trong tương lai về những con đường cao đẹp thánh thiện mà các bậc Thánh đã đi và con nguyện đi theo.
Trình pháp 5: Kính bạch thầy có một ngày chùa con cúng trai tăng, con phải dậy từ rất sớm để chuẩn bị nấu nướng, sắp xếp, dọn dẹp cho đến một giờ trưa mới được nghỉ ngơi. Con định ngả lưng một chút rồi dậy học, nhưng không ngờ một chút đó, kéo dài đến 2 giờ 15 phút chiều, lúc đó ý hành suy nghĩ nói trễ giờ vào lớp học rồi, cảm thọ chần chừ không muốn đi học, ý hành lại nói vị giáo thọ đó dạy mình không hiểu, không tiếp thu được, tâm khởi lên không muốn nghe, thấy nhàm chán môn học đó và không muốn đi học, ý hành tiếp theo lại nói thôi ở nhà ngủ, suy nghĩ đến đó thì cảm thọ thấy rất là thoải mái và dễ chịu, thích thú khi được ở nhà ngủ. Lúc đó con tác ý rằng, nếu không đi học thì người chịu thiệt thòi là mình, mình đã ngủ đời rồi, bây giờ đến giờ học lại không đi, lại muốn ngủ thì chỉ có ngu mà thôi không khá lên được và con tiếp tục tác ý các vị giáo thọ bận rộn với công việc của giáo hội, của bổn tự lại thêm việc tu tập cho tự thân quý ngài, quý ngài dành thời gian đó để lên lớp dạy mà mình không đi học thì mình đang phụ lòng quý ngài, phụ lòng chư tôn đức đã cho mình cơ hội được học tập, phụ ơn thầy tổ, cha mẹ, Đức Phật và con đã dậy và đi lên lớp, dù thời gian đã quá trễ gần 3 giờ chiều. Sau buổi đó con thấy mình đã tốt hơn lúc trước, đã vượt được qua cái tâm làm biếng.
II. Tăng thượng giới định tuệ
Tu là phải biết tác ý như vậy, sau khi mình đã như lý giác sát, tỉnh giác quán sát đúng với sự thật thì sẽ thấy được tâm cấu nhiễm, tâm làm biếng, ham chơi, ham ngủ, ham ăn, ham vui, ham buông lung phóng dật. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, tất cả các ác và bất thiện pháp đều lấy buông lung phóng dật làm cốt lõi, giống như các rui mè, đòn tay đều châu đầu vào góc nhọn”, tất cả các bất thiện pháp mà có được là từ buông lung phóng dật. Đối với một người buông lung phóng dật là không tu được, vì không có một pháp ác nào mà người buông lung phóng dật không làm, họ không sợ tội, không biết hổ thẹn, không thấy e dè, không thấy đó là lỗi, dù là lỗi rất lớn và họ chai lì. Vì không biết xấu hổ, không biết sợ hãi, nên có tâm buông lung phóng dật, vì tâm không thấy nên không có sự xấu hổ, sợ hãi, tức là tâm bị vô minh
Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Ðối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh. Ðối với kẻ có tà tư duy, tà ngữ sanh. Ðối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh. Ðối với kẻ có tà nghiệp, tà mạng sanh. Ðối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh. Ðối với kẻ có tà tinh tấn, tà niệm sanh. Ðối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.
(Vô minh-Tương ưng bộ kinh-Tập V- Phẩm Vô minh)
Tâm lúc đó không có sự nhận diện ngũ uẩn, không thấy đó là ác và bất thiện pháp, vì vô minh không thấy được trạng thái, thực trạng, tình trạng thật sự của thân tâm lúc đó, vì không thấy nên không sợ hãi, giống như người này đi trong bóng tốt không có ánh sáng, họ cứ đi và đang tiến gần đến vực thẳm nhưng họ không thấy để dừng lại, đó là một bóng đêm, của màn đêm, vô minh, mù lòa, cũng vậy một người mà không thấy được thân tâm mình một cách chân xác, thực trạng, tình trạng thực sự của nó nên người này vô tàm vô quý, không xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã. Ví dụ một người có tu khi nhìn lại thân tâm và giới đức của mình khi được người đảnh lễ thọ trai người này vô cùng xấu hổ và lo lắng vì họ đáng tuổi ông bà, cha mẹ anh chị minh. Còn nếu không lo lắng sợ hãi tức là vô tàm vô quý, tức là tâm mình đang vô minh, người nào có lo lắng và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp là tâm người đó có minh.
Đức Phật quy định có giới là không ăn chiều, nếu mình ăn thì thấy tàm quý và xấu hổ vì giới này mình chưa làm được, chưa gìn giữ được, nếu có thấy xấu hổ và lo lắng thì người này có cơ hội để dần dần giảm ăn để đi đến không ăn và giữ được giới, đó là ước muốn sắc bén, tăng thượng trong giới học. Có một người đi vào ngồi thiền mà không yên, nhúc nhích liên tục, ngủ gật, tâm bị loạn tưởng, trong khi những vị đồng phạm hạnh ngồi phía trước trang nghiêm thanh tịnh, tỉnh táo, chánh niệm, nhìn lại mình thấy mà nhục nhã xấu hổ, hèn hạ thấp kém, thấy mình còn dở tệ, nhờ thấy được như vậy người này có sự cố gắng nỗ lực để phấn đấu ngồi được giống như bạn đồng tu và dần dần có sự tăng thượng trong định học, tâm học. Còn thấy mọi người đều trang nghiêm thanh tịnh mà mình thì lăng xăng giao động mà lại không biết xấu hổ, thấy bình thường, trơ trơ, đơ đơ, tâm chai lì thì người này hết thuốc chữa, không có khả năng tăng thượng trong Pháp và Luật này, một người vô tàm vô quý không biết xấu hổ và sợ hãi trong các lỗi lầm của mình. Câu “thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt” là hết sức quan trọng, một người tu mà không thấy sợ hãi trong tội lỗi thì không thể tu, từ việc nhỏ mới ra việc lớn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học giới (học pháp). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng Giới học
(Kinh Học giới - Tăng chi bộ - Tập I, 426)
Chúng ta phải học thuộc làu đoạn kinh này để mỗi ngày nhắc nhở thân tâm, bị một lỗi nhỏ cũng phải ra sám hối, tối tiểu cũng phải dập đầu trước Đức Phật để sám hối với tự thân, thấy nhục nhã, xấu hổ, sợ hãi, đây là ác pháp, bất thiện pháp. Thật là đau đớn, xót xa, cay đắng, nhục nhã, lo sợ, thật sự là không muốn phạm lỗi, vì vô minh, ngu si, không thấy, không biết con đã lỡ phạm lỗi này con xin dập đầu sám hối trước tăng ni chúng, trước Thánh tượng, trước Tam bảo, trước các bậc thiện tri thức xin chứng minh. Người như vậy mới có khả năng tăng tượng trong thiện pháp, chánh pháp. Còn người lỗi lầm ngập đầu mà còn vênh váo, ta đây, khi được người khác chỉ lỗi thì sân si, bản ngã, có những thái độ, hành động chống đối lại, bản ngã chình ình như vậy thì tu được cái gì. Cho nên người chân tu, thật tu, thích tu, muốn tu, cung kính trong sự tu thì luôn luôn có sự xấu hổ, lo lắng, sợ hãi cho tự thân mình và cho đến khi nào vị này hết sạch những cảm thọ này tức là trở thành bậc A-la-hán.
