Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÓM TẮT NGŨ UẨN 36

2026-03-18 06:50:21
Tóm Tắt Ngũ Uẩn 36

NGƯỜI XUẤT GIA TU NHƯ THẾ NÀO?

CÁCH TÁC Ý DIỆT THỌ TƯỞNG HÀNH

ĐỘC CƯ THANH CAO

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Người xuất gia tu như thế nào? PAGEREF _Toc188025398 \h 1

II.Cách tác ý diệt thọ tưởng hành PAGEREF _Toc188025399 \h 5

III.Độc cư thanh cao PAGEREF _Toc188025400 \h 11

Người xuất gia tu như thế nào?

Đức Phật dạy chúng ta sau khi thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống, vị Thánh đệ tử chân chánh giác sát, cũng giống như là như lý giác sát, có liên hệ đến câu hỏi của một thầy mà hôm qua

Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử chơn chánh giác sát, thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn". Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong sự ăn uống.

(Kinh Hữu học – Trung bộ kinh – Tập 2, bài 53)

Đây chính là bát đức, ăn “không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh”, thọ trai phải biết tám đức tính, tám khía cạnh này trong khi ăn cơm để tác ý, đây cũng là bài Chánh quán thọ thực trong Nghi thức tu học Nikāya. Đối với người đời ăn uống là một sự vui thú, là dục lạc, họ gặp gỡ và tụ hội trong bữa tiệc như đám cưới, đám hỏi, đám giỗ, đám thôi nôi, người nam gặp nhau rủ đi nhậu, người nữa gặp nhau rủ đi ăn tiệc, đó là dục của thế gian, người đời thích hưởng dục. Người tu mà cũng ham ăn, thích ăn, khoái những món này món kia thì không khác gì người đời, cho nên sự tu là ngược lưu, nghịch dòng là phải biết nhiếp phục, chế ngự, giảm thiểu những thói quen, những thứ người đời thích người tu không thích.

Nếu chúng ta không có chánh niệm tỉnh giác, không được học, không được chỉ dạy thì khi ăn chúng ta cũng thấy vui sướng, ham thích trong những món ăn, như một vị sư cô vừa trình pháp, trong tâm có sự thúc giục ăn cho nhanh, cho lẹ, ăn cho đã thèm món ngon, món mình thích, khi món mình thích bị người khác ăn nhiều hơn mình là lập tức thấy khó chịu, nổi sân, ngay trên bàn ăn nhìn thấy tham sân si, đây là pháp thiết thực, hiện tại, không có thời gian, có hiệu quả tức thời được người trí tự mình giác hiểu, không có cái gì là xa xôi, xa vời mà trong những bữa ăn hàng ngày. Mình khó chịu vì món yêu thích bị lấy đi. Cho nên ăn “không phải để vui sướng” ở đây có nghĩa như người Việt hay nói “ ăn chơi, ăn cho vui”. Người ta thích kiểu ăn nhai nhóp nhép, húp sộp sạp, chấp cháp, hít hà, phát ra tiếng động lớn khi nhai, trong Chánh quán thọ thực Đức Phật dạy phải kiểm soát độ nhai, không cho phát ra tiếng động, không để vang ra tiếng đũa muỗng, nếu chúng ta không nhiếp phục, chế ngự dục tham, thì khó mà giữ được sự trang nghiêm trong khi ăn. Đây chính là Thánh hạnh, là hạnh của các bậc Thánh, chỉ từ những điều nhỏ nhặt.

Ăn cho đẹp da, bổ thận, nhuận trường, đủ thứ kiểu phục vụ cho cái ăn của thân này, trừ trường hợp bị bệnh còn lại không được đòi hỏi hay yêu cầu, nếu không là sai giới luật, người tu không được phép làm như vậy. Thời Đức Phật còn tại thế, chư Tăng đi khất thực, thí chủ cho gì ăn đó, không đòi hỏi, không yêu cầu. Trong thời đại ngày nay người tu phải hết sức hạn chế và cẩn trọng khi đi nhà hàng, ngồi hàng quán, trừ những trường hợp bất đắc dĩ, vì đó là chỗ người đời hưởng thụ, thưởng dục, không phải là chỗ của người tu. Nếu không khéo thì đi đến đâu cũng thấy những đầu tròn áo vuông, điều này chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận lại, có những chỗ tuyệt đối không nên xuất hiện bóng dáng của người xuất gia ở đó. Nhớ kỹ khi xuất hiện ở đâu thì phải suy xét nên có mặt hay không? Có mặt vì mục đích chính đáng hay không? không biết được những điều như vậy thì đó là vô minh.

