Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 15

2026-03-18 06:50:21
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 15

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lấy Chánh Pháp làm ngọn đèn PAGEREF _Toc145750240 \h 1

II. Như Lý Tác Ý đối với năm uẩn PAGEREF _Toc145750241 \h 5

I. Lấy Chánh Pháp làm ngọn đèn

Rõ biết trước mặt, pháp thứ hai là rõ biết toàn bộ cảm nhận cơ thể, gọi là cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu dài xuống mặt, vai, tay, lần lần xuống ngực, lưng, xương sống, mông, chân, ống chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, đây Đức Phật gọi là cảm giác toàn thân, tức là cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Sau đó chúng ta nhìn lại hình bóng trong tâm, những suy nghĩ trong tâm, cảm giác bên trong của mình, rõ biết thọ; tưởng; hành bên trong, đây gọi là nội tâm tỉnh giác. Đó là ba pháp chúng ta thực tập xuyên suốt, bất cứ mọi lúc mọi nơi, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Sau này vào đầu giờ mỗi buổi học chúng ta đều thực tập ba pháp này để thân an tịnh, tâm lắng dịu thì mới tiếp nhận được những cái pháp sâu sắc trong sự thực tập.

Ba pháp này sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều trong sinh hoạt thiền môn, khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi nói, nín, thức, ngủ, im lặng, khi tiếp xúc mình sẽ sử dụng ba pháp này. Trước nay chúng ta hay sử dụng hơi thở, chúng ta quen ngồi thiền nhắm mắt lại thở ra thở vô, giờ này trưa nhưng chúng ta không nghỉ trưa nên nhắm mắt lại là đi vào trạng thái mê. Khi chúng ta ngồi thiền con chỉ cần nhìn qua là con biết mình đang tỉnh hay mê, cái nhắm mắt của mình rơi vào trạng thái hôn trầm hoặc gần như hôn trầm thì nhìn vào sẽ biết cho nên hôm nay buổi đầu tiên học thì mình nhắc lại ba pháp để chúng ta nhớ mà thực tập, còn cách thức đã nằm trong quyển "Pháp hành Nikāya căn bản".

Trong giới hạn trí tuệ của vị hữu học, giới hạn của vị đã thấy rác trong nội tâm và đang thực hiện việc hốt rác, quét rác, hút bụi và lau chùi căn nhà nội tâm của mình nên chắc chắn chúng tôi có khá nhiều những sơ suất trong lời nói, hành động và suy nghĩ, vì vậy, xin quý đạo hữu hãy “y pháp bất y nhân”, tuy nương theo sự giảng giải của chúng tôi để hiểu ý nghĩa của lời kinh, nhưng xin hãy nhớ “luôn bám chặt vào lời kinh”, luôn quay về lấy kinh làm gốc, lấy lời Phật dạy làm điểm tựa, tránh xa mọi sự giảng giải không theo sát kinh điển, đối với những kiến giải của tự thân không được thoát nghĩa quá xa so với lời kinh và cần phải thực hành tu tập sự nhận diện ngũ uẩn theo đúng tinh thần trong kinh Đáng Được Ăn và kinh Thủ Chuyển.

Trong khi tu tập sự nhận diện ngũ uẩn thì không nên tự động thêm bớt gì vào những lời Đức Phật đã giảng dạy, không tự mình đặt ra thêm ý này ý kia mà phải luôn bám sát vào lời Phật dạy. Khi bất cứ một tri kiến nào khởi lên mà không đúng, không giống với những gì Đức Phật đã chỉ dạy, thì ngay lập tức chúng ta hãy từ bỏ những tri kiến này, hãy từ bỏ những suy nghĩ này, vì sao? Vì chúng ta không phải là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nên những thấy biết của chúng ta thật không đáng tin tưởng, không nên tin tưởng, nếu như không muốn nói rằng đó chỉ là những tư tưởng, những cảm xúc, những sự thấy biết chỉ lẩn quẩn trong vô minh đối với ngũ uẩn. Vì vậy, chúng ta nên từ bỏ ngay những tri kiến khác lạ sanh khởi trong quá trình tu tập nhận diện ngũ uẩn, để không lạc lối khỏi con đường đưa đến sự giác ngộ giải thoát, không phải “tiền mất, tật mang”, uổng phí công sức tu tập của tự thân và lại còn hướng dẫn những tri kiến sai lầm cho những vị có duyên cùng chúng ta. Một sự thật trong cuộc sống này là không thể có ai có thể tự mình tu tập, rồi tự chứng ngộ trí tuệ chân chánh và sự giải thoát chân chánh ngoài các Đức Phật. Còn lại, những người con Phật thành tựu sự giải thoát sanh tử đều là những vị thực hành theo đúng trí tuệ mà Đức Phật đã chỉ dạy, nên mới thành tựu kết quả vô thượng giải thoát.