Ở đây chỉ có hai dạng, một là phàm phu chay không biết nhục, hai là bậc tâm hoàn toàn thanh tịnh, thì mới không có tàm quý, còn một người đang trên đạo lộ học đạo, tu tập thì người này phải có tàm, có quý, người này nhục nhã sinh thánh quả. Ngài Xá-lợi-phất đắp y, chỉ chấm một chút vạt y xuống đất Ngài sám hối vì cảm thấy vô cùng là nhục nhã và xấu hổ. Bây giờ người xuất gia chúng ta đắp y nhiều khi lôi đi dài dài dưới đất mà không thấy. Cho nên chúng ta phải có học, có tu thì mới biết được cái nào đúng, cái nào sai, phải để ý từ cái nhỏ nhiệm nhất, có khi chúng ta phạm lỗi rất là lớn mà dửng dưng xem như không có lỗi gì hết, làm lơ, thì vị này không có cơ hội tăng thượng trong pháp và luật của Như Lai.
Ngày nay việc tu học thật là khó khăn cho chúng ta vì không có người hướng dẫn, học nhiều, nghe nhiều nhưng không biết mình đang học cái gì, nghe cái gì có đúng Chánh pháp hay không. Cho nên trong bài kinh Hữu học Đức Phật dạy chúng ta rất kỹ.
Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh ? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp. Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh
(Kinh Hữu Học - Trung bộ kinh – Tập 2, bài 53)
Đức Phật dạy người tu đầu tiên là phải thành tựu được giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy sợ hãi và nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp. Các sư cô không được vừa nói vừa cười giỡn với các thầy, tự thân quý thầy cô là học trò, là đệ tử thì không được nói chuyện phang ngang với sư phụ, thầy giáo thọ, vì mất pháp cung kính cho nên Chánh pháp bị nhiễu loạn hủy diệt. Minh Thành có giảng pháp cung kính rất kỹ bên lớp Trung cấp Phật học. Vì chúng ta xem thường những oai nghi chánh hạnh, tế hạnh đó, là những cử chỉ nhỏ nhiệm vi tế mà chúng ta không để ý, từ cái nhỏ sinh ra cái lớn, cư xử với nhau không biết ai là huynh là đệ là thầy là trò, không còn lễ nghi, phép tắc, sống chung một thời gian như những người thân trong gia đình không còn trên dưới. Có những lỗi nhỏ nhiệm hết sức nguy hiểm, phá vỡ nền móng, lễ giáo, đạo đức của con người, chưa nói đến xuất thế Thánh hạnh, chỉ mới nói ở nhân thiên pháp là đã mất rồi. Chúng ta hay nói những chuyện cao siêu ở trên trời về Thánh thần các vị Bồ tát mà làm người thì làm chưa xong, đạo làm người không có đủ. Chúng ta về học lại bài pháp cung kính Sa-môn có hai mươi mốt oai nghi, học thuộc lòng hai mươi mốt oai nghi này. Giữa tăng và ni, giữa xuất gia và cư sĩ, giữa các bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, bậc tôn đức, đừng xem thường, để mai một đi đến đổ vỡ, thì sẽ xảy ra chuyện lớn.
Pháp cung kính này là tuyệt đối quan trọng, cúng kính Phật, cung kính Pháp, cung kính tăng, cung kính thiền định, cung kính các bậc trưởng thượng, cung kính sự nghênh tiếp, đón tiếp, đó là những pháp mà Đức Thế Tôn nói nếu mất đi những pháp này thì Chánh pháp sẽ bị nhiễu loạn và đi đến diệt tận.
Minh Thành đứng lớp hơn chục năm, nhiều khi thầy giáo thọ chưa bước ra khỏi lớp mà ở dưới học trò giống như là chợ cá, thật sự hết sức là ngao ngán. Cho nên trong sự đào tạo giáo dục của Phật giáo cần một sự thay đổi, chỉnh lý, chỉnh sửa, tu chỉnh lại. Với cài đà như thế này một thời gian sau thì “sư tử trùng thực sư tử nhục”, những con trùng trong thân sư tử ăn thịt con sư tử không phải là người ngoài. Ai mà dám ăn thịt sư tử chỉ có tự mình làm cho Phật pháp của mình đi xuống, bên trong của người tu không có lõi, không có được những pháp cần phải có của một người tu, đó là những pháp tác thành một Sa-môn. Bài kinh này Minh Thành cũng giảng rất kỹ ở Chùa Việt Nam Quốc Tự, chúng ta về nghe lại những pháp tác thành Sa-môn là bài kinh Đại kinh xóm ngựa, những cái chúng ta không có thì có làm gì cũng không thể trở thành một Sa-môn.
Thứ hai là vị Thánh đệ tử cần phải biết hộ trì các căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình phải biết giữ gìn. Người tu không phải lúc nào muốn nói là nói, muốn nhìn là nhìn, muốn cười là cười, muốn hành động là hành động, mà phải có chuẩn mực, giới hạn, phạm trù không được vượt qua, không khéo thì trở thành đời không ra đời, đạo không ra đạo. Nhìn với dáng vẻ là người tu nhưng cử chỉ hành động không phải của người tu thì kêu bằng cái gì, muốn kêu bằng thằng hay thầy, con hay cô, tự mình đánh mất sự cung kính pháp, cung kính Tam Bảo trong lòng Phật tử, càng ngày càng nhiều chúng ta có đau lòng không, đừng có trách ai mà trách chính tự thân tu học của mình.
Đầu tiên Đức Phật dạy là phải thành tựu giới hạnh và hộ trì các căn, mỗi ngày rờ lên đầu để nhắc nhở mình đang mang thân tướng là đầu trọc, tu một thời gian là bung hết những tập khí, thói quen, nghiệp lực ở ngoài đời.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng : "Hãy đi đi, các người có biết được gì !". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì !".Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: "Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập
(Người vợ trẻ- Tăng chi bộ- Tập 1- Phẩm không hý luận)
Bài kinh Người vợ trẻ, Đức Phật nói cô dâu mới về nhà chồng rụt rè e sợ xấu hổ từ cha mẹ chồng, chồng, thậm chí đến người làm vườn làm công, lo lắng, sợ hãi, e dè cẩn thận từng nhất cử nhất động, từng lời nói ở được một thời gian thì quay sang chỉ vào mặt cha mẹ chồng các người biết cái gì đi chỗ khác chơi, các Tỳ-kheo vào chùa tu một thời gian cũng chỉ vào mặt các bậc tôn đức, trưởng thượng như vậy thật là khủng khiếp. Đây là bài kinh mà tất cả người xuất gia phải nằm lòng, phải gối đầu giường, học thuộc lòng. Minh Thành ở trong chùa hơn ba mươi năm cho đến giờ này Minh Thành vẫn sợ tâm xem thường, vô lễ, bất kính của mình, đối với các bậc tu hành dù là vị tân xuất gia cho đến vị cư sĩ, Minh Thành sợ có những thái độ, bất kính, vô lễ, buông lung phóng dật. Đó là vết nhục, sự nhục nhã của một người tu, thấy mình tu không được thì hoàn tục, đừng làm hoen ố hình ảnh người xuất gia, đã đi tu mà còn phạm vào những lỗi như “tứ đổ tường” là đang phá vỡ lòng tin vào Tam Bảo của chúng sinh, tội này còn nặng hơn phá giới. Không ai bắt ép chúng ta đi tu nên tu phải ra tu, mà tu đơn giản, dễ nhất là oai nghi, tế hạnh, là vỏ ngoài của người tu, của cây phạm hạnh còn không có thì nói gì đến cái lõi cây. Cái đi đứng nói cười cử chỉ oai nghi hành động là phải khác với người đời. Minh Thành nhiều khi thật sự chỉ biết cúi mặt, chết trân, đau lòng về rừng ẩn tu, Chánh pháp đã đi đến diệt tận. Con người không còn sự cung kính pháp, xem pháp như thời sự, như gió thoảng mây bay, như nước đổ đầu vịt.