Ngày xưa, Minh Thành cùng chú quay phim đi xe Honda từ Sài gòn về Bảo lộc, vừa định tấp vào một quán ven đường nghỉ ngơi, mà chưa kịp ngồi xuống đã vội đứng lên đi lẹ vì thấy “nhền nhện” ra tiếp đón, Minh Thành cũng tự kiểm điểm bản thân vì không quán sát thật kỹ trước khi bước vào quán dù nhìn bên ngoài rất là bình thường, khó mà biết được, nhưng Minh Thành vẫn tự trách bản thân không cẩn thận, cẩn trọng mà đi vào quán trong sự thúc dục, lúc đó Minh Thành chưa đi vào trong dòng Pháp Nikāya. Cũng giống như Đường Tăng thấy có nhà thì bước vào xin ăn nhưng không ngờ bên trong toàn là yêu tinh, Bạch cốt tinh, chỉ có Ngộ Không biết. Tức là vô minh, trước khi nói, trước khi làm trong khi suy nghĩ không có sự quán sát, chúng ta tu là đi đến minh. Tùy trường hợp, không phải lúc nào hỏi đến cũng trả lời “ không biết” như một khẩu hiệu của vô minh, phải biết những điều cần biết.

“Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn. Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong sự ăn uống.” Chúng ta phải tập sống đơn giản, không lệ thuộc vật chất, dù sống trong môi trường thiếu thốn, khắc nghiệt nhưng tâm vẫn được an lạc trong Pháp, không phải đòi hỏi món này món kia, chỗ đi vệ sinh phải sạch sẽ thơm tho, vì chúng ta tu là đi chỗ không liên hệ, không lệ thuộc vào vật chất nên trong hoàn cảnh nào cũng sống an ổn. Vừa rồi Minh Thành đi Hồng Kông hoằng Pháp, hướng dẫn khóa tu trong bốn ngày, nghe thì sang nhưng thực tế thì Minh Thành chỉ ở trong một căn phòng nhỏ và năm ngày không tắm. Chúng ta phải tập “Tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc” muốn tiến tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân thì ba việc thường không đủ là ăn, mặc và ở, ăn cái gì cũng được, thậm chí là nhịn đói, mặc một bộ đồ hai ba ngày cũng không sao, ăn chay nằm đất ngủ. Ở Linh Quy, các vị đến tu thì chịu khổ nằm ngủ xếp lớp như cá mòi, chịu thì ở tu còn muốn sung sướng thì ở nhà, trở về núi rừng đơn sơ, mộc mạc, đơn giản, ít muốn, biết đủ, sơn lâm, tối giản.

Mỗi khi trong chùa có lễ đám bỏ tiền mua bông hoa cũng rất tốn kém, Minh Thành ứng dụng tinh thần trong Nikaya, ra vườn nhổ trúc vào trưng, làm thành trúc đạo, không tốn một đồng nào, mà chưng được lâu và các vị lên tu học rất hoan hỷ với không gian thanh thoát, nhẹ nhàng, tiền đó mình in tống kinh sách, làm điều lợi lạc, tạo phước cho Phật tử rất nhiều, có những chuyện chỉ cần giống Phật là đủ, vận dụng tinh thần của Pháp vào trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống ăn mặc ở, kiến trúc, hội họa, khoa học… vận dụng được tinh thần ít muốn, biết đủ, ly tham, tối giản, càng đơn giản càng sống tự do, không lệ thuộc, ở đâu cũng an ổn, bình an.

Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh giữa, vị này nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử chú tâm cảnh giác

(Kinh Hữu học – Trung bộ kinh – Tập 2, bài 53)

Chướng ngại pháp tức là năm triền cái: dục, tham, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi, chúng ta phải diệt được năm triền cái này để cho tâm được nhẹ nhàng, khinh an đi vào sơ thiền. Ngồi đây mà nhớ thương, giận hờn ai đó, thèm khát món đồ nào đó, là tâm không có sự an tịnh, ngồi ngủ gật, lơ mơ, là tâm không có sự tỉnh táo, sáng suốt, ngồi mà thân không yên, tâm ray rứt trong lỗi lầm nào đó thì trí bị che mờ, có khi nghe giảng Pháp mà tâm phân vân hoài nghi do dự về Chánh pháp của Đức Phật, khi tâm chúng ta có mặt năm triền cái này là chướng ngại pháp che đậy tâm làm yếu ớt trí tuệ tác thành không mắt, tác thành mù lòa, tác thành vô trí. Một nội tâm trống rỗng, trong sáng, minh mẫn, tỉnh táo sẽ tiếp nhận được Thánh pháp một cách trọn vẹn. Chúng ta khi được thầy hướng dẫn mà có tâm bực bội, sân giận, chống đối hoặc là có tâm ái luyến hoặc có tâm si mê hôn trầm hoặc có tâm nghi ngờ hoặc có tâm ray rứt những lỗi lầm, nội tâm như vậy không tiếp nhận được Pháp.

