Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 16 - 7 Trí Về Sắc
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 16
7 Trí Về Sắc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Gìn giữ Chánh Pháp PAGEREF _Toc145750433 \h 1
II. Bảy trí về sắc PAGEREF _Toc145750434 \h 2
I. Gìn giữ Chánh Pháp
Cho nên người ta mới gọi là thọ pháp, thọ là thọ nhận, chúng ta phải thọ nhận giáo pháp, sau đó mới thực hành cái pháp đó, khi thực hành rồi thì khi hữu sự, đụng chuyện thì mình mới triển khai được sức mạnh, nội lực, công phu, công lực, nội công thâm hậu trong pháp đó. Nội công là công phu bên trong, thực hành đến chỗ sâu dày, thâm hậu cho nên bây giờ chúng ta thọ pháp rồi nhưng sau đó chúng ta có trì không? Có giữ cái pháp đó không? Giữ nó bằng cách nhắc tới nhắc lui, ôn đi ôn lại, phải học thuộc lòng, phải nhớ nghĩ về nó, tư duy về nó, quán chiếu, tác ý về nó thì gọi là trì, sau đó thực hành theo sự tác ý đó thì gọi là thọ dụng. Sau khi thọ pháp phải trì pháp, sau khi trì pháp thì phải sử dụng pháp, phải dùng được cái pháp.
Bây giờ người ta đưa cho mình bao gạo 50kg nhưng bao lại rách thì rơi rớt hết, đem về tới chùa chỉ còn vài hột, chính vì vậy mới quan trọng bậc pháp khí, nghĩa là đồ chứa đựng Thánh pháp, khi truyền cho người đó thì người đó giữ được hết không làm rơi rớt bất kì cái gì thì gọi là bậc pháp khí. Ngài A-nan được gọi là bậc tổng trì pháp, bậc gìn giữ cái pháp, vì thế phải chọn mặt gửi vàng chứ không thể nào đưa pháp cho một người chưa về tới nhà pháp đã mất, mới nói vậy mà kêu nói lại là trật lất hết, thành tam sao thất bản. Nói về ngũ uẩn mà lát sau chỉ còn tam uẩn, không thì chỉ còn một uẩn, "tôi ở đây chỉ tu niệm thọ thôi", không được như vậy. Đức Phật dạy năm uẩn thế mà mình lại bảo chỉ tu 1 cái thôi là không được, như vậy là mình không nghe lời, không hiếu thảo với cha của mình, Đức Phật là bậc Thánh phụ, từ phụ.
Mình phải tiếp nhận, giữ gìn và sử dụng nhưng mình sử dụng có đúng hay không, nhiều khi người ta đưa mình thuốc bổ nhưng mình lại dùng thành thuốc độc. Đức Phật nói cầm những bó cỏ không đúng hướng nó sẽ làm mình đứt tay, chảy máu, giáo pháp cũng vậy, chưa nói đến mình học sai, mình học đúng pháp nhưng sử dụng không đúng, đặt tâm không đúng hướng thì mình vẫn bị đứt tay như thường. Mình đem cái pháp ra để phân cao thấp, đúng sai, nhân ngã bỉ thử là sai rồi, như vậy nó làm cho mình đứt tay, cái pháp để mình diệt ngã, diệt tham, sân, si, diệt vô minh mà mình không làm cái đó, mình lấy cái pháp ra để nói mình đúng người ta sai, mình phải họ quấy, mình sâu còn họ cạn, mình cao họ thấp thì sai hết, vậy là đặt tâm sai hướng, mình tu chánh pháp nhưng không đặt được lợi ích của chánh pháp cho nên chỗ quan trọng là thọ dụng, thọ trì.
Mình được trao bao gạo thì mình phải giữ hết 50kg đó đem về chùa chứ, đưa cho mình bao pháp bảo để mình giữ mà riết rồi "tôi tu niệm một câu thôi, không cần làm gì nữa", tư tưởng như vậy rất nguy hiểm. Đó là những tư kiến cá nhân, không phải cái pháp của Đức Phật vì thế phải hết sức cẩn trọng trong sự học pháp.
Đức Phật đã nói năm căn, năm lực, thất giác chi, bát chánh đạo đều do Như Lai chứng ngộ, tuyên thuyết nên các Tỳ-kheo cần phải học hỏi, hành trì, truyền bá phạm hạnh này cho được sâu rộng vì thế khi học kinh Nikāya phải có sự nghiêm túc, nghiêm cẩn. Phải học đúng, thực hành đúng thì sau đó mới có kết quả đúng, hôm nay chúng ta nhấn mạnh phải học cho đúng theo trong kinh, Thánh điển y cứ, chỗ này chúng ta phải để tâm rất nhiều. Học Nikāya là phải học thuộc lòng, tối thiểu chúng ta phải học thuộc được những phần căn bản nhất vì nếu không nhớ là không quán được, không suy nghĩ được theo lời Đức Phật.
II. Bảy trí về sắc
BẢY TRÍ VỀ SẮC:
• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.
Bốn đại chủng nghĩa là bốn thứ này cùng khắp cho nên gọi là tứ đại, đại là cùng khắp, chỗ nào cũng có nó, chỗ nào cũng có đất, chỗ nào cũng có nước, chỗ nào cũng có gió, chỗ nào cũng có lửa. Những thứ do bốn thứ này tạo thành gọi là sắc, bàn tay của chúng ta làm từ da, xương, gân, máu, những cái này do tứ đại làm ra, khi mình nhìn vào nó thì nó là "bàn tay của tôi" hay "nó là từ đại"? Khi nhìn vào bàn tay này thì trong suy nghĩ của mình phải loại trừ suy nghĩ "bàn tay này của tôi", chỉ còn suy nghĩ "bàn tay này là đất, nước, gió, lửa", suy nghĩ đó mới gọi là chánh tư duy, là nghĩ đúng. Ngược lại có suy nghĩ đây là bàn tôi của mình, bàn tay này trắng, bàn tay búp măng, ngòi viết hay bàn tay thô cứng, nghĩ như vậy là nghĩ theo chiều vô minh. Như vậy từ đó giờ mình nghĩ theo chiều nào? Trong 1000 lần mình nghĩ về bàn tay, 1000 lần mình nghĩ về gương mặt, 1000 lần mình nghĩ về hình hài này thì được mấy lần mình nghĩ nó là tứ đại? Được vài lần là trong lúc nghe pháp thì tương đương chỉ vài lần mình được thấy sự thật thôi. Mọi người có thấy độ vô minh trong suy nghĩ của mình dày chưa? Nó nhiều chưa?