Lớp chúng ta còn ngồi học ở đây là rất đặc biệt, Minh Thành chỉ còn dạy một mình lớp chúng ta, những lớp khác từ Trung cấp đến Cao đẳng đều đã ngưng dạy, không thể tiếp tục ngồi dạy trong một chúng hội khiến Minh Thành quá đau lòng. Mình phải thương chính mình, thương cha mẹ, thương Đức Phật, kính giáo pháp. Vì quá kính Đức Phật, có hiếu với cha mẹ, thương yêu chúng sinh nên không nỡ để cho bản thân mình mang những điều đáng tiếc. Khi thường niệm Tứ trọng ân thì tự động trong mình có đầy đủ những oai nghi, khi thường niệm khổ thì tự động có sự thu thúc lục căn, khi thường niệm thường nhớ chết, vô thường, thì tự động sẽ được an tịnh, lắng dịu, khi thường niệm, thường nhớ một tấm thân bất tịnh nhơ nhớp bẩn thỉu, xú uế, thối tha, tự động tham dục sẽ được lắng dịu, khi thường nhớ, thường niệm trong thân này là một nội tâm hôn mê đầy rẫy những dục, tham, bản ngã, ngu si, sân hận, tự động các phiền não, cấu nhiễm sẽ được đoạn giảm. Tất cả thân khẩu ý được tổng tư lệnh của tâm buông lung phóng dật hôn mê điều khiển, xâm chiếm, áp đảo mà không hay biết, giống như một con rối với một tâm hôn mê, si ám, bản ngã to lớn, phóng dật, thả lỏng các căn, mù lòa bệnh hoạn, nội tâm suy nhược, suy dinh dưỡng về trí tuệ, thiền định, giới hạnh thì làm sao để tu để đạt đến mục đích cao cả, cao thượng, thánh thiện của người xuất gia. Ai có thể giúp mình, thương mình, lo lắng cho mình bằng chính mình, dù cho có ở gần bậc hiền Thánh, hiền trí mà bị tâm vô minh phong tỏa thì cũng vậy, cũng sống trong hôn mê si ám, bản ngã, sân hận khổ đau.
Minh Thành muốn gửi gắm cho quý thầy cô làm tư lương hành trang để khi rời khỏi lớp này, không biết chúng ta còn gặp lại nhau không bằng tất cả sự chân thành. Chúng ta học vô thường nhưng chúng ta không tin, không thấy, không thể nhập thực chứng vô thường, nếu chúng ta có sự thể nhập thì sẽ lấy làm lo lắng ưu tư. Minh Thành có chia sẻ trong buổi học hôm qua, người mà chưa có lo lắng, sợ hãi, ưu tư là người chưa có tu, chưa thấy khổ, lơ lơ lững lững qua ngày đoạn tháng, sống chờ ngày vào hòm, vào nghĩa địa, vào lò thiêu, chờ đội mai tang đến hốt xác. Sống như vậy là sống hèn hạ, thấp kém. Phải sống cao thượng, sống có sự hướng thượng, thánh thiện và tự mình phải như lý tác ý, biết cách như lý tác ý để thay đổi cuộc đời, thay đổi vận mạng của mình, đừng cư trú trong cái thấy biết của phàm phu mà phải an trú vào cái thấy biết của Đức Phật, Thánh hạnh, Thánh đạo để đi đến Thánh quả.
TRÌNH PHÁP ƯỚC MUỐN SẮC BÉN
TĂNG THƯỢNG GIỚI HỌC-TÂM HỌC-TUỆ HỌC
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trình pháp-ước muốn sắc bén PAGEREF _Toc188025233 \h 1
II. Tăng thượng giới định tuệ PAGEREF _Toc188025234 \h 9
s
Trình pháp-ước muốn sắc bén
Hôm nay chúng ta tiếp tục dành thời gian cho quý thầy cô chia sẻ và có những câu hỏi để quyết nghi ngờ để nắm vững được pháp hành trong thời gian tới trong hai tháng không gặp lại thì tự mình có thể thực tập được. Chúng ta tiếp tục trình pháp trong thời gian qua đã tu học như thế nào về pháp hành kinh tạng Nikāya, đã thực hành, thực dụng được đến đâu, có đem lại hiệu quả, lợi ích ra sao hay là có những nghi vấn, nghi ngờ, chưa được sáng tỏ thì nêu lên, hãy nhiệt tâm mạnh mẽ lên các giảng sư tương lai.
Câu hỏi 1: Kính bạch thầy xin cho con được hỏi điều còn thắc mắc trong lòng, với những tâm bất thiện hoặc thiện sinh khởi, khi sắc tưởng, thanh tưởng, những hình bóng trong tâm của mười năm trước nay có duyên trong hiện tại làm cho sinh khởi trở lại thọ tưởng hành, ngay lúc đó chúng con chỉ nhìn nhận quan sát sự sinh khởi, sự hoạt động và sự kết thúc của thọ tưởng hành đó hay chúng ta phải như lý tác ý, dùng những lời dạy của Đức Phật, lời hướng dẫn của thầy giáo thọ để đoạn trừ diệt tận thọ tưởng hành đó. Mong được sự chỉ dạy trên thầy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đây là một câu hỏi quan trọng mà chúng ta cũng đã được học và có cơ hội thì nên nghe lại. Người tu, một người biết tu, ham tu, muốn tu, yêu tu, quý tu, kính tu, chân tu, thật tu là người luôn luôn lúc nào cũng nhìn ngũ uẩn của mình, tức là hướng nội, nội soi, hướng vào bên trong, nhìn vào bên trong, phản tỉnh, phản chiếu, phản quang, bên thiền tông có câu “phản quan tự kỷ, bổn phận sự”, tức là có sự thiết tha chân thành trong sự tu thì lúc nào cũng nhìn lại ngũ uẩn khi đã được học nhận diện ngũ uẩn. Người nào không quay nhìn lại nội tâm là người không biết tu, không thích tu, không ham tu, dù cho có được học nhận diện ngũ uẩn, có lỗi lầm cũng không chịu quay nhìn lại thân tâm nên không thấy không biết sân si bản ngã, tự mình đã không nhìn thấy, được người chỉ lỗi thì sân, tỏ thái độ chống đối, bản ngã, người như vậy không thể tu được.