Vị hữu học là từ tam quả trở xuống, Thánh quả thứ ba trở xuống, từ Hướng Dự Lưu trở lên trong bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Nếu mình chỉ đọc quyển sách "Tóm tắt ngũ uẩn" thì mình không hiểu được, cần phải nghe thêm những bài giảng giải cho nên quyển này in ra rất nhiều quyển nhưng đa số đọc rồi cất hoặc đọc vài trang thôi vì nó quá sâu sắc và chuyên môn. Mình muốn hiểu quyển sách này thì mình phải nghe những bài giảng của tác giả, ở đây chúng ta học là chúng ta giảng giải ra, còn nếu đọc thẳng vào thì bảo đảm sẽ không hiểu rõ, cụ thể được. Tùy rằng cuốn sách nhỏ nhưng nó lại là lõi cây, là cốt lõi của cả tạng kinh Nikāya.

Khi học chúng ta phải bám sát, bám chặt vào lời kinh, lấy kinh làm gốc, lấy lời Phật dạy làm điểm tựa, tránh xa mọi sự giảng giải không theo sát kinh điển, những điều này rất quan trọng. Quý chư tôn đức trong ban hoằng pháp trung ương cũng như các vị bên ban giáo dục văn hóa cũng đang lo lắng, bây giờ các thầy cô trẻ hoặc cũng có nhiều vị lên chia sẻ pháp cứ nói "trong kinh nói…", "Đức Phật nói…", "cổ đức có câu…" rồi diễn giải ra nhưng thật ra không phải của chính xác Đức Phật nói cho nên chỗ này rất nguy hiểm. Khi chúng ta nói kinh thì phải nói rõ đó là kinh nào, nằm trong bộ nào, chương nào chứ không được nói chung chung như vậy, những nhà nghiên cứu rất quan trọng vấn đề này vì thế phải bám chặt, bám sát vào lời kinh và nghĩa lý trong kinh, điều này tuyệt đối quan trọng trong bước đầu của pháp học, nếu không có cái này thì từ pháp học đã đi lệch đường.

Đức Phật dạy một người cư sĩ phải thành tựu ba pháp quy y, có tín, có giới, có thí, có văn, có tuệ, đó là cách của Đức Phật dạy nhưng mình bây giờ chỉ còn tam quy ngũ giới, bỏ quên phần tín, văn – quý – tàm – thí – tuệ, chúng ta học cứ lược bớt đi, cứ nghĩ là nhiều quá khó nhớ, khó tu nên lược bớt rồi giờ có những tư tưởng không cần gì nữa, tu một câu thôi, như vậy làm cho pháp lần lần mất hết, chỗ này rất quan trọng cho nên mình học phải uống nước tận nguồn, phải y cứ vào Thánh điển, phải tìm được cội nguồn của Thánh pháp, trong kinh gọi là lõi cây. Nếu tự ý mình suy diễn ra, thêm bớt vào trong lời kinh hoặc giải theo kiểu suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức, hiểu biết của cá nhân thì cái này hết sức nguy hiểm, đây chính là nguyên nhân làm chánh pháp đi tới tượng pháp, từ tượng pháp đi tới mạt pháp, mạt pháp đi đến tận cùng là diệt pháp.