Khi tâm có năm triền cái xuất hiện, đó chính là chướng ngại pháp, mà lúc nào đi đứng ngồi nằm, đầu hôm nửa đêm sớm mai mở mắt thức dậy là phải để ý đánh phá, diệt tận. Trong khi nội tâm đầy những chứng ngại như vậy mà không thấy, ngồi thiền chỉ biết nhắm mắt thở vào thở ra, không thấy, không biết, không tác ý đánh đuổi là ngủ thiền, là tu trong vô minh. Phải thường xuyên quay nhìn lại thân tâm và còn phải biết như lý tác ý, điều này là rất quan trọng, thấy tập khí của mình dễ sân giận, dễ bực tức, dễ nổi cáu, dễ phẫn nộ thì lập tức quay vào bên trong la mắng chính những tâm như vậy, người không muốn làm muốn làm chó hay sao, một tiếng động nhỏ cũng sủa lên inh ỏi, lúc nào cũng muốn cắn, muốn táp người, như lý tác ý một cách mạnh mẽ thì cơn sân giận bên trong biết sợ hãi mà lắng dịu xuống, còn mà chỉ ngồi nhìn, cho tự sinh tự diệt thì đến khi nào mới diệt tận được, trong khi các pháp đó đều nằm ngủ ngầm trong cảm thọ mà chúng ta từ vô lượng, vô biên vô số, vô thỉ kiếp không nhìn thấy, đến khi đụng chuyện thì bùng lên như một ngọn lửa thiêu sống mình, đốt nhà, đốt chùa. Cho nên quay hướng vào cảm thọ sân mà lạy xin tha, xin cảm thọ này tan biến hoàn toàn thành mây thành khói thành hư không khỏi tâm ta, mình đã khổ với nó từ vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi, có muốn nán lại tạm trú một phút một giây cũng không cho, năn nỉ, mắng chửi, lạy xin, đánh đuổi, thực hành liên tục như vậy, lấy chổi chà quét sạch chúng ra khỏi căn nhà nội tâm của mình, tu như vậy mới gọi là tu nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt quyết, tác ý đánh đuổi liên tục không ngừng nghỉ thì những nội tâm như vậy sẽ được nhiếp phục, chế ngự, đoạn giản, tẩy sạch, diệt tận, làm cho không còn sinh khởi trở lại trong tương lai, đây chính là như lý tác ý, là quán đúng, là chánh tư duy, là nghĩ đúng của bậc Thánh, là Thánh tư duy, là tuệ lực, là chánh quán phải thường xuyên và liên tục, đừng có nhắc được một hai hôm lại làm biếng không muốn nhắc nhở, dòm ngó là thối lui, là thất bại, cũng như khóa học ba năm mình học ba tháng bỏ giữa chừng thì làm sao tốt nghiệp

Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa ngủ mê,
Người trí như tuấn mã,
Bỏ xa con ngựa hèn.

(Kinh pháp cú – câu 29- Phẩm Tinh cần)

Cách tác ý diệt thọ tưởng hành

Như lý tác ý nhắc nhở liên tục, thấy mình có giận, bực bội, khó chịu nhiều thì sáng trưa chiều tối đều dòm ngó, nhắc nhở, nửa đêm thức dậy ngồi thiền, đem cơn giận ra mổ xẻ, đại phẫu thuật, lôi những hình bóng, lời nói, suy nghĩ, cảm thọ lúc giận lên thì có những biểu hiện như thế nào, sẽ gây những nguy hiểm, tai nạn, gây ra đau khổ cho mình và cho người dài lâu ra sao, viết ra hết những tội lỗi đó ra trên từng gạch đầu dòng, sân này đốt cháy tâm, làm thân mệt mỏi, làm tâm khổ đau, đốt cháy đạo nghiệp, làm cho người ở chung khổ, đưa mình xuống địa ngục…cứ như vậy khai tội hết ra đem đến trước Thánh tượng Đức Phật mà sám hối, mỗi một tội lạy xuống một lạy, lạy sám hối cho đến khi diệt tận một cách hoàn toàn, không còn khả năng sinh khởi trở lại là trở thành bất lai Thánh quả và sau đó trải tâm từ, tâm thương, đó là như lý tác ý.

