Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 10

2026-03-18 06:50:21
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 10

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tẩy sạch tâm cấu uế PAGEREF _Toc155021292 \h 1

II. Pháp quán PAGEREF _Toc155021293 \h 2

III. Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc155021294 \h 6

I. Tẩy sạch tâm cấu uế

Phương pháp Tám đúng là phương pháp chân chánh, là phương pháp đúng đưa đến sự thấy biết rõ về ngũ uẩn, tẩy sạch vô minh, tẩy sạch lòng tham ái đối với những ngũ uẩn phiền phức và lẩn quẩn này.

"Rồi Thế Tôn, thời ấy nói lên cảm hứng ngữ như sau:

Không bệnh, lợi tối thắng,

Niết-bàn, lạc tối thắng,

Bát chánh là độc đạo,

An ổn và bất tử" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)

Tâm cấu uế, tâm uế nhiễm, tâm có dục, ái, tham, sân, si đưa đến sự luân hồi, sanh tử, phiền não và khổ. Do đó, muốn thoát ly sanh tử và phiền não thì phải tẩy sạch các cấu uế của tâm. Muốn tẩy sạch các cấu uế của tâm thì phải nhìn thấy các cấu uế của tâm. Muốn nhìn thấy các cấu uế của tâm thì phải nhìn thấy nội tâm, phải thấy biết cái gì đang vận hành, đang hoạt động, đang chi phối, đang dắt dẫn trong tâm, đang dẫn tâm đi trong tham sân si, dục, ái.

Và cái đang hoạt động, đang dắt dẫn tâm đi trong dục, ái chính là vô minh, là sự không thấy biết rõ ngũ uẩn đang vận hành như thế nào trong thân tâm và lầm lũi đi theo những tham, sân, si đối với ngũ uẩn. Như vậy, muốn thấy biết rõ những cấu uế trong tâm thì cần phải thấy biết rõ ngũ uẩn. Muốn thấy biết rõ về ngũ uẩn, thì phải nương theo trí về ngũ uẩn mà Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên thuyết chứ không thể tự mình suy tư để thấy biết.

Đây là chỗ rất quan trọng quyết định sự tu hành thành-bại, đắc-thất của chúng ta. Toàn bộ sự tu hành của mình là quá trình tẩy sạch tâm cấu uế, toàn bộ sự tu hành của chúng ta là công cuộc, quá trình thanh lọc tâm, tẩy sạch cấu uế bên trong tâm. Muốn tẩy sạch những dơ bẩn, uế nhiễm trong tâm thì mình phải thấy được cái dơ bẩn đó, nếu không thấy thì làm sao tẩy được?

Muốn thấy được cấu uế đó thì phải nhìn vào nội tâm, còn nhìn ra ngoài thì làm sao thấy được cấu uế trong tâm, nhìn lại tâm chính là nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhận diện lại thân tâm của mình. Thân của mình đang đi như thế nào mình không biết, đang ngồi như thế nào mình không cảm nhận được cảm giác toàn thân, cách ngồi của mình có trang nghiêm không, có ngay thẳng không, đứng có đàng hoàng không, đi có chánh niệm không, cái thân của mình mà mình không biết thì mình tu cái gì cho nên điều đầu tiên trong Tứ Niệm Xứ chính là quán thân, tức là hình thể, hình tướng, hình thức, hình hài phải được nhìn thấy, phải được biết vì đây là cái dễ nhất, cái thô nhất vì thế Tứ Niệm Xứ rất tuyệt diệu, không thể có pháp hành thứ hai so sánh được. Nếu hình sắc, hình hài này mà mình còn không thấy thì làm sao thấy được những cái nhỏ nhiệm, không có hình tướng trong tâm?

II. Pháp quán

Cho nên đầu tiên phải quay trở về nhận diện thân của mình, từ chỗ mình thấy được hơi thở, oai nghi, hành động, mình thấy được những cái gì kết thành thân này, thấy được thân này có bao nhiêu thành phần, cấu tạo, nó sanh khởi ra sao, nó hoại diệt trải qua quá trình thế nào thì đó là trí tuệ thứ nhất, lãnh vực thứ nhất, phạm trù thứ nhất, sự tu học thứ nhất mà bậc Thánh đệ tử phải thành tựu. Từ sự thấy được những cái thô, hình thức, hình thể, hình dáng này rồi thì Đức Phật đưa mình vào nhìn cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, đây là cái gắn liền, là gạch nối giữa thân và tâm.