Người biết tu, ham tu, thật tu là người luôn luôn lúc nào cũng nhìn lại từng giây từng phút, từng hình bóng, từng suy nghĩ, từng cảm thọ, từng nhận thức, nhất cử nhất động của thân tâm đều quán sát, như lý quán sát. Khi chưa học nhận diện ngũ uẩn, chúng ta nhìn nhận thân tâm trong lờ mờ, không đầy đủ, chỉ nhìn được một góc, một khía cạnh, nhìn một hướng, nhìn một cách phiến diện còn khi nhìn được một cách đầy đủ về sắc thọ tưởng hành thức được gọi là nhìn đúng với sự thật, như lý là nhìn đúng như chân lý và tỉnh giác quán sát. Khi chưa học nhận diện ngũ uẩn cũng có nghĩ là chúng ta chưa có sự thấy đúng về thân tâm, nếu có nhìn lại thân tâm thì cái nhìn đó là phiến diện trong hạn hẹp thiển cận một góc, một cạnh, một xó. Người có nhận diện ngũ uẩn đầy đủ là thấy được năm mặt của sắc thọ tưởng hành thức.
Chúng ta được học, được hướng dẫn rất kỹ nhưng khi trình pháp chỉ trình bày được ở phần cảm thọ, chưa trình bày được tưởng, hành, với sự trình bày đơn giản như vậy một thời sẽ quên. Tâm chúng ta bản chất vốn là làm biếng, thích dễ, nên rất nhiều người cho rằng duyên đến thì để tự sinh tự diệt không cần tác ý đánh đuổi. Minh Thành có giảng dạy rất nhiều về vấn đề này, ví dụ đang ngủ trong phòng mà có rắn hổ mang chúa bò vào nằm cạnh giường, mình thấy mà vẫn ngủ, kệ cho nó tự bò vô rồi tự bò ra, lý luận này có đúng với thực tế không hay mình phải vùng dậy dùng hết tất cả sức lực đánh đuổi nó ra khỏi phòng rồi mới yên tâm đi ngủ.
Sau khi tỉnh giác quán sát đúng với sự thật của bậc Thánh thì chúng ta sẽ nhìn thấy được những cấu nhiễm, rác bẩn trong ba năm, mười năm có khi từ những kiếp trước. Có một vị thầy lớn tuổi tu ở thiền viện, kể chuyện ngồi thiền trong tâm hoàn toàn tĩnh lặng bỗng nhiên tưởng hiện lên hình ảnh của một em bé ba tuổi, ông suy nghĩ lục lọi tìm kiếm trong ký ức và nhớ lại đã gặp em bé đó bốn mươi năm về trước, cũng giống như vừa rồi thầy trình bày có những duyên xúc ở hiện tại làm cho hình bóng của mười năm trong quá khứ khởi hiện trở lại, có khi đó là những duyên xúc gặp gỡ nhẹ nhàng không có tham sân, nhưng có những dục ái tham sân thì mình phải xử lý những cấu nhiễm này như thế nào. Trong phòng mình thằn lằn, chuột, mèo ị hết đống này đến đống kia, mùi hôi thối bốc mùi nồng nặc, mình có để im cho nó tự phân hủy, tự hết mùi hôi hay phải nhanh chóng hốt phân, dọn dẹp, lau chùi làm cho sạch sẽ. Sự thật rành rành ra như vậy mà tâm chúng ta vẫn chưa quyết nghi, đó là tâm thụ động, làm biếng. Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta phải tinh cần, tinh tấn.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ- kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng…khi đang ngồi…khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không có đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có xấu hổ, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
(Hành - Tăng chi bộ kinh - Tập 1 - Phẩm hành)
Nếu như có Tỳ-kheo nào đang trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm, nói, im lặng mà trong nội tâm sinh khởi lên những dục, tham ái, sân giận, vô minh, bản ngã mà không gấp rút, quyết liệt, mạnh mẽ, mau chóng trừ khử, diệt tận làm cho không còn sinh khởi trở lại trong tương lai, Tỳ-kheo như vậy là Tỳ-kheo hèn hạ, thấp kém, hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng … khi đang ngồi … khi đang nằm, thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hai hại tầm mà nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang nằm, thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tình, có xấu hổ, liên tục thường hằng, tinh cần tinh tấn, siêng năng
(Hành - Tăng chi bộ kinh - Tập 1 - Phẩm hành)
Còn nếu như Tỷ-kheo nào trong khi đang đi, đứng, nằm, ngồi, nói, làm việc mà sinh khởi lên những dục tầm, sân tầm, hại tầm, những suy nghĩ về bản ngã, lập tức trừ khử, tẩy sạch, diện tận làm cho không còn sinh khởi trở lại trong tương lai thì đó là vị Tỳ- kheo tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm trong giáo pháp của Như Lai, kinh văn rỏ ràng như mặt trời, nghe đến đây chúng ta có nên xử lý không hay còn muốn để cho tự sinh tự diệt, câu hỏi này được giải thích không phải chỉ cho riêng một cá nhân nào. Một số vị lúc chưa tu thì tâm sắc bén, lanh lợi, bén nhạy, nhanh nhẹn, tu được một thời gian thì ù ù lù lù ngơ ngơ mà tưởng đâu mình tu hay, tu giỏi vì không nhiệt tâm tinh tấn nên tâm đi vào trong chỗ si mê mà không biết. Chúng ta đọc trong quyển Linh Quy Nhật tụng có bài niệm Ước muốn sắc bén
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
- Thọ trì tăng thượng Giới học
- Thọ trì tăng thượng Tâm học
- Thọ trì tăng thượng Tuệ học.
Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm của Sa-môn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Giới học.
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Tâm học.
- Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng Tuệ học.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Kinh SAMÔN -Tăng chi bộ - Tập I, 415)
Ước muốn không là chưa đủ phải thêm sự sắc bén, Đức Phật dùng từ sâu sắc như vậy, những vị Tỳ-kheo nào không có được ba ước muốn này thì không phải là đệ tử của Như Lai, chỉ là một con lừa đi theo sau lưng đàn bò và nghĩ rằng ta cũng là con bò, ta cũng là con bò, nhưng vị này không có màu sắc, tiếng kêu, không có chân giống như con bò, tức là nếu tu mà không có một ước muốn để làm cho tăng thượng giới đức, không có ước muốn tiến lên trong việc tu học để cho nội tâm càng ngày càng hướng thượng, tăng thượng, cao thượng, thánh thiện, không có những ước muốn như vậy thì không phải là đệ tử của Như Lai. Người như vậy không thể học Thánh pháp, phải có ước muốn, khao khát, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhiệt tình, tha thiết để tầm cầu trí tuệ của bậc Thánh, để thành tựu Chánh tri kiến, cái thấy biết của bậc Thánh. Nhiều khi lòng đầy ước muốn, khao khát, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhiệt tình, tha thiết như vậy mà chưa chắc đạt được, đừng nói chi là không có một chút ước muốn nào. Giống như nhiều người có tâm khao khát làm giàu họ đầu tư nghiên cứu suy tư, mất ăn mất ngủ thức khuya dậy sớm, lăn lộn sớm hôm, bỏ ra không biết bao nhiêu là tiền của công sức mà còn không giàu được huống chi đối với người ngày chỉ lo hai bữa thì làm sao thành tỷ phú. Đối với người tu cũng vậy, cần phải có mong muốn tha thiết để đoạn tận các lậu hoặc
Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao? Các tầm ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: "Ðây là khổ"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ tập"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ diệt"... hãy suy tầm: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao? Các suy tầm ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"
(Các tầm - Tương ưng bộ- Tập IV – Thiên sáu xứ)
Chúng ta bây giờ tu tập không có sự cố gắng nỗ lực nên mãi là phàm phu, với sự hướng dẫn để duyên tự nhiên đến thì duyên tự nhiên đi, tự sinh, tự diệt không cần đoạn trừ, cái này là nguy hiểm, thậm chí còn cho rằng tham sân si không bao giờ hết được, suy nghĩ như vậy là tà kiến. Không hết tham sân si thì làm sao có được các bậc Thánh, có được các bậc A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác, không hết tham sân si làm sao có được đạo lộ diệt khổ, nói như vậy là đang phủ nhận Tứ Thánh Đế, phủ nhận Thánh trí của Đức Phật, phủ nhận luôn đời sống cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Cho nên học là phải cho sâu sắc, nắm cho vững, cho chắc, cho chặt để có được kiến chiếu yêu, có được mắt thần, mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, mắt đạo, nhìn là thấy cái đúng sai, chánh tà. Muốn được vậy phải là người đa văn, nghe nhiều và có sự tu tập, đây là bước tẩy sạch các cấu nhiễm sẽ đi đến chỗ rốt ráo.