Dục tham cũng vậy, quán bất tịnh, quán bộ xương, quán ba mươi hai thể trược, đống một đống phân trước mặt, hướng vào cảm thọ dục tham và quán như là đống phân, nhơ nhớp, bẩn thỉu tồi bại vậy mà ham mê, thèm khát, đói khát, khái ái rồi khổ đau. Hướng vào bộ phận phát dục, chỗ này là tồi bại, hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu, súc sinh, tác ý liên tục như vậy ở bất cứ khi nào, đứng đi ngồi nằm, sáng trưa chiều tối, cho dục đi đến diệt tận trở thành bất lai Thánh quả.

Phá gương mặt, vóng dáng, hình hài, hình bóng trong tâm về tự ngã này một cách từ từ, kiên trì, nhẫn nại ngày này qua tháng nọ đến năm kia, hai năm, ba năm, mười năm, ba chục năm cho đến khi trút hơi thở cuối cùng là đoạn tận được dục ái tham sân si vô minh bản ngã, trở thành bậc A-la-hán, cần có sự kiên trì bền chí quyết liệt, không có tu chơi chơi, biết chút chút tưởng đâu hay ho, không còn sự nhiệt huyết, nhiệt tâm, làm biếng tác ý là thất bại. Đó là sự tu các bậc Thánh, là pháp hành của Nikāya, giống như chúng ta thấy những người có đam mê trong công việc hay trong lĩnh vực mà học yêu thích, họ sống chết với nghề, với đam mê, người yêu thích Bonsai nhìn cây gì trong đầu họ cũng tưởng ra được dáng thác đổ, dáng văn nhân, dáng phượng hoàng, dáng lưỡng long trân châu, long phụng sum vầy…người tu thì nhìn cái gì cũng phải ra pháp, nhìn cái gì cũng để diệt tận tham sân si, dục ái, vô minh, bản ngã, phải để tâm tu thì mới thấy pháp còn những người không để tâm tu thì không bàn tới, dù cho có là đệ tử xuất gia mà không nhiệt tâm trong tu học, là còn muốn trôi trong luân hồi sinh tử, trong đau khổ, không phải ai nói cũng dễ bảo dễ dạy dễ nghe, nhiều khi bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả tình thương để hướng dẫn mà không nghe còn quay lại oán trách thì thôi đó là phước duyên của mỗi người.

Bản ngã cũng cần được tác ý liên tục để hạ gục bản ngã này, có biết nhục không mà lúc nào cũng vênh vênh, váo váo, hắc mặt ưởng ngực, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, thật là nhục nhã, cúi đầu xuống, dập đầu quỳ xuống, mỗi khi lạy Phật một lạy cuối xuống là chôn sâu bản ngã xuống lòng đất, mai táng bản ngã, tác ý đánh dập vào cảm thọ nào về tự ngã, những suy nghĩ về tự ngã diệt liền, tác ý ngày này qua tháng nọ, năm này đến năm kia, cuối cùng đi đến diệt tận, trở thành bất lai Thánh quả.

Mỗi khi nhớ về mình là thấy một cái nùi giẻ rách, một bộ xương, một đống tro tàn, một đống thây ma lúc nhúc giòi bọ, một đống trống rỗng, trống không, cát bụi, gió cuốn bay đi không còn một dấu vết, hình bóng tự thân về mình trong tâm tan biến hoàn toàn không còn hình bóng tự ngã trong tâm, đó là thánh trí diệt ngã, đòi hỏi phải có sự nỗ lực kiên trì bền chí, chịu đựng được sự tôi luyện của bậc đạo sư, bậc thiện tri thức, phải chịu đựng những nhát búa bổ thẳng vào đầu, bị quất những vết roi bầm tím thân thể, chịu được sự huấn luyện trong mười năm, ba mươi năm thì mình sẽ trở thành kim cương Thánh trí, thể nhập Thánh trí, bây giờ thật là khó thay, hi hữu hiếm có, khó gặp được người tha thiết chân thành, cầu giải thoát, Minh Thành không nhìn thấy, cả trăm người tu học trên núi, chỉ thấy có được một vài tâm đang hướng tới. “đệ tử tầm sư dị, sư tầm đệ tử nan” đệ tử tìm thầy dễ, thầy tìm đệ tử khó, cầu mong sao có được những người chân thành tha thiết muốn giải thoát để cho pháp này còn có được sự tiếp nối về sau.

Như lý tác ý là rất quan trọng, nhớ thường xuyên quán chiếu. Ví dụ bị người nói lời nặng nhẹ, trong tâm khởi lên cảm giác khó chịu bực bội thì lập tức tác ý, cảm giác này là nùi giẻ rách, có gì để mà khó chịu với ai, thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, xú uế, từ thân cho đến tâm bị chửi là đúng, đúng với cái tâm chứa đựng đầy tham sân si bản ngã, chỉ là một đống tro tàn, chỉ là một hủ cốt, một kẻ ăn xin hèn hạ không có bất cứ một vị trí nào, ngửa tay xin từng miếng ăn, có là gì trên cuộc đời này mà vênh váo hơn thua, một ngày nhắc trăm lần, mỗi lần bưng chén cơm đưa lên miệng là phải quán, đây là bình bát, nhờ đi xin mới có được miếng ăn, gục đầu xuống dù cho thí chủ có quỳ lạy dâng miếng ăn lên thì mình cũng là kẻ xin miếng ăn, thọ nhận sự bố thí, ngay tại trai đường triển khai thiền quán, phải thường quán, không quán thì làm sao tu.