Ngày xưa mình học cứ nghĩ vô minh là từ đời kiếp xa xưa nhưng không ngờ vô minh nằm ngay trong suy nghĩ, suy nghĩ như vậy là vô minh. Mình nghĩ nó là tứ đại, lột da mặt ra là một xương sọ, là một khối bất tịnh, da, lông, máu, mỡ, mủ, xương, gân, tóc, răng, móng, lột ra từng phần để trước mặt mình, ngày nào cũng phải giải phẫu cơ thể, sáng dậy là lột ra một đống để trước mặt, một đống tóc, một đống lông, một đống răng. Như vậy mình mới phá được cái nhìn si mê, vô minh, ngu muội, đó gọi là phá thân kiến, phá sắc thủ uẩn ác độc này, thân kiến là cái kiến chấp về thân nhưng muốn phá được thì phải nhìn thấy nó là tứ đại. Mình phá liên tục ngày đêm cho đến lúc nào tư tưởng tôi và của tôi không còn nữa thì lúc đó Nhập Lưu.
Mỗi khi mình nghĩ về gương mặt này, mỗi khi mình nghĩ về thể xác này, mỗi khi mình nghĩ về hình hài này thì mình chỉ thấy đây là một đống đất, nước, gió, lửa, tim, gan, phèo, phôi, da, xương, máu, mủ, phân và nước tiểu chứ mình không thấy có một cái tôi và của tôi trong này nữa thì đó là lúc mình đang thấy pháp, thể nhập Thánh tri kiến là cái thấy biết của bậc Thánh, cái này đòi hỏi mình phải tác ý, nhớ nghĩ liên tục nhưng nếu không học thuộc thì làm sao nhớ, không học không biết thì làm sao nhớ cho nên văn huệ phải thành tựu rồi mới đến tư huệ, tư huệ thành tựu thì mới đi đến tu huệ, khi tu huệ thành tựu thì thể nhập trí huệ của bậc Thánh gọi là thể nhập Thánh trí. Ở đây chỉ mới nói đến suy nghĩ, dùng hành để tu, chính là sự tác ý.
Nếu mình nghĩ bông hoa sen này đẹp quá, thơm quá thì trong đó vừa có tham, có vô minh, chấp thủ, sau đó dục sanh khởi muốn đem nó về rồi cứ sống theo dục, theo tham như vậy mãi, một ngày nào đó bị người khác ăn cắp thì buồn, vậy là khổ mãi. Mình không thấy nó là tứ đại, nhìn cái nào ra cái đó thì cứ ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ, khi vừa nhìn vào thấy nó rã ra hết, thành một đống tro tàn, thấy trong đó là một đống nước, một đống đất, không khí, dùng ánh nhìn thánh trí đốt cháy nó thành đống tro ngay tại chỗ, không chạy theo đẹp xấu thì cái nhìn đó là cái nhìn của bậc Thánh, cái nhìn đúng, cái nhìn chánh tri kiến, là cái nhìn của trí tuệ, cái nhìn của sanh diệt trí. Nhìn tới đâu là chỗ đó tan hoại tới đó, nhìn tới đâu là sụp đổ tới đó, không cần đợi qua Thổ Nhĩ Kì mới thấy sự sụp đổ mà ngay tại chỗ này vẫn có thể động đất, ngay trong thân vẫn có động, nó đang hoại diệt từng giây từng phút, nó đưa mình đến chỗ già, bệnh, chết, nó đưa mình đến chỗ tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt, tiêu ma, tan nát.
Trong từng hơi thở mình đều thấy sự sanh diệt trong đó, trong mỗi tư duy, nhận thức của mình đều phải sống bằng sanh diệt trí, bằng sự vô thường, sống bằng sự phá vỡ tất cả những hình tướng giả dối, hư ảo này để mình thấy được một đống sắc đầy bất an và đau khổ, mình nắm giữ vào nó là mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Hôm nay gặp người ta khen "sao thầy hôm nay trắng trẻo, tướng hảo quang minh quá" thì mình thích thú, khoan khoái, về nhà thấy sung sướng, vài ngày sau có người gặp nói "sao mấy nay gương mặt tiều tụy vậy, ốm nhom vậy, có bệnh gì không" thế là về nhà thấy buồn, như vậy là mình sống vì lời nói của người ta, người ta tác động vô là theo đó mình vui, mình buồn, mình tham, mình sân vì mình thấy có một tự ngã, có một cái tôi cho nên ai chạm vô là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Mình nhìn con người, nhìn nhà cửa, chùa chiền, nhìn thân thể này đều là tứ đại, mình tập suy nghĩ, tác ý như vậy để đánh đuổi những suy nghĩ của tự ngã ra, đánh đuổi những suy nghĩ là mình, là của mình ra khỏi thân tâm như mình quét rác, mình diệt nó như diệt kẻ thù.
Mỗi khi sanh khởi lên suy nghĩ tôi hơn, tôi giỏi, tôi đẹp, tôi phải thì phải diệt ngay lặp tức, mình diệt nó như diệt giặc, cho đến khi nào suy nghĩ đó giảm xuống, lắng xuống, dịu xuống thì mình diệt cho nó hết luôn, không còn mang suy nghĩ tôi và của tôi nữa. Đang tu như vậy gọi là hướng Dự Lưu, đi đến chỗ xác quyết 100% luôn thì gọi là Nhập Lưu cho đến các tầng trí huệ thứ hai, thứ ba, thứ tư của Thánh quả, mình không còn chấp nhận suy nghĩ đó là mình, là của mình nữa. Chỗ của mình ngồi mà hôm sau có người khác ngồi thì mình nhường cho họ, rất bình thường, không có chỗ nào là chỗ của mình, phải tập nhả ra cái chấp thủ, tập buông xả cái tâm chấp ngu, khi nó sanh khởi lên thì mình la mắng "mày ngu vừa vừa thôi chứ, chỗ nào là chỗ của mày?", mình tác ý trong đầu, mình huấn luyện suy nghĩ của mình, "mày có muốn tu không hay suốt ngày chỉ muốn hơn thua, thị phi, kiếm chuyện, thôi mày về để tóc lấy chồng đẻ con đi", mình phải la rầy cái tâm mình như vậy, sáng la, trưa la, chiều la để cái tâm mình hiền lành, ngoan ngoãn, mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Cái tâm có huấn luyện, có dạy dỗ, giáo dục là phải khác, còn cái tâm không nghe lời, ương ngạnh, cứng đầu, khó dạy là cái tâm đó không tu tập được, phải huấn luyện cái tâm cho dễ sử dụng, kêu gì là nghe đó.