Trong tạng kinh Nikāya dùng từ "tư kiến cá nhân", trong Nikāya nói về sắc; thọ; tưởng; hành; thức tức là thân tâm và thế giới. Đầu tiên Đức Phật dạy chúng ta nhận ra thân tâm thế giới chỉ là năm nhóm duyên sanh, năm nhóm này là vô thường, khổ, vô ngã, ngoài ra còn các từ khác như là kẻ giết người, hố than hừng, là con rắn độc… Nhưng ở đây chỉ lấy ba nguyên lý quan trọng nhất gọi là tam tướng, tức là ba tướng trạng, ba sư thật, ba nguyên lý của năm uẩn, khi học hoặc tu hành cái gì mà thấy đúng như vậy thì gọi là đúng theo lời Đức Phật, lấy cái đó làm pháp ấn, ở đây là tam pháp ấn, tức là ba con dấu ấn định toàn bộ giáo pháp của Đức Phật, đó là định lý chứng ngộ của Đức Phật, mình tu học mà đúng như vậy, thâm nhập được vào trí huệ này thì mình ly tham đối với ngũ uẩn, nhàm chán, từ bỏ đối với ngũ uẩn, thoát ra đối với ngũ uẩn là đúng. Ngược lại nói rằng càng tu càng đẹp ra, tu riết chùa tôi to ra, tu một thời gian rồi bám vào trong sắc pháp, sắc uẩn, sắc tướng, những thứ vô thường, khổ, vô ngã mà tham đắm vào đó, vậy là sai trật với pháp ấn của Đức Phật là ly tham.

Hoặc là "giờ tôi tu rồi, đừng ai nói gì tới tôi, có gì tôi vô phòng đóng cửa lại thôi", mình muốn cảm thọ cho an ổn, mình không muốn chịu đựng sự khó khăn, an ổn, những cái bị rầy, bị la, bị quở, bị trách là không muốn nghe, chỉ muốn được khen thôi.

Như vậy là mình có bị chấp thủ vào trong cảm giác không? Một trường hợp khác là tu để được hưởng, tu để sau này tôi sẽ trở thành cái gì đó, như vậy mình có chấp thủ vào tự ngã, tự thân không? Thậm chí mình chết rồi mình được ở một nơi cho ngon, đó là tưởng thủ uẩn, mình không rời xa cái tưởng mà mình lại chấp thủ vào cái tưởng, mình không rời xa cái tưởng mà lại dính mắc vào cái tưởng, mình không chấm dứt cái tưởng mà còn làm cho nó phát triển tăng thêm thì nó không đúng với pháp ấn của Đức Phật.

Đối với suy nghĩ cũng vậy, tự mình suy nghĩ ra pháp môn rồi tự hào với pháp môn đó, đó là hành thủ uẩn. Ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra không có một người thứ hai nào có thể nhìn thấy năm uẩn, nhiếp phục, chế ngự được năm uẩn, yểm ly, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra khỏi năm uẩn vì thế nếu muốn tu giống như Đức Phật để vào Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh trí, Thánh quả thì mình phải y cứ vào lời của Đức Phật 100%, thì mình mới đi theo đúng đạo lộ của Đức Phật.

Chỗ sâu sắc hơn nữa là mình cho cái biết của mình là chân tâm, cái biết đó là mình, đó là thức thủ uẩn, vì thế tu mà không bám sát vào nguyên chất, nguyên gốc, nguyên bản, nguyên bản, nguyên thủy lời nói của Đức Phật là tu một hồi đi ra cành nhánh, có ra rất nhiều tư kiến cá nhân, lối tẻ trong suy nghĩ của mình và cuối cùng mình không đi đến chỗ Đức Phật và các bậc Thánh đi, tức là không đi trên Thánh đạo thì không có Thánh quả. Đó là lấy tổng cương lĩnh để chúng ta thấy toàn bộ giáo lý của Đức Phật gom lại trong năm uẩn, bây giờ có học đến chết đi nữa cũng học về năm uẩn.

II. Như Lý Tác Ý đối với năm uẩn

"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Sắc thủ uẩn là cái tâm nắm giữ vào sắc pháp, thọ thủ uẩn là cái tâm nắm giữ vào trong các cảm giác, tưởng thủ uẩn là cái tâm nắm chặt vào những hình bóng trong tâm, hành thủ uẩn là sự nắm giữ vào trong những suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm, thức thủ uẩn là sự nắm chặt, bám giữ vào trong các nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc biết, cần phải quán năm thủ uẩn này là năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Người thường tu tập quán chiếu như vậy thì từ một người phàm phu giữ giới có thể Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất.