Khi Minh Thành trả lời là chung cho tất cả ngũ uẩn, cho chúng ta có pháp mà hành trì, không mang mục đích cá nhân hay chê bai một người nào vì ở đây không có ai mà chỉ là một đống máu mỡ, phân nước tiểu, những bộ xương chứa đầy tâm hôn mê đầy dục ái tham sân si, vô minh, bản ngã, không có ai ở đây.
Câu hỏi 2: Kính bạch trên thầy con có một người bạn bị bệnh và chết cách đây hai mươi lăm năm. Thời gian sau hai năm bạn mất con đã dần cố quên đi người bạn đó, đời người là vô thường và cảm xúc theo thời gian cũng dần nhạt nhòa, nhưng từ khi con đi tu cách đây cũng mười bảy mười tám năm, mỗi khi tịnh tâm nhắm mắt ngồi thiền thì hình ảnh người đó hiện ra rõ trước mặt mặc dù con trước đó con không bao giờ thấy, con cố gắng tịnh tâm để quên đi nhưng thỉnh thoảng hình ảnh người bạn đó vẫn cứ hiện về, xin thầy chỉ cho con cách quán chiếu để tâm con không còn bị ám ảnh.
Trình pháp 1: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ, kính thưa toàn thể đại chúng, sau một thời gian tu tập pháp thực hành ngũ uẩn, con quay về nhìn lại nội tâm, cho tâm hướng nội thì con nhìn thấy rõ tham sân si của mình. Khi đi thọ thực nhìn thấy có món ăn yêu thích dọn lên bàn, sinh tâm tham, có cảm thọ vui sướng vì có món ăn mình yêu thích, khi ngồi vào bàn ăn lòng tham dục càng tăng trưởng muốn gắp cho nhiều, nhưng con nhìn lại và nghĩ rằng thức ăn chỉ để nuôi thân không bị ốm đau để tu hành sao mình lại tham đắm trong đó nhiều vậy. Trong khi đi đứng cũng vậy, làm cái gì cũng vội vội vàng vàng thấy mình đang đi trong dục đi nhanh và con quán chiếu để đi chậm lại, nhưng sự quán chiếu trong con còn yếu ớt nên lòng dục, lòng tham vẫn cứ tái diễn lại, con đã nhìn thấy được tham sân si của mình, cố gắng nhiếp phục, đoạn trừ ngay lúc đó nhưng lúc khác lại vẫn cứ tái diễn lại như cũ. Lúc đầu con đặt ra cho mình thời khóa là tụng kinh xong thì hành thiền và lạy sám hối rồi mới được trở về phòng, nhưng gặp duyên có huynh đệ mượn đồ phải về phòng lấy, mặc dù con cũng có nghĩ rằng về phòng lấy xong rồi lên lại chánh điện để tiếp tục thời khóa, nhưng khi về đến phòng sự lười biếng, dải đải sinh khởi và con không chiến thắng được tâm mình, con ở lại phòng luôn.
Trình pháp 2: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Sau một tuần trở về làm đám cho sư bà, con có gặp lại vị thầy lúc com đi xuất gia, vị đó lo cho con rất nhiều, cảm thọ trong con rất buồn, hình bóng về người thấy hiện ra, con suy nghĩ về những lỗi lầm đối với thầy, trong lúc làm việc bị thầy la rầy hay nhìn thấy thầy sân giận con cũng buồn.
Sư cô trình bày chưa thấy pháp trong đó, chỉ thấy cái nhìn của thường tình, chúng ta hãy trình bày bằng pháp, chia sẻ chính vào sự tu học của mình.
Khi có có cảm thọ buồn, con nhìn lại cảm thọ và nhắc nhở mình, cảm thọ này là vô thường và khi có buồn thì con nhắc nhở tâm an tịnh, lắng dịu, cảm thọ buồn này rồi cũng sẽ qua đi.
Hình bóng tự ngã trong tâm mình sư cô có biết cách phá thân kiến, phá bản ngã, phá sắc uẩn không?
Bạch thầy con không biết phá.
Trình pháp 3: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Bản thân con ngoài việc đi học, con trở về chùa làm công quả, chấp tác. Có hôm đang ngồi tụng kinh con bất giác nhìn lại thấy mình đã chạy theo những suy nghĩ mông lung miên man, mà miệng thì vẫn đọc như một cái máy, mỏ vẫn đi trường canh, con giật mình thấy tâm thức mình hoạt động đi quá xa, buông lung, phóng dật, con có cảm thọ sợ hãi khi nhận diện thấy con hoàn toàn không có được sự an tịnh, chánh niệm trong khi tu học, ngay trong giây phút hiện tại ngồi tụng kinh với chúng mà trong đầu toàn có những suy nghĩ, tính toán cho những công việc khác.