Mỗi lần muốn sân si là mình nhắc nhở "ngươi cạo đầu, bỏ cha bỏ mẹ vô đâu để kiếm chuyện gây lộn với người ta hả, ngươi có biết nhục không?", mình tác ý như vậy thì từ từ sẽ diệt được những cái tham, sân, si thô ở bên ngoài nhưng mình phải tác ý thật mạnh, không được nương tay, cái tâm vô minh, chấp ngã đó mình phải dập cho tan tành, tơi tả, đánh cho nó tan nát, tan vỡ, như vậy mới là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ, như vậy mới gọi là đạo lực, pháp lực, sức mạnh của tu tập, sức mạnh của giáo pháp trong tâm mình, như vậy mới gọi là tinh cần lực, tinh tấn lực, dõng mãnh lực, đại hùng đại lực. Nếu không là mình không làm lại nó, trong vô lượng vô biên kiếp nó đã trở thành đại ma đầu, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm mình rất ghê gớm, phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, trong Tây Du Kí có biết bao yêu ma, quỷ quái thì đó là trong tâm mình đó, yêu nhền nhện, bạch cốt tinh chính là lòng dục, lòng tham, lòng ái trong tâm mình, những con cọp, sư tử chính là lòng sân trong tâm của mình, chiến thắng hết dục, tham, ái, sân hận, bản ngã thì đến gặp Phật tổ, thỉnh được chân kinh, Tôn Ngộ Không diệt tận hết những thứ đó thì giác ngộ, chiến đấu với ác ma, với những con yêu tinh, quỷ quái trong lòng mình chứ không phải bên ngoài.
• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.
Tại sao có ra thân này? Do có thức ăn, nếu không ăn là chúng ta sẽ chết, cái ăn ở đây có thô có tế. Cái ăn thô là ăn cơm, cháo.. Còn tế nghĩa là hít thở cũng là ăn, đó là ăn không khí, uống nước cũng vậy, mình phải vay mượn liên tục đất, nước, gió, lửa, nếu mình ngưng lại là có chuyện, phải nhập viện hoặc bệnh nặng không thì chết. Nếu duy trì vay mượn đất, nước, gió, lửa đều đặn thì sống, trục trặc thì bệnh, nếu trục trặc không điều chỉnh được thì chết.
Trong trận động đất vừa rồi, có một người đàn ông hơn 60 tuổi phải uống nước tiểu của mình nhiều lần mới sống chờ người cứu, đó là sự duy trì vay mượn. Người mẹ ôm đứa con nằm trong đống đổ nát cho con bé, sắc bị thay đổi, bị biến hoại cho nên gặp gì mình cũng niệm "đồ biến hoại, đồ tan nát", gặp cái gì mình ưa thích thì niệm "cái đồ tan nát, hư hoại", gặp cái gì làm mình sân hận thì niệm "cái đồ tan nát, hoại diệt, có gì để giận", gặp chuyện là mình không thích cũng không ghét thì niệm "cái đồ tan nát, hoại diệt, có gì mà tưởng mà mơ", những lúc như thế là mình sống với trí tuệ về sắc uẩn chứ không phải mình để tâm mình im ru, để nó tự sanh tự diệt, ngược lại mình phải sanh trí huệ để phá vô minh.
Nếu không có ánh sáng thì lấy gì phá bóng tối? Nếu để y nguyên thì tối vẫn hoàn tối, phải mở đèn lên thì mới sáng được nhưng mình chỉ thích tu là ngồi yên nhắm mắt lại thở vô thở ra cho khỏe, khỏi tác ý, khỏi thiền quán, khỏi rầy la tâm gì hết rồi một ngày nào đó bừng lên hoát nhiên đại ngộ, đó là mình tưởng tượng thôi, đó là ảo tưởng, Đức Phật nói trong giáo pháp của ngài không có sự chứng ngộ đột ngột cũng không có bất thình lình chứng ngộ.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Trong giáo pháp của ngài sự tu tập là tuần tự, phá vỡ các kiết sử, lậu hoặc dần dần rồi mới đi đến chứng ngộ chứ không có sự bất thình lình ngộ. Phải nhìn thấy được những sự manh nha, mầm móng, u mê, vô minh, những sự chấp thủ, mình phá tới đâu thì mình biết tới đó, nó còn bao nhiêu mình cũng biết, nó còn ít thì mình biết còn ít, nó còn nhiều thì mình biết còn nhiều, nó hết thì mình biết nó hết cho nên mới có ra các bậc Thánh, tu đến đâu các ngài biết đến đó, vô minh còn hay không là biết, tham dục còn hay không cũng biết, sân hận còn hay không cũng biết, hết chưa hay chưa hết cũng biết. Bây giờ tu mà hỏi tham, sân, si còn hay hết cũng không biết gì cả thì đó là tu trong vô minh, không hay biết gì hết, đó là lý do Đức Phật nói pháp cho người thấy, cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc chứ không nói cho người không thấy không biết.
"Với người biết, với người thấy, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?
Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ', này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ tập'... 'Ðây là Khổ diệt'... Do biết, do thấy: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', các lậu hoặc được đoạn tận" (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc)
Biết là biết về ngũ uẩn, biết trong ngũ uẩn còn dục, tham, ái, biết trong ngũ uẩn còn vô minh, còn những chấp thủ, chấp ngã, sau đó mới nhiếp phục, chế ngự và từ từ diệt tận. Mình còn dục, tham, ái thì mình có biết không? Nếu mình không nhận diện ngũ uẩn là mình biết không đúng, chỉ biết trên tưởng tượng thôi, còn nhận diện được ngũ uẩn là biết bằng trí tuệ, cái đó gọi là Thánh trí ngũ uẩn, nương nơi cái thấy biết của Đức Thế Tôn và mình được hướng dẫn theo đó thì mình đi theo Thánh trí. Mình ăn vào, uống vào, hít thở vào, giữ nhiệt độ trong cơ thể phù hợp.
• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.