Khi nãy là mới giữ giới, sau khi tu phải quán chiếu như vậy, đến khi Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất thì phải tu ra sao nữa? Ngài Xá-lợi-phất trả lời:

"-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Một vị Tỳ-kheo chứng quả Nhất Lai thì tu như thế nào? Lúc còn là phàm phu giữ giới thì tu như vậy, chứng được Thánh quả thứ nhất cũng tu như vậy, chứng được Thánh quả thứ hai cũng tu y như vậy.

"-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?

-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Ngài hỏi thêm, một vị chứng Thánh quả thứ ba phải tu ra sao, thì ngài Xá-lợi-phất trả lời cũng phải tác ý y như vậy.

"-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Đối với Thánh quả tối cao A-la-hán, tâm hoàn toàn thanh tịnh thì tác ý ra sao?

"-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?

-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Chỉ với 1 câu "cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" là tu từ phàm phu cho đến Thánh quả tối cao, đây là pháp hành xuyên suốt của Thánh phàm, phải quán chiếu năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Đối với 1 bậc A-la-hán là công việc đã xong rồi, không cần làm thêm gì nữa nhưng nếu một vị A-la-hán tiếp tục tác ý những pháp này thì tâm của người đó sẽ an lạc trong giây phút hiện tại, sẽ thấy hoan hỉ, chánh niệm tỉnh giác càng cực kì sáng tỏ.

Như vậy qua bài kinh này chúng ta thấy được điều gì? Bài kinh này là Thánh pháp ấn của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, bài kinh này cũng là đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, là pháp hành của Nikāya, là cái mà tất cả người tu học chúng ta đang đi tìm cầu và hướng đến, hành trì, tu tập và chứng đắc, bài kinh này là nhân quả của bậc Thánh. Tuy rằng chỉ có hai trang nhưng phải học kĩ bài kinh này, chúng ta sẽ thành tựu được chánh kiến, từ đây cho đến ngày mình học cho đến ngày chết cũng không đi ra khỏi bài kinh này, đây còn gọi là đầu đuôi của sự tu học, trước sau của sự hành trì.

Ở đây giới thiệu với tính cách tổng quát để chúng ta thấy được tại sao phải bám sát lời kinh là vậy, để chúng ta thấy rằng trong Nikāya có đạo lộ nhất quán trước sau không thay đổi chứ không phải như những tư tưởng sau này lúc thì nói vầy, lúc lại nói khác. Bậc Thánh nói trước là như vậy, sau là như vậy, nhất quán không thay đổi, Đức Phật nói rằng từ khi ở dưới cội Bồ-đề đạo thọ cho đến tala, ở khoảng giữa đó những lời Như Lai nói không thể sai khác, những gì Như Lai nói là đúng như vậy, không thể thay đổi, một bậc Chánh Đẳng Giác không thể lúc thì nói vầy, lúc lại nói khác nhưng những kinh sách sau này nói lộn xộn hết vì thế chúng ta phải hết sức cẩn thận trong việc học kinh, không đọc tùm lum, không được học với tâm tham rồi kết quả của mình cũng được tâm tham. Mình không phân biệt được cái nào là chân xác, cái nào là pha lẫn cho nên phải bám sát vào lời kinh 100%.

Thứ nhất là bám sát vào lời kinh, thứ hai là hiểu trong kinh, hoặc nghe người giảng thì phải nghe kĩ người đó giảng có theo như trong kinh không hay giảng một hồi là đưa những tư tưởng, tư kiến cá nhân của họ vào là mình biết liền, nếu mình nghe kĩ, mình quán sát kĩ thì họ đưa những cái khác vào là mình biết liền, còn giờ nghe lờ mờ, nghe trong vô minh, không có sự trạch pháp, không có sự soi xét thật kĩ thì người ta dẫn đâu mình đi đó. Đức Phật nói một kẻ mù dẫn một người người mù thì cùng nhau đi xuống vực sâu.

"Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy"

(Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)

Thế nào gọi là mắt sáng? Thấy được ngũ uẩn gọi là mắt sáng, không thấy ngũ uẩn tức là mù. Thấy được đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, thấy được thọ, thấy được thọ tập khởi, thấy được thọ đoạn diệt, tức là thấy được nhân quả của ngũ uẩn.

• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.

• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.

• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.

• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.

• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.

• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.