Trong tuần qua con có nhận một công việc chỉnh sửa chứng nhận khóa tu, nhưng sư phụ khuyên nên tập trung cho tu học còn làm việc làm thêm bên ngoài chỉ là làm cho vui. Trong công việc khi có sự xung đột, bất đồng ý kiến không hòa hợp, bên đối tác họ nổi sân, con cũng chạy theo cái tâm sân của họ, con có xin ý kiến của sư phụ thì sư phụ khuyên mọi chuyện điều rất đơn giản, không có gì phải làm khó cho nhau. Con nhận ra rằng cảm thọ của mình thay đổi rất nhanh, lúc thì bực tức, lúc thì giận dỗi, lúc thì dễ chịu, con hoàn toàn không làm chủ được cảm thọ, dễ chạy theo ngoại cảnh bên ngoài, dễ bị các đối tượng bên ngoài tác động vào trong tâm, hình bóng của những người khó chịu với nhau cũng hiện trong đầu con, khi hai bên cải nhau con ngồi lắng nghe diễn biến của câu chuyện xung đột đó, con thấy mình rất tệ, bất kỳ chuyện gì cũng hỏi người lớn, làm phiền người lớn, chưa đủ khả năng, chưa có chánh kiến để sát quyết một vấn đề, con suy nghĩ phải cố gắng hơn trong công phu và nhìn nhận về ngũ uẩn thì sẽ đỡ khổ hơn, phải luôn nhận diện thân này do năm uẩn tạo thành, nếu năm uẩn tan rã thì trở về với hư không, nên đừng chấp nhận vào thân này để cho tâm được an tịnh lắng dịu, lắng dịu, trải tâm từ thì mọi chuyện sẽ an ổn, con mong mình tu tập được như vậy để cho con đường tu tập của tự thân được thuận lợi. Con đang quán và tu học như vậy Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Trình pháp 4: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi chúng con được học về nền tảng Nikāya là nền tảng cơ bản trong giáo lý của Đức Thế Tôn và sau khi được sự giảng dạy trên thầy con thấy rõ con đường đi của các bậc Thánh, đây là những điều con tâm đắc nhất trong cuộc đời tu học của mình, con xuất gia chỉ với một mục đích là đi đến giác ngộ và giải thoát. Chúng con đang số trong một môi trường làm thay đổi những tố chất, những chân lý mà Đức Phật đã chỉ dạy, có nhiều lai căng theo những con đường khác, một cái cây mà không tìm thấy được gốc rễ để chăm sóc cho đúng thì rất khó trên con đường tu học. Con tâm đắc nhất là phương pháp như lý tác ý, nếu không như lý tác ý sẽ sinh vào bốn cõi khổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, nếu có như lý tác ý sẽ được sinh vào cõi người trời, nếu tinh tấn sẽ thoát ra khỏi luân hồi. Những ý niệm trong tâm khi nhận diện nếu là ác pháp, con tác ý về những thiện pháp, mình là người tu phải có phạm hạnh, có đạo đức, đạp trên danh lợi tiền tài để tâm không còn ham muốn, dính mắc. Về tình cảm cũng vậy, con thường tác ý, gia đình là sợ dây tham ái, con thường tác ý đi tu phải giữ gìn để trở thành người tu có đạo hạnh, đức hạnh, có hương thơm để gia đình được hãnh diện. Phương pháp như lý tác ý là rất tuyệt vời đối với con, con rất biết ơn thầy khi con học được phương pháp như lý tác ý từ thầy.
Trong thời gian qua con thấy bản chất của sân giận là do khi tiếp xúc với cảnh mà tâm mình không tỉnh giác thì sẽ dễ dàng đi theo, mình không có được sự tỉnh thức về lời nói, hành động cũng như tác ý nên tạo ra một chuỗi nghiệp, mình không còn được sự kính trọng, vì không có tố chất của người tu.
Nhờ được học về nhận diện ngũ uẩn, trong khi ngồi thiền con nhìn thấy được sắc thọ tưởng hành thức diễn ra trong hiện tại một là khởi lên từ trong quá khứ, hai là những ước vọng trong tương lai, con nguyện ước trong tương lai về những con đường cao đẹp thánh thiện mà các bậc Thánh đã đi và con nguyện đi theo.
Trình pháp 5: Kính bạch thầy có một ngày chùa con cúng trai tăng, con phải dậy từ rất sớm để chuẩn bị nấu nướng, sắp xếp, dọn dẹp cho đến một giờ trưa mới được nghỉ ngơi. Con định ngả lưng một chút rồi dậy học, nhưng không ngờ một chút đó, kéo dài đến 2 giờ 15 phút chiều, lúc đó ý hành suy nghĩ nói trễ giờ vào lớp học rồi, cảm thọ chần chừ không muốn đi học, ý hành lại nói vị giáo thọ đó dạy mình không hiểu, không tiếp thu được, tâm khởi lên không muốn nghe, thấy nhàm chán môn học đó và không muốn đi học, ý hành tiếp theo lại nói thôi ở nhà ngủ, suy nghĩ đến đó thì cảm thọ thấy rất là thoải mái và dễ chịu, thích thú khi được ở nhà ngủ. Lúc đó con tác ý rằng, nếu không đi học thì người chịu thiệt thòi là mình, mình đã ngủ đời rồi, bây giờ đến giờ học lại không đi, lại muốn ngủ thì chỉ có ngu mà thôi không khá lên được và con tiếp tục tác ý các vị giáo thọ bận rộn với công việc của giáo hội, của bổn tự lại thêm việc tu tập cho tự thân quý ngài, quý ngài dành thời gian đó để lên lớp dạy mà mình không đi học thì mình đang phụ lòng quý ngài, phụ lòng chư tôn đức đã cho mình cơ hội được học tập, phụ ơn thầy tổ, cha mẹ, Đức Phật và con đã dậy và đi lên lớp, dù thời gian đã quá trễ gần 3 giờ chiều. Sau buổi đó con thấy mình đã tốt hơn lúc trước, đã vượt được qua cái tâm làm biếng.
II. Tăng thượng giới định tuệ
Tu là phải biết tác ý như vậy, sau khi mình đã như lý giác sát, tỉnh giác quán sát đúng với sự thật thì sẽ thấy được tâm cấu nhiễm, tâm làm biếng, ham chơi, ham ngủ, ham ăn, ham vui, ham buông lung phóng dật. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, tất cả các ác và bất thiện pháp đều lấy buông lung phóng dật làm cốt lõi, giống như các rui mè, đòn tay đều châu đầu vào góc nhọn”, tất cả các bất thiện pháp mà có được là từ buông lung phóng dật. Đối với một người buông lung phóng dật là không tu được, vì không có một pháp ác nào mà người buông lung phóng dật không làm, họ không sợ tội, không biết hổ thẹn, không thấy e dè, không thấy đó là lỗi, dù là lỗi rất lớn và họ chai lì. Vì không biết xấu hổ, không biết sợ hãi, nên có tâm buông lung phóng dật, vì tâm không thấy nên không có sự xấu hổ, sợ hãi, tức là tâm bị vô minh
Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Ðối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh. Ðối với kẻ có tà tư duy, tà ngữ sanh. Ðối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh. Ðối với kẻ có tà nghiệp, tà mạng sanh. Ðối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh. Ðối với kẻ có tà tinh tấn, tà niệm sanh. Ðối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.
(Vô minh-Tương ưng bộ kinh-Tập V- Phẩm Vô minh)
Tâm lúc đó không có sự nhận diện ngũ uẩn, không thấy đó là ác và bất thiện pháp, vì vô minh không thấy được trạng thái, thực trạng, tình trạng thật sự của thân tâm lúc đó, vì không thấy nên không sợ hãi, giống như người này đi trong bóng tốt không có ánh sáng, họ cứ đi và đang tiến gần đến vực thẳm nhưng họ không thấy để dừng lại, đó là một bóng đêm, của màn đêm, vô minh, mù lòa, cũng vậy một người mà không thấy được thân tâm mình một cách chân xác, thực trạng, tình trạng thực sự của nó nên người này vô tàm vô quý, không xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã. Ví dụ một người có tu khi nhìn lại thân tâm và giới đức của mình khi được người đảnh lễ thọ trai người này vô cùng xấu hổ và lo lắng vì họ đáng tuổi ông bà, cha mẹ anh chị minh. Còn nếu không lo lắng sợ hãi tức là vô tàm vô quý, tức là tâm mình đang vô minh, người nào có lo lắng và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp là tâm người đó có minh.