Không thể hít thở nữa, không khí toàn chất độc là cứng đơ như khúc cây, chỉ cần một đại không hoạt động là mình chết ngay chứ đừng nói bốn đại dừng cùng lúc. Mình phải niệm liên tục để nhắc nhở "nhà ngươi đi tu rồi, phải nhớ trí huệ chứ đừng có mê, cái đống này là sắc, đống đất, nước, gió, lửa chứ không có cái tên nào là Thích Minh Thành, không có cái nào tên là tôi, không có cái nào tên là ta, ở đây chỉ có tứ đại thôi, một đống bất an, tai họa, khổ não, duyên sanh thôi", phải nhắc như vậy để tỉnh "cái tâm mê này mày tỉnh chưa?", vừa tỉnh ra cũng phải kêu nó "cái tâm mê này ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi, đến giờ tu cũng còn ngủ nữa", phải la rầy, quở trách như vậy. Nếu thấy lăng xăng, dao động thì kêu nó "nè, sắc, nghe lời má đừng có quậy, an tịnh, lắng dịu xuống, con đừng có ương ngạnh, khó dạy, con phải ngoan ngoãn nghe lời mẹ", "con phải nghe lời để trở thành con ngoan, con hiền, không được ngỗ nghịch mà phải an tịnh, lắng dịu". Cứ nhắc an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thì từ từ nó hiền ngoan, dễ thương, nói gì nghe đó, như vậy gọi là làm chủ được thân tâm. Huấn luyện được cái sắc này là cả một công trình vĩ đại đạt kỉ lục hơn Unesco gấp 1000 lần, nếu không huấn luyện cái sắc này là mình khổ đau.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Phải biết canh chừng, theo dõi, quản lý nó từng chút một, phải dạy dỗ nó không để cho nó muốn làm gì thì làm, không để cho nó làm theo sự thúc giục, không để buông lung phóng dật, buông thả, bắt nó đi vào trong oai nghi, phép tắc, lễ kính, giới luật, đó là công phu của người tu, đó là sự huấn luyện trong sắc uẩn, sắc pháp này, phần niệm thân trong Thân Hành Niệm là dùng để giáo dục, dạy dỗ sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất, sắc thân này
• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Sắc diệt đạo là con đường làm cho sắc này chấm dứt, không còn sanh ra những sắc thân đầy rẫy những bất an, bệnh hoạn, già chết, sầu đau nữa, gọi là sắc diệt đạo. Phương pháp, cách thức, con đường, đạo lộ chấm dứt những sắc uẩn bất an, đầy bệnh tật, đau khổ, chết chóc này, con đường đó là tám đúng, là Bát Thánh Đạo.
•Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Ba loại trí tuệ này phải học thuộc để ứng dụng cùng khắp trong ngũ uẩn. Vị ngọt của sắc là do mình nhìn sắc mà khởi lên lạc hỷ khoan khoái, thích thú, vui sướng, mình thấy hình sắc, con người, món đồ mà mình thích thú, khoan khoái thì đó là vị ngọt của sắc. Đi đâu lâu mà được về căn phòng của mình là thấy dễ chịu, thoải mái nhưng lỡ như nó sập rồi thì còn dễ chịu không? Đó chính là sự nguy hoại của sắc, khi nhìn vào gương thấy mặt mình tươi tắn, trẻ trung, hình hài mình cũng cân đối, mình thấy dễ chịu, coi cũng được thì đó là vị ngọt của sắc. Nhưng khi nhìn vào sắc thì thấy sắc này rồi cũng tan hoại, già nua, bệnh tật, cũng sẽ biến hoại thì suy nghĩ đó là trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại, mình phải khai thác chiều nguy hiểm và tác hại thật nhiều, còn vị ngọt của sắc thì từ bỏ, mình không đi theo vị ngọt mà mình khai thác sự nguy hiểm và tác hại của sắc ở nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ thì lúc đó là mình đang tu tập, nghĩ đúng, chánh tư duy, Thánh tư duy, là suy nghĩ của bậc Thánh. Gặp cái gì mình cũng nghĩ đến sự vô thường của nó cho nên tâm ham thích, khoan khoái của mình sẽ lắng dịu xuống rồi từ từ nhiếp phục, chế ngự và diệt tận luôn.
Mình thấy một người con trai hay một người con gái trẻ trung tươi đẹp mà nếu không tu thì tiếp xúc là mình sanh hỷ lạc liền, mình sẽ thích, mình vui nhưng khi mình quán sự nguy hại của nó, "người này rồi cũng sẽ bị già nua, cũng sẽ đi đến kết thúc trong tuổi già, kết thúc trong sự chết", khi nghĩ như vậy thì lòng ham, lòng thích, lòng khoái sẽ lắng dịu xuống, đó là quán về sự nguy hại của sắc. Mình nhiếp phục dục tham là do mình thấy tính nguy hiểm và tác hại của nó thì lòng tham muốn, thích thú sẽ lắng xuống, sẽ được nhiếp phục, chế ngự và chấm dứt, đó là sự thoát ra khỏi sắc. Muốn thoát ra khỏi sắc thì phải nhiếp phục lòng tham muốn đối với sắc, muốn nhiếp phục lòng tham muốn đối với sắc thì phải thấy được tính vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của nó, không thấy được sự thật đó thì không bao giờ nhiếp phục được, muốn thấy được sự thật đó thì phải học, kế đó phải tư duy, thiền quán, quán chiếu, nghiền ngẫm, suy tư cái đó thường xuyên, mình làm cho những tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức đó được duy trì liên tục và phát triển thì gọi là triển khai thiền quán, tức là nhìn một cách thâm sâu vào trong sự thật của Đức Phật chỉ dạy chứ không nhìn bằng cái nhìn thông thường của mình, nhìn một cách sâu sắc vào bản chất của sự vật qua trí tuệ của bậc Thánh mà mình được tiếp nhận, mình được nghe hiểu, nhìn như vậy gọi là thiền quán.