Những cái này đều phải học thuộc lòng, học kinh Nikāya khác với trước nay là nó đòi hỏi mình phải học thuộc, chỉ cần nói sai một chữ thôi là đi trật hết, sai một ly là đi một dặm, đó là nhân quả của sắc, mình sẽ thấy được sự vận hành của nó, tại sao nó có ra, do cái gì nó vận hành, nó tồn tại và như thế nào để nó chấm dứt. Sự tu học Nikāya rất khác với trước nay mình tu học, không phải muốn nghĩ sao là nghĩ, muốn nói sao là nói, muốn viết sao là viết, nếu viết bài mà không y cứ theo kinh điển là viết một hồi sẽ đi theo lòng tham, lòng dục, lòng ái, đi theo sự phô trương kiến thức, thể hiện bản ngã chứ không đi vào trong pháp, chỗ này rất sâu sắc, chỉ có học Nikāya nhận diện ngũ uẩn thì mình mới biết được.

Trí tuệ của Phật là diệt ngã, làm cho mình nhìn thấy sự thật của thân tâm ngũ uẩn này để mình thấy nó khổ đau, vô thường, để thấy nó là bệnh tật, ung nhọt, tai họa để nhàm chán, xa rời, từ bỏ, thoát ra nhưng tu không đúng đạo lộ là mình sẽ nâng niu nó, tô điểm thêm nó, mình vun vén, tăng trưởng, phát triển cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức lớn lên thêm, như vậy là đi ngược lại đạo lộ của bậc Thánh nhưng mình vẫn nói là mình đang tu, lại còn tưởng tu hay nữa. Vì thế cần cẩn thận với lời kinh, với sự nghe giảng và những suy nghĩ của cá nhân trong khi mình tu tập, những tri kiến thấy biết của riêng cá nhân mình khi sanh khởi lên thì phải đối chiếu vào kinh để kiểm tra xem có đúng không.

Có người đến nói với mình "miệng cô hôi quá" thì mình quay trở lại xem tại sao hằng ngày mình phải súc miệng, nếu nó thơm thì có cần súc không, chính mình hà hơi trong miệng mình ra còn thấy hôi thì người ta nói miệng hôi, miệng thối, miệng dơ là đúng rồi, tại sao mình phải sân hận lên? Như vậy cái sân hận này có đúng sự thật không? Hay là sân hận là do ảo tưởng cho rằng mình là thơm, là sạch? Thật chất là dơ nhưng mình ảo tưởng cho nó là sạch nên khi người ta nói dơ thì mình bực bội, sân hận, mình sân hận là vì mình vô minh không thấy được sự thật, thấy được như vậy mới là người tu Thánh trí năm uẩn, thấy được như vậy mới là đệ tử của Phật, bậc trực tâm là đệ tử của Như Lai, trực hạnh là đệ tử của Như Lai.

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".

(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Mình quay trở lại nhìn thấy nó hôi thật sự, mình quên súc miệng, tối ngủ quên súc, sáng dậy đi học vội quá quên luôn nên nó hôi thối phải rồi. Bây giờ có súc cũng dơ chứ không phải súc miệng rồi là sạch đâu, mình nói ví dụ hơi thô nhưng để thấy được sự thật, bây giờ mình nhổ nước miếng của mình vào tô canh rồi mình còn bưng lên ăn được nữa không? Mình bị cảm nên nước mũi chảy lòng thòng xuống cái môi thì mình có nuốt vào không?

Như vậy là mình dơ hay mình sạch? Tại sao người ta nói mình dơ là mình sân si lên, mình bực bội lên, mình phẫn nộ lên? Như vậy mình có sống với sự thật không hay đang sống với giả dối? Tự mình lừa gạt mình, lừa gạt người khác cho nên cái vô minh không ở đâu xa, vô minh là không sáng, không thấy rõ sự thật ngay trong con người mình.

Đó là người ta nói miệng hôi thì sân, bây giờ người ta nói "thầy tu mà sao thầy ngu quá vậy? Thầy đi hơn thua với chú tiểu đó làm gì? Hơn thua với cư sĩ để làm gì?", nếu không biết tu mà nghe câu này là sân lên liền, biết tu ngũ uẩn thì quay lại nhìn cảm thọ thấy nó đang phựt lên, đang phừng phừng lên, trong đầu có hình ảnh bị hủy nhục, khinh khi, dám nói mình như vậy. Phải quay lại nhìn những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức, "đúng rồi, ngu tức là không có trí, mình ngu tức là vô minh tùy miên".

"Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu"

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)

Nếu mình nhận đúng đó mình là người tu mà đi sân hận với người đời là mình không có trí tuệ, mình không có tâm từ, tâm khiêm hạ, tâm diệt ngã, không có tâm bao dung, độ lượng, hiền từ, lại đi sân si với người đời, rõ ràng là mình bản ngã, vô minh, ngu si, nếu có ai nói mình ngu thì cảm ơn "cảm ơn cô/chú đã nhắc con, vì ngu nên con mới đi tu, con cảm ơn để con ráng tu".

Mình quay lại nhìn mình thì mình mới tu, còn hướng ra ngoài nhìn người ta bắt đúng bắt sai, tôi là thầy, đó là cư sĩ thì đó là vô minh, bản ngã trên danh tướng, không có tu hành gì cả. Sự cạo tóc của mình là mình phế hủy hình hài, tức là mình xem thường thân xác này, mình phải xem thân xác này như một cái nùi giẻ rách, mình hủy những nét đẹp của hình hài này, mình phải quán thân này là một ống cống, là một thùng rác, mình phải quán thân này là một nắm tro tàn, là cái thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, cấu uế cần phải được tẩy sạch, rửa sạch hoàn toàn.

Tâm mình an trú như cái nùi giẻ rách, tâm mình an trú như cái toilet di động, đi đến đâu cũng phát ra tham, sân, si, bản ngã, chỉ cần thấy người đẹp phớt ngang qua là dục sanh khởi lên, chỉ cần thấy người ta tỏ vẻ một hành động hay có ánh mắt là sân khởi lên, còn thấy bình thường là tâm ngu si, vô minh, không thấy được bản chất của đời sống này là khổ đau, không thấy bản chất của tứ đại này là vô thường, không thấy bản chất của thế giới này là quả cầu lửa đầy rẫy những bất an, tai ương, tai họa, lo lắng, sợ hãi, hiểm nạn, nguy nan, mình cho những thứ đó là vui thích, sung sướng, đến khi sự thật bày lộ ra thì lúc đó mình sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực, gần hoặc gần như là chết. Mình không thấy sự thật nên sống trong ảo tưởng, huyễn tưởng, sống trong hư tưởng, mộng tưởng, sống trong điên đảo tưởng, dơ mà cho là sạch, khổ mà cho là vui, không có tôi mà cho là có cái tôi thật to, đầy bất an, tai họa, đầy biến động, vô thường mà mình cứ cho là như vậy mãi, hôm nay cũng vậy, ngày mai cũng vậy nhưng bất thình lình gãy chân, hằng ngày có quán chiếu về vô thường thì mình biết rằng gãy một chân còn một chân cũng đỡ.

Khi mình đã quán chiếu thường xuyên, cái trí huệ đó đã thâm nhập vào từng làn da, từng thớ thịt, từng lỗ chân lông, huyết quản, nó đi vào xương vào tủy, mình chứng nhập sự thật đó thì tất cả những sự biến động, bất an, đau khổ trên cuộc đời này có đến với mình thì mình điềm nhiên, an nhiên, tự tại, đó là tâm thái của các bậc Thánh, tâm bất động giải thoát đối với sự biến động của thế gian này. Còn giờ mình sống trong ảo tưởng cho sắc là mình, cho hình hài này là mình, cho những đồ đạc này là của mình, cho những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, rõ biết đó là tôi, là của tôi, đến khi nó biến hoại, thay đổi thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu gần như chết cho đến chết vì thế bậc Đa văn Thánh đệ tử là luôn trú trong trí tuệ về khổ.

"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt"

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử)

Tất cả các người tu hành trong quá khứ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, với lòng tin trong sạch cạo tóc, xuất gia để thấy được sự thật ngũ uẩn này khổ đau. Tất cả những người tu trong hiện tại cũng vì mục đích thấy được sự thật đời sống này là đau khổ và tất cả những người tu trong tương lai cũng vì mục đích chứng nhập được sự đau khổ của tứ đại ngũ uẩn đời sống này. Nếu đi tu mà không thấy khổ thì sự tu của mình mãi mãi không đi đến đâu, phải thấy được khổ đau, phải chứng nhập được khổ đau.

"Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ tập'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'".

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, 1.I. Ðịnh)

"Đây" nghĩa là sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, "đây" nghĩa là thân này là khổ, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là khổ, "đây" là ngón tay này là khổ, bàn tay này là khổ, bàn tay này là khổ, gân trong bàn tay là khổ, xương tay này là khổ, "đây" là ngực này là khổ, bụng này là khổ, mông này là khổ, bàn chân, xương chân là khổ, hễ có cái nào là khổ cái nấy. Có tim thì có bệnh tim, có gan thì có xơ gan cổ chướng, có thận thì bị suy thận, có bao tử là bệnh loét bao tử, có đường ruột là có bệnh viêm đường ruột, có mắt là có ra biết bao bệnh viện mắt, có mũi là có bệnh viện tai mũi họng,…

Có cái gì là bệnh cái đó, có cái gì là khổ cái đó, có cái gì là lo lắng, sợ hãi với cái nấy cho nên con mắt này là khổ, lỗ tai này là khổ, lỗ mũi này là khổ, cái miệng này là khổ, gương mặt này là khổ, thân xác này là khổ, cần phải như thật biết bằng trí tuệ, thắng tri, liễu tri sự thật này, nếu không biết sự thật này thì đó là vô minh, là tham ái, là chấp thủ, là đêm dài, sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt sẽ chảy dài dài.

Khóc than, than khóc đã bao lần

Bao lần than khóc hỡi tâm mê,

Bao lần say đắm theo danh, lợi,

Bao lần gục ngã trước chức, quyền.

Vì không thấy sự thật của khổ đau, vì không thấy sự thật của lo lắng, bất an, tai họa của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, của sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này mà chúng ta khóc than rồi lại than khóc, hết dòng lệ này tuôn lại đến dòng lệ khác, hết dòng lệ khác lại đến những dòng lệ khác nữa, cứ như vậy cho đến tận cùng thương đau của những dòng nước mắt này nếu chúng ta không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được tính chất đau khổ, bất an và tai họa của nó.

Cho đến khi nào bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ, vô ngã, là kẻ giết người, là hố than hừng, vị Đa văn Thánh đệ tử này nhàm chán đối với sắc, rời xa, từ bỏ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, thoát ra khỏi nó, cho đến khi ấy vị đó mới chấm dứt khổ đau hoàn toàn, diệt tận khổ đau, đạt đến cảnh giới diệt khổ Thánh đế của Niết-bàn tịch tĩnh tối thượng giải thoát, đó là đạo lộ độc nhất của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác ngày xưa đã đi qua, không có con đường thứ hai, không có phương pháp nào ngoài phương pháp này, nếu chúng ta còn thấy vui thích, đẹp đẽ là ngày đó chúng ta còn sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, bất an, tai họa.

Đó là tổng cương lĩnh của toàn bộ Thánh giáo Nikāya cũng là trái tim của Đức Phật, con mắt của 12 phần giáo, là cốt lõi của toàn bộ những lời dạy của bậc Thánh vì thế cần khai triển thiền quán sâu sắc, ở nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ trong thân tâm, đời sống này, nếu không chúng ta vẫn hôn mê, không tỉnh thức được dù cạo tóc, đắp y, dù ở trong chùa đến chết thì vẫn cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vẫn đầy rẫy tham, sân, si, khổ đau, bất an, hơn thua, lọc lừa, dối trá, chúng ta vẫn là kẻ đáng thương trong cuộc đời này đối với các bậc hiền Thánh, chúng ta vẫn cách Đức Phật rất xa, vẫn cách các bậc Thánh rất xa dù cho hằng ngày chúng ta đi qua đi lại ở trước chánh điện, trừ khi nào chúng ta thành tựu được trí tuệ này cho nên thấy ngũ uẩn là thấy Phật.

"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp"

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)

Pháp chính là ngũ uẩn, pháp chính là bản chất vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh của tứ đại, của đời sống này. Đó gọi là pháp, thấy được cái đó là thấy được Phật, thấy được cái đó là thấy Như Lai, thấy được cái đó là thấy được trái tim giác ngộ của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

./.