Đức Phật quy định có giới là không ăn chiều, nếu mình ăn thì thấy tàm quý và xấu hổ vì giới này mình chưa làm được, chưa gìn giữ được, nếu có thấy xấu hổ và lo lắng thì người này có cơ hội để dần dần giảm ăn để đi đến không ăn và giữ được giới, đó là ước muốn sắc bén, tăng thượng trong giới học. Có một người đi vào ngồi thiền mà không yên, nhúc nhích liên tục, ngủ gật, tâm bị loạn tưởng, trong khi những vị đồng phạm hạnh ngồi phía trước trang nghiêm thanh tịnh, tỉnh táo, chánh niệm, nhìn lại mình thấy mà nhục nhã xấu hổ, hèn hạ thấp kém, thấy mình còn dở tệ, nhờ thấy được như vậy người này có sự cố gắng nỗ lực để phấn đấu ngồi được giống như bạn đồng tu và dần dần có sự tăng thượng trong định học, tâm học. Còn thấy mọi người đều trang nghiêm thanh tịnh mà mình thì lăng xăng giao động mà lại không biết xấu hổ, thấy bình thường, trơ trơ, đơ đơ, tâm chai lì thì người này hết thuốc chữa, không có khả năng tăng thượng trong Pháp và Luật này, một người vô tàm vô quý không biết xấu hổ và sợ hãi trong các lỗi lầm của mình. Câu “thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt” là hết sức quan trọng, một người tu mà không thấy sợ hãi trong tội lỗi thì không thể tu, từ việc nhỏ mới ra việc lớn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học giới (học pháp). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng Giới học
(Kinh Học giới - Tăng chi bộ - Tập I, 426)
Chúng ta phải học thuộc làu đoạn kinh này để mỗi ngày nhắc nhở thân tâm, bị một lỗi nhỏ cũng phải ra sám hối, tối tiểu cũng phải dập đầu trước Đức Phật để sám hối với tự thân, thấy nhục nhã, xấu hổ, sợ hãi, đây là ác pháp, bất thiện pháp. Thật là đau đớn, xót xa, cay đắng, nhục nhã, lo sợ, thật sự là không muốn phạm lỗi, vì vô minh, ngu si, không thấy, không biết con đã lỡ phạm lỗi này con xin dập đầu sám hối trước tăng ni chúng, trước Thánh tượng, trước Tam bảo, trước các bậc thiện tri thức xin chứng minh. Người như vậy mới có khả năng tăng tượng trong thiện pháp, chánh pháp. Còn người lỗi lầm ngập đầu mà còn vênh váo, ta đây, khi được người khác chỉ lỗi thì sân si, bản ngã, có những thái độ, hành động chống đối lại, bản ngã chình ình như vậy thì tu được cái gì. Cho nên người chân tu, thật tu, thích tu, muốn tu, cung kính trong sự tu thì luôn luôn có sự xấu hổ, lo lắng, sợ hãi cho tự thân mình và cho đến khi nào vị này hết sạch những cảm thọ này tức là trở thành bậc A-la-hán.
Ở đây chỉ có hai dạng, một là phàm phu chay không biết nhục, hai là bậc tâm hoàn toàn thanh tịnh, thì mới không có tàm quý, còn một người đang trên đạo lộ học đạo, tu tập thì người này phải có tàm, có quý, người này nhục nhã sinh thánh quả. Ngài Xá-lợi-phất đắp y, chỉ chấm một chút vạt y xuống đất Ngài sám hối vì cảm thấy vô cùng là nhục nhã và xấu hổ. Bây giờ người xuất gia chúng ta đắp y nhiều khi lôi đi dài dài dưới đất mà không thấy. Cho nên chúng ta phải có học, có tu thì mới biết được cái nào đúng, cái nào sai, phải để ý từ cái nhỏ nhiệm nhất, có khi chúng ta phạm lỗi rất là lớn mà dửng dưng xem như không có lỗi gì hết, làm lơ, thì vị này không có cơ hội tăng thượng trong pháp và luật của Như Lai.
Ngày nay việc tu học thật là khó khăn cho chúng ta vì không có người hướng dẫn, học nhiều, nghe nhiều nhưng không biết mình đang học cái gì, nghe cái gì có đúng Chánh pháp hay không. Cho nên trong bài kinh Hữu học Đức Phật dạy chúng ta rất kỹ.
Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh ? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp. Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh
(Kinh Hữu Học - Trung bộ kinh – Tập 2, bài 53)
Đức Phật dạy người tu đầu tiên là phải thành tựu được giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy sợ hãi và nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp. Các sư cô không được vừa nói vừa cười giỡn với các thầy, tự thân quý thầy cô là học trò, là đệ tử thì không được nói chuyện phang ngang với sư phụ, thầy giáo thọ, vì mất pháp cung kính cho nên Chánh pháp bị nhiễu loạn hủy diệt. Minh Thành có giảng pháp cung kính rất kỹ bên lớp Trung cấp Phật học. Vì chúng ta xem thường những oai nghi chánh hạnh, tế hạnh đó, là những cử chỉ nhỏ nhiệm vi tế mà chúng ta không để ý, từ cái nhỏ sinh ra cái lớn, cư xử với nhau không biết ai là huynh là đệ là thầy là trò, không còn lễ nghi, phép tắc, sống chung một thời gian như những người thân trong gia đình không còn trên dưới. Có những lỗi nhỏ nhiệm hết sức nguy hiểm, phá vỡ nền móng, lễ giáo, đạo đức của con người, chưa nói đến xuất thế Thánh hạnh, chỉ mới nói ở nhân thiên pháp là đã mất rồi. Chúng ta hay nói những chuyện cao siêu ở trên trời về Thánh thần các vị Bồ tát mà làm người thì làm chưa xong, đạo làm người không có đủ. Chúng ta về học lại bài pháp cung kính Sa-môn có hai mươi mốt oai nghi, học thuộc lòng hai mươi mốt oai nghi này. Giữa tăng và ni, giữa xuất gia và cư sĩ, giữa các bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, bậc tôn đức, đừng xem thường, để mai một đi đến đổ vỡ, thì sẽ xảy ra chuyện lớn.
Pháp cung kính này là tuyệt đối quan trọng, cúng kính Phật, cung kính Pháp, cung kính tăng, cung kính thiền định, cung kính các bậc trưởng thượng, cung kính sự nghênh tiếp, đón tiếp, đó là những pháp mà Đức Thế Tôn nói nếu mất đi những pháp này thì Chánh pháp sẽ bị nhiễu loạn và đi đến diệt tận.