Khi mình giận ai thì nhìn mặt mình là người ta biết ngay, khi mình nổi nóng lên người ta nhìn biết ngay, khi mình thương ai nhìn vào cũng biết ngay. Khi mình giận ai hoặc thương ai thì mình sẽ có những biểu ra ngoài, mình tiếp xúc mình sẽ cảm nhận được thành ra cảm giác là cái nối liền giữa thân và tâm, đó là lý do có thọ thân và thọ tâm và hai cái này ảnh hưởng với nhau. Ví dụ trưa không ngủ phải đi học thì thân hơi mệt cho nên tâm mình không được minh mẫn, ngồi ngáp, mắt lờ đờ, đó là thọ thân ảnh hưởng thọ tâm và do không đủ sức mạnh của tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh lực, trượng phu lực, nhiệt tâm tu học không đủ cho nên bị cảm thọ mệt của thân đánh và cảm thọ tâm, vì vậy cảm thọ là bước thứ hai mà chúng ta quán chiếu.

Bước thứ ba đi vào quán tâm thì còn có thêm tưởng; hành; thức, ở bước này tâm phải rất nhạy bén, trong sáng, ghi nhận, thấy biết một cách thiện xảo để không những nhìn được thân, cảm giác mà bây giờ còn nhìn ra được tưởng; hành; thức, hình bóng được nhìn thấy, những lời nói lầm thầm được nhìn thấy, những sự rõ biết được nhìn thấy, đó gọi là quán tâm trên tâm, tới đây là bắt đầu rất vi tế, còn đi tới quán pháp thì trí huệ phải hết sức sắc bén nhưng vì vô minh nên mình không biết. Ngồi học mà thấy mệt mỏi, ngáp dài ngáp ngắn, mặt mũi bơ phờ, mình không biết những phương pháp tác ý, đánh đuổi những cái đó ra khỏi thân tâm mình, mình hoàn toàn bị những cảm giác đó xâm chiếm, áp đảo, chế ngự nên mình biểu lộ ra cái thân mệt mỏi, đáng thương. Vì thế khi mình quán tâm là bắt đầu đi tới tưởng; hành; thức cộng với thọ.

Tiến thêm một bước thâm sâu hơn, cực kì tế nhị, tinh vi hơn là quán pháp, quán ngũ uẩn, quán lục căn, sáu xứ, sáu trần, quán Thất Giác Chi, quán rất nhiều pháp thì lúc đó tâm mình phải rất tinh minh, tinh anh, tinh tường, tinh cần thì mới có thể quán pháp nổi. Quán pháp thì đầu tiên phải quán năm triền cái, tức là đầu tiên mình phải biết được hiện tại bây giờ trong tâm mình đang có pháp gì, pháp bất thiện hay pháp thiện, nếu là pháp bất thiện thì dùng gì để xử lý cho hiệu quả. Ví dụ trong đó có Niệm Giác Chi thì mình phải tập trung phát triển cái Niệm Giác Chi đó cho lớn mạnh.

Bây giờ Thất Giác Chi là gì mình còn không biết, mặt mũi không biết thì làm sao nhìn ra tánh tình, Tứ Niệm Xứ là pháp tu của bậc đại Thánh, chí Thánh chứ không phải chuyện đơn giản. Bình thường tâm chúng ta là một nội tâm hôn mê, vô minh và si ám cho nên khi mình không được hướng dẫn đúng pháp, tinh cần, tinh tấn, ẩn dật viễn ly, độc cư thiền định thì không thể nào chúng ta nhìn ra được các pháp, trong chúng ta lại nuôi lớn bản ngã, cao ngạo, ta đây cộng thêm tham, sân, si, đó là lý do bây giờ là thời mạt pháp, không được học với các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không được học với các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh nên cho sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cho cảm giác là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cho tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, trừ khi nào gặp được các bậc thành tựu Thánh trí huệ thì mới chỉ ra cho mình thấy một nội tâm ô uế, bẩn thỉu và đầy rác bẩn, lúc đó mình mới tinh cần, tinh tấn đem hết tất cả tâm sức của mình quay trở về hướng nội, nội soi, nội quán, bắt đầu nội chiếu thì từ từ mình mới thấy một nội tâm khủng khiếp, khiếp đảm, kinh hoàng của chúng ta.