Chúng ta trong lúc học, trong lúc nghe pháp còn quán, trở ra là thường sống trong tâm hôn mê, hoạt động trong vô minh, nói nghĩ làm trong vô minh, hành xử trong bản ngã hơn thua, thấy nhân ngã mình người, ai cũng hiện hữu, cũng là thật mà không thấy pháp, không thấy khổ, bệnh, vô thường, vô ngã, không thấy mang thân này là một nỗi bất hạnh, không lo lắng và sợ hãi, mà khoái mê thích, kiêu căng, kiêu ngạo với thân này thì tu được gì. Nhìn vào thân phải thấy thật là bất hạnh cho ta, thật là không may mắn cho ta khi phải mang vác một tấm thân đầy máu mủ tanh hôi, phân nước tiểu, xú uế bẩn thỉu, bệnh hoạn, gặp một cơn gió cũng lo âu sợ hãi, gặp một cái ho thôi cũng có thể chuyển kiếp, một va chạm nhẹ cũng có thể bể ra như món đồ gốm, thật là bất hạnh, khốn khổ, thật là tai họa cho ta, thật là không hoan hỷ với thân này. Nhìn vào trong gương là thấy được đầu lâu sau lớp da trơn láng, móc nội tạng ra, phá vỡ hình ảnh của tự thân ở trong tâm bằng Thánh kiếm, bằng con dao trí tuệ, chặt ra từng lớp, giải phẫu, mổ ra từng bộ phận, để trong tâm trí hình ảnh về tự thân tan biến, không chấp nhận hình ảnh về tự thân này. Hình ảnh này là hoa phù dung sớm nở tối tàn, hình ảnh của khói mây, chỉ là ảo ảnh của vô minh và khát ái tạo thành, không có ta tôi ai mình nào, không có của tôi, chỉ là một đống khổ, bất tịnh, một đống bệnh tật, một đống tai họa, một đống bất an đầy lo lắng và sợ hãi. Bất cứ khi nào rảnh là nhắc, đi đứng nằm ngồi bất cứ ở chỗ nào đều phải nhắc, lúc đầu là Thánh trí tuệ của Đức Phật, được mình nhắc trong tự tâm một thời gian trở thành 40%, 50% là của mình đem ra xài được, nhắc thêm một thời gian nữa lại được thêm 70%, 80%, lại nhắc thêm nữa cho đến lúc được thể nhập Thánh trí, chứng đắc Thánh tuệ, Thánh tri kiến thành của mình không bao giờ mất, thành tựu, mình và các bậc Thánh là một. Tất cả những sắc thọ tưởng hành thức trong mình là tương ứng với Thánh trí, tẩy sạch phàm tình, những cái nhìn của phàm phu bị xóa sạch, tẩy sạch, diệt tận, bây giờ bên trong là một trí tuệ rực sáng, chói sáng, chiếu sáng, bừng sáng, tỏa sáng về vô thường, khổ, không, vô ngã đối với ngũ uẩn này, thể nhập Thánh trí, tối thiểu là được vào dự lưu Thánh quả.

Định tướng là rất quan trọng, khi chúng ta thường dùng như lý tác ý để quán, có chánh tư duy liên lục thì sẽ có một định tướng ở trong tâm, nếu quán về bộ xương thì bộ xương đó sẽ thường xuyên hiện ra trong tưởng, nhìn trong lớp học này sẽ thấy có 20 bộ xương đang ngồi không có cô A thầy B nào ở đây. Có một vị Tỳ-Kheo tu tập về đề tài thiền quán cốt tưởng, trên đường đi khất thực ngài gặp một cô dâu xinh đẹp vì giận nhà chồng mà bỏ về nhà mẹ đẻ, người chồng chạy theo tìm kiếm và hỏi ngài có thấy một cô gái xinh đẹp vừa chạy qua không, ngài nói chỉ thấy một bộ xương vừa chạy qua chứ không thấy cô gái đẹp nào và trong khi đi khất thực ngài đã chứng đắc A-la-hán, đoạn tận tham sân si, nhờ tu tập định tướng cốt tưởng, hình ảnh về bộ xương thường xuyên, thường trực, thường luôn ở trong tâm không bị mất, hình ảnh bộ xương thay thế cho hình ảnh vạm vỡ, to cao, hắc mặt của mình, đó là dùng tưởng diệt tưởng, lấy độc trị độc.