Thường xuyên nhìn như vậy, suy nghĩ như vậy, tác ý nhắc nhở như vậy, thường xuyên tư duy như vậy, tu tập, quán chiếu như vậy thì từ từ trong con người mình sẽ có cái nhìn sắc bén, thâm sâu, một cái nhìn có thể cảm hết tất cả sự vật, không có gì làm cho mình khoan khoái, thích thú, tham ái nữa, tâm mình được giải thoát, tuệ được giải thoát đối với tất cả pháp, không nương tựa bất cứ một việc gì ở trên đời và không có gì làm cho mình lưu luyến nữa hết. Đó là bảy trí huệ phá sắc uẩn, bảy thanh Thánh kiếm thần đao chém sắc thủ uẩn, đó là Thánh pháp bảo của Đức Phật trảm hết gian tà yêu ma quỷ quái, đó là người được truyền thụ Thánh trí huệ. Tu như vậy mới thành tựu được chứ không phải tu là ai nói gì cũng gật, đó là tu trong vô minh.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 16
7 Trí Về Sắc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Gìn giữ Chánh Pháp PAGEREF _Toc145750433 \h 1
II. Bảy trí về sắc PAGEREF _Toc145750434 \h 2
I. Gìn giữ Chánh Pháp
Cho nên người ta mới gọi là thọ pháp, thọ là thọ nhận, chúng ta phải thọ nhận giáo pháp, sau đó mới thực hành cái pháp đó, khi thực hành rồi thì khi hữu sự, đụng chuyện thì mình mới triển khai được sức mạnh, nội lực, công phu, công lực, nội công thâm hậu trong pháp đó. Nội công là công phu bên trong, thực hành đến chỗ sâu dày, thâm hậu cho nên bây giờ chúng ta thọ pháp rồi nhưng sau đó chúng ta có trì không? Có giữ cái pháp đó không? Giữ nó bằng cách nhắc tới nhắc lui, ôn đi ôn lại, phải học thuộc lòng, phải nhớ nghĩ về nó, tư duy về nó, quán chiếu, tác ý về nó thì gọi là trì, sau đó thực hành theo sự tác ý đó thì gọi là thọ dụng. Sau khi thọ pháp phải trì pháp, sau khi trì pháp thì phải sử dụng pháp, phải dùng được cái pháp.
Bây giờ người ta đưa cho mình bao gạo 50kg nhưng bao lại rách thì rơi rớt hết, đem về tới chùa chỉ còn vài hột, chính vì vậy mới quan trọng bậc pháp khí, nghĩa là đồ chứa đựng Thánh pháp, khi truyền cho người đó thì người đó giữ được hết không làm rơi rớt bất kì cái gì thì gọi là bậc pháp khí. Ngài A-nan được gọi là bậc tổng trì pháp, bậc gìn giữ cái pháp, vì thế phải chọn mặt gửi vàng chứ không thể nào đưa pháp cho một người chưa về tới nhà pháp đã mất, mới nói vậy mà kêu nói lại là trật lất hết, thành tam sao thất bản. Nói về ngũ uẩn mà lát sau chỉ còn tam uẩn, không thì chỉ còn một uẩn, "tôi ở đây chỉ tu niệm thọ thôi", không được như vậy. Đức Phật dạy năm uẩn thế mà mình lại bảo chỉ tu 1 cái thôi là không được, như vậy là mình không nghe lời, không hiếu thảo với cha của mình, Đức Phật là bậc Thánh phụ, từ phụ.
Mình phải tiếp nhận, giữ gìn và sử dụng nhưng mình sử dụng có đúng hay không, nhiều khi người ta đưa mình thuốc bổ nhưng mình lại dùng thành thuốc độc. Đức Phật nói cầm những bó cỏ không đúng hướng nó sẽ làm mình đứt tay, chảy máu, giáo pháp cũng vậy, chưa nói đến mình học sai, mình học đúng pháp nhưng sử dụng không đúng, đặt tâm không đúng hướng thì mình vẫn bị đứt tay như thường. Mình đem cái pháp ra để phân cao thấp, đúng sai, nhân ngã bỉ thử là sai rồi, như vậy nó làm cho mình đứt tay, cái pháp để mình diệt ngã, diệt tham, sân, si, diệt vô minh mà mình không làm cái đó, mình lấy cái pháp ra để nói mình đúng người ta sai, mình phải họ quấy, mình sâu còn họ cạn, mình cao họ thấp thì sai hết, vậy là đặt tâm sai hướng, mình tu chánh pháp nhưng không đặt được lợi ích của chánh pháp cho nên chỗ quan trọng là thọ dụng, thọ trì.
Mình được trao bao gạo thì mình phải giữ hết 50kg đó đem về chùa chứ, đưa cho mình bao pháp bảo để mình giữ mà riết rồi "tôi tu niệm một câu thôi, không cần làm gì nữa", tư tưởng như vậy rất nguy hiểm. Đó là những tư kiến cá nhân, không phải cái pháp của Đức Phật vì thế phải hết sức cẩn trọng trong sự học pháp.
Đức Phật đã nói năm căn, năm lực, thất giác chi, bát chánh đạo đều do Như Lai chứng ngộ, tuyên thuyết nên các Tỳ-kheo cần phải học hỏi, hành trì, truyền bá phạm hạnh này cho được sâu rộng vì thế khi học kinh Nikāya phải có sự nghiêm túc, nghiêm cẩn. Phải học đúng, thực hành đúng thì sau đó mới có kết quả đúng, hôm nay chúng ta nhấn mạnh phải học cho đúng theo trong kinh, Thánh điển y cứ, chỗ này chúng ta phải để tâm rất nhiều. Học Nikāya là phải học thuộc lòng, tối thiểu chúng ta phải học thuộc được những phần căn bản nhất vì nếu không nhớ là không quán được, không suy nghĩ được theo lời Đức Phật.
II. Bảy trí về sắc
BẢY TRÍ VỀ SẮC:
• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.
Bốn đại chủng nghĩa là bốn thứ này cùng khắp cho nên gọi là tứ đại, đại là cùng khắp, chỗ nào cũng có nó, chỗ nào cũng có đất, chỗ nào cũng có nước, chỗ nào cũng có gió, chỗ nào cũng có lửa. Những thứ do bốn thứ này tạo thành gọi là sắc, bàn tay của chúng ta làm từ da, xương, gân, máu, những cái này do tứ đại làm ra, khi mình nhìn vào nó thì nó là "bàn tay của tôi" hay "nó là từ đại"? Khi nhìn vào bàn tay này thì trong suy nghĩ của mình phải loại trừ suy nghĩ "bàn tay này của tôi", chỉ còn suy nghĩ "bàn tay này là đất, nước, gió, lửa", suy nghĩ đó mới gọi là chánh tư duy, là nghĩ đúng. Ngược lại có suy nghĩ đây là bàn tôi của mình, bàn tay này trắng, bàn tay búp măng, ngòi viết hay bàn tay thô cứng, nghĩ như vậy là nghĩ theo chiều vô minh. Như vậy từ đó giờ mình nghĩ theo chiều nào? Trong 1000 lần mình nghĩ về bàn tay, 1000 lần mình nghĩ về gương mặt, 1000 lần mình nghĩ về hình hài này thì được mấy lần mình nghĩ nó là tứ đại? Được vài lần là trong lúc nghe pháp thì tương đương chỉ vài lần mình được thấy sự thật thôi. Mọi người có thấy độ vô minh trong suy nghĩ của mình dày chưa? Nó nhiều chưa?