Nếu tu không đúng chánh pháp, không được bậc chân nhân chánh kiến hướng dẫn đúng pháp thì cái tu của mình là tu trong vô minh, tu trong bản ngã, tu trong dục, trong tham, làm sao thành tựu các thánh quả, làm sao có khả năng nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch tất cả tham, sân, si, vô minh, dục ái? Cho nên cả một công cuộc thanh lọc tâm cấu uế, cấu nhiễm. Làm sao để pháp được vô minh? Đó là phải thường xuyên nhận diện ngũ uẩn để nhớ hoài không quên, đây là cuộc chiến cam go, khắc nghiệt, người tu là một cuộc nội chiến.

Bây giờ đa số tu theo phàm phu cho nên làm sao đạt được thánh trí. Chúng ta có biết những cách mà mình đang thực hành là của ai đưa ra không? Mình không căn cứ vào tận nguồn trong tạng kinh Nikāya mà mình chỉ nghe nói đến tổ này tổ kia hoặc là người này người kia rồi mình làm theo, xưa bày nay làm, người ta sao thì mình như vậy mà mình không suy xét đến tận cùng căn nguyên nguồn cội của pháp, mình quá hời hợt, mình quá dễ tin, mình rất dễ dàng chấp nhận cho nên trong A-hàm dịch Đức Phật là pháp bổn, là gốc của pháp, Phật là pháp chủ là chủ của pháp, Phật là pháp nhãn là con mắt của pháp, còn trong kinh Nikāya nói tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ, Thế Tôn là căn bản của tất cả pháp, tất cả pháp là từ nơi Thế Tôn mà tuyên thuyết ra.

Cho nên cái chung chung của chúng ta bây giờ là tu theo tổ chứ không đi theo Phật, tu theo những người sau nhưng thử suy nghĩ xem có một người nào có thể so sánh được với bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không? Chính chỗ này là nguyên nhân làm cho mạt pháp, điều này rất thâm sâu chứ không phải đơn giản có thể hiểu được.

Tâm của chúng sanh là một cái tâm vô minh, tâm si mê, tâm dễ dàng tin và chấp nhận vì nó hợp với những cái mình thích, mình khoái, tức là hợp với dục, ái, tham của mình, tu để hưởng cái này cái kia nên thích. Cái đó không phải là chánh pháp của Đức Phật, Phật không có dạy như vậy, Phật dạy tu là để từ bỏ dục tham. Chính dục và tham làm cho mình khổ nhưng tại sao tu lại để phát triển dục tham lên?

Nếu mình dục tham đối với sự chứng ngộ vô thường, khổ, vô ngã thì cái này được vì đây là Dục Như Ý Túc, còn nếu dục tham để tu sau này hưởng được cái này cái kia cho sung sướng thì Phật không có dạy như vậy, chớ có lầm tưởng. Toàn bộ giáo pháp của Đức Phật là giáo pháp ly tham tối thượng, ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đây cũng là định lý chứng ngộ của Đức Phật, tất cả lời dạy của Đức Phật từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc không rời chữ "ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức". Cho nên tâm vô minh đó không thấy không biết sự hoạt động, dẫn dắt, vận hành, nó đi theo tham, sân, si, bản ngã đó.

Và trí về ngũ uẩn mà Đức Phật đã tuyên thuyết chính là Tứ Thánh Đế. Tứ Thánh Đế là bốn sự thật về ngũ uẩn trong thân tâm này cần phải thấy biết để đi vào con đường diệt tận tham sân si, diệt tận những sanh tử, phiền não và khổ đau. Cần phải thấy biết rõ về thân tâm, đó là cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo, cánh cửa đầu tiên của Phương Pháp Tám Đúng. Từ sự thấy biết đúng về thân tâm này thì mới có thể tiến hành điều chỉnh thân tâm, tẩy sạch dần những cấu uế bằng sự điều chỉnh thân hành, khẩu hành, ý hành vào con đường chân chánh đưa đến sự tẩy sạch cấu uế, tức là phải suy nghĩ đúng, nói lời đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ, định đúng cách.