Cảm thọ khoái thích dục tham được thay thế bằng cảm thọ, sợ hãi, ghê tởm, khủng khiếp, dơ bẩn, thật là nhàm chán, là dùng thọ diệt thọ. Quán cho đến lúc sinh ra sự nhàm chán ly tham, muốn từ bỏ đối với ngũ uẩn, cảm thọ đó thành tựu không mất, luôn luôn có mặt ở trong tâm, nhìn gì cũng thấy nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra những cái yêu thích, khoái, nắm giữ, chấp thủ rơi rụng, rã rệu, mục nát, vữa ra từ từ rồi tiêu dung, tan biến hoàn toàn chỉ còn một cảm thọ nhàm chán nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, bệnh hoạn, tại nạn, khốn đốn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan đầy rẫy những cảm thọ này để diệt cảm thọ kia, đó là dùng thọ diệt thọ.

Dùng hành diệc hành, suy nghĩ cho rằng ta là hay, giỏi, tài ba, không ai bằng, bây giờ tác ý diệt những suy nghĩ đó bằng suy nghĩ thân này chỉ là đống phân, là cầu tiêu di động, là nhà máy sản xuất nước tiểu, là ung nhọt chín lỗ vết thương, là một đống bất tịnh nhơ nhớp bên trong là một nội tâm hôn mê mù lòa, ngu si, chẳng là ai ở trên cuộc đời này, chỉ là hôn ám và si mê, như vậy là dùng suy nghĩ đánh phá suy nghĩ, dùng hành diệt hành, dùng suy nghĩ của trí tuệ diệt suy nghĩ của mê tình, dùng suy nghĩ của thoát ra để tháo gỡ hết những suy nghĩ của trói buộc, dùng suy nghĩ của tuệ giác, của ánh sáng mặt trời chiếu phá vào tâm hôn ám của vô minh. Tu như vậy ở bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, bất cứ trường hợp nào, với một nội tâm như vậy sẽ có sức mạnh thần lực, oai lực, trí lực, mãnh hổ lực, sư vương lực, mãnh hổ lực, tượng vương lực, pháp lức, đạo lực, trí lực, tuệ lực, nguyện lực, oai hùng lực vô biên, gọi là voi chúa phá chòi lá, khi quán thành tựu được như vậy thì tín tấn niệm định tuệ thành tựu, từ ngũ căn biến thành ngũ lực. Lòng tin và sự cố gắng, luôn luôn nhớ về điều đó không quên, chỉ tập trung tâm ý vào một vấn đề đó, còn những vấn đề khác không quan tâm gọi là định và với trí tuệ nhìn rõ bản chất của sự thật thì từ năm căn bản gốc rễ này sẽ biến thành năm sức mạnh của lòng tin, tinh thần nỗ lực, sức mạnh của sự ghi nhớ, sức mạnh của sự tập trung tâm ý và sức mạnh của sự thấy biết đúng chánh pháp, đúng sự thật, đúng chân lý, đúng Thánh trí thì sẽ trở thành năm sức mạnh vĩ đại trong con người mình, vì mình có đủ những vũ khí, pháp khí, pháp bảo chém đỗ, phá nát năm sự chấp thủ trong sắc thọ tưởng hành thức này. Mỗi một sắc thọ tưởng hành thức đều có bảy trí để chém vào, vị ngọt sự nguy hại và sự xuất ly, sự tập khởi và sự đoạn diệt và con đường để thoát ra. Những trí tuệ này chúng ta học và nắm vững, vận dụng để diệt tận sắc thọ tưởng hành thức, đó là như lý tác ý, là quán chiếu, là định tướng, để tẩy sạch các cấu nhiễm, đó là pháp hành của Nikāya.

Đây là bài thi cũng là pháp để chúng ta thực hành hàng ngày, hàng giờ.