Ngày xưa mình học cứ nghĩ vô minh là từ đời kiếp xa xưa nhưng không ngờ vô minh nằm ngay trong suy nghĩ, suy nghĩ như vậy là vô minh. Mình nghĩ nó là tứ đại, lột da mặt ra là một xương sọ, là một khối bất tịnh, da, lông, máu, mỡ, mủ, xương, gân, tóc, răng, móng, lột ra từng phần để trước mặt mình, ngày nào cũng phải giải phẫu cơ thể, sáng dậy là lột ra một đống để trước mặt, một đống tóc, một đống lông, một đống răng. Như vậy mình mới phá được cái nhìn si mê, vô minh, ngu muội, đó gọi là phá thân kiến, phá sắc thủ uẩn ác độc này, thân kiến là cái kiến chấp về thân nhưng muốn phá được thì phải nhìn thấy nó là tứ đại. Mình phá liên tục ngày đêm cho đến lúc nào tư tưởng tôi và của tôi không còn nữa thì lúc đó Nhập Lưu.
Mỗi khi mình nghĩ về gương mặt này, mỗi khi mình nghĩ về thể xác này, mỗi khi mình nghĩ về hình hài này thì mình chỉ thấy đây là một đống đất, nước, gió, lửa, tim, gan, phèo, phôi, da, xương, máu, mủ, phân và nước tiểu chứ mình không thấy có một cái tôi và của tôi trong này nữa thì đó là lúc mình đang thấy pháp, thể nhập Thánh tri kiến là cái thấy biết của bậc Thánh, cái này đòi hỏi mình phải tác ý, nhớ nghĩ liên tục nhưng nếu không học thuộc thì làm sao nhớ, không học không biết thì làm sao nhớ cho nên văn huệ phải thành tựu rồi mới đến tư huệ, tư huệ thành tựu thì mới đi đến tu huệ, khi tu huệ thành tựu thì thể nhập trí huệ của bậc Thánh gọi là thể nhập Thánh trí. Ở đây chỉ mới nói đến suy nghĩ, dùng hành để tu, chính là sự tác ý.
Nếu mình nghĩ bông hoa sen này đẹp quá, thơm quá thì trong đó vừa có tham, có vô minh, chấp thủ, sau đó dục sanh khởi muốn đem nó về rồi cứ sống theo dục, theo tham như vậy mãi, một ngày nào đó bị người khác ăn cắp thì buồn, vậy là khổ mãi. Mình không thấy nó là tứ đại, nhìn cái nào ra cái đó thì cứ ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ, khi vừa nhìn vào thấy nó rã ra hết, thành một đống tro tàn, thấy trong đó là một đống nước, một đống đất, không khí, dùng ánh nhìn thánh trí đốt cháy nó thành đống tro ngay tại chỗ, không chạy theo đẹp xấu thì cái nhìn đó là cái nhìn của bậc Thánh, cái nhìn đúng, cái nhìn chánh tri kiến, là cái nhìn của trí tuệ, cái nhìn của sanh diệt trí. Nhìn tới đâu là chỗ đó tan hoại tới đó, nhìn tới đâu là sụp đổ tới đó, không cần đợi qua Thổ Nhĩ Kì mới thấy sự sụp đổ mà ngay tại chỗ này vẫn có thể động đất, ngay trong thân vẫn có động, nó đang hoại diệt từng giây từng phút, nó đưa mình đến chỗ già, bệnh, chết, nó đưa mình đến chỗ tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt, tiêu ma, tan nát.
Trong từng hơi thở mình đều thấy sự sanh diệt trong đó, trong mỗi tư duy, nhận thức của mình đều phải sống bằng sanh diệt trí, bằng sự vô thường, sống bằng sự phá vỡ tất cả những hình tướng giả dối, hư ảo này để mình thấy được một đống sắc đầy bất an và đau khổ, mình nắm giữ vào nó là mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Hôm nay gặp người ta khen "sao thầy hôm nay trắng trẻo, tướng hảo quang minh quá" thì mình thích thú, khoan khoái, về nhà thấy sung sướng, vài ngày sau có người gặp nói "sao mấy nay gương mặt tiều tụy vậy, ốm nhom vậy, có bệnh gì không" thế là về nhà thấy buồn, như vậy là mình sống vì lời nói của người ta, người ta tác động vô là theo đó mình vui, mình buồn, mình tham, mình sân vì mình thấy có một tự ngã, có một cái tôi cho nên ai chạm vô là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Mình nhìn con người, nhìn nhà cửa, chùa chiền, nhìn thân thể này đều là tứ đại, mình tập suy nghĩ, tác ý như vậy để đánh đuổi những suy nghĩ của tự ngã ra, đánh đuổi những suy nghĩ là mình, là của mình ra khỏi thân tâm như mình quét rác, mình diệt nó như diệt kẻ thù.
Mỗi khi sanh khởi lên suy nghĩ tôi hơn, tôi giỏi, tôi đẹp, tôi phải thì phải diệt ngay lặp tức, mình diệt nó như diệt giặc, cho đến khi nào suy nghĩ đó giảm xuống, lắng xuống, dịu xuống thì mình diệt cho nó hết luôn, không còn mang suy nghĩ tôi và của tôi nữa. Đang tu như vậy gọi là hướng Dự Lưu, đi đến chỗ xác quyết 100% luôn thì gọi là Nhập Lưu cho đến các tầng trí huệ thứ hai, thứ ba, thứ tư của Thánh quả, mình không còn chấp nhận suy nghĩ đó là mình, là của mình nữa. Chỗ của mình ngồi mà hôm sau có người khác ngồi thì mình nhường cho họ, rất bình thường, không có chỗ nào là chỗ của mình, phải tập nhả ra cái chấp thủ, tập buông xả cái tâm chấp ngu, khi nó sanh khởi lên thì mình la mắng "mày ngu vừa vừa thôi chứ, chỗ nào là chỗ của mày?", mình tác ý trong đầu, mình huấn luyện suy nghĩ của mình, "mày có muốn tu không hay suốt ngày chỉ muốn hơn thua, thị phi, kiếm chuyện, thôi mày về để tóc lấy chồng đẻ con đi", mình phải la rầy cái tâm mình như vậy, sáng la, trưa la, chiều la để cái tâm mình hiền lành, ngoan ngoãn, mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Cái tâm có huấn luyện, có dạy dỗ, giáo dục là phải khác, còn cái tâm không nghe lời, ương ngạnh, cứng đầu, khó dạy là cái tâm đó không tu tập được, phải huấn luyện cái tâm cho dễ sử dụng, kêu gì là nghe đó.