Nhờ thân khẩu ý thực hành tám cái đúng này mà tâm ô nhiễm có thể tẩy sạch tất cả những ô nhiễm. Muốn tẩy sạch tham sân si thì phải nhìn thấy tham sân si và tiến hành tẩy sạch tham sân si, đó là cách duy nhất, cách độc nhất để làm điều này. Muốn thoát khỏi sanh tử thì phải biết được cái gì là sanh tử và phải từ bỏ cái sanh tử đó, đó là cách duy nhất, là cách độc nhất để thực hiện điều này. Muốn thoát khỏi phiền não thì phải biết được cái gì là phiền não và tiến hành sự tẩy sạch phiền não đó, đó là cách duy nhất, cách độc nhất để tẩy sạch phiền não. Đó là ý nghĩa của câu kinh "Bát chánh là độc đạo đưa đến an ổn và bất tử".

III. Tứ Thánh Đế

Ở đây chúng ta nghe Tứ Thánh Đế là bốn sự thật về ngũ uẩn, Tứ Thánh Đế bình thường chúng ta học là Khổ Thánh Đế, Khổ-Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Thánh Đế, Đạo Đế. Như vậy ở đây là kết hợp Tứ Thánh Đế và ngũ uẩn, trong Nikāya nói rất kỹ về khổ.

"Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)

"Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ", câu này tóm thâu hết tất cả pháp nghĩa của Khổ Thánh Đế, những cái khổ kia ở khía cạnh rất nhỏ. Ví dụ sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ thì những cái khổ này thuộc về sắc uẩn, mong cầu là không được, ghét mà phải gặp nhau, thương yêu mà phải xa lìa thì nằm gần trên sắc và thọ, nó không nói đầy đủ, bao quát tận tường tất cả mọi khía cạnh của khổ đau.

Nhưng khi nói năm thủ uẩn là khổ thì mới lột tả được hết sự thật về khổ mà Đức Phật chứng ngộ, cảm giác cũng làm cho mình khổ, chỉ riêng cái buồn ngủ cũng khổ với nó, mình không muốn ngủ mà cứ ngủ cho nên ngồi thiền không được. Đói cũng làm mình khổ, no quá cũng làm mình khổ, cái gì cũng làm cho mình khổ được, suy nghĩ cũng làm mình khổ, chuyện đó cứ ám ảnh trong đầu làm suy nghĩ mãi không dứt được cho nên điều thâm sâu trong Nikāya nói về Khổ Thánh Đế là nỗi khổ của những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức, còn bình thường khi học chỉ biết cái khổ trên sắc uẩn thôi, đói, túng thiếu, lạnh lẽo, không có ăn là khổ thì tất cả đều là ở trên sắc uẩn, còn thọ; tưởng; hành; thức không có, trong khi tâm mình đến bốn phần, cái sắc chỉ có một. Mình cứ nghĩ nghèo là khổ, đói là khổ, bệnh là khổ, ăn xin là khổ đều là sắc uẩn nhưng khi đi vào Nikāya mới nhìn ra bốn cái uẩn phía sau.

Cảm giác dục làm cho mình khổ, mình không muốn nhưng bên trong tâm cứ thúc giục, thèm thuồng, khao khát, Đức Phật dùng từ "khát ái", người ta có thể tán gia bại sản, thân bại danh liệt vì ái dục. Cảm giác đó giết người, những người vào tù thì họ không muốn như vậy nhưng vì lửa trong cảm giác đốt cháy, tức quá nên làm cho hả dạ, như vậy người này bị cảm giác làm cho khổ đau, do tâm nắm chặt vào trong cảm giác tức giận đó không mở ra được. Hình bóng đó làm cho mình khổ đau, yêu đương rồi chia tay nhưng không thể sống thiếu nhau, chỉ muốn chết chứ không sống nổi, những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đó cứ ám ảnh mãi không chịu nổi nên chỉ muốn chết chứ không muốn sống.