Trình pháp: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng thiền đường đại chúng, thầy đã dạy sắc thọ tưởng hành thức là ma, xin thầy chỉ dạy, con muốn được hiểu rõ hơn và con phải tìm hiểu và học ở đâu để rõ biết được điều này. Con xin tri ân sự chỉ dạy của Thượng tọa đã chỉ dạy vì thương tưởng đến chúng con. Năm 2020 con có nhân duyên được lên Linh Quy Pháp Ấn, nhưng lúc đó con chưa đủ duyên để gặp được thầy, con có khấn nguyện trước tượng của Tự tại bồ tát sau lưng Cổng trời, nguyện cho con được gặp bậc thầy, bậc thiện tri thức chỉ dạy cho con trên con đường tu học được rộng mở và sáng tỏ hơn để con đi được đúng với Chánh pháp và ngay sau lời khấn nguyện con gặp được một vị cư sĩ chỉ dẫn cho con những am thất của các vị tu sĩ đang thực hành hạnh độc cư trên núi, như ý nguyện của con cũng đang tìm kiếm một nơi để thực hành độc cư, nhưng con chưa đủ duyên ở lại Linh Quy Pháp Ấn và con cũng đã vào nhập thất ở nơi khác cũng được hơn ba mươi ngày. Trước khi vào nhập thất độc cư một mình nơi xa vắng, con có chuẩn bị đầy đủ kiến thức khi độc cư một mình như trong những trường hợp bị bệnh hoặc những trắc trở bất ngờ đến thì phải xử lý như thế nào và trong thời gian đó có một câu nói mà con chưa được nghe cũng chưa được đọc trong quyển sách nào rằng là “nhân hành chưa xong thì tiên thánh bất thành”, con có suy nghĩ rằng, đạo lực, phước lực, tư cách trong hành trì và đối nhân xử thế chưa được trọn vẹn, nên con quyết định quay về và học lại để cho chỉnh chu, trọn vẹn hơn thì pháp độc cư mới được thành tựu. Con đã độc cư được một hai lần và thấy có sự an lạc, trở về Sài gòn tu học lại với nhiều mơ ước, lúc độc cư có nhiều an lạc và niềm vui nên mỗi tối trước khi ngủ con thực hiện phương pháp làm cho nội tâm nhẹ nhàng trong khi tiếp xúc với Phật tử và với những công việc Phật sự nơi bổn tự, con cảm ơn những phương pháp thầy đã chỉ dạy chúng con và con đã áp dụng được trong cuộc sống, con thấy được tham sân si và những cấu uế trong con được giảm thiểu. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Câu hỏi vừa rồi của thầy, Minh Thành đã có một bài giảng giải thích rất kỹ trong trong khóa tu vừa qua ở trên Linh Quy, lớp học không còn thời gian nên Minh Thành chỉ giải thích ngắn gọn và sẵn duyên thầy hỏi về độc cư Minh Thành đọc cho quý thầy cô một bài kệ về độc cư.

Sắc này làm cho chúng ta tham dục, từ tham dục này mà đi trong luân hồi sanh tử, mải miết tử sanh, cho nên sắc này Đức Phật gọi là mồi nhử của ác ma, những cảm giác khoan khoái và thích thú là mồi nhử của các ma vì nó mà chúng ta không tu được, những hình bóng ám ảnh trong tâm cũng là ma làm cho chúng ta phế hết đạo nghiệp, tâm không an tịnh, mãi thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái đó là ma. Chính vì Sắc thọ tưởng hành thức này mà chúng ta không giải thoát được, chúng ta bị trói cột, phải mang những thây ma, thân này chính là ma, vì có dục ái trong ngũ uẩn này nên có sống có chết, sống chết sinh tử là ma, còn khổ tức là ma, còn dục tức là còn nằm trong lãnh vức, giới vức của ma.

Trong kinh Nikaya từ ma có ý nghĩa rất là sâu sắc, Niết bàn là bất tử, ngoài ra còn nằm trong thân ngũ uẩn đều là lãnh địa của ma, còn trong sinh tử, còn trong sắc thọ tưởng hành thức, còn trong tham sân si dục ái là còn trong phạm trù của ác ma. Hiểu một cách vắn tắt là như vậy. Ví dụ khi thấy một người đẹp chúng ta bị cuốn hút, đó chính là ma.

Có một câu chuyện vui về cố Hòa thượng trụ trì Chùa Chuông ở Miền tây An Giang, một hôm có nhiều phật tử nữ ăn mặc hở hang vào chùa lễ Phật, sư ông cho gọi các đệ tử vào phòng đóng cửa lại hết, có ma vào chùa tấn công Phật. Ví dụ này giải thích rõ ràng về ma, dục lạc là ma, năm dục trưởng dưỡng là ma, sắc thanh hương vị xúc, sắc thọ tưởng hành thức vì những thứ này mà chúng ta không tu được, tâm bị trói cột, bị ám ảnh, bị thèm khát, bị luân hồi sinh tử, sống trong những thây ma như vậy, sống chết dài dài không thoát ra được