Mỗi lần muốn sân si là mình nhắc nhở "ngươi cạo đầu, bỏ cha bỏ mẹ vô đâu để kiếm chuyện gây lộn với người ta hả, ngươi có biết nhục không?", mình tác ý như vậy thì từ từ sẽ diệt được những cái tham, sân, si thô ở bên ngoài nhưng mình phải tác ý thật mạnh, không được nương tay, cái tâm vô minh, chấp ngã đó mình phải dập cho tan tành, tơi tả, đánh cho nó tan nát, tan vỡ, như vậy mới là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ, như vậy mới gọi là đạo lực, pháp lực, sức mạnh của tu tập, sức mạnh của giáo pháp trong tâm mình, như vậy mới gọi là tinh cần lực, tinh tấn lực, dõng mãnh lực, đại hùng đại lực. Nếu không là mình không làm lại nó, trong vô lượng vô biên kiếp nó đã trở thành đại ma đầu, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm mình rất ghê gớm, phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, trong Tây Du Kí có biết bao yêu ma, quỷ quái thì đó là trong tâm mình đó, yêu nhền nhện, bạch cốt tinh chính là lòng dục, lòng tham, lòng ái trong tâm mình, những con cọp, sư tử chính là lòng sân trong tâm của mình, chiến thắng hết dục, tham, ái, sân hận, bản ngã thì đến gặp Phật tổ, thỉnh được chân kinh, Tôn Ngộ Không diệt tận hết những thứ đó thì giác ngộ, chiến đấu với ác ma, với những con yêu tinh, quỷ quái trong lòng mình chứ không phải bên ngoài.
• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.
Tại sao có ra thân này? Do có thức ăn, nếu không ăn là chúng ta sẽ chết, cái ăn ở đây có thô có tế. Cái ăn thô là ăn cơm, cháo.. Còn tế nghĩa là hít thở cũng là ăn, đó là ăn không khí, uống nước cũng vậy, mình phải vay mượn liên tục đất, nước, gió, lửa, nếu mình ngưng lại là có chuyện, phải nhập viện hoặc bệnh nặng không thì chết. Nếu duy trì vay mượn đất, nước, gió, lửa đều đặn thì sống, trục trặc thì bệnh, nếu trục trặc không điều chỉnh được thì chết.
Trong trận động đất vừa rồi, có một người đàn ông hơn 60 tuổi phải uống nước tiểu của mình nhiều lần mới sống chờ người cứu, đó là sự duy trì vay mượn. Người mẹ ôm đứa con nằm trong đống đổ nát cho con bé, sắc bị thay đổi, bị biến hoại cho nên gặp gì mình cũng niệm "đồ biến hoại, đồ tan nát", gặp cái gì mình ưa thích thì niệm "cái đồ tan nát, hư hoại", gặp cái gì làm mình sân hận thì niệm "cái đồ tan nát, hoại diệt, có gì để giận", gặp chuyện là mình không thích cũng không ghét thì niệm "cái đồ tan nát, hoại diệt, có gì mà tưởng mà mơ", những lúc như thế là mình sống với trí tuệ về sắc uẩn chứ không phải mình để tâm mình im ru, để nó tự sanh tự diệt, ngược lại mình phải sanh trí huệ để phá vô minh.
Nếu không có ánh sáng thì lấy gì phá bóng tối? Nếu để y nguyên thì tối vẫn hoàn tối, phải mở đèn lên thì mới sáng được nhưng mình chỉ thích tu là ngồi yên nhắm mắt lại thở vô thở ra cho khỏe, khỏi tác ý, khỏi thiền quán, khỏi rầy la tâm gì hết rồi một ngày nào đó bừng lên hoát nhiên đại ngộ, đó là mình tưởng tượng thôi, đó là ảo tưởng, Đức Phật nói trong giáo pháp của ngài không có sự chứng ngộ đột ngột cũng không có bất thình lình chứng ngộ.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Trong giáo pháp của ngài sự tu tập là tuần tự, phá vỡ các kiết sử, lậu hoặc dần dần rồi mới đi đến chứng ngộ chứ không có sự bất thình lình ngộ. Phải nhìn thấy được những sự manh nha, mầm móng, u mê, vô minh, những sự chấp thủ, mình phá tới đâu thì mình biết tới đó, nó còn bao nhiêu mình cũng biết, nó còn ít thì mình biết còn ít, nó còn nhiều thì mình biết còn nhiều, nó hết thì mình biết nó hết cho nên mới có ra các bậc Thánh, tu đến đâu các ngài biết đến đó, vô minh còn hay không là biết, tham dục còn hay không cũng biết, sân hận còn hay không cũng biết, hết chưa hay chưa hết cũng biết. Bây giờ tu mà hỏi tham, sân, si còn hay hết cũng không biết gì cả thì đó là tu trong vô minh, không hay biết gì hết, đó là lý do Đức Phật nói pháp cho người thấy, cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc chứ không nói cho người không thấy không biết.
"Với người biết, với người thấy, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?
Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ', này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ tập'... 'Ðây là Khổ diệt'... Do biết, do thấy: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', các lậu hoặc được đoạn tận" (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc)
Biết là biết về ngũ uẩn, biết trong ngũ uẩn còn dục, tham, ái, biết trong ngũ uẩn còn vô minh, còn những chấp thủ, chấp ngã, sau đó mới nhiếp phục, chế ngự và từ từ diệt tận. Mình còn dục, tham, ái thì mình có biết không? Nếu mình không nhận diện ngũ uẩn là mình biết không đúng, chỉ biết trên tưởng tượng thôi, còn nhận diện được ngũ uẩn là biết bằng trí tuệ, cái đó gọi là Thánh trí ngũ uẩn, nương nơi cái thấy biết của Đức Thế Tôn và mình được hướng dẫn theo đó thì mình đi theo Thánh trí. Mình ăn vào, uống vào, hít thở vào, giữ nhiệt độ trong cơ thể phù hợp.
• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.