Những người thù hận cũng giống như vậy, nhớ lại là tức giận hoài, những người bị trầm cảm cũng vậy, nhớ lại chuyện này chuyện kia rồi đắm mình trong những cảm giác, suy nghĩ đó, không đi ra khỏi những cảm giác, suy nghĩ đó và trí ngũ uẩn này giúp trị bệnh trầm cảm rất hay. Học để giúp mình trước rồi giúp người ta sau vì khi nhận diện được ngũ uẩn thì rất dễ dàng thoát ra khỏi trầm cảm vì trầm là chìm, cảm là cảm thọ, cảm giác, trầm cảm là đắm chìm trong cảm thọ, bây giờ ra khỏi cảm thọ thì hết trầm cảm.

Cái khổ thật sự của chúng sanh là tâm nắm giữ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Bản thân con ở trong một am tranh trong rừng, trong núi vẫn thấy hạnh phúc, thậm chí ăn mì gói, cơm nguội một mình trong am tranh nhưng vẫn thấy hạnh phúc, an lạc còn hơn ở trên trời. Như vậy không phải là lâu đài, chùa lớn mới quyết định làm cho mình hạnh phúc, Đức Thế Tôn là người bỏ lâu đài để làm kẻ ăn xin thành ra vấn đề khổ đau hay hạnh phúc là do cách nhìn đúng hay sai, điều đầu tiên của Bát Chánh Đạo là thấy đúng của bậc Thánh, gọi là Thánh tri kiến. Một khi thấy sai thì trong hoàn cảnh nào mình cũng khổ, còn khi đã thấy đúng thì ở đâu cũng an lạc nhưng muốn được cái thấy đúng này là cả một quá trình tẩy rửa cái thấy sai, từ bỏ, loại bỏ cái thấy sai, suy nghĩ sai, nhận thức sai trong thời gian dài tu tập.

Ví dụ để loại bỏ ý nghĩ cái chuông này là của tôi thì mình phải từ bỏ suy nghĩ đó thì cần phải có thời gian quán chiếu, chiêm nghiệm, tác ý, mình từ bỏ suy nghĩ cái thân này là của tôi, từ bỏ nhận thức đó, cần phải trải qua quá trình thấy đúng, nghĩ đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng nhưng điều đầu tiên là phải thấy đúng và thấy đúng là phải thấy năm thủ uẩn này là khổ.

Cho đến khi nào mình cầm bao thư người ta cúng mà thấy đây là khổ, không có vui sướng gì cả, cho đến khi nào người ta đảnh lễ, lạy dưới chân trong khi mình tu mà không có giới đức, trí tuệ thì đây là khổ, cho đến khi nào mình được giao cho ngôi chùa mà mình thấy đây là khổ thì mình mới bắt đầu có trí tuệ, trí tuệ mới bắt đầu khởi động trong con người mình. Nếu tâm còn thèm thuồng, tìm kiếm, khao khát thì vẫn còn phàm phu, còn mê muội, vô minh, còn khát ái.

Cho đến khi nào nhìn vào tấm thân mình mà thấy đây là bao máu mủ, mệt mỏi với nó, đói cũng mệt, lạnh cũng mệt, thấy mang vác tấm thân này là một sự khó chịu, phiền phức thì mình bắt đầu có trí tuệ, những suy nghĩ, nhận thức, cảm giác này tập nhàm chán nó, tập từ bỏ nó, tập thoát ra khỏi nó, đó chính là đạo lộ của bậc Thánh.

Trong tạng kinh Nikāya chỉ toàn nói về dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đây là những điệp ngữ vô tận trong kinh Nikāya, đó là định lý, là tất cả kẻ thù trong vô lượng vô biên kiếp của chúng ta nằm trong những chữ đó, đó cũng là đề tài thiền quán, quán chiếu từ bây giờ cho đến ngày chết. Không được quên điều này vì nó là kẻ thù của mình, nó là nguyên nhân làm cho mình đau khổ mà bậc Thánh chứng ngộ, nó là Khổ-Tập Thánh Đế, chính tham, dục, ái, vô minh, bản ngã làm cho mình khổ chứ không có bất kì ai bên ngoài làm cho mình khổ. Mình đừng nghĩ rằng tại cô kia, tại người này, tại người nọ làm mình khổ mà những thứ đó trong tâm còn nên làm mình khổ đau.