Độc cư thanh cao

Độc cư ẩn sĩ hạnh thanh cao

Xa lìa trần cấu tâm lào lào

Nước trong trăng hiện soi sao tỏa

Bụi sạch gương sáng chiếu trời cao

Độc cư làm bạn với núi rừng

Mây đến chơi nhà, khách chim muông

Cây cỏ đồi xanh, hàng xóm tốt

Trời cao đất rộng lòng nhẹ buông

Độc cư chiêm nghiệm thế gian này

Gian dối, giả dối, dối trá đầy

Tu hành trực hạnh chân, chân chánh hạnh

Nhớ ơn biết ơn bậc chân nhân

Độc cư suy ngẫm kiếp con người

Tham lam tham muốn, tham suốt đời

Từ trẻ tới già săn tìm dục

Bệnh tật đến chết, khổ chưa ngơi

Độc cư quán chiếu kiếp nhân sinh

Vô minh che kín mắt hữu tình

Bản ngã chấp chặt và năm uẩn

Cống cao ngã mạn chịu ngục hình

Độc cư tĩnh lặng nhìn thấu đáo

Bát chánh độc tôn cũng độc đạo

Thấy đúng nghĩ đúng nói lời đúng

Làm đúng, sống đúng, siêng quán định

Tám đúng tối thắng nhất trên đời

Nếp sống sáng ngời thật thanh cao

Nỗ lực diệt tận tám tà đạo

Thực hành chánh đạo mới đổi đời

Độc cư công đức khó nghĩ bàn

Tâm an, thiên nan như vạn nan

Khó nhất trên đời là thấy lỗi

Nhận lỗi, sửa lỗi hết lỗi sai

Độc cư nhìn lại thân tâm ta

Thanh lọc bên trong những hạnh tà

Diệu hạnh, trực hạnh, chơn chánh hạnh

Ứng pháp hành, gắng sức thiết tha

Độc cư nhìn kỹ hết trong ngoài

Kiểm tra, kiểm điểm, kiểm soát hoài

Thọ tưởng hành nhơ liền rửa sạch

Rửa đến khi nào chúng tịnh thanh

Độc cư thỏa dạ chí bình sanh

Ước mong tới nay đã bao năm

Tháng ngày tịch lặng trong nội quán

Vui vầy hỷ lạc chốn sơn lâm

Độc cư tỉnh tọa ngắm trời mây

Tâm thương trải rộng khắp núi đồi

Bi tâm từ mẫn tràn vũ trụ

Cả thảy địa cầu trong tâm tôi

Độc cư thầm lặng cười với ta

Vui thay, vui thay nay mình đã xuất gia

Ra khỏi căn nhà lửa đỏ rực

Một mình thư thới chạy rất xa

Độc cư nói chuyện với chính mình

Nhớ mãi lời dạy, dặn lòng mình

Đạo sư Thánh ngữ, tâm ghi khắc

Pháp nhũ thâm ân nào dám quên

Độc cư nhủ lòng tự nói lòng

Cô độc truyền thừa Thánh trí thông

Âm thầm lặng lẽ hành trì pháp

Thành tựu chánh pháp đáp ân thâm

Độc cư thanh thản lòng rảnh rang

Không danh, không lợi, ngã không màn

Không lo không tính không sợ hãi

Không tranh không chấp không tử sanh

Độc cư nhàn tĩnh quá tuyệt vời

Thong thả ung dung lặng trầm tư

Bao đời dục ái tham sân mạn

Tới nay ngao ngán thoát ra mau

Độc cư an tịnh lắng dịu thiền

Trở về núi rừng cảnh thiên nhiên

Non xanh mây bạc vầng trăng sáng

Suối chảy hoa trôi giữa rừng thiên

Độc cư an lạc thật khó ngờ

Ra vào cứ tưởng mình trong mơ

Bao năm vất vưởng theo trần cảnh

Giờ chỉ một mình diệt chính ta./.

Cảm thọ chúng ta như thế nào sau khi nghe bài kệ, có muốn trở về độc cư nơi núi rừng không? Đề thi Minh Thành đã gửi về văn phòng cho quý thầy cô, đề thi rất dễ. “Tăng ni sinh hãy trình bày pháp hành Nikāya mà mình tâm đắc, vận dụng vào đời sống sinh hoạt hàng ngày như thế nào?” đây là đề thi.

Có một sư ngồi nghe thiền quán trong sự thúc dục, không có sự an tịnh lắng dịu, Minh Thành đọc bài kệ cũng là để cho chúng ta thiền quán, không phải chỉ nghe một bài thơ thông thường, tâm chúng ta phải đi vào theo bài thiền quán, đọc đến đâu là thọ tưởng hành hiện ra đến đó, giống như chính mình đang ở trong đó là mình thực tập thiền quán. Chúc cho quý thầy cô có một kỳ thi thật tốt đẹp, đủ duyên thì gặp lại mà hết duyên thì qua đời khác, nhớ kỹ vô thường đừng quên.

Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này, tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la./.