Không thể hít thở nữa, không khí toàn chất độc là cứng đơ như khúc cây, chỉ cần một đại không hoạt động là mình chết ngay chứ đừng nói bốn đại dừng cùng lúc. Mình phải niệm liên tục để nhắc nhở "nhà ngươi đi tu rồi, phải nhớ trí huệ chứ đừng có mê, cái đống này là sắc, đống đất, nước, gió, lửa chứ không có cái tên nào là Thích Minh Thành, không có cái nào tên là tôi, không có cái nào tên là ta, ở đây chỉ có tứ đại thôi, một đống bất an, tai họa, khổ não, duyên sanh thôi", phải nhắc như vậy để tỉnh "cái tâm mê này mày tỉnh chưa?", vừa tỉnh ra cũng phải kêu nó "cái tâm mê này ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi, đến giờ tu cũng còn ngủ nữa", phải la rầy, quở trách như vậy. Nếu thấy lăng xăng, dao động thì kêu nó "nè, sắc, nghe lời má đừng có quậy, an tịnh, lắng dịu xuống, con đừng có ương ngạnh, khó dạy, con phải ngoan ngoãn nghe lời mẹ", "con phải nghe lời để trở thành con ngoan, con hiền, không được ngỗ nghịch mà phải an tịnh, lắng dịu". Cứ nhắc an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thì từ từ nó hiền ngoan, dễ thương, nói gì nghe đó, như vậy gọi là làm chủ được thân tâm. Huấn luyện được cái sắc này là cả một công trình vĩ đại đạt kỉ lục hơn Unesco gấp 1000 lần, nếu không huấn luyện cái sắc này là mình khổ đau.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Phải biết canh chừng, theo dõi, quản lý nó từng chút một, phải dạy dỗ nó không để cho nó muốn làm gì thì làm, không để cho nó làm theo sự thúc giục, không để buông lung phóng dật, buông thả, bắt nó đi vào trong oai nghi, phép tắc, lễ kính, giới luật, đó là công phu của người tu, đó là sự huấn luyện trong sắc uẩn, sắc pháp này, phần niệm thân trong Thân Hành Niệm là dùng để giáo dục, dạy dỗ sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất, sắc thân này
• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Sắc diệt đạo là con đường làm cho sắc này chấm dứt, không còn sanh ra những sắc thân đầy rẫy những bất an, bệnh hoạn, già chết, sầu đau nữa, gọi là sắc diệt đạo. Phương pháp, cách thức, con đường, đạo lộ chấm dứt những sắc uẩn bất an, đầy bệnh tật, đau khổ, chết chóc này, con đường đó là tám đúng, là Bát Thánh Đạo.
•Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Ba loại trí tuệ này phải học thuộc để ứng dụng cùng khắp trong ngũ uẩn. Vị ngọt của sắc là do mình nhìn sắc mà khởi lên lạc hỷ khoan khoái, thích thú, vui sướng, mình thấy hình sắc, con người, món đồ mà mình thích thú, khoan khoái thì đó là vị ngọt của sắc. Đi đâu lâu mà được về căn phòng của mình là thấy dễ chịu, thoải mái nhưng lỡ như nó sập rồi thì còn dễ chịu không? Đó chính là sự nguy hoại của sắc, khi nhìn vào gương thấy mặt mình tươi tắn, trẻ trung, hình hài mình cũng cân đối, mình thấy dễ chịu, coi cũng được thì đó là vị ngọt của sắc. Nhưng khi nhìn vào sắc thì thấy sắc này rồi cũng tan hoại, già nua, bệnh tật, cũng sẽ biến hoại thì suy nghĩ đó là trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại, mình phải khai thác chiều nguy hiểm và tác hại thật nhiều, còn vị ngọt của sắc thì từ bỏ, mình không đi theo vị ngọt mà mình khai thác sự nguy hiểm và tác hại của sắc ở nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ thì lúc đó là mình đang tu tập, nghĩ đúng, chánh tư duy, Thánh tư duy, là suy nghĩ của bậc Thánh. Gặp cái gì mình cũng nghĩ đến sự vô thường của nó cho nên tâm ham thích, khoan khoái của mình sẽ lắng dịu xuống rồi từ từ nhiếp phục, chế ngự và diệt tận luôn.
Mình thấy một người con trai hay một người con gái trẻ trung tươi đẹp mà nếu không tu thì tiếp xúc là mình sanh hỷ lạc liền, mình sẽ thích, mình vui nhưng khi mình quán sự nguy hại của nó, "người này rồi cũng sẽ bị già nua, cũng sẽ đi đến kết thúc trong tuổi già, kết thúc trong sự chết", khi nghĩ như vậy thì lòng ham, lòng thích, lòng khoái sẽ lắng dịu xuống, đó là quán về sự nguy hại của sắc. Mình nhiếp phục dục tham là do mình thấy tính nguy hiểm và tác hại của nó thì lòng tham muốn, thích thú sẽ lắng xuống, sẽ được nhiếp phục, chế ngự và chấm dứt, đó là sự thoát ra khỏi sắc. Muốn thoát ra khỏi sắc thì phải nhiếp phục lòng tham muốn đối với sắc, muốn nhiếp phục lòng tham muốn đối với sắc thì phải thấy được tính vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của nó, không thấy được sự thật đó thì không bao giờ nhiếp phục được, muốn thấy được sự thật đó thì phải học, kế đó phải tư duy, thiền quán, quán chiếu, nghiền ngẫm, suy tư cái đó thường xuyên, mình làm cho những tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức đó được duy trì liên tục và phát triển thì gọi là triển khai thiền quán, tức là nhìn một cách thâm sâu vào trong sự thật của Đức Phật chỉ dạy chứ không nhìn bằng cái nhìn thông thường của mình, nhìn một cách sâu sắc vào bản chất của sự vật qua trí tuệ của bậc Thánh mà mình được tiếp nhận, mình được nghe hiểu, nhìn như vậy gọi là thiền quán.
Thường xuyên nhìn như vậy, suy nghĩ như vậy, tác ý nhắc nhở như vậy, thường xuyên tư duy như vậy, tu tập, quán chiếu như vậy thì từ từ trong con người mình sẽ có cái nhìn sắc bén, thâm sâu, một cái nhìn có thể cảm hết tất cả sự vật, không có gì làm cho mình khoan khoái, thích thú, tham ái nữa, tâm mình được giải thoát, tuệ được giải thoát đối với tất cả pháp, không nương tựa bất cứ một việc gì ở trên đời và không có gì làm cho mình lưu luyến nữa hết. Đó là bảy trí huệ phá sắc uẩn, bảy thanh Thánh kiếm thần đao chém sắc thủ uẩn, đó là Thánh pháp bảo của Đức Phật trảm hết gian tà yêu ma quỷ quái, đó là người được truyền thụ Thánh trí huệ. Tu như vậy mới thành tựu được chứ không phải tu là ai nói gì cũng gật, đó là tu trong vô minh.
./.