Ví dụ bình bông này không phải của mình nên nó có rơi rớt, bể nát, gãy cành cũng không làm mình khổ đau, bây giờ đến tấm thân này nằm đó lấy hơi lên sắp ra đi thì mình cũng phải quán chiếu "đây là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó là pháp biến hoại, nó là pháp vô thường, là pháp duyên sanh, tiêu ma, hoại diệt. Nó tan hoại là đúng rồi, bản chất nó là như vậy, bản tánh nó là như vậy", vậy là tâm mình an nhiên, đạt được tâm bất động giải thoát nhưng muốn được như vậy là cả một công trình quán chiếu, tu học trong từng suy nghĩ, phải loại bỏ suy nghĩ của vô minh và tham ái.

Phải tu trong từng suy nghĩ chứ không phải đợi đến giờ tụng kinh mới lên tu, tu trong từng cảm giác, trong từng hình bóng trong tâm, tu như vậy mới đi đến tẩy sạch cấu nhiễm của tâm, tu như vậy mới lột hết tất cả những tập tánh của phàm phu, tu như vậy mới phá vỡ được vô minh, đập tan thân kiến, mới thể nhập được Thánh trí vô ngã, tu như vậy mới diệt tận tất cả những dục ái, thèm khát, khao khát trên cuộc đời này.

Con đường Khổ Diệt Đạo Thánh Đế là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với ngũ uẩn. Ái tận là giải thoát, sự yêu thích, ham muốn đối với ngũ uẩn này chấm dứt, không còn nữa thì lúc đó giải thoát. Dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba đề bạch Thế Tôn mình đã lớn tuổi, không còn nhiều thời gian nên người muốn Thế Tôn dạy cho pháp vắn tắt nhất để tu, Thế Tôn nói thấy ái ở đâu thì đoạn ở đó, bà thực hành theo lời Đức Phật thì trong thời gian ngắn diệt tận hết dục, ái, tham, sạch hết các lậu hoặc, chứng Thánh quả A-la-hán, trở thành Thánh tổ thứ nhất của Ni đoàn thời Đức Thế Tôn còn tại thế, như vậy ái tận là giải thoát.

Bây giờ chúng ta nghe câu này thấy bình thường, chúng ta không thấy được nó thâm sâu như thế nào vì đó đều là những vị đã thành tựu chánh tri kiến, Đức Phật đã chỉ dạy cách nhận diện ngũ uẩn, Đức Phật đã chỉ cho các vị ấy thành tựu trí nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn cho nên các ngài nhìn ra được hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa, tất cả những phương diện, khía cạnh, ngóc ngách của dục, tham, ái trú ẩn cho nên các ngài diệt nó mới tận hang ổ. Còn mình bây giờ không thấy, thứ nhất là không được hướng dẫn, thứ hai là hướng dẫn rồi cũng bị bỏ qua, thứ ba là không tinh cần, tinh tấn, không nỗ lực, không dốc toàn bộ tâm sức vào đó cho nên sự tu học của mình không có kết quả như thời Đức Phật còn tại thế.

Nhìn ra xung quanh mình dục, tham, ái đầy rẫy mọi nơi, tiếp xúc sẽ sanh ra thọ, ra dục, ra nghiệp, chưa hết giờ nhưng nghe tầng dưới hồi hướng là trong người có sự thúc giục muốn về. Tâm buông lung phóng dật, làm biếng, giải đãi của chúng sanh chỉ muốn về sớm, chính những cái tâm này làm cho mạt phát vì không còn hân hoan, thích thú trong pháp nữa, chỉ muốn thả lỏng, rong chơi, thích buông thả chứ không thích an trú trong pháp.

Nguyện đem công đức này hướng vế khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.