Minh Thành đứng lớp hơn chục năm, nhiều khi thầy giáo thọ chưa bước ra khỏi lớp mà ở dưới học trò giống như là chợ cá, thật sự hết sức là ngao ngán. Cho nên trong sự đào tạo giáo dục của Phật giáo cần một sự thay đổi, chỉnh lý, chỉnh sửa, tu chỉnh lại. Với cài đà như thế này một thời gian sau thì “sư tử trùng thực sư tử nhục”, những con trùng trong thân sư tử ăn thịt con sư tử không phải là người ngoài. Ai mà dám ăn thịt sư tử chỉ có tự mình làm cho Phật pháp của mình đi xuống, bên trong của người tu không có lõi, không có được những pháp cần phải có của một người tu, đó là những pháp tác thành một Sa-môn. Bài kinh này Minh Thành cũng giảng rất kỹ ở Chùa Việt Nam Quốc Tự, chúng ta về nghe lại những pháp tác thành Sa-môn là bài kinh Đại kinh xóm ngựa, những cái chúng ta không có thì có làm gì cũng không thể trở thành một Sa-môn.
Thứ hai là vị Thánh đệ tử cần phải biết hộ trì các căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình phải biết giữ gìn. Người tu không phải lúc nào muốn nói là nói, muốn nhìn là nhìn, muốn cười là cười, muốn hành động là hành động, mà phải có chuẩn mực, giới hạn, phạm trù không được vượt qua, không khéo thì trở thành đời không ra đời, đạo không ra đạo. Nhìn với dáng vẻ là người tu nhưng cử chỉ hành động không phải của người tu thì kêu bằng cái gì, muốn kêu bằng thằng hay thầy, con hay cô, tự mình đánh mất sự cung kính pháp, cung kính Tam Bảo trong lòng Phật tử, càng ngày càng nhiều chúng ta có đau lòng không, đừng có trách ai mà trách chính tự thân tu học của mình.
Đầu tiên Đức Phật dạy là phải thành tựu giới hạnh và hộ trì các căn, mỗi ngày rờ lên đầu để nhắc nhở mình đang mang thân tướng là đầu trọc, tu một thời gian là bung hết những tập khí, thói quen, nghiệp lực ở ngoài đời.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng : "Hãy đi đi, các người có biết được gì !". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì !".Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: "Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập
(Người vợ trẻ- Tăng chi bộ- Tập 1- Phẩm không hý luận)
Bài kinh Người vợ trẻ, Đức Phật nói cô dâu mới về nhà chồng rụt rè e sợ xấu hổ từ cha mẹ chồng, chồng, thậm chí đến người làm vườn làm công, lo lắng, sợ hãi, e dè cẩn thận từng nhất cử nhất động, từng lời nói ở được một thời gian thì quay sang chỉ vào mặt cha mẹ chồng các người biết cái gì đi chỗ khác chơi, các Tỳ-kheo vào chùa tu một thời gian cũng chỉ vào mặt các bậc tôn đức, trưởng thượng như vậy thật là khủng khiếp. Đây là bài kinh mà tất cả người xuất gia phải nằm lòng, phải gối đầu giường, học thuộc lòng. Minh Thành ở trong chùa hơn ba mươi năm cho đến giờ này Minh Thành vẫn sợ tâm xem thường, vô lễ, bất kính của mình, đối với các bậc tu hành dù là vị tân xuất gia cho đến vị cư sĩ, Minh Thành sợ có những thái độ, bất kính, vô lễ, buông lung phóng dật. Đó là vết nhục, sự nhục nhã của một người tu, thấy mình tu không được thì hoàn tục, đừng làm hoen ố hình ảnh người xuất gia, đã đi tu mà còn phạm vào những lỗi như “tứ đổ tường” là đang phá vỡ lòng tin vào Tam Bảo của chúng sinh, tội này còn nặng hơn phá giới. Không ai bắt ép chúng ta đi tu nên tu phải ra tu, mà tu đơn giản, dễ nhất là oai nghi, tế hạnh, là vỏ ngoài của người tu, của cây phạm hạnh còn không có thì nói gì đến cái lõi cây. Cái đi đứng nói cười cử chỉ oai nghi hành động là phải khác với người đời. Minh Thành nhiều khi thật sự chỉ biết cúi mặt, chết trân, đau lòng về rừng ẩn tu, Chánh pháp đã đi đến diệt tận. Con người không còn sự cung kính pháp, xem pháp như thời sự, như gió thoảng mây bay, như nước đổ đầu vịt.
Lớp chúng ta còn ngồi học ở đây là rất đặc biệt, Minh Thành chỉ còn dạy một mình lớp chúng ta, những lớp khác từ Trung cấp đến Cao đẳng đều đã ngưng dạy, không thể tiếp tục ngồi dạy trong một chúng hội khiến Minh Thành quá đau lòng. Mình phải thương chính mình, thương cha mẹ, thương Đức Phật, kính giáo pháp. Vì quá kính Đức Phật, có hiếu với cha mẹ, thương yêu chúng sinh nên không nỡ để cho bản thân mình mang những điều đáng tiếc. Khi thường niệm Tứ trọng ân thì tự động trong mình có đầy đủ những oai nghi, khi thường niệm khổ thì tự động có sự thu thúc lục căn, khi thường niệm thường nhớ chết, vô thường, thì tự động sẽ được an tịnh, lắng dịu, khi thường niệm, thường nhớ một tấm thân bất tịnh nhơ nhớp bẩn thỉu, xú uế, thối tha, tự động tham dục sẽ được lắng dịu, khi thường nhớ, thường niệm trong thân này là một nội tâm hôn mê đầy rẫy những dục, tham, bản ngã, ngu si, sân hận, tự động các phiền não, cấu nhiễm sẽ được đoạn giảm. Tất cả thân khẩu ý được tổng tư lệnh của tâm buông lung phóng dật hôn mê điều khiển, xâm chiếm, áp đảo mà không hay biết, giống như một con rối với một tâm hôn mê, si ám, bản ngã to lớn, phóng dật, thả lỏng các căn, mù lòa bệnh hoạn, nội tâm suy nhược, suy dinh dưỡng về trí tuệ, thiền định, giới hạnh thì làm sao để tu để đạt đến mục đích cao cả, cao thượng, thánh thiện của người xuất gia. Ai có thể giúp mình, thương mình, lo lắng cho mình bằng chính mình, dù cho có ở gần bậc hiền Thánh, hiền trí mà bị tâm vô minh phong tỏa thì cũng vậy, cũng sống trong hôn mê si ám, bản ngã, sân hận khổ đau.
Minh Thành muốn gửi gắm cho quý thầy cô làm tư lương hành trang để khi rời khỏi lớp này, không biết chúng ta còn gặp lại nhau không bằng tất cả sự chân thành. Chúng ta học vô thường nhưng chúng ta không tin, không thấy, không thể nhập thực chứng vô thường, nếu chúng ta có sự thể nhập thì sẽ lấy làm lo lắng ưu tư. Minh Thành có chia sẻ trong buổi học hôm qua, người mà chưa có lo lắng, sợ hãi, ưu tư là người chưa có tu, chưa thấy khổ, lơ lơ lững lững qua ngày đoạn tháng, sống chờ ngày vào hòm, vào nghĩa địa, vào lò thiêu, chờ đội mai tang đến hốt xác. Sống như vậy là sống hèn hạ, thấp kém. Phải sống cao thượng, sống có sự hướng thượng, thánh thiện và tự mình phải như lý tác ý, biết cách như lý tác ý để thay đổi cuộc đời, thay đổi vận mạng của mình, đừng cư trú trong cái thấy biết của phàm phu mà phải an trú vào cái thấy biết của Đức Phật, Thánh hạnh, Thánh đạo để đi đến Thánh quả.